1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác
8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
Giống như các quốc gia châu Âu khác, chính sách văn hoá của Bỉ được phát triển từ sau Thế Chiến thứ hai và chủ yếu tập trung vào phát triển các giá trị dân chủ và phổ cập. Khung chính sách văn hoá đă được hoàn thiện vào cuối những năm 1960 và tập trung vào các mục tiêu văn hoá dân chủ. Các phương tiện để thực hiện chính sách văn hoá, trong hầu hết các trường hợp, là tiền trợ cấp được phân bổ cho các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận.

Chính sách văn hoá được điều chỉnh theo nguyên tắc trợ cấp, theo đó về nguyên tắc, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các vấn đề văn hoá mà thông qua các quy định và thực hiện trợ cấp.
Trợ cấp là một nguyên tắc được đề cập đến trong quá tŕnh phát triển văn hoá hiện nay trên thế giới. Nguyên tắc này được áp dụng ở Bỉ không chỉ như là một biện pháp chống lại hoạt động của chủ nghĩa phát xít diễn ra trong suốt thời ḱ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, mà c̣n được áp dụng ở các quốc gia cộng sản (văn hoá nhà nước) và ở cả Hoa Kỳ (văn hoá được điều chỉnh bằng thị trường hơn là được điều chỉnh bởi nhà nước).
Kể từ những năm 1970, nước Bỉ đă từng bước trải qua quá tŕnh xây dựng nhà nước liên bang, được cấu thành từ các khu vực lănh thổ và các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau. Do đó có thể xem xét quá tŕnh phát triển chính sách văn hoá từ những năm 1970 bằng cách điểm lại các hoạt động của ba cộng đồng ngôn ngữ độc lập (Cộng đồng nói tiếng Flemish, Cộng đồng nói tiếng Pháp, và Cộng đồng nói tiếng Đức) và hoạt động của nhà nước liên bang; mỗi cộng đồng đều có các tổ chức văn hoá, có truyền thống và đặc điểm chính trị của riêng ḿnh.
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Cho đến những năm 1980, chính sách văn hoá của các Bộ trưởng văn hoá, vốn là người thuộc phái Dân chủ Cơ đốc, là hướng đến “dân chủ hoá nền văn hoá”. Trong thời ḱ này, các cơ sở văn hoá như trung tâm văn hoá, thư viện được thành lập trên toàn lănh thổ Flanders. Các quyết định chính trị được ban hành nhằm hỗ trợ cho các sáng kiến trong lĩnh vực giáo dục cho người lớn và việc làm cho thanh niên.
Trong giai đoạn 1981-1992, ở Flanders đă xảy ra khủng hoảng kinh tế. Về văn hoá, khủng hoảng kinh tế được phản ánh qua việc giảm sút ngân sách. Các tổ chức nghệ thuật là mục tiêu chịu ảnh hưởng của việc cắt giảm ngân sách, và các tổ chức này buộc phải tự tạo rao nguồn thu nhập riêng. Xu hướng mới này không hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự do của các đảng phái chính trị đang cầm quyền (và các bộ trưởng văn hoá) mà c̣n là xu hướng quản lí có định hướng tiếp tục được các bộ trưởng sau này thực hiện.
Trong suốt những năm 1990, các bộ trưởng văn hoá tập trung vào các hoạt động nghệ thuật truyền thống và những hoạt động văn hoá xă hội. Các luật được ban hành trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, bảo tàng đă quy định vai tṛ của chính phủ cũng như các điều kiện hoạt động trong các lĩnh vực này. Các chính sách trong giai đoạn này đă tạo cho lĩnh vực văn hoá sự bảo đảm tốt hơn về mặt pháp lí và cho phép xây dựng kế hoạch dài hạn hơn. Phương pháp này phản ánh được xu hướng quản lí văn hoá hiện nay.
Chính phủ trước đây (1999-2004) được thành lập từ liên minh tự do – dân chủ, xă hội chủ nghĩa, môi trường và chủ nghĩa quốc gia, mà bộ trưởng môi trường là thành viên của phái chủ nghĩa quốc gia. Với chính phủ mới thành lập, ngân sách dành cho văn hoá được tăng lên đáng kể, và chiến lược chính sách văn hoá mới là nhằm thiết lập một chính sách “lồng ghép” Flanders vào trong các lĩnh vực nghệ thuật, di sản văn hoá và các hoạt động văn hoá xă hội. Phương pháp này hướng vào một hệ thống mới thúc đẩy hoạt động sáng tạo, truyền bá, bảo tồn và hỗ trợ cho các tổ chức văn hoá, nó thay thế cho các chính sách dựa trên từng lĩnh vực bằng một khung pháp lí toàn diện hơn. Ngoài ra, cộng đồng Flamish hướng tới sự hợp tác với nhiều cấp chính quyền khác nhau – Chính quyền Flanders, các tỉnh và thành phố - dựa trên nguyên tắc bổ sung và hỗ trợ. Chính sách mới cũng dành quan tâm đến việc nâng cao tỉ lệ tham gia vào đời sống văn hoá.
Bộ trưởng văn hoá hiện nay cũng chịu trách nhiệm về vấn đề văn hoá từ 1999-2002. Trong vài năm tới sẽ tập trung vào việc thực hiện những vấn đề đă được quyết định trong vài năm vừa qua.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Từ mô h́nh hoạt động của Hội đồng châu Âu trong những năm 1970, cộng đồng nói tiếng Pháp ở Bỉ đă đặt nền tảng cho việc thành lập một chính sách nền văn hoá dân chủ và giáo dục lâu dài. Sau đó, những năm 1970 và 80 cũng đă đánh dấu sự khởi đầu của một thời ḱ mới trong việc ban hành một số lượng lớn các quy định trong những lĩnh vực sau: Giáo dục thường xuyên cho người lớn, thư viện công, vấn đề thanh thiếu niên, các trung tâm văn hoá, hỗ trợ cho các nhóm hoạt động sáng tạo, cung cấp tài chính cho các nhà hát, làm việc trực tiếp hơn với công chúng để lắng nghe những ḱ vọng và những phản ánh của họ.
Song song đó, hỗ trợ cho các tổ chức văn hoá nghệ thuật cổ điển cũng được duy tŕ, và vấn đề này cũng chiếm một phần đáng kể trong ngân sách dành cho văn hoá.
Vào cuối thập niên 80 và trong suốt thập niên 90 của thế kỉ 20, có xu hướng phát triển sự tự trị trong một số lĩnh vực, bao gồm di sản, các lĩnh vực nghệ thuật (âm nhạc, kịch, múa, nghệ thuật thị giác), giáo dục thường xuyên cho người lớn, vấn đề thanh thiếu niên, nghe nh́n, văn học và sách. Kết quả là đă đẩy mạnh được cơ cấu tổ chức nội bộ của mỗi lĩnh vực, xây dựng các chiến lược hiện đại hoá và chuyên nghiệp, thiết lập được các mối quan hệ mới ở tầm quốc tế
Cộng đồng nói tiếng Đức
Trái với quyền tự trị đă được trao cho các cộng đồng Flemish và cộng đồng tiếng Pháp trong quá tŕnh cải tổ hiến pháp những năm 1970, cộng đồng tiếng Đức ban đầu chỉ được trao quyền hạn chế, trong đó có lĩnh vực văn hoá. Trong quá tŕnh h́nh thành vào những năm 1980, cộng đồng tiếng Đức đă có được nghị viện và chính phủ của riêng ḿnh. Điều này dẫn đến sự gia tăng đáng kể thẩm quyền và ảnh hưởng của cộng đồng cũng như việc quyết định thành lập các cơ quan mới. Ngày nay, cộng đồng tiếng Đức có 70 000 dân và có thẩm quyền về chính trị ngang bằng với các cộng đồng khác ở Bỉ.
Việc ban hành quy định pháp luật, hoặc sửa đổi quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá và thể thao chủ yếu được thực hiện vào những năm 1990, đặc biệt là việc hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thanh thiếu niên, giáo dục cho người lớn và lĩnh vực thư viện. Các định hướng đối với chính sách hạ tầng măi cho đến gần đây mới được hoàn thiện và chính quyền đă ban hành các chiến lược mới trong lĩnh vực truyền thông và ban hành pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực phát tranh truyền h́nh của nhà nước và tư nhân.
Trong tương lai, các ưu tiên vẫn tập trung vào vấn đề thanh thiếu niên, văn hoá, truyền thông và giáo dục cho người lớn. Chính quyền cũng nhất trí tập trung hơn nữa vào chất lượng của hoạt động nghệ thuật và sáng tạo, nâng cao tính chuyên nghiệp trong quản lí văn hoá, cũng như nâng cao tỉ lệ tham gia vào đời sống văn hoá của đối tượng thanh thiếu niên. Các mục tiêu khác gồm xây dựng khung pháp lí để thực hiện điều tra khoa học và việc tổ chức về mặt hành chính để thực hiện bảo tồn các di sản văn hoá.
Trong lĩnh vực truyền thông, các thách thức trong những năm tới là phát triển hơn nữa lĩnh vực truyền h́nh và nghe nh́n ở cấp vùng và mở rộng các dịch vụ trực tuyến.
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
2.2 Mô tả tổng quan về hệ thống

Bỉ là nhà nước theo chế độ liên bang, theo đó lănh thổ được chia thành 3 vùng (3 bang gồm Flanders, Wallonia và Brussels) và ba vùng ngông ngữ (Cộng đồng tiếng Flemish, tiếng Pháp và tiếng Đức), mỗi bang và cộng đồng đều có quyền tự trị. Các vùng chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến lănh thổ bao gồm: kinh tế, môi trường, nhà ở và việc làm. Các cộng đồng chịu trách nhiệm đối với các vấn đề văn hoá, giáo dục, một số vấn đề liên quan đến y tế và phúc lợi, ngôn ngữ và hợp tác giữa các vùng. Mỗi vùng và cộng đồng đều có thẩm quyền trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, và được uỷ quyền tham gia và kí kết các điều ước quốc tế
Mỗi vùng và cộng đồng đều được tổ chức trên cơ sở quyền lập pháp (Hội đồng) và quyền hành pháp (đứng đầu là minister-president – Thủ hiến). Flanders có chung một chính phủ cho vùng và cộng đồng, và chính phủ này chịu trách nhiệm đối với cộng đồng nói tiếng Hà Lan ở Brussels. C̣n ở Cộng đồng tiếng Pháp th́ có một chính phủ và một hội đồng cho cả vùng và cộng đồng (và có quy chế ngang nhau), các cơ quan này cũng chịu trách nhiệm đối với cộng đồng nói tiếng Pháp ở Brussels.
Nhà nước Liên bang chịu trách nhiệm đối với các tổ chức văn hoá có tầm quan trọng quốc gia cũng như chịu trách nhiệm đối với một số lĩnh vực chính sách bao gồm luật lao động, an sinh xă hội, thuế, và quyền sở hữu trí tuệ. Các vùng chịu trách nhiệm đối với các công tŕnh tưởng niệm và di tích, và việc bảo tồn các di tích khảo cổ. Các nguyên tắc cơ bản áp dụng cho cả ba cộng đồng được quy định trong Luật Văn hoá 1973, luật này do nhà nước Liên bang quản lí thực hiện. Luật cũng đưa ra một quy tŕnh tư vấn bắt buộc, trong đó có việc thành lập các hội đồng cố vấn hoặc uỷ ban cố vấn, để đảm bảo rằng tất cả các quan điểm chính trị, ư kiến của phái thiểu số đều được xem xét và phản ánh trong quá tŕnh xây dựng và thực hiện chính sách.
Cộng đồngnói Flemish
Mục tiêu của chính sách văn hoá hiện nay là xây dựng mối quan hệ giữa các tỉnh và thành phố dựa trên nguyên tắc hỗ trợ và bổ sung. Ví dụ như sắc lệnh về chính sách văn hoá ở địa phương. Chính phủ Flanders đă kí “Thoả ước” với một số thành phố về vấn đề di sản văn hoá. Hiện nay, chính phủ Flemish, các thành phố và các tỉnh đang đàm phán để phân chia nhiệm vụ để tiến đến phê chuẩn các thoả ước này (xem phần 7.1)
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Thẩm quyền của cộng đồng tiếng Pháp có phạm vi trên các lănh thổ Wallonia và Brussels, mà vùng Brussels là nơi tập trung chủ yếu các tổ chức và hiệp hội văn hoá của cộng đồng tiếp Pháp ở Bỉ. Trong thập kỉ qua, chính phủ của cộng đồng tiếp Pháp đă áp dụng các biện pháp nhằm phân bổ trách nhiệm cho các tổ chức văn hoá ở Wallonia và để phân chia trách nhiệm cho công bằng hơn đối với các tổ chức ở Brussels. Họ đă ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác với các thị trấn, thành phố và vùng nông thôn thông qua các thoả thuận cụ thể trong các lĩnh vực như trung tâm văn hoá, thư viện, các tổ chức dành cho thanh thiếu niên và giáo dục thường xuyên cho người lớn, các trung tâm cộng đồng về hoạt động sáng tạo, trung tâm thanh niên, trung tâm kịch, đài truyền h́nh cộng đồng, v.v..
Cộng đồng nói Tiếng Đức
Do quy mô của ḿnh, cộng đồng tiếng Đức thường chỉ xây dựng và thực hiện chính sách văn hoá phản ánh được sâu sát các nhu cầu của công dân và cộng đồng của ḿnh. Do mức độ tự trị cao mà cộng đồng này có đủ quyền tự do cần thiết để xây dựng bản sắc của ḿnh thông qua các sự kiện văn hoá xă hội, trong lúc đó vẫn xây dựng cho ḿnh được vị trí (tầm quan trọng) trên toàn quốc thông qua việc phát triển, tạo ra các sản phẩm văn hoá có chất lượng cao.
Hiến Pháp Bỉ cho phép chuyển giao thẩm quyền từ Vùng Walliona sang Cộng đồng tiếng Đức. Trong lĩnh vực văn hoá, trách nhiệm về bảo vệ các di tích và thắng cảnh (1994) và khai quật khảo cổ (2000) được chuyển giao cho Cộng đồng tiếng Đức để thực hiện việc tự quản tốt hơn. Cũng trong năm 2001, thẩm quyền trong lĩnh vực việc làm cũng được chuyển giao, do đó Cộng đồng tiếng Đức có nhiều thuận lợi hơn trong việc đàm phán trong các lĩnh vực văn hoá. Sau đó vào tháng Giêng 2005, thẩm quyền giám sát đối với chính quyền địa phương cũng được chuyển giao; điều này có liên quan đến chín Vùng đô thị (Thành phố) cấu thành nên Cộng đồng tiếng Đức
2.3 Hợp tác giữa các ngành và các cấp chính quyền
Hợp tác giữa các ngành, cho dù là ở cấp liên bang, cấp vùng hay cấp cộng đồng, diễn ra trong các lĩnh vực sau, và có ảnh hưởng đến chính sách văn hoá: vấn đề ngoại giao, giáo dục, việc làm, môi trường, truyền thông, du lịch, v.v..
Hợp tác giữa các cấp cộng đồng bao gồm: giữa Cộng đồng nói tiếng Pháp và Cộng đồng nói tiếng Đức, Cộng đồng nói tiếng pháp và Uỷ ban những của Cộng đồng tiếng Pháp ở Brussel, và giữa Cộng đồng Flemish và Cộng đồng nói tiếng Đức.
Hiện nay, không có thoả thuận hợp tác giữa cộng đồng nói tiếng Flemish và Cộng đồng nói tiếng Pháp.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Năm 2004, chính quyền của Cộng đồng tiếng Pháp quyết định thực hiện Kế hoạch Chiến lược về điều phối các chính sách liên quan đến phát triển cơ hội b́nh đẳng cho nam giới và nữ giới, các vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hoá, và cho những người sống tách rời với xă hội. Ba mảng vấn đề này có liên quan đến thẩm quyền của chính quyền trong các lĩnh vực: văn hoá, giáo dục, thể thao, chăm sóc thanh thiếu niên, vấn đề xă hội và chăm sóc y tế.
Trong giai đoạn đầu, việc đầu tiên phải làm là điều tra, thống kê. Danh mục thống kê được cho từng lĩnh vực và cho mỗi ưu tiên, các quy định của pháp luật, diễn biến của vấn đề, các mục tiêu định hướng hoạt động, các dự án đang thực hiện, ngân sách liên quan, việc đánh giá.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Cộng đồng nói tiếng Đức đă kí thoả thuận hợp tác với Cộng đồng tiếng Pháp và Cộng đồng Flemish cũng như đă kí thoả thuận hợp tác với vùng Walloon và Tỉnh Liege. Các thoả thuận này điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các bên đối tác trong các lĩnh vực tương ứng với trách nhiệm của các bên (vấn đề văn hoá, vấn đề xă hội/ cá nhân, vấn đề giáo dục/ đào tạo, vấn đề việc làm). Ngoài ra c̣n các thoả thuận đặc biệt kí với cộng đồng tiếng Pháp, trong đó có thoả thuận cho các vấn đề văn hoá và nghe nh́n.
2.4 Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lí hành chính
Từ năm 1993, các cộng đồng đă có quyền tự trị trong lĩnh vực quan hệ quốc tế. Điều này cho phép các cộng đồng tham gia vào các thoả thuận không chỉ với các nhà nước, mà c̣n với các vùng, tỉnh của các quốc gia khác. Các bộ trưởng của cộng đồng chịu trách nhiệm về văn hoá luân phiên nhau tham gia vào hội đồng châu Âu và các tổ chức quốc tế.
Cộng đồng nói Flemish
Cộng đồng Flemish đă kí nhiều công ước quốc tế, các thoả thuận hợp tác và thoả thuận văn hoá với nhiều quốc gia và vùng lănh thổ. Hợp tác song phương với Hà Lan được xem là ưu tiên hàng đầu, không chỉ xét về trao đổi nội bộ và hợp tác với Hà Lan, mà c̣n phối hợp hành động trong các quan hệ đối ngoại. Hợp tác đa phương vẫn chiếm vai tṛ quan trọng, đặc biệt là liên quan đến Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu, UNESCO, và các mạng lưới không chính thức như Mạng lưới quốc tế về chính sách văn hoá.
Bộ trưởng văn hoá Flemish là người chịu trách nhiệm quản lí các quỹ phát triển chính sách quốc tế về văn hoá mà không chịu sự can thiệp của Bộ trưởng Ngoại giao.
Cộng đồng Flemish đă tham gia vào rất nhiều các hoạt động quốc tế, trong đó có nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hoá. Có rất nhiều cơ hội để tiến hành sự tham gia như vậy, nhất là về tài chính: tài trợ cho hoạt động, hỗ trợ cho các dự án, hỗ trợ chi phí đi lại, v.v..
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Năm 1993, cộng đồng tiếng Pháp đă thành lập một cơ quan đặc trách về quan hệ quốc tế (Uỷ ban Quan hệ Quốc tế của cộng đồng tiếng Pháp – GCIR). Cơ quan này có nhiệm vụ thực hiện chính sách ngoại giao của cộng đồng tiếng Pháp, và quản lí việc thực hiện các thoả thuận văn hoá đă kí với các quốc gia và vùng khác. Uỷ ban tự đặt ra cho ḿnh các ưu tiên để phát triển và truyền bá văn hoá, nghệ thuật của Cộng đồng Tiếng Pháp, những ưu tiên trong hoạt động đa phương trong UNESCO, Hội đồng châu Âu, Liên minh châu Âu (và các cơ quan có liên quan), với các quốc gia công nghiệp hoặc với các quốc gia có sử dụng tiếng Pháp khác, những ưu tiên để xây dựng hoạt động chiến lược hướng đến các quốc gia phía Nam, và cho các chương tŕnh trao đổi thanh niên.
Để thực hiện nhiệm vụ của ḿnh, CGRI hợp tác với các cơ quan chuyên trách: Wallonia-Brussels Music (WBM), Wallonia-Brussels Images (WBI), Wallonia-Brussels Theatre (WBT ) – Cultural Contact Point (Trung tâm Liên lạc Văn hoá), chịu trách nhiệm về chương tŕnh Văn hoá châu Âu 2000), Văn Pḥng Quốc tế về Thanh niên (BIJ) và Cơ quan hợp tác về thanh niên Quebec Wallonia-Brussels.
Ngoài các cơ quan chuyên trách này, các cơ quan đại diện của Wallonia-Brussels điều phối hoạt động của Cộng đồng tiếng Pháp ở nước ngoài, đặc biệt là ở Berlin, Warsaw, Prague, Bucharest, Rabat, Tunis, Algier, Dakar, Kinshasa, Quebec, Santiago of Chile, and Hanoi. ở Paris, Tổng đại diện có nhiệm vụ chuyên trách đối với các quan hệ ngoại giao với Pháp và các tổ chức đặt tại Paris. ở Geneva, Đại diện Wallonia-Brussel đại diện cho cộng đồng Tiếng Pháp tại Văn Pḥng Liên hợp Quốc và các cơ quan chuyên môn của tổ chức này (WCO, WHO, UNAIDS, HCR, OIM, UNESCO, UNHCHR, UNESCO, ILO, OMPI,). ở Brussels, Đại diện tại Liên minh châu âu, Đại diện Nhân quyền, v.v...
Tại những khu vực sử dụng tiếng Pháp, Cộng đồng tiếng Pháp, thông qua CGRI, phối hợp với Bộ ngoại giao và Alliance Pháp để thành thập Trung tâm châu Âu về Pháp ngữ (CELF) nhằm vào công chúng châu Âu tại Brussels.
Cộng đồng tiếng Pháp cũng có đại diện của ḿnh tại các hội nghị thượng đỉnh các nguyên thủ của các quốc gia nói tiếng Pháp
Cộng đồng nói tiếng Đức
Cộng đồng tiếng Đức tham gia tích cực vào việc xây dựng và mở rộng quan hệ đối ngoại của ḿnh. Do diện của cộng đồng này (854km2) và dân số (70 000), việc hợp tác chủ yếu hướng vào các vùng sử dụng tiếng Đức khác, hoặc các vùng tự trị ở châu Âu có quy mô ngang bằng. Mục tiêu chính là các vùng có biên giới liền kề, ví dụ như Bang Rhineland-Palatinate và bang Northhine-Westfalia của đức, Luxembourg, hoặc Hà Lan.
Cộng đồng tiếng Đức đă kí thoả thuận song phương với 7 quốc gia châu Âu: Đức, Pháp, Luxembourg, Hà Lan, áo, Hungary, Italy. Nhiều trong số các thoả thuận này là các thoả ước trước đó đă được soạn thảo bởi nhà Nước trung ương Bỉ; một số được bổ sung bởi những thoả thuận cụ thể, một số được thay đổi để phù hợp với những thay đổi do phân bổ lại thẩm quyền, một số thoả thuận khác lại giữ nguyên nội dung như ban đầu. Hầu hết các thoả thuận đó, mặc dù gọi là thoả thuận văn hoá, nhưng lại xác định phạm vi sang cả các lĩnh vực như giáo dục, thể thao, khoa học.
Hai thoả thuận đa phương đă được thảo để kí kết với các vùng khác; là những thoả thuận được kí kết với các vùng có biên giới kế cận nhau. Một là thoả thuận Euregio Maas-Rhein, bao gồm các vùng của ba quốc gia (Bỉ, Đức và Hà Lan). C̣n thoả thuận đa phương kia là European Greater Region Saar-Lor-Lux, với Luxembourg và các vùng thuộc Bỉ, Pháp và Đức.
Từ năm 1994, Cộng đồng tiếng Đức có đại diện trong Uỷ ban Vùng của EU mà Cồng tiếng Đức giữ chức chủ tịch. Cộng đồng này c̣n tham gia vào Sáng kiến Vùng của các Cơ quan Lập pháp, bao gồm Flanders, Vùng Walloon, Bavaria, North Rhine-Westphalia, Salzburg, Scotland and Catalonia. Ngoài ra, cộng đồng c̣n tham gia vào Uỷ ban cố vấn liên nghị viện các nước vùng Benelux và Hội nghị cố vấn của các thành phố và vùng ở châu Âu.
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
3.1 Các nhân tố chính của một mô h́nh chính sách văn hoá hiện tại
Cộng đồng nói tiếng Flemish

Trong những năm 90, hệ thống hoạch định chính sách dài hạn được ra mắt ở Flanders. Mỗi Bộ trưởng phải tŕnh bày kế hoạch 5 năm phác thảo sơ qua về các hoạt động và các mục tiêu dài hạn cho thời gian tới. Những chi tiết cụ thể cho những kế hoạch này sẽ được tŕnh bày trong “báo cáo chính sách” hàng năm .
Nguyên tắc ưu tiên bộ máy chính trị được áp dụng ở Flanders. Nghĩa là Bộ trưởng được các cơ quan tham mưu hỗ trợ nhưng các quyết định cuối cùng th́ do Bộ trưởng hoặc Chính phủ quyết định. Bộ trưởng có thể chấp nhận hoặc bác bỏ sự tham mưu trên nhưng phải đưa ra lư lẽ hợp lư.
Hệ thống tư vấn được chia làm 2 bộ phận riêng biệt: một bộ phận tham mưu về chiến lược và bộ phận khác th́ tham mưu chi tiết về việc phân phối các khoản trợ cấp.
Về điểm thứ nhất, Quốc hội Flemish đă thông qua sắc lệnh liên quan đến các hội đồng tham mưu chiến lược (9/6/2003). Một hội đồng tham mưu chiến lược sẽ được thiết lập cho mỗi “khu vực chính sách đồng nhất”, ví dụ như “lĩnh vực văn hoá, vấn đề thanh niên, phương tiện truyền thông và thể thao.” Hội đồng tham mưu chiến lược này sẽ đưa ra những ư kiến tư vấn về các kế hoạch, đề nghị chính sách (hội đồng tự chủ động làm hoặc làm theo yêu cầu của chính phủ) và tư vấn về pháp luật đối với việc ban hành luật đă có dự định.
V́ đă áp dụng sắc lệnh nghệ thuật và di sản nên cơ cấu tham mưu có sự thay đổi ở cả 2 lĩnh vực này. Sẽ có một hội đồng tham mưu cho cả nghệ thuật và di sản cũng như các hội đồng đánh giá khác để ước lượng các khoản yêu cầu trợ cấp. Cả 2 bộ tham mưu đều có nhiệm vụ tham mưu chung và phải duy tŕ sự hoạt động suôn sẻ qua việc đánh giá chất lượng.
Bên cạnh đó c̣n có một cơ quan tham mưu cho lĩnh vực giáo dục người lớn và tuyên truyền văn hoá.
Tuy nhiên có 2 trường hợp kiểu chính sách ngoại lệ. Trong năm 2000, Quỹ văn chương được lập nên để hỗ trợ thực hiện chính sách văn học của chính phủ và đưa ra các khoản trợ cấp, hỗ trợ. Trong năm 2000, Quỹ nghe nh́n Flemish được lập ra để hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghe nh́n. Cả 2 quỹ này đều có thoả ước với chính phủ Flemish về việc quản lư. 2 trường hợp ngoại lệ này không được nhầm lẫn với sự tồn tại của hệ thống các quỹ văn hoá nói chung, những quỹ này có thể tự ra quyết định mà không cần có sự can thiệp của chính phủ.
Trong suốt quá tŕnh ban hành pháp luật trước kia, Chính phủ đă thông qua hàng loạt các sắc lệnh điều chỉnh cho “các trung tâm hỗ trợ” để đảm bảo cho các hoạt động tiêu biểu nhằm khuyến khích các khu vực tư nhân và các hoạt động như thu thập thông tin, tiến hành nghiên cứu và đưa ra các phân tích. Mỗi trung tâm hỗ trợ đều có thoả ước với chính phủ trong thời gian 4-5 năm.
Vào thời điểm này, chính phủ Flemish, các thành phố và các tỉnh đang đàm phán một điều khoản mới về trách nhiệm giữa họ và sẽ có một số thoả ước được phê chuẩn.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Cộng đồng Pháp ngữ đă thực thi quyền hạn của ḿnh trên các địa phận Wallonia và Brussels, trong đó Brussels là nơi có phần lớn các tổ chức văn hoá và các tổ chức nói tiếng Pháp ở Bỉ. Trong thập niên qua, Chính phủ đă thử nghiệm các phương pháp khác nhau nhằm t́m ra một giải pháp hiệu quả để phục vụ cho quá tŕnh phi tập trung hoá trách nhiệm đối với các tổ chức ở Wallonia và t́m cách để đưa ra điều khoản hợp lư với Brussels. Họ đă đưa ra các chính sách văn hoá của ḿnh để tăng cường mối quan hệ giữa các thị trấn, thành phố và các khu vực nông thôn thông qua các thoả ước đặc biệt về các lĩnh vực như trung tâm văn hoá, thư viện, tổ chức giáo dục thường xuyên và thanh niên, trung tâm sáng tạo cộng đồng, trung tâm về vấn đề thanh niên, trung tâm kịch địa phương, các đài truyền h́nh cộng đồng, các đơn vị sản xuất và tiếp nhận.
Mô h́nh văn hoá của Cộng đồng Pháp ngữ dựa trên nguyên tắc hỗ trợ: hỗ trợ cho các ư tưởng của các tổ chức văn hoá hay những người hoạt động văn hoá. Các sắc lệnh sẽ điều chỉnh việc hỗ trợ này, và điều này được định nghĩa rơ trong các điều khoản về cách tiếp cận, quỹ hỗ trợ và phân bổ nguồn tài trợ hợp lư.
Mô h́nh văn hoá này đang có nhiều dư luận. Khó khăn chính xuất phát từ chính sách trợ cấp, số lượng tổ chức cần trợ cấp càng gia tăng trong khi quỹ hỗ trợ chỉ có vậy. Khi ngân sách có hạn các tổ chức chỉ nhận được các khoản trợ cấp không đầy đủ để tiến hành thành công những dự án của ḿnh.
Chức năng đại diện đóng một vai tṛ quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện các chính sách văn hoá. Có trên 30 hội đồng và tổ chức tư vấn có thể tham mưu cho Bộ trưởng và đệ tŕnh các kiến nghị hoặc kế hoạch trong suốt quá tŕnh làm chính sách và lựa chọn các dự án.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Cộng đồng nói tiếng Đức chủ yếu hỗ trợ các tổ chức phi lợi nhuận, các câu lạc bộ và các thành phố theo 4 cách sau đây:
· Hỗ trợ hoạt động
· Hỗ trợ các chi phí nhân sự
· Can thiệp tài chính cho các dự án và hợp tác
· Trợ cấp cho các dự án cơ sở hạ tầng và trang thiết bị.
Cộng đồng nói tiếng Đức đă thông qua chính sách quảng bá, chính sách này tạo cơ sở cho các hoạt động văn hoá và hiện tại được điều chỉnh bởi rất nhiều các sắc lệnh, đạo luật và thông tư khác nhau. Hầu hết các luật có từ những năm 80 và 90 và cho đến nay dần dần đă được áp dụng đối với những người có nhu cầu hoạt động trong lĩnh vực văn hoá. Mục đích của Chính phủ là để nghiên cứu những luật lệ một cách chi tiết và soạn thảo lại các đạo luật từ đầu.
Chính phủ kế nhiệm mới vào năm 2004 đă đưa ra các phương pháp vững chắc để áp dụng chương tŕnh của ḿnh. Phương pháp quan trọng nhất trong lĩnh vực văn hoá là đổi mới tư duy về hỗ trợ văn hoá và việc soạn thảo các đạo luật mà có thể giảm thiểu tối đa các chi phí hành chính và những người hoạt động văn hoá có thể thực thi được. Vậy sẽ có sự chậm trễ trong các kế hoạch làm việc và sự phân bổ tài chính, điều này nghĩa là có thể sẽ có sự quan tâm lớn hơn đối với các nhu cầu về hoạt động văn hoá đa dạng, những hoạt động này bao trùm các lĩnh vực khác nhau và tạo nên sự hợp tác lâu dài.
Rơ ràng là các phương tiện điện tử nghe nh́n ngày càng quan trọng, các điều khoản luật về các kỹ thuật truyền thông và việc đưa ra các dịch vụ truyền thông trực tuyến giúp h́nh thành nên nội dung chính của các chính sách truyền thông đại chúng. Các mục tiêu xa hơn nữa là mở rộng truyền thông và điều chỉnh luật phù hợp với xu hướng của châu Âu.
3.2 Định nghĩa về văn hoá
Định nghĩa văn hoá, được đề cập trong một tạp chí hiến pháp thứ 3 năm 1971, bao gồm các lĩnh vực sau:
· Bảo tồn và minh hoạ ngôn ngữ
· Khuyến khích đào tạo những người nghiên cứu
· Nghệ thuật tạo h́nh gồm có hát kịch và điện ảnh
· Di sản văn hoá, bảo tàng và các tổ chức khoa học văn hoá khác
· Thư viện, thư viện lưu trữ và các dịch vụ tương tự
· Đài và truyền h́nh (trừ việc truyền thông các tin quảng cáo và các tin tức chính phủ)
· Chính sách về vấn đề thanh niên
· Giáo dục và khuyến khích hoạt động văn hoá thường xuyên
· Đào tạo thể chất, thể thao
· Du lịch và giải trí
Các cải cách tiếp theo của Chính phủ đă tác động đến nền văn hoá, đặc hiệt là sự chuyển đổi năng lực pháp lư mới về văn hoá từ Chính phủ cho các hội đồng trong các lĩnh vực đào tạo (đặc biệt là đào tạo nghệ thuật), quảng cáo truyền thanh và truyền h́nh, và hỗ trợ báo chí.
Các quyền pháp lư được chuyển giao cho hội đồng ở các địa hạt Flemish, Walloon và Brussels về các lĩnh vực:
· Di sản văn hoá: đài tưởng niệm và các khu di tích
· Du lịch, cơ sở hạ tầng liên quan đến giáo dục thể chất, thể thao
3.3 Các mục tiêu của chính sách văn hoá
Các mục tiêu của chính sách văn hoá dựa trên các nguyên tắc chính trị và dân chủ về văn hoá. Nhân quyền và dân chủ đa nguyên là một sự hoà trộn thường thấy trong tất cả các chính sách và luật lệ. Việc tham gia và sáng tạo trong văn hoá được ưu tiên, sáng tạo rơ ràng được coi là một nhân tố cơ bản trong việc bảo vệ và tuyên truyền văn hoá châu Âu, mở cửa với thế giới, thực chất làm phong phú và tôn vinh số ít người nghệ sĩ đă cống hiến cho sự phát triển của văn hoá thế giới.
Cộng đồng nói tiếng Pháp ngữ
Chính sách văn hoá của Cộng đồng nói tiếng Pháp được xây dựng dựa trên 9 nguyên tắc cơ bản sau:
· Hỗ trợ cho các hoạt động tuyên truyền và sáng tạo trong các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn (ca nhạc, hát kịch, nghệ thuật giải trí), văn chương, điện ảnh, và các sản phẩm nghe nh́n
· Bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá (trừ các di sản trí tuệ nằm trong quyền hạn pháp lư bảo vệ của các khu vực) bao gồm bảo tàng, văn hoá dân gian, dân tộc học, ngôn ngữ mẹ đẻ và các cơ quan lưu trữ văn thư
· Phát triển văn hoá địa phương bao gồm các trung tâm văn hoá và thư viện công cộng
· Nâng cao tính dân chủ về văn hoá và sự tham gia vào đời sống văn hoá và xă hội trong đó có việc hỗ trợ cho thanh niên và chương tŕnh giáo dục thường xuyên, các tổ chức văn hoá và các tổ chức giao lưu văn hoá, văn hoá không chuyên
· Hỗ trợ đào tạo
· Dân chủ hoá nền văn hoá: giới thiệu nhiều h́nh thức nghệ thuật khác nhau đến các thành phần khán giả khác nhau
· Hỗ trợ truyền h́nh (phương tiện nghe nh́n công cộng, truyền h́nh địa phương)
· Hỗ trợ ấn phẩm
· Hỗ trợ các hoạt động quốc tế
Vào năm 2005, Thư kư Bộ văn hoá đưa ra “Đạo luật văn hoá chung”, tổ chức một cuộc thảo luận về chính sách văn hoá với những nhân vật quan trọng làm về văn hoá ở Cộng đồng Pháp ngữ. (xem chương 4.1)
Cộng đồng nói tiếng Đức
Di sản văn hoá và nghệ thuật là 2 nhánh chính trong lĩnh vực văn hoá, Trong khi văn chương là một phần của văn hoá, thư viện, điện ảnh, phát thanh và truyền h́nh và các ấn phẩm thuộc về lĩnh vực truyền thông.
Cộng đồng nói tiếng Đức sẽ chú trọng đẩy mạnh các hoạt động sau:
· Nghệ thuật không chuyên
· Quan tâm hơn đến nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật tạo h́nh và văn chương
· Giáo dục thường xuyên cho các tài năng trẻ và các nghệ sĩ có tham vọng ở địa phương
· Hợp tác văn hoá với các đối tác văn hoá nước ngoài
· Các hoạt động văn hoá dân gian
· Bảo vệ và bảo tồn các di sản văn hoá (bảo tàng, các ấn phẩm khoa học quan trọng, các công tŕnh duy tu, phục hồi)
· Thư viện
· Mở rộng các trung tâm dịch vụ truyền thống
· Thực hiện các ư tưởng trong lĩnh vực sách và phim truyện
· Khu vực tư nhân và các nhà truyền thanh truyền h́nh ở khu vực tư nhân.
Các hoạt động này bị tác động chính bởi các khoản hỗ trợ. Việc tổ chức các hoạt động (triển lăm, các cuộc thi, và các cuộc họp) có thể thực hiện được nhưng có ảnh hưởng đến sự hợp tác hay việc mua bán các tác phẩm nghệ thuật. Trung tâm truyền thông của Cộng đồng nói tiếng Đức lại có một quan điểm đặc biệt, họ tiến hành các cách thức nhằm xúc tiến các cuộc họp, các phương tiện truyền thông, duy tŕ hội thảo đa phương tiện và thiết kế chương tŕnh truyền h́nh.
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
4.1 Các vấn đề và ưu tiên chính của chính sách văn hoá
Cộng đồng nói Flemish

Các ưu tiên chính sách là:
· Hợp nhất nghệ thuật, di sản văn hoá và các hoạt động văn hoá xă hội thành 1 chính sách, chính sách đó bao gồm các hoạt động sáng tạo, tuyên truyền và bảo tồn.
· Đẩy mạnh việc tham gia vào đời sống văn hoá
· Nhận vai tṛ văn hoá mới trong các thành phố lớn (có hoạt động chức năng ở địa phương)
· Theo đuổi chính sách toàn cầu về văn hoá, chính sách đó có xu hướng thiên về văn hoá chứ không chỉ phục vụ v́ mục đích kinh tế hoặc chính trị
Ngoài những ưu tiên trên, chính sách văn hoá ở Flanders cần phải tập trung vào sự minh bạch hơn thông qua việc thông báo các công cụ chính sách mới bao gồm:
Sáng tạo một hệ thống tham mưu chặt chẽ hơn cho Bộ trưởng (hệ thống này trước đây rất manh mún)
Không chỉ cập nhật các chính sách từng phần (chính sách thư viện hay chính sách dành cho các trung tâm văn hoá) mà c̣n phải bắt đầu thiết lập nên khung chính sách toàn diện, tổng thể mà từ đó các chính sách đơn lẻ có thể liên hệ, kết hợp được với nhau.
Trong nhiều năm qua có nhiều nỗ lực được tạo ra nhằm xây dựng cho chính sách văn hoá một cơ sở khoa học thông qua nghiên cứu của Pḥng chính sách văn hoá trong Ban văn hoá vủa Bộ Văn hoá và các nghiên cứu của các tổ chức bên ngoài khác. Nghiên cứu khoa học về văn hoá và chính sách văn hoá đă nhận được động lực mới với việc thành lập trung tâm hỗ trợ Re-Creatief Vlaanderen, một trung tâm gồm nhiều đơn vị nghiên cứu thuộc các trường Đại học của Ghent, Louvain, Brussels (VUB) và trường the Europese Hogeschool Brussel (EHSAL). Nghiên cứu của họ tập trung vào các khía cạnh khác nhau của việc tham gia và rèn luyện văn hoá.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Các vấn đề thiểu số chính của chính sách văn hoá trong những năm gần đây có liên quan đến các chủ đề sau:
· Văn hóa và thành phố. Những sắp xếp hợp tác đă được chuẩn bị (các hợp đồng giữa các thị trấn hoặc các hạt) với các nhà chức trách địa phương (ở các vùng nông thôn, thành phố) trong các lĩnh vực di sản, nghệ thuật biểu diễn, các trung tâm văn hoá. Chính sách này đă nêu bật được vai tṛ của các khu vực nông thôn và thành thị như là những đầu tàu thúc đẩy tăng cường sự giao lưu văn hoá giữa các vùng.
· Xem xét các hợp đồng với các tổ chức văn hoá có vai tṛ lớn trong cộng đồng: trong một số năm qua Chính phủ của Cộng đồng Pháp ngữ đă duyệt lại các hợp đồng được thiết lập giữa các tổ chức văn hoá lớn bao gồm các pḥng phát thanh và truyền h́nh công cộng, nhà hát kịch opera, dàn nhạc, các nhà hát chính, các nhà hát múa và các trung tâm văn hoá. Mục đích là để xem xét lại nhiệm vụ của họ, kiểm tra lại các khoản đầu tư công vào những tổ chức này và để t́m ra những giải pháp mới cho các tổ chức để họ độc lập hơn về tài chính.
· Tăng cường luật pháp trong các lĩnh vực sau: nghệ thuật biểu diễn, bảo tàng, văn hoá dân gian và dân tộc học. Những lĩnh vực này không được kể đến trong Công ước văn hoá (Cultural Pact Act) năm 1973
· Xem lại các chính sách cũ: các luật thông qua những năm 70 gần đây được xem xét để cải cách lại hoặc phục vụ cho quá tŕnh phân tích đánh giá
· Tăng cường chức năng phân tích, giám sát, đánh giá và ước lượng các chính sách văn hoá. Trong đó, tăng cường các cơ sở tiêu chuẩn cho phép có thể thực hiện được các thống kê thực tiễn về sự phát triển của văn hoá, các ḍng quỹ hỗ trợ
· Hợp tác công-tư trong lĩnh vực truyền thông
· Tham gia văn hoá. Những ư tưởng mới tập trung vào việc nâng cao khả năng tiếp cận cho các tổ chức bị thiệt tḥi đến các tổ chức hỗ trợ văn hoá
· Văn hoá và thương mại: Tập trung vào các hiệp định WTO và MAI, nhấn mạnh việc bảo vệ các trường hợp văn hoá đặc biệt trong bối cảnh các ngành công nghiệp văn hoá đang phát triển
· Việc giao lưu giữa thanh niên và các nghệ sĩ: gồm có hỗ trợ các dự án giao lưu giữa các nước và thành lập mạng lưới văn hoá châu Âu.
· Đổi mới và thích ứng các khu vực công nghiệp vào mục đích văn hoá
· T́m kiếm các hợp đồng hợp tác với các cấp chính quyền khác nhau: ở cấp khu vực tỉnh và địa phương.
· Hiện nay, các ưu tiên chính là:
· Hỗ trợ cho việc tăng cường các dự án giao lưu giữa các nước và xây dựng mạng lưới văn hoá châu Âu
· Hỗ trợ nhiều hơn cho các dự án đa phong cách và các hoạt động văn hoá mới nổi (văn hoá nông thôn, văn hoá liên quan đến công nghệ mới,…)
· Chuyên nghiệp hoá đội ngũ và hỗ trợ đào tạo cho các trưởng pḥng văn hoá
· Tiếp cận với xă hội tri thức và có nhiều côngnghệ mới
· Hỗ trợ khu vực kỹ thuật số
· Sử dụng công nghệ mới trong các ngành truyền thông, liên lạc, và kỹ thuật số
· Tạo ra cơ hội đồng đều (cơ hội đồng đều giữa phụ nữ và nam giới, giữa văn hoá và xă hội
· ổn định giao lưu văn hoá và các thể loại văn hoá đa dạng, hỗ trợ phần lớn các nội dung nghệ thuật
· Nâng cao vai tṛ của truyền thông trong việc tuyên truyền văn hoá nghệ thuật
· Chuẩn bị xây dựng công ước hợp tác, liên kết để thực hiện khách quan việc hợp tác giữa chính quyền và nhân dân
· Tăng cường mối quan hệ và phát triển các dự án đưa văn hoá vào trường học
· Quan tâm đến kiến trúc như một vấn đề về văn hoá
· Quan tâm đến tính hiệu quả và minh bạch của bộ phận hành chính trong các mối quan hệ của bộ phận này.
Đạo luật văn hoá chung
Chính phủ Cộng đồng Pháp ngữ hiện tại (2004-2009) đă quyết định thi hành Đạo luật văn hoá chung: tham gia vào quá tŕnh thiết lập một chính sách văn hoá toàn cầu hoạt động với nhiều mục tiêu.
Một cuộc tranh luận liên khu vực diễn ra với tất cả các thành viên văn hoá quan trọng cũng như tất cả các bộ phận hành chính và chính trị các cấp. Mỗi thành viên được mời đến để đưa ra các tham luận đóng góp. Chủ đề của các cuộc họp được chuẩn bị là phi tập trung hoá.
Các mục tiêu sau đây được đưa ra:
· Thúc đẩy các phương tiện văn hóa: phân phối lại hợp lư hơn về trách nhiệm và quyền hạn giữa các cấp chính quyền
· Ưu tiên chất lượng: việc hỗ trợ phi tập trung sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, cần thiết phải thấy được ưu điểm và tầm quan trọng của mỹ học, nhu cầu thâm nhập dự án
· Nâng cao vị trí của người nghệ sĩ trong cộng đồng: mở rộng hơn sự quan tâm của xă hội về các tác phẩm nghệ thuật, tầm quan trọng của kiến trúc, phương tiện truyền thông và các hướng tiếp cận tốt hơn.
· Phát triển sự hợp tác: liên kết các thể loại nghệ thuật khác nhau, liên kết văn hoá, giáo dục, truyền thông và các nhà hoạt đông xă hội, nhận thức tầm quan trọng của việc hợp tác, của các dự án đa phong cách của các dự án nghệ thuật giữa các nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên
· Cải cách bộ phận hành chính: tổ chức sắp xếp dựa vào các thực tiễn văn hoá, nâng cao mối quan hệ với các nhà hoạt động văn hoá, minh bạch về thông tin (đặc biệt thông tin liên quan đến tài chính)
· Tăng cường và ổn định sự đa dạng của văn hoá: ngôn ngữ bản xứ, văn hoá chung, phong tục truyền thống, văn hoá của người dân nhập cư
· Thu hút nhiều khán giả và đa dạng hoá khán giả: mở ra nhiều hướng tiếp cận, thông tin, truyền thông, các hoạt động nghệ thuật không chuyên
· Đảm bảo khả năng tiếp cận địa lư và kinh tế-xă hội: các hoạt động văn hoá địa phương, phi tập trung hoá, các đặc trưng của vùng nông thôn, chính sách định giá.
· Tăng cường hoạt động sáng tạo và tuyên truyền; các động lực văn hoá quyết định: cơ sở hạ tầng, quan hệ đối ngoại, kim ngạch, tuyên truyền, tài trợ, các ngành công nghiệp văn hoá
· Tăng cường sự tham gia: các hoạt động hợp tác, văn hoá nghệ thuật địa phương
· Thúc đẩy giao lưu văn hoá: các dự án kết hợp nhiều loại h́nh văn hoá khác nhau, tăng cường sự trao đổi
· Bảo vệ nhân cách và chủ nghĩa nhân đạo: giáo dục trên truyền thông, quyền công dân, và ngăn chặn bạo lực và các xung đột.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Vấn đề chính là tăng cường các đặc trưng về văn hoá và ngôn ngữ của cộng đồng nói tiếng Đức tạo nền tảng cho việc quản lư tổ chức
Các tổ chức được thành lập hoạt động ở các lĩnh vực văn hoá cơ bản như giáo dục người lớn, vấn đề thanh niên, truyền thông và văn hoá dân gian được hỗ trợ về tài chính.
Di sản văn hoá và nghệ thuật nhận được sự ủng hộ tài chính. Chính quyền khu vực Wallon đă chuyển giao quyền quản lư văn hoá và di sản tự nhiên (02-02-1994) và các khu vực khảo cổ (01-01-2000) cho Cộng đồng nói tiếng Đức. Các toà nhà và khu danh lam được phân loại và các toà nhà được bảo vệ, trùng tu nhờ các quỹ ủng hộ công.
Trung tâm Phát thanh và truyền h́nh công cộng của Cộng đồng nói tiếng Đức hoạt động ở đài truyền h́nh từ năm 1000 và đưa ra một kênh phát thanh thứ 2 vào năm 2002.
Phần chính của chính sách này là kết hợp với Các cộng đồng khác ở Bỉ, các khu vực láng giềng và các Bang thành viên khác của EU trong tất cả các khu vực trên.
4.2 Các vấn đế chính sách hiện nay và bàn luận
4.2.1 Các điều khoản luật đối với văn hoá thiểu số
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Bỉ không có các dân tộc thiểu số chính thức. Quốc hội Flemish đă thông qua đạo luật chính sách về vấn đề này vào năm 1998 (28/4/1998). Đạo luật mô tả văn hoá thiểu số là văn hoá của tất cả những người dân tị nạn, và những nhóm người nước ngoài ở Bỉ mà không có giấy phép định cư và những người yêu cầu sự giúp đỡ v́ hoàn cảnh cấp bách. Chính sách thiểu số này là chính sách 3 hướng: chính sách giải phóng tập trung tạo sự hội nhập và chính sách trợ giúp.
Trong khi t́nh h́nh chính sách đang thay đổi. Các kế hoạch chính sách thiểu số 2004-2010 đă chỉ ra hoạt động tiếp cận, giao lưu là cần thiết để giải quyết (và ngăn chặn) các vấn đề đang tồn tại. Hoạt động được ưu tiên nhất là t́m kiếm việc làm và giáo dục. Nhưng mục tiêu đầu tiên là để những cư dân ngoại bang được hoà nhập và chung sống với dân cư bản xứ. Rơ ràng hơn trước đây là chính sách thiểu số xuất phát từ các giá trị văn hoá chung đặc trưng cho một xă hội mở cửa, khoan dung và dân chủ.
Điểm đầu tiên là hướng tiếp cận dựa trên sự đối xử công bằng với tất cả mọi người, nhưng trọng tâm sẽ nằm ở việc giải quyết rơ ràng các mâu thuẫn và sự khác nhau. Điều này được thể hiện trong các mục tiêu chiến lược sau:
Mục tiêu đầu tiên đ̣i hỏi Chính phủ Flemish và các tổ chức trợ cấp bằng cách nào đó có thể giải quyết được sự phân biệt này trong dân cư vào năm 2010. Như vậy cần phải có đội ngũ nhân viên và quản lư để tuyên truyền.
Theo mục tiêu thứ 2 th́ các khoản trợ cấp cho văn hoá sẽ đầy đủ hơn vào năm 2010 v́ vậy trong số văn hóa thiểu số cũng nhận được sự đầu tư.
Trong tài liệu chính sách văn hoá 2004-2009 th́ giao lưu văn hoá và quyền hạn quản lư văn hoá giao lưu là những khái niệm chính. Giao lưu văn hoá được thúc đẩy đối với tất cả các lĩnh vực văn hoá khác nhau. Mặt khác, có những công cụ chính sách đặc biệt được tạo ra để phục vụ mục hoạt động này. Ví dụ, từ năm 2000 trở đi, tiền được tiết kiệm để hỗ trợ các dự án nghệ thuật-xă hội, cố gắng tăng cường quyền tự do và tham gia văn hoá của các nhóm dân cư thiểu số thông qua các quyền hạn quản lư văn hoá. Sắc lệnh nghệ thuật cung cấp các khoản trợ cấp dài hạn cho các tổ chức nghệ thuật-xă hội cũng như các trợ cấp dự án. Các trung tâm hỗ trợ đă được yêu cầu phải chú ư đến việc thúc đẩy sự đa dạng văn hoá. Sắc lệnh về chính sách văn hoá địa phương chú trọng đến việc khuyến khích sự đa dạng phong phú trong văn hoá và các trung tâm văn hoá và trung tâm cộng đồng làm việc cùng các nhóm dân cư mục tiêu, cụ thể.
Việc làm thế nào để nhận thức được các mục tiêu chính sách hiện nay vẫn chưa rơ ràng. Chưa có nhiều nghiên cứu về t́nh trạng này. Làm thế nào và về khía cạnh nào th́ các tổ chức hỗ trợ sẽ bị đánh giá về mặt này cũng là không rơ ràng.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Các phương pháp hỗ trợ không dựa trên nhóm văn hoá nào, mà dựa trên sự đa dạng của các nền văn hoá và các nguyên tắc nghệ thuật.
Có rất nhiều tổ chức văn hoá dành cho các cộng đồng thiểu số trong các lĩnh vực như đào tạo thường xuyên và các hoạt động dành cho thanh niên. Các mục tiêu cơ bản của một vài tổ chức này là cung cấp thông tin cho các công dân đó để bảo vệ quyền lợi của họ và giúp phát triển các nền văn hoá thiểu số.
V́ người dân và các tổ chức có liên quan không tự ư đưa ra các lư do có thể ủng hộ các dự án của ḿnh nên ban giáo dục thường xuyên đă vạch ra một chương tŕnh hành động tập trung vào việc hỗ trợ cho hoạt động đa dạng văn hoá và giao lưu văn hoá. Ưu tiên dành cho các dự án đào tạo, các dự án tạo cơ hội đồng đều, và việc xây dựng sự đồng nhất văn hoá và xă hội cho thanh niên
Trong lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn th́ các nghệ sĩ và các nhóm dân gốc nhập cư được sự quan tâm riêng.
Giao lưu văn hoá và hoạt động ưu tiên đối với Ban điều hành hiện tại của Cộng đồng nói tiếng Pháp (xem chương 2.3). Các kiến nghị và bản tóm tắt t́nh h́nh đang được làm.
RTBF, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông công cộng của Cộng đồng nói tiếng Pháp, buộc phải đưa ra các chương tŕnh có chất lượng cao và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khán giả- bao gồm đáp ứng được mong đợi về văn hoá-xă hội thiểu số trong cộng đồng thuộc các chủng tộc, giới tính, tôn giáo, hệ tư tưởng, triết học khác nhau. Truyền thông được coi là một nhân tố gắn kết xă hội và v́ thế không có tŕnh trạng phân biệt trong xă hội.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Có nhiều nơi, dù là nông thôn hay thành thị ở Cộng đồng nói tiếng Đức có nhiều dân nhập cư từ các nơi không thuộc châu Âu. Tuy nhiên t́nh h́nh này thay đổi từ thành phố này sang thành phố khác và mỗi nơi có các cách thức riêng.
Cộng đồng nói tiếng Đức hỗ trợ các ư tưởng của các tổ chức ở khu vực tư nhân nhằm nâng cao quá tŕnh giao lưu hội nhập. Ngoài việc giáo dục thường xuyên th́ các tổ chức văn hoá đă tổ chức các chương tŕnh văn hoá toàn diện và đặc biệt bao gồm các chương tŕnh ngôn ngữ, khoá học văn chương, các sự kiện quốc tế và nhiếu chương tŕnh khác.
4.2.2Các vấn đề có liên quan khác và các thảo luận
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Cùng với việc tuyên truyền và sáng tạo nghệ thuật, và bảo tồn di sản th́ việc tham gia vào đời sống văn hoá cũng quan trọng ở Cộng đồng nói tiếng Pháp. Nhiều tổ chức ở cấp địa phương, khu vực hay cộng đồng và các tổ chức của thanh niên và người lớn đă xây dựng các dự án phát triển văn hoá. Những dự án này tập trung vào việc khuyến khích sự tham gia của các công dân vào đời sống văn hoá và xă hội, vào việc giáo dục và tăng cường ư thức công dân và tính dân chủ, vào các hoạt động văn hoá và nghệ thuật cũng như vào các hoạt động sáng tạo có liên quan đến môi trường xă hội của các nhóm dân cư có liên quan.
4.2.3 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Cộng đồngnói tiếng Flemish
Đạo luật ngày 15/7/1997 đưa ra vấn đề b́nh đẳng giới trong các hội đồng tư vấn, tối đa trong 2/3 các thành viên của các hội đồng tư vấn Flemish có thể cùng giới.

Cộng đồng nói tiếng Pháp
Chính sách b́nh đẳng rơ ràng cho nam và nữ nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và ủng hộ các dự án nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên không có điều khoản cụ thể nào đối với sự b́nh đẳng trong thực tế. Cũng cần nhấn mạnh là các vấn đề về dân chủ văn hoá như đào tạo thường xuyên, trợ cấp cho các tổ chức có các mục tiêu chính bao gồm b́nh đẳng nam nữ hay đề cao các vấn đề về sự b́nh đẳng giới cần được đặc biệt quan tâm.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Đạo luật ngày 3/5/2004 nhằm tăng cường sự b́nh đẳng nam nữ trong các hội đồng tư vấn đă ảnh hưởng đến số lượng mỗi giới trong các ghế hội đồng, và các tổ chức khác.
Đạo luật đề cập:
4.2.3 Các vấn đề và chính sách ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một trong những cơ sở nền tảng gốc tạo nên xă hội Bỉ. Ngoài 3 cộng đồng ngôn ngữ chính thức th́ có rất nhiều ngôn ngữ của các cộng đồng dân nhập cư đang được sử dụng trên khắp nước này. Là trung tâm của châu Âu, Bỉ là một thành phố đa ngôn ngữ.
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Hiệp hội ngôn ngữ Hà Lan được thành lập vào năm 1980 là một tổ chức liên chính phủ đại diện cho Hà Lan và Cộng đồng Flemish. Nhiệm vụ của tổ chức này là phối hợp phát triển ngôn ngữ và văn học Hà Lan ở những khu vực nói tiếng Hà Lan và những nơi khác. Việc tiêu chuẩn hoá ngôn ngữ Hà Lan (đánh vần, ngữ pháp, thuật ngữ, và các công nghệ xử lư giọng nói mới) là trách nhiệm của Hiệp hội này. Một số dự án được đưa ra để thúc đẩy sự hiểu biết về ngôn ngữ Hà Lan cho “các công dân mới”.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Một ban đặc biệt được thành lập có mục tiêu giữ ǵn và tuyên truyền tiếng Pháp. Ban này đưa ra 3 loại hành động chính:
· Làm cho tiếng Pháp dễ đọc và dược sử dụng nhiều hơn
· Sử dụng tiếng Pháp trong các lĩnh vực khoa học, thông tin, và kinh tế
· Đưa ngôn ngữ này đến với công chúng nhiều hơn: tổ chức các sự kiện quan trọng hàng năm: “lễ hội ngôn ngữ Pháp”; “thành phố ngôn ngữ”.
Có một số ngôn ngữ bản địa khác được sử dụng ở Wallonia hơn là tiếng Pháp. Những ngôn ngữ này đang nhận được sự ủng hộ về văn học, ngôn ngữ và các tŕnh độ giáo dục.
Có một sự hợp tác đặc biệt về các vấn đề ngôn ngữ giữa các tổ chức ngôn ngữ ở Pháp, Quebec và Cộng đồng Pháp ngữ ở Switzerland.
Cộng đồng Pháp ngữ là thành viên của Cơ quan Pháp ngữ và tham gia tích cực vào các hoạt động của tổ chức này, đặc biệt là các dự án liên quan đến tính đa dạng của văn hoá với các nước nói tiếng Pháp khác.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Trong tương lai, Cộng đồng nói tiếng Đức phải mở rộng các dịch vụ của ḿnh để phát triển ngôn ngữ tiếng Đức trong đời sống nhân dân.
Sử dụng các ngôn ngữ trong việc giảng dạy là một quy định bắt buộc ở các thành phố trong khu vực nói tiếng Đức, ngay cả đối với những người nói tiếng Pháp ở đây. Về khía cạnh này, Luật ngày 19/4/2004 về phương tiện và sử dụng ngôn ngữ trong giảng dạy có thể trong các điều kiện tự nhiên khi thành lập các trường tiểu học th́ ở đó tiếng Pháp hay Hà Lan là ngôn ngữ giảng dạy và tiếng Đức là ngoại ngữ đồng thời cho phép các trường cấp 2 được phép giảng dạy 50% hoặc 65% các môn bằng tiếng Pháp.
Trung tâm phát thanh truyền h́nh Bỉ của Cộng đồng nói tiếng Đức (BRF) theo Luật ngày 18/7/1979, có nhiệm vụ đưa ra các dịch vụ phát thanh truyền h́nh công cộng ở Đức và hiện tại có 2 pḥng phát thanh và một kênh truyền h́nh. Các đài phát thanh truyền h́nh hợp pháp bắt buộc phải sử dụng và thực hiện các chương tŕnh tiếng Đức bằng cách điều hoà sao cho đạt tỷ lệ 75% các chương tŕnh là tiếng Đức.
Một sáng kiến khác cho việc duy tŕ tiếng Đức là các giải thưởng được trao bởi Hội đồng của Cộng đồng nói tiếng Đức:
· Các giải thưởng cho các tác giả có tác phẩm văn chương hay các tác phẩm có các chủ đề liên quan đến khu vực nói tiếng Đức
· Giải thưởng sách cho học sinh đáp ứng đủ yêu cầu về ngôn ngữ Đức chuẩn.
Chuyển đổi ngôn ngữ giữa Cộng đồng nói tiếng Đức và 2 Cộng đồng khác dược quy định trong các bản cam kết hợp tác. Sự chuyển đổi này đề cập đến cả các khu vực văn hoá, truyền thông, chính sách cho giới trẻ và giảng dạy
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Các tập đoàn lớn khác nhau tự cân bằng lẫn nhau trong khu vực truyền thông Flemish (báo chí, tạp chí, phát thanh và truyền h́nh). Việc tập trung vào địa phương không đưa lại vị trí ưu thế hơn. Các dịch vụ phát hành báo, tạp chí phát thanh và truyền h́nh của Flemish vẫn phát triển mặc dù có t́nh trạng tập trung hoá.
Độc quyền về phát thanh nhà nước đă bị phá vỡ. Các đài phát thanh của tư nhân và nhà nước được hoạt động song song càng tạo nên sự phong phú trong lĩnh vực phát thanh.
Sự thâm nhập mạnh mẽ của truyền thông cáp Flemish (97% gia đ́nh sử dụng) là một nét đặc biệt ở châu Âu và cho thấy sự phát triển của ngành truyền thông Flemish.
Vai tṛ của chính phủ trong khu vực năng động và phát triển này là một bộ máy điều tiết và tạo điều kiện để duy tŕ sự cân bằng và đa dạng trong lĩnh vực truyền thông, ở đây có rất nhiều doanh nghiệp có khả năng cung cấp những dịch vụ chất lượng cao và phong phú cho mọi người dân có thể tiếp cận dễ dàng và lựa chọn.
.jpg)
Nhiệm vụ của đài Phát thanh và truyền h́nh công cộng (VRT) được quy định trong đạo luật ngày 25/1/1995). Luật này yêu cầu VRT cung cấp những dịch vụ chất lượng cao trong các lĩnh vực sau: thông tin, văn hoá, giáo dục và giải trí. Nhiệm vụ hàng đầu của VRT là đưa đến cho các khán giả của ḿnh những thông tin và các chương tŕnh văn hoá tiêu điểm. Thể thao, giáo dục hiện đại, kịch sân khấu và giải trí cũng được đê cập tới. VRT và chính phủ Flemish đưa ra cam kết quản lư 5 năm 1 lần. Những cam kết này bao gồm các tiêu chuẩn hoạt động để thực hiện các mục tiêu đă vạch ra.
Cam kết quản lư 2002-2006 giữa mạng lưới truyền thông công cộng và Cộng đồng Flemish không được rơ ràng về các nhiệm vụ văn hoá. Tiêu chuẩn hoạt động đang được xem xét là có nên phát nhiều chương tŕnh văn hoá khác nhau đến 15% dân số. Một tiêu chuẩn hoạt động khác là việc phát sóng và đồng phát sóng của truyền h́nh Flemish phải chiếm ít nhất 50% tổng các chương tŕnh chiếu từ 6 đến 11 giờ đêm.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Cộng đồng nói tiếng Pháp đă đưa ra các quy định để diều chỉnh việc tập trung hoá. Mục đích của những biện pháp này là không cấm các loại h́nh tập trung hoá, nhưng phải có điều kiện:
· Minh bạch về quyền sở hữu truyền thông
· Đảm bảo nội dung truyền thông phong phú
Một số biện pháp đă được đưa ra để tránh sự can thiệp của bất kỳ tổ chức công và tư không xác định và do vậy đảm bảo được tính độc lập, tự quản và có trách nhiệm đối với các nhà truyền thông.
Ví dụ, theo điều 7, Đ2 trong luật ngày 14/7/1997 về Cộng đồng nói tiếng Pháp điều chỉnh công ty Phát thanh truyền h́nh Cộng đồng nói tiếng Pháp ở Bỉ đă tuyên bố:
“các chương tŕnh được phát bởi công ty này phải mang các thông tin hoặc chương tŕnh văn hoá đến khán giả, không có cơ quan kiểm duyệt cấp cao hay sự can thiệp của quan chức nhà nước và những tư nhân có quyền”.
Hơn nữa, mục tiêu của dịch vụ công cộng là đảm bảo đưa ra các chương tŕnh phong phú, bao gồm các chương tŕnh thông tin chung, chương tŕnh phát triển văn hoá,…
Công ty truyền thông công cộng của Cộng đồng nói tiếng Pháp ở Bỉ phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng và độ phong phú của các chương tŕnh, để tập hợp được lượng khán giả lớn nhất có thể đáp ứng được mong đợi của các cộng đồng dân cư có nền văn hoá xă hội thiểu số. Những chương tŕnh này cũng phải phản ánh được các xu hướng khác nhau của xă hội, không có h́nh thức phân biệt nào cho dù có nền văn hoá và hệ tư tưởng khác nhau.
Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến nội dung của truyền thông cũng được đưa ra. Mục đích của những quy định này là đảm bảo cho nhân dân tiếp cận được với các thông tin, v́ vậy họ có thể có những ư kiến riêng về nguồn gốc của những thông tin mà họ tiếp nhận. Những quy định này cũng tập trung vào việc cho phép chính quyền kiểm soát có được những thông tin cần thiết để giám sát sự hoạt động độc lập của những nhà biên tập dịch vụ truyền thông và mặt khác theo dơi các hoạt động để đảm bảo quần chúng được tự do tiếp nhận các dịch vụ truyền thông.
Một số quy định tập trung vào việc đảm bảo cho quần chúng được thể hiện các ư kiến của ḿnh về các thông tin tiếp nhận bằng việc ngăn chặn sự độc quyền trong việc cung cấp dịch vụ truyền thông về tất cả các loại thông tin, và bằng cách áp dụng quy định về các nghĩa vụ đối với việc đánh giá các thông tin để đảm bảo sự cân bằng giữa các hệ tư tưởng khác nhau đang tồn tại.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Trung tâm Phát thanh và truyền h́nh Bỉ (BRF) chịu trách nhiệm về việc phát thông tin, các chương tŕnh giáo dục và giải trí cho khán giả và có nhiệm vụ tuyên truyền về Cộng đồng nói tiếng Đức. Việc đưa tin tức phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe khách quan và không có tiền lệ bị phê b́nh. Hội đồng quản lư có trách nhiệm giám sát đối với Trung tâm này, hướng tới sự tự do hoá về suy nghĩ đối với các xu hướng tư tưởng và triết lư khác nhau.
Theo luật Truyền thông, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ truyền h́nh phải có các chương tŕnh nói về Cộng đồng nói tiếng Đức. Các nước châu Âu phải có thời lượng phát sóng trong các chương tŕnh; một bộ phận đại diện cho những nước này có thể không được lâu hơn 5 năm. Các nhà phát thanh tư nhân phải cất giữ các thông tin không rơ ràng phản ánh nhiều quan điểm khác nhau trong việc làm chương tŕnh của họ. Hơn nữa, họ phải chú trọng đến văn hoá và các nghệ sĩ đến từ Cộng đồng nói tiếng Đức và các khu vực lân cận.
Các tổ chức hợp pháp và các tổ chức truyền thông tư nhân có thể với trách nhiệm của ḿnh phát những chương tŕnh truyền h́nh với các mức giới hạn thời gian nào đó. Với mục đích này, Cộng đồng nói tiếng Đức đă thiếp lập một kênh truyền thông công cộng với sự tài trợ của các tổ chức tư nhân nhằm tạo điều kiện cho việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ truyền thông miễn phí và công bằng cho mọi người.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Các tổ chức công nghiệp văn hoá là cộng sự chính trong việc thực hiện các mục tiêu trong chính sách văn hoá của cộng đồng Flemish. Ví dụ trong các khu vực nhất định các tổ chức này có trách nhiệm phân phối hoặc sản xuất các sản phẩm văn hoá. Các dự án hỗ trợ được triển khai để ủng hộ các tổ chức phúc lợi xă hội này trong lĩnh vực văn hoá.
Văn bản luật quy định về Nghệ thuật và Di sản (xem chương 5.2) cho phép các tổ chức hợp pháp được nhận các khoản hỗ trợ để thực hiện các dự án khả thi và xuất bản các ấn phẩm.
Đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật nghe nh́n th́ các nhà đầu tư sản xuất có thể dựa vào các ưu đăi về thuế, bên cạnh đó Quỹ tài trợ lĩnh vực nghệ thuật nghe nh́n của cộng đồng Flemish cũng hỗ trợ cho các sáng tạo ở lĩnh vực nghệ thuật này. Cam kết quản lư giữa chính phủ và nhà truyền thông công cộng (VRT) quy định VRT cũng phải tham gia vào việc sản xuất các tác phẩm nghe nh́n của cộng đồng Flemish, ví dụ như phim truyện, kịch và phim tài liệu.
Tuy nhiên các sáng kiến chính sách này luôn chỉ là một phần trong rất nhiều yêu cầu. Hiện tại không có chính sách chặt chẽ nào cho ngành công nghiệp văn hoá ở Flanders. Văn bản chính sách văn hoá 2004-2009 đưa ra các chỉ tiêu về sự phát triển và chính sách thị trường đúng đắn, thử nghiệm cơ hội và hiệu quả của hoạt động đầu tư văn hoá trong xă hội, cũng như các hỗ trợ cho các dự án theo quy định hiện nay.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Các khoản hỗ trợ đă được đầu tư cho việc xuất bản các sách văn học, nghệ thuật hoặc văn hoá nói chung và cho các tác phẩm âm nhạc. Các hợp đồng quản lư giữa các đài truyền h́nh và phát thanh bao gồm quy định bắt buộc tham gia vào việc sản xuất các tác phẩm nghe nh́n, phim ảnh và âm nhạc.
Phần quan trọng đáng lưu ư là lĩnh vực nghe nh́n cần nhiều sự hợp tác như trên.
Vào ngày 27/2/2003, Chính phủ cộng đồng nói tiếng Pháp đă áp dụng một đạo luật về phát thanh. Những điều khoản cũng đưa ra hiệu lực pháp lư mới đối với các nhà làm dịch vụ truyền thông và cung cấp thêm những phương pháp mới trong việc sản xuất các tác phẩm nghe nh́n trong Cộng đồng Pháp ngữ.
Cho đến bây giờ, những nhà làm dịch vụ truyền thông phải đóng góp một tỷ lệ % doanh thu nào đó cho lĩnh vực này, kể cả dưới h́nh thức đồng sản xuất chương tŕnh hay mua trước các tác phẩm, chương tŕnh nghe nh́n, hoặc dưới h́nh thức trả cho Trung tâm Chiếu phim và Chương tŕnh nghe nh́n.
RTBF, nhà cung cấp dịch vụ phát thanh truyền h́nh công cộng cho cộng đồng nói tiếng Pháp ở Bỉ, sẽ liên hệ với các chức trách quyền hành bằng hợp đồng quản lư mà nghĩa vụ của họ là phải tham gia vào việc sản xuất chương tŕnh nghe nh́n và phim ảnh.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Tại cấp liên bang, Quỹ xă hội "Maribel" được thành lập để hỗ trợ việc tạo việc làm cho lĩnh vực văn hoá.
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Trong nhiều năm nay, chính phủ đă cố gắng tạo mọi điều kiện và sử dụng triệt để các h́nh thức việc làm trong lĩnh vực văn hoá để chống chọi với nạn thất nghiệp trong ngành này.
Trong một vài năm gần đây, những lao động làm trong lĩnh vực văn hoá được tuyển dụng thông qua các chương tŕnh tuyển dụng đặc biệt.
Quỹ đảm bảo kinh tế-xă hội được thành lập trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Một cam kết lao động được đưa ra cho những ngành có độ rủi ro cao. Tổng đóng góp cho an toàn xă hội chiếm 0.10% tổng số tiền phải trả cho nhân viên, số tiền này lại được chi cho các dự án như tuyển dụng và đào tạo trong lĩnh vực này.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Từ năm 1974, tỷ lệ việc làm trong lĩnh vực văn hoá đă phát triển và số lao động được trợ cấp chủ yếu là ở các trung tâm văn hoá, tổ chức thanh niên, giáo dục thường xuyên, thư viện, nhà hát, và các tổ chức văn hoá chính.
Có nhiều kế hoạch thu hút những lao động thất nghiệp được tiến hành trong bối cảnh các chính sách tuyển dụng tổng thể đă tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư vào công tác tuyển dụng ở các ngành văn hoá khác nhau.
Sự đóng góp này đẩy mạnh tỷ lệ việc làm trong lĩnh vực văn hoá.
Tuy nhiên, điều này không đảm bảo được chất lượng và khả năng của người được tuyển dụng v́ những vị trí nghề nghiệp này là do sự cần thiết của xă hội.
Các h́nh thức hợp tác mới giữa các chính sách văn hoá (dựa trên cộng đồng) và các chính sách tuyển dụng (liên bang hoặc ở địa phương) đang được nghiên cứu, t́m kiếm nhằm tăng tỷ lệ có việc làm trong ngành văn hoá với quy mô vững chắc hơn.
Danh sách tuyển dụng trong lĩnh vực văn hoá vẫn c̣n thiếu. T́nh trạng này sẽ đưa lại nhiều cơ hội nghề nghiệp cho nhiều người trong lĩnh vực văn hoá-xă hội, bên cạnh đó là một loạt các chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn và quy chế, chế độ.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Các khoản hỗ trợ tài chính cho đội ngũ nhân viên làm việc trong các tổ chức văn hoá, bảo tàng và tổ chức sáng tạo cũng như các tổ chức của thanh niên và tổ chức giáo dục người lớn được điều chỉnh bởi các luật và cam kết.
Kể từ khi vùng Walloon trong Cộng đồng nói tiếng Đức được chuyển giao trách nhiệm về việc tuyển dụng vào năm 2000 th́ quy định về các biện pháp tạo việc làm do chính phủ và Cơ quan Lao động của Cộng đồng nói tiếng Đức ban hành đă trở thành những công cụ quan trọng nhất trong chính sách tuyển dụng.
Các biện pháp tạo công ăn việc làm nhằm vào công tác tạo điều kiện cho những người thất nghiệp lâu dài và những người nhận trợ cấp phúc lợi xă hội có việc làm. Bằng cách trợ cấp các khoản chi phí lương của các tổ chức để họ tuyển thêm nhân viên trong các dự án cần sự quan tâm của cộng đồng thế giới, Cộng đồng nói tiếng Đức đă có những đóng góp trọng tâm vào việc tăng quy mô tỷ lệ có việc làm.
4.2.7. Công nghệ mới và chính sách văn hoá

Cộng đồng nói tiếng Flemish
Trong các tổ chức Cộng đồng Flemish, mạng lưới làm việc và các dự án về lĩnh vực văn hoá điện tử đang phát triển.
Văn bản chính sách 2004-2009 của Bộ Văn hoá có sự tham khảo về nhu cầu phát triển quy tŕnh công nghệ số trong các lĩnh vực văn hoá khác nhau. Chính sách đó cũng bao gồm một phần tổng quát về tầm quan trọng của việc tạo các động lực mới cho chính sách văn hoá điện tử.
Một số dự án nghiên cứu đang được mong đợi sẽ có kết quả vào năm 2005 là điều kiện để thực hiện được việc này.
Việc triển khai kế hoạch chủ đạo cũng đă được bắt đầu trong lĩnh vực di sản văn hoá, trong đó cũng bao gồm về công nghệ số hoá.
Một phần về văn hoá kỹ thuật số đă được thêm vào Website của Ban quản lư văn hoá. Phần này là một trong những bước nhằm hướng tới việc đăng tải các thông tin về công nghệ số ở châu Âu và Flanders, đồng thời nhằm hướng dẫn người sử dụng mạng tiếp cận với các thông tin về chính sách và thực tiễn phát triển của công nghệ số ().
Như Cộng đồng nói tiếng Pháp, Cộng đồng Flemish cũng tham gia vào Nhóm đại diện quốc gia, có trách nhiệm trong việc theo đuổi Kế hoạch hành động Lund.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Mỗi năm, một ngày hội internet được tổ chức. Mục tiêu của ngày hội này là tiếp cận Cộng đồng Pháp ngữ và đặc biệt hơn về văn hoá trong “xă hội tri thức”.
Sự phát triển những công nghệ mới chủ yếu tập trung vào việc quản lư điện tử: phát triển các website, cổng truy cập, các dịch vụ trực tuyến, và chú trọng vào việc bảo tồn lâu dài các di sản văn hoá: số hoá các di sản phù hợp với tiêu chuẩn của thế giới.
Chương tŕnh tiếp cận bằng máy tính đối với các bộ sưu tập của các tổ chức bảo tàng (AICIM) chưa được phát triển.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Dự án quan trọng nhất bên cạnh việc tái khai trương cổng truy cập internet của Cộng đồng nói tiếng Đức là liên tục mở rộng mạng lưới thư viện ảo. Đây là mạng lưới điện tử trong đó Trung tâm truyền thông, các thư viện truyền thông trường học và các thư viện công cộng có thể phối hợp với nhau. Bộ sưu tập nghệ thuật của Cộng đồng nói tiếng Đức đang được lưu trữ bằng kỹ thuật số và có thể xem trực tuyến dưới h́nh thức bảo tàng ảo.
Các dự án hợp tác vững chắc hướng tới sự phát triển hơn nữa về các lĩnh vực truyền thông và văn hoá bằng cách kết nối mạng lưới giữa các tổ chức khác nhau và khuyến khích việc trao đổi những hoạt động thí điểm và kinh nghiệm thực tế.
Về các lĩnh vực giáo dục và thanh niên, các kỹ năng giao tiếp truyền thông đang được xúc tiến, ví dụ như việc hỗ trợ các tạp chí thanh niên trực tuyến “Jumix”, đưa ra các khoá học, vác dự án và các sự kiện, chương tŕnh lớn thông qua Trung tâm truyền thông và máy chủ quản lư về văn hoá của Cộng đồng này (learnbox).
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Canon, đơn vị văn hoá của Pḥng Giáo dục, đă thực hiện một số sáng kiến để tăng cường vị trí của văn hoá trong lĩnh vực giáo dục. Ví dụ, khi các giáo viên mong muốn thực hiện các dự án giáo dục nghệ thuật họ cần tiếp cận được danh sách các tổ chức mà chính phủ giới thiệu. Danh sách này bao gồm các tổ chức và các các nhân nghệ sĩ những người có thể giám sát hoặc tham gia vào các dự án trong trường học. Các giáo viên cần làm đơn xin trợ cấp để bù vào các khoản chi phí trong các dự án đó.
Trong vài năm qua, Canon đă thực hiện được 2 dự án chính cho các giáo viên với sự hợp tác của rất nhiều các tổ chức văn hoá. Dự án đầu tiên, những ngày văn hoá Canon, diễn ra ở nhiều trung tâm văn hoá và mang đến cho các giáo viên một diễn đàn để thảo luận về dự án văn hoá: mục tiêu, sự chuẩn bị, các vấn đề, giá trị gia tăng, và quỹ ủng hộ. Trong suốt những ngày này các giáo viên cũng có thể được làm quen với nhiều các tổ chức tham gia vào các dự án nghệ thuật mà có thể mang lại lợi ích lâu dài cho dự án của họ. Dự án thứ 2, Meesterstukken, được triển khai nhằm tạo điều kiện cho các giáo viên tham gia vào một chương tŕnh có quy mô lớn với hàng trăm sự kiện, cuộc hội thảo và thảo luận được tổ chức ở các trung tâm văn hoá, trung tâm nghệ thuật dành cho trẻ em, và các viện bảo tàng. Họ được cung cấp các tài liệu về giáo dục và giảng dạy.
Theo sáng kiến của Pḥng Giáo dục, tổ chức King Baudouin Foundation và Trung tâm nghệ thuật không chuyên đă đưa ra một dự án thử nghiệm ở các trường học với hơn 50% học sinh là dân nhập cư. Chương tŕnh hỗ trợ cho một nghệ sĩ đến thăm các trường học một ngày một tuần.
Vào ngày 18.2.2002, Bộ trưởng Giáo dục và Bộ trưởng Văn hoá đă kư “Hiệp ước về hợp tác giữa Văn hoá và Giáo dục”, bản hiệp ước này nhằm hướng các ban ngành tới việc hợp tác triển khai một chính sách về việc liên kết văn hoá và giáo dục. Để có thể đối thoại với nhau giữa Bộ Văn hoá và Bộ Giáo dục, 3 hội đồng tư vấn và một ban chỉ đạo đă được thành lập. Ban chỉ đạo đă nhận nhiệm vụ phát triển kế hoạch hành động và thời gian biểu triển khai các mục tiêu của Hiệp ước. Một hội đồng tư vấn có trách nhiệm về nhiều h́nh thức hoạt động sẽ diễn ra trong suốt “thời gian học”, “thời gian rỗi” và “ thời gian làm việc”. Hội đồng đó gồm có các đại diện của các Pḥng ban và các chuyên gia bên ngoài. Hiệp ước ủng hộ cho các tài năng sáng tạo tương lai của tổ chức hỗ trợ giáo dục-văn hoá, là công cụ để tạo điều kiện cho sự phát triển mối quan hệ hợp tác giữa văn hoá và giáo dục.
Trong sắc lệnh về nghệ thuật, giáo dục là một điểm được đặc biệt quan tâm. Các tổ chức nghệ thuật hiện tại có thể có các hoạt động giáo dục trong kế hoạch hoạ động của ḿnh để nhận được các khoản trợ cấp tài chính. Ngoài ra, các khoản trợ cấp hỗ trợ cho các tổ chức làm việc độc lập trong lĩnh vực giáo dục nghệ thuật có thể được cấp trong thời gian 2 năm, 4 năm và cho các dự án.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Nghệ thuật biểu diễn
Vào cuối những năm 60, chương tŕnh gây quỹ được tổ chức để tài trợ cho các chương tŕnh âm nhạc và kịch ở các trường học. Chính sách này đă đóng góp vào sự phát triển không chỉ của ngành sáng tạo nghệ thuật mà c̣n đóng góp vào việc tuyên truyền về của các nhà hát kịch nói chung trong các trường học.
Văn học và thư viện công cộng
Các nhà văn, tập trung vào đối tượng sinh viên, đă phác thảo các chương tŕnh về văn học Francophone của Bỉ. Các dự án thí điểm tăng cường sự phối hợp giữa các trường học và các thư viện. Các trường học cũng tham gia các sự kiện, chương tŕnh đầu năm như "la fureur de lire" và "la langue en fờte".
Hiện tại đang có những cải tổ về giáo dục, điều đó sẽ củng cố lại sứ mệnh của giáo dục trong xă hội hiện đại và thể hiện sự quan trọng của các hoạt động văn hoá trong các trường học. Văn hoá và giáo dục là được thống nhất quản lư bởi một bộ của Cộng đồng nói tiếng Pháp. Các mục tiêu và dự án hợp tác hiện nay đang được triển khai.
Một chương tŕnh riêng biệt, có thể phối hợp các pḥng ban văn hoá với giáo dục, hướng tới việc phát triển các hoạt động văn hoá trong trường học, đặc biệt trong các trường học có sự phân biệt nặng nề (những học sinh bị thiệt tḥi về mặt xă hội). Chương tŕnh này tập trung vào các hoạt động liên quan đến các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nghe nh́n, sáng tạo và giáo dục thường xuyên.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Các nghệ sĩ và trường học cộng tác với nhau trong một số các dự án. Không có các phương pháp xúc tiến hệ thống nào.
4.2.9 Các chính sách và vấn đề về di sản
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Các nhà chức trách trong Khu vực Flemish và trung tâm Brussels phải chịu trách nhiệm đối với công tác thi hành văn bản luật được thông qua nhằm điều chỉnh các di sản không di dời được cũng như việc tổ chức các ngày tưởng niệm. Khu vực Flemish đang chuẩn bị cho một số dự án trong đó có việc hoàn thành việc đáng giá di sản kiến trúc trước năm 2003 và luật bảo hộ cho tất cả các đài tưởng niệm có giá trị trước năm 2007.
Khu vực Flemish đang tiến hành một dự án mới nhằm phát triển khả năng tiếp cận đối với các công tŕnh tưởng niệm một cách dễ dàng và bảo đảm không làm ảnh hưởng đến các di sản. Tài sản của nhà thờ, di sản, các h́nh thức quản lư mới được đặc biệt chú ư.
Trong cộng đồng Flemish, chính sách di sản văn hoá đang mở rộng một cách nhanh chóng. Chính phủ muốn hỗ trợ sự sáng tạo trong các công việc kiểm kê đánh giá, bảo tồn, quản lư, tham gia các hoạt động nghiên cứu.
Các hiệp ước di sản thử nghiệm đă được duyệt ở 9 thành phố và với Hội đồng "Vlaamse Gemeenschapscommissie" [Hội đồng Cộng đồng Flemish] ở Brussels. Luật di sản văn hoá (7.5.2004) đă tạo cơ hội cho tất cả các cộng đồng-hay các cộng tác cộng đồng- với dân số trên 20 000 được tham gia phê duyệt hiệp ước di sản cùng với Cộng đồng Flemish.
Vào năm 2001, chương tŕnh Di sản Cuối tuần hàng năm đă được tổ chức lần đầu tiên.
Trung tâm văn hoá phổ thông Flemish (VCV) là một trung tâm hỗ trợ về các lĩnh vực văn hoá dân gian, dân tộc học, lịch sử địa phương, công nghiệp khảo cổ học.Văn bản luật ngày 27/10/1998 điều chỉnh việc trợ cấp cho các tổ chức trong lĩnh vực văn hoá phổ thông và Trung tâm văn hoá phổ thông Flemish (VCV). Tuy nhiên VCV có nhiệm vụ phải nghiên cứu văn hoá phổ thông và đời sống hàng ngày ở Flanders, có vai tṛ hỗ trợ trong việc thu thập thông tin (các thông tin mới nhất) và liên hệ với các tổ chức và cơ quan có liên quan.
Luật bảo tàng(20/12/1996) phân biệt 3 loại bảo tàng hoạt động ở cấp địa phương, cấp khu vực và các loại có tầm quan trọng quốc gia (quốc tế). Các bảo tàng có thể đăng kư xin hỗ trợ ngân sách hoạt động hoặc các khoản hỗ trợ cho các dự án. Các nhà tư vấn bảo tàng có trách nhiệm tư vấn và cung cấp thông tin cho các bảo tàng, đưa ra dịch vụ giáo dục, tư vấn cho các dự án và những thành phần tham gia vào lĩnh vực bảo tàng.
Các cơ quan lưu trữ văn hoá tư nhân có thể được trợ cấp dựa theo luật ngày 19.7.2002.
Từ năm 2002, "Culturele Biografie Vlaanderen vzw" hoạt động như một trung tâm hỗ trợ cho các bảo tàng, cơ quan lưu trữ, thư viện và các trung tâm lưu trữ tư liệu, và thực hiện các điều khoản trong luật di sản.
Để bảo vệ các di sản văn hoá có thể di dời đặc biệt quan trọng th́ một đạo luật mới đă được thông qua ngày 24.1.2003. Luật này không chỉ trợ cấp cho việc duy tu mà c̣n đưa ra các biện pháp bảo vệ. Nó cũng điều chỉnh việc bán di sản ra nước ngoài và buộc chính phủ Flemish phải mua các di sản không đủ tiêu chuẩn đối với hợp đồng xuất khẩu licence.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Trách nhiệm quản lư về di sản được chia sẻ giữa các khu vực (Wallonia và trung tâm Brussels) và Cộng đồng Pháp ngữ. Các khu vực có trách nhiệm về các di sản văn hoá không di dời được bao gồm viện bảo tàng, pḥng lưu trữ, dân tộc học và văn hoá dân gian.Việc chuyển giao quyền quản lư về di sản không di dời được từ Cộng đồng nói tiếng Pháp đến chính quyền các vùng Brussels và Walloon được đưa ra nhằm tạo điều kiện cho sự hợp tác sâu sắc hơn giữa các thành phố và hạt, đưa việc bảo tồn di sản vào các chiến lược lập kế hoạch của họ.
Chính sách di sản của Cộng đồng nói tiếng Pháp cần thiết tập trung vào khu vực bảo tàng: bảo tàng Hoàng gia Mariemont của Cộng đồng nói tiếng Pháp trợ cấp 12 bảo tàng và các trung tâm nghệ thuật được liên kết thực hiện bởi Cộng đồng nói tiếng Pháp và các quan chức khác.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Cộng đồng nói tiếng Đức chịu trách nhiệm về việc bảo tồn di sản văn hoá phi vật chất, di sản văn hoá di dời được, tượng đài kỷ niệm và phong cảnh vùng quê và bảo vệ các khu vực tưởng niệm. Cộng đồng này hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá dân gian, các hoạt động được các viện bảo tàng thực hiện và việc xuất bản các tác phẩm văn học lịch sử; hỗ trợ cho công việc duy tu đối với các di sản văn hoá di dời được và các đài tưởng niệm và hỗ trợ cho công tác điều hành ban khảo cổ học.
Cùng với Khu vực Walloon, Cộng đồng nói tiếng Đức tham gia vào chương tŕnh Ngày di sản châu Âu. Các sáng kiến khác trong lĩnh vực di sản văn hoá cũng được triển khai với sự hợp tác của các khu vực xung quanh (B, D).
5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá

5.1 Luật tổng quan:
Mục đích của việc sửa đổi bổ sung nội dung chương 5 gần đây là nhằm cung cấp cho các bạn cái nh́n tổng quan sâu sắc hơn về các công cụ luật pháp được sử dụng để phát triển văn hóa tại các nước.
Chương 5.1: Cung cấp thông tin về các điều khoản quan trọng trong luật có tác động đến văn hóa. Ví dụ như là các điều khoản trong thể chế của các quốc gia hoặc các điều luật mà các nước sử dụng để kiểm soát việc phân bổ công quỹ.
Chương 5.2: Cung cấp một danh sách mang tính tổng quát hệ thống luật văn hóa chủ yếu. Trong khi một số quốc gia có thể có đến hàng trăm luật th́ một số quốc gia có khi chỉ có một luật duy nhất là “luật văn hóa”.
Chương 5.3: Được chia nhỏ nhằm cung cấp thông tin về một số điều luật trong một số lĩnh vực cụ thể như sau: nghệ thuật nghe nh́n và ứng dụng, nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc, di sản văn hóa, văn học và thư viện, kiến trúc và môi trường, điện ảnh truyền h́nh và nhiếp ảnh, công nghiệp văn hóa và các phương tiện thông tin đại chúng.
5.1/ Luật chung:
5.1.1 Thể chế:
Thể chế của Bỉ bao gồm quyền tự do ngôn luận (Điều 19), luật phát triển văn hóa (Điều 23,5), quyền tự do báo chí (Điều 25).
5.1.2 Sự phân chia phạm vi quyền hạn:
Thể chế sẽ quyết định các vấn đề văn hóa, vấn đề hợp tác văn hóa giữa các cộng đồng, hợp tác văn hóa quốc tế trong khuôn khổ cộng đồng người nói tiếng Pháp và cộng đồng người nói tiếng Hà Lan.
5.1.3 Việc phân bổ quỹ công:
Phần quan trọng của luật liên bang là luật văn hóa đă được thông qua vào năm 1973. Luật này được coi là nền tảng cơ bản cho luật ở cấp cộng đồng ( dưới dạng sắc lệnh).
Theo luật văn hóa, các qui định liên quan đến việc công nhận và chi trả cho các hoạt động văn hóa thông thường sẽ do một sắc lệnh hoặc qui định do cuộc họp của đại diện chính phủ quyết định. Trong trường hợp thiếu những quy định này th́ mọi hoạt động tài trợ cũng như lợi ích thu được phải do một ngân quỹ cụ thể thực hiện. Quỹ này không trợ cấp cho các sáng kiến thử nghiệm nhưng những trợ cấp ban đầu có thể kéo dài tối đa đến 3 năm trên cơ sở có sự đảm bảo của một cơ quan tham mưu có thẩm quyền.
Luật văn hóa cũng qui định trợ cấp chính phủ dù dưới bất cứ h́nh thức nào cũng phải đảm bảo quyền b́nh đẳng của công dân không xem xét đến quá khứ của họ.
Luật văn hóa cũng qui định các chính phủ phải có trách nhiệm trong việc thành lập cấu trúc tham mưu, tham gia và phải làm cho các cơ quan này tham gia vào quá tŕnh chuẩn bị và thi hành chính sách văn hóa.
Mọi khiếu nại về việc vi phạm các qui định trong luật văn hóa có thể được đệ tŕnh lên một ủy ban đặc biệt.
5.1.4 Cấu trúc an ninh xă hội:
Vào năm 2000, luật đă có nhiều biện pháp nhằm đảm bảo cho các nghệ sĩ nhận trợ cấp thất nghiệp có thể hành nghề tự do hơn, điều mà từ trước đến nay vẫn bị pháp luật ngăn cấm.
Vào tháng 12/2002, nghị viện liên bang đă phê chuẩn các biện pháp nhằm cải thiện hệ thống an ninh xă hội cho các nghệ sĩ. Vào 1/7/2002 luật này đă chính thức có hiệu lực. Những điểm chính trong luật gồm:
· Các nghệ sĩ được đối xử như những người làm thuê hoặc như những người tự kinh doanh v́ mục tiêu an ninh xă hội. Để cải thiện mức lương cho các nghệ sĩ, luật qui định các cá nhân, tổ chức thuê nghệ sĩ làm việc sẽ được miễn giảm giá theo mức đóng góp cho an ninh xă hội nhằm bù đắp chi phí phụ trội.
· Chi phí nuôi con và đi du lịch của các nghệ sĩ được qui định trong luật người lao động sẽ do chính phủ liên bang chi trả. Điều này sẽ đơn giản hóa việc chi trả phụ cấp do các nghệ sĩ làm việc cho nhiều người thuê khác nhau.
· Những người mà thường xuyên thuê các nghệ sĩ ( chẳng hạn như một Show diễn thường xuyên trong một quán cà phê hay cho một tổ chức nào đó) có thể đăng kư với văn pḥng xă hội nghệ sĩ để quan tâm tới tỉ lệ thủ tục hành chính của người thuê. Những văn pḥng này chủ yếu là các văn pḥng tạm thời phải được sự công nhận của các cơ quan địa phương.
5.1.5 Luật thuế
Thuế VAT
Kể từ năm 1993, một hệ thống thuế VAT mới bắt đầu có hiệu lực, đây là kết quả của việc hài ḥa hóa nhiều hệ thống thuế khác nhau trước đó của liên minh châu Âu.
Hệ thống thuế VAT này áp dụng 2 mức thuế suất: mức cao là 21% và mức thấp là 6%. Mức thuế thấp chủ yếu áp dụng cho các sản phẩm văn hóa như: tạp chí, sách báo, tác phẩm nghệ thuật gốc, các vật thể văn hóa sưu tầm và các dịch vụ như bản quyền và quyền sản xuất. Luật của Bỉ cũng qui định các trường hợp miễn trừ văn hóa ( Điều 44) bao gồm:
· Thuê các vật thể thuộc văn hóa tự nhiên, nếu những vật thể này được làm th́ không v́ mục đích lợi nhuận.
· Thăm các viện bảo tàng, di tích, vườn thực vật và vườn thú được khai thác không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
· Các dịch vụ do các nghệ sĩ tŕnh diễn thực hiện cho các nhà tổ chức hoặc công ty của các diễn viên, các lănh đạo nhà hát, các nhạc sĩ, nghệ sĩ làm chủ.
· Hoạt động của các xưởng sản xuất phim, nhà hát, triển lăm, buổi ḥa nhạc, hội thảo do các học viện tổ chức được các cơ quan có thẩm quyền công nhận miễn là số tiền mà họ thu được từ các hoạt động này chỉ được sử dụng nhằm trang trải cho các khoản chi phí bỏ ra.
Những trường hợp miễn trừ thuế như vậy không được quyền khấu trừ thuế trước. Việc miễn thuế cho các nghệ sĩ tŕnh diễn làm việc với các nhà tổ chức hoặc công ty cũng được áp dụng tương tự cho các liên đoàn của các nghệ sĩ tŕnh diễn chẳng hạn như các công ty nhà hát. Tuy nhiên vào 1/4/1998 việc miễn trừ thuế chỉ c̣n được áp dụng cho các nghệ sĩ tŕnh diễn cá nhân (công văn số 13 của Bộ trưởng Tài Chính). Kể từ đó đến nay các hoạt động biểu diễn không do cá nhân thực hiện sẽ chịu thuế 6%.
Phạm vi áp dụng và nội dung áp dụng của nghị định này c̣n chưa rơ ràng. Điều này khiến cho các cán bộ thuế địa phương lúng túng trong việc xác định địa vị tính thuế VAT cho các công ty nhà hát theo như công văn số 13. Các quan chức địa phương có khi quyết định đánh thuế VAT cho hoạt động khác nhưng không đánh thuế vào hoạt động bán vé của các chương tŕnh biểu diễn.
Thuế thu nhập
Đối với các trường hợp vượt ra khỏi phạm vi lănh thổ quốc gia th́ chính phủ Bỉ vẫn được phép đánh thuế thu nhập đối với các công dân nước ng̣ai đang làm việc tại Bỉ. Tuy nhiên, điều này c̣n phụ thuộc vào các thỏa thuận hợp tác đạt được với các quốc gia liên quan (luật đánh thuế 2 lần). Đối với các nghệ sĩ được mời biểu diễn th́ hệ thống thuế này sẽ khấu trừ thuế của các công ty tổ chức từ khoản thu nhập mà họ thu được từ các chương tŕnh biểu diễn tại Bỉ. Thuế này cũng sẽ được các nhà tổ chức chương tŕnh của Bỉ khấu trừ.
Thuế cư trú
Kể từ tháng 1/2003, các nhà đầu tư có thể được hưởng miễn trừ thuế nếu họ đầu tư vào các lĩnh vực nghe nh́n của Bỉ. Việc miễn trừ này có thể dưới dạng là một phần của các khoản cho vay.
5.1.6 Luật lao động

Luật lao động thuộc trách nhiệm của chính phủ liên bang và do Bộ trưởng Lao Động thực hiện. Những miễn trừ đối với lĩnh vực văn hóa đề cập trong luật này liên quan tới việc làm ca đêm và bảo đảm ngày nghỉ chủ nhật cuối tuần cho người lao động.
Các tổ chức xă hội đại diện là công đoàn và nghiệp đoàn giới chủ là các bên có liên quan chủ yếu đến nhận thức các qui định trong lĩnh vực lao động.
ủy ban liên kết (JC) bao gồm một nửa thành viên là giới chủ và nửa c̣n lại là tổ chức của người lao động dưới sự hướng dẫn của một chủ tọa độc lập. JC đă thiết lập các chi nhánh của các ngành công nghiệp nhằm tập hợp các công ty trong cùng lĩnh vực hoạt động và nhằm phát triển các qui định áp dụng trong điều kiện lao động. Nhiệm vụ của JC chủ yếu là hoàn tất các thỏa thuận lao động tập thể (CLA), ngăn chặn hoặc giải quyết các tranh chấp xă hội và tham vấn cho chính sách.
Về nguyên tắc, người thuê lao động không đựợc tự do lựa chọn JC giải quyết hoạt động của ḿnh. Quyết định cuối cùng được đưa ra chủ yếu dựa trên hoạt động của người thuê lao động và trách nhiệm của các JC. Dưới đây là JC trong các lĩnh vực văn hóa:
· PC 227 (nhân viên văn pḥng trong lĩnh vực nghe nh́n)
· PC 303 ( nhân viên hăng phim bao gồm cả công nhân viên văn pḥng)
· PC 304 ( nhân viên văn pḥng của công ty giải trí, âm nhạc và nghệ thuật tŕnh diễn)
· PC 329 ( nhân viên văn pḥng trong lĩnh vực văn hóa xă hội)
Một thỏa thuận lao động tập thể (CLA) là một thỏa thuận trong đó xác định mối quan hệ tập thể, cá nhân giữa bên thuê lao động và người lao động trong các công ty hoặc chi nhánh. Khi người thuê lao động bị ràng buộc bởi các CLA th́ quyền và nghĩa vụ tương ứng sẽ được áp dụng cho mọi người lao động cho dù họ có là thành viên của tổ chức công đoàn hay không. CLA chủ yếu được thông qua tại các ủy ban chung hoặc các tiểu ban. Họ sẽ xác định các công việc và mức lương tương ứng trong mỗi lĩnh vực và có thể đưa ra các điều kiện linh hoạt.
Những thỏa thuận này có thế được công bố rộng răi bởi Nhà Vua Bỉ và người thuê lao động và người lao động không thể thay đổi từ loại này sang loại khác của CLA. Một ví dụ điển h́nh là CLA âm nhạc kết luận là PC 304 đă được tuyên bố có hiệu lực v́ thế nó áp dụng cho mọi người thuê nhạc sĩ kể cả người chơi piano bán thời gian tại một khách sạn hay nhà hàng.
CLA nghệ thuật tŕnh diễn c̣n có cả điều kiện đối với công việc linh hoạt trong các công ty và tổ chức do cộng đồng người nói tiếng Hà Lan ở Bỉ trợ cấp.
5.1.7 Điều khoản về bản quyền
Hệ thống quyền tác giả
Bộ trưởng Kinh Tế chịu trách nhiệm về luật bản quyền. Luật bản quyền của Bỉ được thông qua 1994 trong đó đề cập đến bản quyền tác giả, quyền thứ sinh, quyền sao chép phục vụ cho mục đích cá nhân, bản quyền cho vay muợn.
Việc bảo vệ quyền tác giả chỉ áp dụng với các tác phẩm biểu đạt một ư tưởng rơ ràng trên một chất liệu cụ thể với một đặc điểm chứng tỏ là hoàn toàn nguyên gốc. Quyền tác giả bảo vệ các tác phẩm và quan hệ giữa người nghệ sĩ và tác phẩm của anh ta. Luật này cũng qui định rạch ṛi sự khác nhau giữa quyền đạo đức tác giả và quyền sở hữu. Luật này nên được áp dụng với hướng dẫn 2001/29/EG nhưng đă bị tŕ hoăn do các cuộc thảo luận xung quanh việc sử dụng các tác phẩm được bảo hộ v́ mục đích văn hóa, giáo dục.
Thuế băng đĩa trắng
Luật bản quyền phân định rơ ràng giữa việc sao chép các tác phẩm nghe nh́n cho việc sử dụng tại nhà với việc sao chép các tác phẩm nghệ thuật tạo h́nh. Nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà bán buôn hoặc người chuyên chở sẽ phải trả phí cho việc sao chép các tác phẩm nghe nh́n sử dụng tại nhà ( bao gồm băng casset, băng video hoặc thiết bị sao chép như máy ghi âm, thiết bị video). Khoản tiền này được qui định trong sắc lệnh của hoàng gia. Theo đó các tác giả, nghệ sĩ tŕnh diễn và nhà sản xuất sẽ nộp tổng mức phí theo tỉ lệ bằng nhau.
Đối với các tác phẩm nghệ thuật tạo h́nh phí được thu từ nhà sản xuất, nhập khẩu hoặc buôn bán các thiết bị sao chép cũng như người làm công việc sao chép. Các cá nhân, tổ chức mà sản xuất các thiết bị sao chép này cũng phải nộp phí. Mức độ và việc kiểm tra việc nộp phí, việc thu phí và việc phân bổ mức thuế nộp do sắc lệnh của hoàng gia qui định. Theo đó một nửa mức phí tác giả chịu, nửa c̣n lại nhà xuất bản chịu.
Bản quyền khi cho mượn, thuê
Luật bản quyền mới công nhận quyền tác giả được phép thu tiền từ việc cho mượn và cho thuê các tác phẩm của ḿnh v́ mục đích giáo dục và văn hóa. Mức tiền này do sắc lệnh của Hoàng Gia qui định.
Bồi thường đầy đủ
Kể từ tháng 10/1999 việc biểu diễn các tác phẩm âm nhạc đă được thu tại nơi công cộng cũng sẽ phải nộp một khoản phí hợp lí cho nhà sản xuất và nhạc sĩ sáng tác. Mức phí này đă được quyết định sau cuộc tham khảo rộng răi ư kiến của người sử dụng.
5.1.8 Luật bảo vệ dữ liệu

Cơ sở dữ liệu (CSDL) được luật pháp bảo vệ ( qui định tại chỉ thị 96/9/EC ngày 11/3/1996 và luật Bỉ ngày 31/8/1998).
Người tạo ra CSDL có quyền sở hữu nếu anh ta có đóng góp đáng kể về mặt chất lượng hoặc số lượng hoặc cả hai mặt trên trong việc thu thập, xác nhận hoặc tŕnh bày nội dung của CSDL. Người tạo ra CSDL có thể phản đối:
· Việc khai thác hoặc tái sử dụng toàn bộ hoặc một phần nội dung quan trọng của CSDL về mặt chất lượng, số lượng hoặc cả hai mặt trên.
· Việc khai thác hoặc tái sử dụng các phần không quan trọng trong nội dung của CSDL nếu những hành động này không phù hợp với việc sử dụng thông thường của CSDL hoặc những hành động này có thể gây ra những thiệt hại đối với quyền lợi chính đáng của người tạo ra CSDL.
Quyền bảo hộ đối với CSDL kéo dài 15 năm tính từ ngày 1/1 của năm kế tiếp ngay sau thời điểm hoàn thành CSDL. Nếu CSDL được công bố ra công chúng trước thời hạn cuối cùng được đề cập đến ở trên th́ quyền này được bảo hộ trong 15 năm tính từ ngày 1/1 của năm kế tiếp thời điểm mà CSDL được công bố.
Theo luật của Bỉ th́ những sửa đổi đơn giản trong CSDL sẽ không phát sinh quyền tác giả mới, tuy nhiên nếu có những sửa đổi quan trọng của CSDL dù là về mặt chất lượng, số lượng hoặc cả hai mặt trên th́ sẽ phát sinh quyền bảo hộ mới trong ṿng 15 năm.
5.1.9 Luật ngôn ngữ.
Cộng đồng người nói tiếng Đức
29/03/1982. Sắc lệnh điều chỉnh các qui định ngôn ngữ ở các trường tiểu học.
21/12/1987 Sắc lệnh khuyến khích phát triển tiếng Đức chuẩn tại các trường học.
26/10/1998 Sắc lệnh giới thiệu các qui tắc phát âm tiếng Đức mới.
10/05/1999 Sắc lệnh về việc đặt tên các con đường.
19/04/2004 Sắc lệnh về việc sử dụng các ngôn ngữ trong dạy học.
5.2. Luật văn hóa
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
Trong vài năm qua, cộng đồng người Flander đă cố gắng tái cơ cấu một cách căn bản hệ thống luật văn hóa. Các nguyên tắc quan trọng là:
· Thay đổi càng nhiều qui định thành các sắc lệnh càng tốt. Các sắc lệnh do chính phủ hoặc nghị viện Flander soạn thảo và được đệ tŕnh lên nghị viện Flander thông qua.
· Chống lại các qui định chia rẽ, ủng hộ một chính sách văn hóa đoàn kết thống nhất. Các ví dụ điển h́nh là sắc lệnh nghệ thuật và sắc lệnh chính sách văn hóa địa phương. Những sắc lệnh liên kết mới này bao gồm qui định cho tiểu khu vực trong đó có tính đến các luật và đặc điểm liên quan.
· Hệ thống các tổ chức trợ cấp trong dài hạn đă từng tồn tại ở một vài khu vực sẽ trở thành một nguyên tắc chung cho toàn bộ lĩnh vực văn hóa. Hệ thống dựa trên các kế hoạch chính sách của tổ chức được bao cấp và sẽ thường xuyên được cập nhật và đánh giá. Ngoài ra các trợ cấp dự án cũng có thể. Các loại trợ cấp cho nghệ sĩ cá nhân sẽ được mở rộng. Các ví dụ gần đây:
· Sắc lệnh chính sách văn hóa địa phương – Sắc lệnh về việc thúc đẩy một chính sách văn hóa địa phương đoàn kết và chất lượng(13/07/2001)
Với sắc lệnh này, chính phủ Flander mong muốn thúc đẩy một chính sách văn hóa địa phương đoàn kết. Các quan chức địa phương được giao nhiệm vụ lập chính sách và chịu trách nhiệm về các chính sách văn hóa của họ. Sắc lệnh này bao gồm qui định bắt buộc các quan chức địa phương tham gia và tư vấn ( trong các hội đồng văn hóa) và việc mở cửa các thư viện công. Các vấn đề khác th́ tùy chọn gồm: soạn thảo và tiến hành một kế hoạch chính sách văn hóa, trung tâm văn hóa hoặc trung tâm cộng đồng và hợp tác giữa các địa phương. Hợp tác giữa các địa phương có thể nhận hỗ trợ tài chính từ chính phủ Flander.
· Sắc lệnh nghệ thuật – Sắc lệnh liên quan đến việc trợ cấp các tổ chức nghệ thuật, các nghệ sĩ, các tổ chức nghệ thuật xă hội và giáo dục nghệ thuật, các sáng kiến quốc tế, trung tâm hỗ trợ (02/04/2004).
Từ năm 2006 sắc lệnh này sẽ thay cho sắc lệnh hiện thời ( và từ năm 2007 sắc lệnh về âm nhạc) và nhiều qui định về các loại h́nh nghệ thuật đa dạng: tŕnh diễn nghệ thuật, âm nhạc, nghệ thuật nghe nh́n, văn học, kiến trúc, thiết kế, các h́nh thức nghệ thuật kết hợp và h́nh thức thông tin mới.
· Sắc lệnh di sản – sắc lệnh về việc tổ chức và trợ cấp của chính sách di sản văn hóa (07/05/2004)
Đây là một sắc lệnh phối hợp về việc công nhận và trợ cấp các viện bảo tàng, các dự án, các hợp đồng di sản, sách xuất bản. Sắc lệnh này sẽ có hiệu lực cùng các sắc lệnh trên.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Chính sách văn hóa hiện nay chủ yếu dựa trên một loạt các nguyên tắc ( sắc lệnh, chỉ thị chính phủ, thông tư). Cộng đồng nói tiếng Đức đề ra mục tiêu đổi mới hệ thống luật trong đó có tính đến các nguyên tắc chủ yếu như xem xét một lĩnh vực cụ thể như một tổng thể, gắn kết các nguyên tắc cá nhân trong một văn bản tổng hợp và đơn giản hóa các thủ tục hành chính.
5.3 Luật cụ thể trong từng lĩnh vực:
5.3.1 Nghệ thuật ứng dụng và nghe nh́n
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
Từ năm 1996 luật hiện hành sẽ được thay thế bởi sắc lệnh nghệ thuật
· Các qui định về trợ cấp cho các tổ chức nghệ thuật nghe nh́n hiện nay ( trợ cấp cho các chương tŕnh biểu diễn định ḱ hoặc dự án, trợ cấp cho các trung tâm nghệ thuật).
· Qui định về trợ cấp đối với các tổ chức có liên quan lĩnh vực nghe nh́n hiện thời.
Cộng đồng người nói tiếng Pháp
· Sắc lệnh 10/05/1984 về việc đưa các tác phẩm nghệ thuật vào các viện trưng bày công chúng.
· Chỉ thị của chính phủ cộng đồng Pháp về việc cho các nghệ sĩ tham gia vào các cuộc họp ủy ban về việc đưa các tác phẩm nghệ thuật ra trưng bày công chúng.
· Chỉ thị 10/06/1988 của ủy ban cộng đồng Pháp về thiết lập ủy ban tư vấn cho nghệ thuật thị giác.
5.3.10 Các luật của lĩnh vực khác
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
· Các qui định về việc trợ cấp cho các dự án văn hóa mang tầm quốc tế sẽ được điều chỉnh bởi luật nghệ thuật và luật di sản.
· Qui định về hỗ trợ tài chính của các dự án nghệ thuật xă hội. H́nh thức hỗ trợ này cũng được đề cập đến trong sắc lệnh văn hóa.
· Qui định về trợ cấp cơ sở hạ tầng văn hóa mà có tầm quan trọng vượt khỏi phạm vi địa phương.
· Sắc lệnh về các tác phẩm văn hóa xá hội (04/03/2003).
· Sắc lệnh về các tác phẩm không chuyên (22/10/2000)/
· Sắc lệnh 14/02/2003 về việc hỗ trợ và thúc đẩy cộng đồng, chính sách việc làm giới trẻ cấp thành phố và liên thành phố).
· Sắc lệnh 29/03/2002 về chính sách thanh niên Flander.
· Sắc lệnh 03/03/2004 về việc công nhận và trợ cấp cho các khu kí túc xá, trung tâm cư trú, cấu trúc hỗ trợ và dịch vụ du lịch thanh niên.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Trung tâm văn hóa
· Sắc lệnh 28/07/1992 về việc công nhận và trợ cấp cho các trung tâm văn hóa, sắc lệnh 10/04/1995 sửa đổi.
· Chỉ thị 22/07/1996 về xác định thủ tục cấp và rút trợ cấp, phân loại danh mục và trợ cấp cho trung tâm văn hóa.
· Thông tư Bộ Trưởng 01/11/1976 về các trung tâm sáng tạo và nghệ thuật.
· Thông tư 02/12/1997 về tổ chức hỗ trợ cho các chương tŕnh đào tạo cho các nhà lănh đạo của chương tŕnh hành động văn hóa xă hội
Thanh niên
· Chỉ thị hoàng gia 28/08/1977 về thành lập hội đồng ngôn luận thanh niên Pháp.
· Sắc lệnh 20/08/1980 về việc công nhận và cấp trợ cấp cho các tổ chức thanh niên.
· Chỉ thị bộ trưởng 03/03/2004 về việc chứng nhận và cấp trợ cấp cho các tổ chức thanh niên.
· Sắc lệnh 20/07/2000 về việc công nhận và cấp trợ cấp cho các khu kí túc, trung tâm cộng đồng và cư trú, trung tâm thông tin cho thanh niên và tổ chức của họ.
Cộng đồng các nước nói tiếng Đức
Cơ sở hạ tầng
· 18/01/1993 Sắc lệnh về chứng nhận và trợ cấp cho tổ chức giáo dục tráng niên.
· 23/03/1992 Sắc lệnh về việc cấp chi phí cho nhân viên của các viện bảo tàng nổi tiếng, hội thảo sáng tạo, các tổ chức khu vực về giáo dục tráng niên và tổ chức thanh niên, trung tâm thông tin và dịch vụ thanh niên.
· 16/12/2003 Sắc lệnh về xúc tiến hội thảo sáng tạo
Thanh niên
· 23/03/1992 Sắc lệnh về cấp chi phí cho nhân viên của các viện bảo tàng nổi tiếng, hội thảo sáng tạo, các tổ chức khu vực về giáo dục tráng niên và tổ chức thanh niên, trung tâm thông tin và dịch vụ thanh niên.
· 14/12/1998 Sắc lệnh về công nhận và trợ cấp cho các tổ chức thanh niên,dịch vụ thanh niên.
5.3.2 Biểu diễn nghệ thuật và âm nhạc.
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
·
Sắc lệnh về qui định chứng nhận và trợ cấp cho các tổ chức nghệ thuật kịch
nghệ sử dụng tiếng Hà Lan chuyên nghiệp, các tổ chức khiêu vũ chuyên nghiệp, các
tổ chức nhà hát chuyên
nghiệp, trung tâm nghệ thuật chuyên nghiệp, lễ hội nghệ thuật tŕnh diễn chuyên
nghiệp, trung tâm hỗ trợ biểu diễn nghệ thuật và qui định về công việc liên quan
đến nghệ thuật. Sắc lệnh này sẽ được thay thế bằng sắc lệnh nghệ thuật từ 2006.
· Sắc lệnh về qui định công nhận và trợ cấp của các đoàn ca nhạc chuyên nghiệp, các tổ chức ḥa nhạc, câu lạc bộ âm nhạc, tổ chức giáo dục âm nhạc và lễ nhạc hội, trung tâm hỗ trợ âm nhạc, trợ cấp của dự án âm nhạc, nhiệm vụ sáng tác và học bổng. Sắc lệnh này sẽ được thay bằng sắc lệnh nghệ thuật từ 2007.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
· Sắc lệnh khung 10/04/2003 về việc công nhận và trợ cấp khu vực tŕnh diễn nghệ thuật chuyên nghiệp.
Cộng đồng nói tiếng Đức
· 28/06/0988 sắc lệnh công nhận và trợ cấp cho tác phẩm không chuyên.
· 18/04/1995 Sắc lệnh về trợ cấp và cấp giấy chứng nhận cho các đoàn ca nhạc.
5.3.3 Di sản văn hóa
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
· Sắc lệnh về công nhận và trợ cấp của các viện bảo tàng.
· Sắc lệnh này sẽ được thay bằng sắc lệnh di sản từ 01/01/2005.
· Sắc lệnh về luật tư nhân lưu trữ văn hóa.
· Sắc lệnh về công nhận và trợ cấp các tổ chức văn hóa công chúng và việc thiết lập trung tâm nghiên cứu văn hóa đại chúng cho cộng đồng người nói tiếng Hà Lan.
· Sắc lệnh về bảo vệ di sản văn hóa di động có tầm quan trọng đặc biệt
· Qui định về trợ cấp các sách báo xuất bản khoa học định kỳ gồm lịch sử và văn học dân gian.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
· Sắc lệnh 05/07/1985 về việc thành lập hội đồng nghi thức của cộng đồng người nói tiếng Pháp tại Bỉ và đề ra lá cờ, dấu, phù hiệu cho các thành phố thị trấn và sắc lệnh 08/08/1988.
· Sắc lệnh 26/05/1981 về thành lập hội đồng về nghệ thuật quần chúng truyền thống và văn học dân gian cao cấp.
· Chỉ thị 26/06/1990 của ủy ban cộng đồng Pháp thành lập hội đồng dân tộc học cấp cao của cộng đồng Pháp.
· Sắc lệnh 12/05/2000 về trung tâm lưu trữ tư nhân ở cộng đồng Pháp.
· Sắc lệnh 11/07/2000 về các vật thể văn hóa di động và di sản văn hóa cố định của cộng đồng Pháp.
· Sắc lệnh 17/07/2004 về công nhận và trợ cấp của các viện bảo tàng.
Cộng đồng người nói tiếng Đức
· 29/03/1982 Chỉ thị điều chỉnh việc trợ cấp chính phủ cho các viện bảo tàng không c̣n thuộc sự quản lí của nhà nước.
· 23/03/1992 Sắc lệnh về trợ cấp đối với chi phí hoạt động của nhân viên tại các viện bảo tàng nổi tiếng.
· 14/03/1994 Sắc lệnh về tượng đài hoàng gia và ủy ban bảo vệ nông thôn của cộng đồng người nói tiếng Đức.
· 16/02/1998 Sắc lệnh về việc công nhận và trợ cấp cho các tổ chức và câu lạc bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa dân gian.
5.3.4 Văn học và thư viện
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
Văn học
Kể từ năm 2006, những qui định quản lí dưới đây sẽ được thay bởi sắc lệnh nghệ thuật và di sản.
· Qui định trợ cấp với việc sản xuất các ấn phẩm văn hóa.
· Qui định về trợ cấp đối với các đơn vị văn hóa nghệ thuật.
Tất cả các qui định khác bắt nguồn từ quĩ văn học Flender. Các qui định trợ cấp cho sản xuất các tác phẩm văn học và tạp chí, các buổi biểu diễn, trợ cấp cho các tác giả và phiên dịch viên.
Sắc lệnh về thúc đẩy một chính sách văn hóa địa phương thống nhất và chất lượng.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
· Chỉ thị 05/07/1985 của ủy ban cộng đồng Pháp về thành lập ủy ban văn học của cộng đồng người Pháp
· Chỉ thị 04/04/1988 của ủy ban cộng đồng Pháp về đề ra mô h́nh hỗ trợ xuất bản tại cộng đồng Pháp.
· Chỉ thị 28/03/1990 của ủy ban cộng đồng Pháp về thành lập hội đồng sách.
· Chỉ thị 23/10/1991 của ủy ban cộng đồng Pháp về đề ra h́nh thức hỗ trợ tuyên truyền.
· Sắc lệnh 28/02/1978 tổ chức dich vụ đọc sách công
· Chỉ thị 14/03/1995 của chính phủ Pháp về tổ chức cung cấp dịch vụ
Cộng đồng nói tiếng Đức
· 15/06/1994 Sắc lệnh thư viện công.
5.3.6 Phim, video và nhiếp ảnh:
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
Chính quyền trợ cấp cho các tổ chức nghe nh́n, lễ hội và dự án dựa trên các qui định. Những quy định này sẽ được thay bởi sắc lệnh nghệ thuật từ năm 2006.
Quỹ nghe nh́n Flender sẽ hỗ trợ cho giáo dục và các tác phẩm mới theo qui định trong sắc lệnh 13/04/1999. Sắc lệnh này gồm những quyết định về hỗ trợ sản xuất, phát triển và thúc đẩy cũng như trợ cấp và đào tạo sáng kiến.
Cộng đồng người nói tiếng Pháp
· Sắc lệnh Hoàng Gia 12/06/1967 nhằm quảng bá văn học nghệ thuật quay phim tiếng Pháp.
Các sửa đổi nhằm quảng bá văn hoá nghệ thuật quay phim tiếng Pháp.
· Chỉ thị Hoàng Gia 17/02/1976 sửa đổi sắc lệnh 22/06/1967
· Chỉ thị Hoàng Gia 24/03/1978 sửa đổi sắc lệnh 22/02/1967
· Chỉ thị 04/04/1995 của Chính phủ sửa đổi sắc lệnh 22/06/1967
· Chỉ thị 25/03/1996 của Chính phủ sửa đổi sắc lệnh 22/06/
· Chỉ thị 21/12/1998 của Chính phủ sửa đổi sắc lệnh 22/06/1967
· Chỉ thị 05/05/1999 của Chính phủ sửa đổi sắc lệnh 22/06/1967
· Chỉ thị 18/12/2001 của Chính phủ sửa đổi sắc lệnh 22/06/1967
· Chỉ thị 22/07/1990 của tổ chức hành pháp về cam kết trợ cấp sản xuất và tổ chức hội thảo về phim và truyền h́nh.
· Sắc lệnh 22/12/1994 đề ra các biện pháp về giáo dục và sản xuất.
· Chỉ thị 12/04/1995 của Chính phủ về quản lí tài chính, kế toán ngân quỹ của trung tâm chiếu phim và nghe nh́n.
· Chỉ thị 09/07/1996 của Chính phủ về thành lập uỷ ban tư vấn cho trung tâm chiếu phim và nghe nh́n.
· Chỉ thị 18/09/1996 của chính phủ về sửa đổi chỉ thị 09/07/1996 nhằm thành lập uỷ ban đối thoại của trung tâm chiếu phim và nghe nh́n.
· Chỉ thị 21/05/1997 của chính phủ về điều chỉnh cơ cấu của uỷ ban tư vấn của trung tâm chiếu phim .
· Chỉ thị 20/02/2003 của chính phủ về sửa đổi sắc lệnh 09/07/1996 thành lập uỷ ban tư vấn cho các trung tâm chiếu phim.
5.3.7 Các ngành kinh doanh văn hoá
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
· Luật 17/05/2004 thay đổi điều 194b năm 1992 về thuế thu nhập chủ yếu sửa đổi thuế cư trú.
Cộng đồng người nói tiếng Pháp
· Luật 17/05/2004 thay đổi điều 194b năm 1992 đối với thuế thu nhập.
5.3.8 Phương tiện thông tin đại chúng
Cộng đồng người nói tiếng Flemish
· Các sắc lệnh về truyền h́nh và phát thanh vào 25/01/1995.
Cộng đồng người nói tiếng Pháp
· Sắc lệnh 27/02/2003 về phát thanh.
· Sắc lệnh 20/12/2001 về phát thanh đều đặn trên hệ tần số 87.5-108MHz và sửa đổi sắc lệnh 27/07/1997 về hội đồng nghe nh́n cấp cao và dịch vụ phát thanh tư nhân của cộng đồng Pháp.
· Chỉ thị 08/12/2004 của chính phủ về các sự kiện thu hút được sự quan tâm của công chúng và đề ra cách thức để người dân thuộc cộng đồng Pháp tiếp cận dịch vụ phát thanh truyền h́nh miễn phí.
· Chỉ thị 12/07/2004 của chính phủ về việc bảo vệ người thiểu số khỏi các chương tŕnh đe doạ sự phát triển về mặt thể chất, tinh thần và giá trị đạo đức.
· Chỉ thị 03/12/2004 của chính phủ về tính minh bạch của dịch vụ biên tập các chương tŕnh phát thanh.
· Chỉ thị 11/06/2004 của chính phủ về đề ra các thủ tục mở rộng phạm vi phủ sóng của các đài phát thanh địa phương.
· Chỉ thị 11/06/2004 của chính phủ về phương pháp giao quyền cho các đài truyền h́nh địa phương.
· Chỉ thị 03/12/2004 của chính phủ về qui định thời gian chuyển phát hàng ngày các chương tŕnh quảng cáo thông tin điện tử cho các đài truyền h́nh địa phương.
· Chỉ thị 03/12/2004 của chính phủ về phương pháp thanh toán đối với dịch vụ biên tập các chương tŕnh phát thanh truyền h́nh cho các trung tâm chiếu phim và nghe nh́n.
· Chỉ thị của uỷ ban cấp cao của hội đồng nói tiếng Pháp 18/12/1991 về phương pháp cấp, đ́nh chỉ và rút các chứng nhận cho các công ty dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ lập chương tŕnh, hoạt động xúc tiến, thông tin hoặc quản lí thời điểm các chương tŕnh quảng cáo của các đài phát thanh tư nhân.
· Chỉ thị của uỷ ban cấp cao hội đồng nói tiếng Pháp 29/12/1993 sửa đổi sắc lệnh của hội đồng cấp cao 24/12/1991 về công nhận của đài phát thanh tư nhân.
· Chỉ thị 13/07/2000 của uỷ ban cấp cao về yêu cầu đối với dịch vụ phát thanh truyền h́nh kỹ thuật số với block 12B của tư nhân.
· Chỉ thị 03/07/2003 của uỷ ban cấp cao hội đồng về sửa đổi sóng âm tần biến trên tần số 87.5-108MHz.
· Chỉ thị 20/04/2004 của chính phủ về việc công bố mă của các nhà vận hành mạng lưới truyền h́nh cáp.
· Chỉ thị 20/04/2004 của chính phủ về việc tuyên bố mô h́nh cung cấp dịch vụ truyền h́nh.
· Chỉ thị 21/04/2004 của chính phủ về cách thức bắt buộc quỹ hỗ trợ làm các chương tŕnh về âm thanh điện tử.
· Chỉ thị 02/10/2002 của chính phủ về việc chọn các thành viên của các uỷ ban lựa chọn các dự án âm thanh điện tử.
· Sắc lệnh 14/07/1997 đưa ra qui chế cho các đài phát thanh truyền h́nh cộng đồng nói tiếng Pháp.
Các sửa đổi:
· Sắc lệnh 14/07/1997 được sửa đổi 19/12/2002 đưa ra quy chế cho các đài phát thanh truyền h́nh cộng đồng nói tiếng Pháp.
· Sắc lệnh 19/12/2002 và sắc lệnh 14/07/1997 được sửa đổi 19/05/2004 về qui chế của các đài phát thanh truyền h́nh cộng đồng nói tiếng Pháp.
· Chỉ thị 26/01/1999 của chính phủ đưa ra các qui định về các chương tŕnh tối thiểu và các thiết bị cần thiết để duy tŕ hoạt động tại các đài phát thanh truyền h́nh của Bỉ.
· Chỉ thị 22/03/2001 của chính phủ về công nhận các tổ chức đại diện mà các đài phát thanh truyền h́nh cộng đồng Pháp tại Bỉ uỷ quyền.
· Chỉ thị 11/10/2001 của chính phủ về áp dụng các hợp đồng quản lí của các đài phát thanh truyền h́nh Bỉ của cộng đồng Pháp.
Cộng đồng người nói tiếng Đức
· 27/06/1986 ban hành sắc lệnh về các trung tâm phát thanh truyền h́nh Bỉ
· 07/02/1994 ban hành sắc lệnh về hỗ trợ cho các tờ báo hàng ngày.
· 26/04/1999 ban hành sắc phương tiện thông tin.
5.3.9 Luật cho các nghệ sĩ hoạt động tự do
Cộng đồng người xứ Flander
Xem chương 5.1.4
Cộng đồng người Pháp
Xem chương 5.1.4
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

6.1 Tổng quan
Các cấp và cộng đồng của chính phủ hỗ trợ văn hoá: cấp nhà nước liên bang, các cộng đồng, các khu vực, các tỉnh, uỷ ban cộng đồng Flender và Pháp của khu vực Brussel và khu vưc tự trị
6.2 Chi tiêu cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người
Theo một nghiên cứu do cộng đồng tiếng Pháp thực hiện tổng chi tiêu cho văn hoá theo đầu người ở Bỉ năm 1999 là 245 euros trong đó bao gồm các khoản chi của cộng đồng tiếng Pháp và Flender dành cho giáo dục nghệ thuật không chuyên ( 223 euros nếu không tính khoản này).
Con số này đă bao gồm các chuyển giao liên chính phủ. Năm 2000 chi tiêu cho văn hoá trên tổng ngân sách ở cộng đồng người xứ Flander là 119.20 euros cho thanh niên, giáo dục tráng niên, thư viện, nghệ thuật, di tích tượng đài di sản, phương tiện thông tin và các hoạt động văn hoá khác.
Chi tiêu cho văn hoá theo b́nh quân đầu người ở cộng đồng tiếng Pháp là 105 euros cho giai đoạn 2000-2004. Một cuộc khảo sát vào năm 2001 cũng cung cấp các thống kê về chi tiêu văn hoá ở một số lĩnh vực văn hoá sau:
· Nghe nh́n và đa phương tiện: 35%
· Giáo dục nghệ thuật: 22%
· Nghệ thuật tŕnh diễn : 12%
· Giáo dục thanh niên: 6%
· Quan hệ quốc tế: 5%
· Cơ sở hạ tầng văn hoá: 4%
· Sách và văn học: 3%
· Di sản cố định và mỹ thuật: 3%
6.3 Thống kê chi tiêu văn hoá quần chúng ở cấp chính phủ
Một nghiên cứu do cộng đồng nói tiếng Pháp tiến hành cho thấy ở cả Flander và Wallonia các cộng đồng chính là những nhà ủng hộ tài chính quan trọng nhất trong lĩnh vực văn hóa. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khu vực tự trị ở Flander đóng vai tṛ quan trọng hơn so với ở Wallonia. Do hệ thống hỗ trợ văn hoá đă được liên bang hóa nên chính phủ Bỉ chỉ cấp khoảng 2.4% trong tổng ngân sách.
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác
7.1 Phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước

Cộng đồng nói tiếng Flemish
Việc phân bổ trách nhiệm giữa chính quyền Flemish, các tỉnh và thành phố khác nhau phụ thuộc vào lĩnh vực. Một số luật đưa ra các quy định rơ ràng về phân bổ công việc, đôi khi bao gồm cả các quy định về chỉ tiêu tài chính. Nhà hát, trung tâm văn hóa, thư viện và các di sản…chịu sự điều chỉnh của các luật này.
Cuộc tranh luận về những trách nhiệm cơ bản đă dẫn đến một thỏa thuận quan trọng vào ngày 25 tháng 4 năm 2003. Thỏa thuận này cho phép các tỉnh, thành phố tham gia vào việc sửa đổi các quy định. Để trách nhiệm được phân bổ một cách hợp lư, chính quyền Flemish sẽ thương lượng với các tổ chức bảo trợ đại diện cho các tỉnh, thành phố trong các tổ chức, thể chế của quốc tế, của Flemish, của các tỉnh và/ hoặc của địa phương mà hoạt động tích cực trong lĩnh vực di sản, văn hóa chuyên môn, văn hóa xă hội và phong trào thanh niên.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Cộng đồng Pháp ngữ phân bổ một phần ngân sách đáng kể cho ủy ban cộng đồng Pháp ngữ (FCC), một cơ quan quản lư độc lập, chuyên quản lư khu vực thủ đô Brussels, ủy ban này sau đó sẽ giao phó một phần trách nhiệm của ḿnh cho Brussels.
Chính quyền cộng đồng Pháp ngữ đă kí một hợp đồng quản lư với RTBF (hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ truyền thông đại chúng) trong đó nói rơ nhiệm vụ và mức độ hỗ trợ tài chính hàng năm của cơ quan này. Khoản hỗ trợ tài chính này, lên đến 175.653.000 Euro vào năm 2005, là do Bộ quản lư cộng đồng Pháp ngữ cấp và do Pḥng nghe nh́n của cộng đồng Pháp ngữ quản lư, phân bổ cho trung tâm Phim và Nghe nh́n.
Cộng đồng Pháp ngữ cũng thành lập một cơ quan quản lư độc lập. Đó là Hội đồng cao cấp, để quản lư bộ phận Nghe Nh́n (SCA)- bộ phận chịu trách nhiệm điều hành khu vực phát thanh. SCA được chính quyền cộng đồng Pháp ngữ giao nhiệm vụ trong thời hạn năm năm của thỏa thuận tài chính.
Bảo tàng Hoàng gia Mariemont là một bảo tàng tự quản lư và được cộng đồng Pháp ngữ trợ cấp. Bảo tàng này có rất nhiều bộ sưu tập đồ cổ, khảo cổ, và được phát triển v́ mục đích khoa học, giáo dục và nhất là văn hóa.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Từ ngày 1 tháng 1 năm 2005, cộng đồng nói tiếng Đức-bao gồm 9 tỉnh- được khu vực Walloon giao trách nhiệm giám sát các khu vực dưới quyền. Cộng đồng này cũng tham gia vào một thỏa thuận hợp tác với tỉnh Liège.
7.2 Vai tṛ và sự phát triển của các tổ chức văn hoá
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Khu vực Flander có các tổ chức văn hóa lớn như trung tâm Bale Hoàng gia Flander, Nhà hát lớn Flemish, Filharmonie, trung tâm nghệ thuật Singel, dàn nhạc giao hưởng và dàn đồng ca của đài phát thanh Flemish, KMSKA (Bảo tàng mỹ thuật Hoàng gia - Antwerp), MuHKA (Bảo tàng nghệ thuật đương đại – Antwerp). Những tổ chức này có hệ thống quản lư rất khác nhau. Cộng đồng Flemish đă kí thỏa thuận quản lư với những tổ chức nó trực tiếp chịu trách nhiệm.
Bảo tàng KMSKA là một ngoại lệ v́ nó là một phần trực tiếp của Chính phủ. Cho tới nay, những tổ chức văn hóa lớn này vẫn không chịu sự điều chỉnh của các văn bản luật hiện hành và không bị các cơ quan cố vấn đánh giá. Tuy nhiên, những hướng dẫn cho hai bảo tàng nay hiện đang được soạn thảo từ luật về di sản và các cơ quan khác bởi luật về nghệ thuật. Hướng dẫn này bao gồm các quy định liên quan tới công tác đánh giá chất lượng (bao gồm đánh giá của các chuyên gia nước ngoài), và một thỏa thuận quản lư có thời hạn năm năm.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Các tổ chức sau đây được cộng đồng Pháp ngữ bảo trợ:
Các trung tâm văn hóa đa lĩnh vực:
· "Le Botanique" (Brussels);
· "Les Halles" Trung tâm văn hóa châu Âu (Brussels);
· Cung điện mỹ thuật (Charleroi);
· Trung tâm chuyển giao văn hoá "Le Manège" (Mons).
· Nghệ thuật biểu diễn
· Nhà hát lớn Hoàng gia Wallonia (Liège);
· Dàn nhạc giao hưởng Philharmonic (Liège);
· Dàn nhạc giao hưởng hoàng gia Wallonie (Mons);
· Hội đồng âm nhạc (Brussels);
· Liên đoàn âm nhạc trẻ (Brussels);
· Trung tâm lệ hội Wallonie (Namur);
· Nhà hát dân tộc của cộng đồng nói tiếng Pháp (Brussels);
· "Charleroi Dance" Trung tâm Bale của cộng đồng nói tiếng Pháp
· Trung tâm biểu diễn (Maison du spectacle) "la Bellone" (Brussels).
Sách và văn học:
· Tài liệu và Bảo tàng văn học (Brussels)
· Viện hàn lâm hoàng gia về ngôn ngữ và văn học (Brussels).
Mỹ thuật và Bảo tàng:
· Bảo tàng trưng bày đồ bạc (Seneffe);
· Bảo tàng lớn Hornu về nghệ thuật đương đại (Mons);
· Mundaneum (Trung tâm dữ liệu) (Mons)
· Bảo tàng Mariemont (Morlanwelz).
Nghe nh́n:
· Đài phát thanh truyền h́nh tiếng Pháp
· Thư viện truyền thông của cộng đồng Pháp ngữ (Nhiều trung tâm).
Phần lớn các tổ chức này đều có mối quan hệ hợp đồng với cộng đồng Pháp ngữ. Các hợp đồng này quy định nhiệm vụ và các khoản trợ cấp dành cho các tổ chức.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Trung tâm phát thanh truyền h́nh Bỉ của Cộng đồng nói tiếng Đức là một dịch vụ mang tính tương trợ cộng đồng có thỏa thuận quản lư với chính phủ. Trung tâm truyền thông của cộng đồng này là một cơ quan thuộc sự bảo hộ của Bộ quản lư cộng đồng nói tiếng Đức nhưng được quyền tự quản lư.
7.3 Những quan hệ đối tác mới
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Từ năm 1987, hoạt động tài trợ cho lĩnh vực văn hóa tăng lên rơ rệt, kỉ lục vào giai đoạn 1990-1993. Sau giai đoạn này, hoạt động này giữ ở mức ổn định và tập trung nhiều nhất vào các buổi ḥa nhạc, các đợt biểu diễn nhạc cổ điển, sau đó đến các buổi triển lăm nghệ thuật. Nh́n chung, sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ tư nhân không dành cho việc cách tân, thử nghiệm, các sự kiện có quy mô nhỏ và các sự kiện văn hóa không chuyên.
Năm 2004, một dự án nghiên cứu được hoàn thành nhằm xem xét cơ cấu tài trợ của các công ty trong lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn trong năm 2003. Kết quả khẳng định t́nh h́nh tài trợ như đă nêu ở đoạn trên. Dự án cũng cho thấy ảnh hưởng ngày càng tăng của toàn cầu hóa đối với hoạt động tài trợ.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Cộng đồng nói tiếng Pháp trợ cấp cho hoạt động của Hiệp hội "Promethea". Hiệp hội "Promethea" chịu trách nhiệm tạo ra một giao diện giữa khu vực kinh tế và văn hóa, chủ yếu thông qua hoạt động tài trợ. Hiệp hội này cũng đại diện cho chính phủ trong các vấn đề liên quan tới hoạt động tài trợ của tư nhân và công ty.
8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ
Xem chương 8.1.1
8.1.1 Trợ cấp, phần thưởng và học bổng

Cộng đồng nói tiếng Flemish
Ngoài các khoản trợ cấp dành cho các tổ chức nghệ thuật c̣n có các biện pháp khuyến khích sự sáng tạo của cá nhân các nghệ sĩ. Ví dụ, trong những điều kiện nhất định, các khoản hoa hồng sẽ được dành cho các tác phẩm nhạc và kịch trong lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn. Chính quyền cộng đồng Flemish cũng tiến hành mua các tác phẩm nghệ thuật cho các bộ sưu tập của các bảo tàng hay của chính ḿnh. Ngoài ra c̣n có chính sách mua các tác phẩm văn học. Chính quyền cộng đồng Flemish, chính quyền các tỉnh, thành phố cũng đề ra các giải thưởng.
Trong khuân khổ luật Nghệ thuật, vấn đề trợ cấp cho các nghệ sĩ là một vấn đề thu hút được sự quan tâm đặc biệt. Từ 2006, một số chương tŕnh trợ cấp hiện tại chỉ áp dụng cho một sỗ lĩnh vực sẽ được mở rộng sang các lĩnh vực khác. Việc hỗ trợ được thực hiện dưới ba h́nh thức: phát triển các khoản trợ cấp dành cho các nghệ sĩ đạt được những thành công nhất định, trợ cấp dành cho các dự án của các nghệ sĩ và trợ cấp dành cho các tác phẩm nghệ thuật.
Cộng đồng nói tiếngPháp
Học bổng được trao cho cá nhân các nghệ sĩ trong các lĩnh vực nghệ thuật h́nh ảnh, văn học đương đại và âm nhạc. Bộ quản lư cộng đồng Pháp ngữ có một chương tŕnh tiếp nhận các tác phẩm nghệ thuật được trưng bày tại các bảo tàng tỉnh, thành phố, trong các trung tâm nghệ thuật và các ṭa nhà của chính quyền.
Rạp chiếu phim: Các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp được cấp cho hoạt động viết kịch bản và cho việc sản xuất các tác phẩm ngắn, trung b́nh hoặc dài. Bộ cũng dành hỗ trợ cho việc viết kịch bản và sản xuất thông qua một số cơ quan và đơn vị cụ thể.
Nhà hát múa đương đại: Trợ cấp dự án sẽ dành cho những công ty không thường xuyên được hỗ trợ. Các hợp đồng chương tŕnh được dành cho các nhà hát. Việc xem xét đơn xin tài trợ và đồng tài trợ sẽ dành sự ưu tiên cho các tác giả trẻ.
Âm nhạc: Không chỉ các tổ chức mà cả các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này cũng nhận được trợ cấp cho công việc sáng tác của ḿnh.
Văn học:Có rất nhiều giải thưởng trong lĩnh vực này như: Giải thưởng năm năm dành cho văn học, giải thưởng ba năm cho thơ, tiểu thuyết và bài viết, giải thưởng cho tác phẩm đầu tay, giải thưởng cho tác phẩm dịch thuật, giải thưởng quảng bá văn học Bỉ ra nước ngoài.
Rất nhiều sáng kiến đă được đưa ra nhằm tổ chức và phát triển hoạt động của hội thảo, tổ chức (nhà hát, trung tâm khiêu vũ và rạp chiếu phim), (chủ yếu dành cho lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn nhưng cũng dành cho lĩnh vực dịch thuật).
Cộng đồng nói tiếng Đức
· Giải thưởng nghệ thuật (ba năm một lần)
· Giải Ceramics
· Giải thưởng do Hội đồng cộng đồng nói tiếng Đức trao tặng cho các tác phẩm văn học hoặc những tác phẩm về chủ đề liên quan tới cộng đồng nói tiếng Đức (trao hàng năm)
8.1.3 Hỗ trợ các nghệ sĩ chuyên nghiệp và những hiệp hội nghệ sĩ
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Trong hầu hết các trường hợp, các hiệp hội hay liên đoàn các nghệ sĩ được trợ cấp cho các hoạt động và vận hành của ḿnh. Những hiệp hội này hoạt động rộng răi trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn: nghệ thuật biểu diễn, nhà hát cho thanh niên và trẻ em, nhạc jazz, rock, múa Bale và dàn dựng các chương tŕnh biểu diễn.
Trong lĩnh vực liên quan đến sách, hiệp hội các nhà xuất bản, hiệp hội thư viện công cộng và các thư viện công cộng đều được trợ cấp.
Trong lĩnh vực mỹ thuật và bảo tàng, hiệp hội các nhà sáng lập nghệ thuật, thủ công và bảo tàng đều được hỗ trợ.
Thời gian các nghệ sĩ làm việc trong các tổ chức được kéo dài hơn và hiện tại nằm trong thời hạn chương tŕnh hợp đồng giữa chính phủ và các tổ chức nghệ thuật lớn, giữa chính phủ và hầu hết các trung tâm nghệ thuật có đủ cơ sở vật chất.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Hầu hết các nhóm nghệ thuật ở đây thuộc các hiệp hội nghệ thuật không chuyên, và rất ít trong số đó đạt danh hiệu nghệ sĩ bán chuyên nghiệp. Phần lớn các nghệ sĩ văn hóa trong cộng đồng nói tiếng Đức hoạt động với tinh thần cống hiến v́ danh dự. Các tổ chức hoạt động toàn bộ thời gian chủ yếu là trong lĩnh vực tổ chức các sự kiện văn hóa và bảo tàng, và hầu hết vẫn phụ thuộc vào hỗ trợ từ chính quyền cộng đồng nói tiếng Đức.
8.2 Xu hướng tham gia và các số liệu
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Bảng 5: Tỉ lệ những người tham gia vào các hoạt động văn hóa ít nhất một lần trong năm năm 2003
|
Hoạt động |
% nam |
% nữ |
|
Nhà hát chuyên nghiệp |
29.0 |
36.6 |
|
Nhà hát nghiệp dư |
33.6 |
39.0 |
|
Ḥa nhac Jazz / blues |
17.2 |
9.0 |
|
Ḥa nhạc, liên hoan nhạc Rock / pop |
32.6 |
29.0 |
|
Nhạc dân gian/ nhạc truyền thống |
20.7 |
19.7 |
|
Opera |
6.9 |
9.0 |
|
Ḥa nhạc, liên hoan nhạc cổ điển |
27.7 |
33.0 |
|
Múa Bale, khiêu vũ chuyên nghiệp |
9.8 |
17.3 |
|
Múa Bale, khiêu vũ nghiệp dư |
9.8 |
17.8 |
|
Bảo tàng / triển lăm ở Bỉ |
49.9 |
46.6 |
|
Bảo tàng/triển lăm ở nước |
33.8 |
35.4 |
Nguồn: APS-survey 2003. In: VRIND 2003, ministerie van de Vlaamse Gemeenschap, 2003.
Thói quen đọc sách: 70.1% dân số thỉnh thoảng đọc sách. Trung b́nh, một người dân đọc 4.9 cuốn sách v́ công việc và 11.6 cuốn để giải trí.
28% dân số sử dụng thư viện, và 11.2% đến thư viện nhiều lần trong tháng.
Đi đến rạp chiếu phim: Sau một thời ḱ giảm sút đầu thập kỉ 90, số lượng người đến rạp chiếu phim đang trên đà tăng và ngày càng nhiều vé được tiêu thụ. Một phần sáu dân số đến rạp chiếu phim ít nhất một lần trong tháng.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Một khảo sát gần đây cho thấy 20.6% dân số sử dụng thư viện công cộng.
Năm 2003, có 70 rạp chiếu phim trong khu vực Brussels và 200 rạp trong khu vực Walloon. Hiện tại, số lượng người đến rạp chiếu phim tại Bỉ lên đến 22.712.732 người, trong đó số người Brussels là 4.587 850 người, và số người Walloon là 6.967.571 người (số liệu của INS)
Số lượng khán giả của các môn nghệ thuật biểu diễn của Bỉ tăng 18% vào năm 2003 so với năm 1995.
8.3 Chương tŕnh hoặc chính sách thúc đẩy sự tham gia vào hoạt động văn hoá
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Trong nhiều năm, chính sách văn hóa của chính quyền Flemish luôn luôn quan tâm đến vấn đề tŕnh độ văn hóa của người dân và sự tham gia của họ vào các hoạt động văn hóa. Mục tiêu chính của chính quyền là thu hút được nhiều người dân có địa vị xă hội khác nhau tham gia tích cực hơn vào các hoạt động văn hóa.
Để đạt được mục tiêu này, chính quyền Flemish đă thực hiện nhiều dự án và thành lập nhiều tổ chức như tổ chức Stichting Lezen – một tổ chức đặc biệt thành lập nhằm mục đích khuyến khích độc giả.
Với sự ra đời của luật Nghệ thuật mới, những hỗ trợ của chính quyền dành cho các sáng kiến trên, trước đây chỉ dưới h́nh thức dự án, nay được mở rộng sang h́nh thức cấu trúc. Theo luật này, các tổ chức có chức năng chính là đào tạo nghệ thuật hoặc hoạt động xă hội-nghệ thuật có quyền yêu cầu chính quyền hỗ trợ trong ṿng hai đến bốn năm. Các hoạt động của các tổ chức này cũng có thể được tài trợ dưới h́nh thức dự án. Ngoài ra, các tổ chức nghệ thuật cũng có thể đăng kí để việc đào tạo nghệ thuật và hoạt động xă hội-nghệ thuật trở thành một lĩnh vực phụ của ḿnh, và nhờ đó nhận được tài trợ thêm.
Chính quyền cũng đă đưa vào sử dụng một hệ thống để hỗ trợ những tầng lớp trẻ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. Ví dụ như hệ thống Hộ chiếu Văn hóa Thanh niên.
Năm 2001, trung tâm truyền thông "CultuurNet Vlaanderen được thành lập. Mục đích là để khuyến khích người dân tham gia vào đời sống văn hóa, tăng cường kiến thức văn hóa của họ, tập trung thông tin về các hoạt động văn hóa, quảng bá các thông tin này và thúc đẩy hoạt động văn hóa ở nước ngoài. Trung tâm này sẽ phối hợp chặt chẽ với các trung tâm hỗ trợ hiện có trong nhiều lĩnh vực văn hóa và với các trung tâm truyền thông vốn đă hoạt động trong phạm vi khu vực và địa phương. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của trung tâm là thiết lập một cơ sở dữ liệu trực tuyến, bao gồm thông tin về hoạt động của cả cộng đồng Flemish.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Hướng tới một nền dân chủ văn hóa là một trong những mục tiêu cơ bản trong các chính sách văn hóa của cộng đồng nói tiếng Pháp. Điều này thể hiện rơ trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật và trong phần lớn các tổ chức nhận được trợ cấp. Các điều kiện tiếp cận văn hóa đối với tất cả người dân đều được quy định rơ ràng trong các chương tŕnh hợp đồng của chính phủ. Cụ thể, những điều kiện này là dành cho những người có khó khăn về kinh tế-xă hội, thanh niên và người cao tuổi. Rất nhiều các tổ chức và các hiệp hội áp dụng các chiến lược để quảng bá thông tin và khuyến khích người dân thuộc diện này thông qua cộng tác với các hiệp hội đang hoạt động trong các vùng cụ thể.
Sau đây là ví dụ về một hiệp hội đă đi đầu trong việc xây dựng nền dân chủ văn hóa. Hiệp hội "Điều 27" trong tuyên bố toàn cầu về nhân quyền làm tên của ḿnh. Điều 27 nêu rơ “Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật và chia sẻ các tiến bộ khoa học và lợi ích của các tiến bộ đó”. Chỉ trong một thời gian ngắn, hiệp hội này đă tạo ra và phối hợp hoạt động của một mạng lưới rộng khắp cộng đồng nói tiếng Pháp. Mạng lưới này cung cấp vé miễn phí, vé với giá thấp dành cho tất cả những ai gặp khó khăn về kinh tế. Hiện tại, hiệp hội này đang cân nhắc khả năng mở rộng việc cung cấp vé của các hoạt động văn hóa nghệ thuật khác chứ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
Các hiệp hội văn hóa hoạt động theo các cách thức sau: đi đầu trong việc quảng bá cho công chúng về các vấn đề văn hóa đang diễn ra, quyền và yêu sách của các cộng đồng thiểu số; đưa các vấn đề văn hóa lên các cuộc tranh luận chính trị của công chúng; hỗ trợ việc sản xuất và phổ biến các tác phẩm văn hóa nghệ thuật; sắp xếp tổ chức các hội thảo huấn luyện và các hoạt động nghệ thuật/sáng tạo.
Các bộ phận như trung tâm văn hóa, tổ chức văn hóa thanh niên, trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm thanh niên cũng góp phần vào việc khuyến khích người dân tham gia tích cực vào đời sống văn hóa trong các dự án văn hóa. Sự tham gia này là hoàn toàn tự do và tự nguyện được tổ chức bởi các hiệp hội văn hóa xung quanh các dự án văn hóa cộng đồng và văn hóa tổ chức. Trong hoàn cảnh khó khăn về xă hội và kinh tế, các hiệp hội cũng như các dự án được thực hiện bởi nhiều nhóm sẽ đề ra vấn đề ưu tiên cho ḿnh. Điều này nhằm mục đích khuyến khích xă hội nhận thức về văn hóa b́nh dân và cách thức biểu diễn. Điều kiện để những hiệp hội này nhận được trợ cấp là khả năng phản ánh xă hội, khả năng khuyến khích các sáng kiến dân chủ và của tập thể, khả năng phát triển tinh thần công dân tích cực và việc thực hiện các quyền xă hội, văn hóa, môi trường và kinh tế.
8.4 Nghệ thuật không chuyên, các hiệp hội và trung tâm văn hóa cộng đồng
8.4.1 Văn hóa không chuyên

Cộng đồng nói tiếng Flemish
Một đạo luật mới về nghệ thuật không chuyên đă ra đời vào ngày 22/12/2000 nhằm phát triển và cải thiện chất lượng của khu vực này.
Năm 2004, 7.927 nhóm nghệ thuật không chuyên đă nhận được hỗ trợ (tăng so với con số 3.919 nhóm vào năm 2000). Về cơ cấu như sau: văn hóa h́nh ảnh (315 nhóm), thanh nhạc (778), khiêu vũ (275), âm nhạc sử dụng nhạc cụ (1.016), nhạc pop (4.431), nhà hát (790), nghệ thuật h́nh ảnh (128), nhạc dân gian và nhạc jazz (194).
Có khoảng gần 150.000 người tham gia các môn nghệ thuật không chuyên.
Trung tâm nghệ thuật không chuyên của cộng đồng Flemish "Vlaams Centrum voor Amateurkunsten" là một trung tâm hỗ trợ nghệ thuật không chuyên.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Liên đoàn (15)
Hoạt động nghệ thuật không chuyên luôn có được sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức, liên đoàn bảo trợ thực hiện phối hợp các nhóm ở cấp tỉnh hoặc cấp cộng đồng. Các liên đoàn này chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực như âm nhạc (các hội âm nhạc như hội các ban nhạc sử dụng nhạc cụ bằng đồng và bộ gơ), hợp xướng, văn hóa dân gian (các nhóm nhảy dân gian), nhà hát và nhiếp ảnh, rạp chiếu phim và video.
Các liên đoàn này tập hợp một số lượng đáng kể các hiệp hội mà phát triển các h́nh thức thực hành nghệ thuật và đóng góp vào cuộc sống văn hóa của địa phương.
Trung tâm biểu diễn và sáng tạo (180)
Các trung tâm biểu diễn và sáng tạo là các hiệp hội phát triển các h́nh thức thực hành nghệ thuật cho và bởi các nghệ sĩ không chuyên. Họ tập trung vào các dự án gắn với môi trường xă hội và gắn với quan điểm văn hóa của những người tham gia. Các dự án ngày thường do các nghệ sĩ điều hành và được biểu diễn trước công chúng.
Chúng ta hiện đang chứng kiến sự xuất hiện của các tổ chức mới và các h́nh thức thực hành nghệ thuật mới do các cá nhân hoặc nhóm nghệ sĩ không chuyên thành lập và khởi xướng. Ví dụ như các hội thảo về cách viết hay cách thực hành văn hóa đô thị.
Một ví dụ điển h́nh cho thấy sự phát triển của các dự án do các nghệ sĩ điều hành và thu hút sự tham gia sáng tạo của người dân là dự án “Zinneke Parade”. Dự án này kéo dài hai năm, thu hút một đội ngũ hơn 1000 người tham gia với lượng khán giả lên tới hơn 200.000 người.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Khoảng 200 hiệp hội nghệ thuật không chuyên hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực như âm nhạc, ca hát, nhà hát và khiêu vũ. Rất nhiều hội thảo cũng được tổ chức. Và gần 50 câu lạc bộ đang dốc sức để ǵn giữ các giá trị truyền thống chủ yếu thông qua việc tổ chức các lễ hội.
8.4.2 Trung tâm văn hóa và câu lạc bộ văn hóa cộng đồng
Cộng đồng nói tiếng Flemish
Chính sách của chính phủ liên quan tới các trung tâm văn hóa và cộng đồng trong nhiều năm là một bộ phận của đạo luật về chính sách văn hóa của cộng đồng Flemish. (xem chương 5.2)
Điểm cơ bản của đạo luật này là phối hợp hoạt động của các chủ thể hoạt động văn hóa của cộng động: thư viện, trung tâm văn hóa và các cơ quan đề ra sáng kiến của địa phương.
Các cộng đồng có trách nhiệm với một khu vực sẽ có đủ tư cách tài trợ cho một trung tâm văn hóa. Năm 2003, con số các cộng đồng này là 61. Các trung tâm văn hóa thực hiện các nhiệm vụ sau: quảng bá về văn hóa, phát triển cộng đồng và khuyến khích công chúng tham gia vào đời sống văn hóa. Có ba nhóm: A, B và C được phân loại dựa vào tŕnh độ của trung tâm đó và trách nhiệm của nó. Các trung tâm sẽ được hỗ trợ một khoản trợ cấp cơ bản cố định để trang trải chi phí nhân lực phụ thuộc vào từng nhóm và một khoản hỗ trợ thay đổi dựa trên hoạt động của trung tâm.
Có rất nhiều các trung tâm cộng đồng nhỏ hơn, cũng thực hiện các nhiệm vụ tương tự như trên nhưng không tập trung nhiều vào nhiệm vụ quảng bá văn hóa như các trung tâm lớn.
Chính sách lâu dài của các trung tâm văn hóa phải phù hợp với chính sách của các chủ thể văn hóa của cộng đồng. Chính sách này phải được cụ thể hóa và, nếu cần thiết, phải được chuyển thành một kế hoạch hoạt động hàng năm.
61 trung tâm văn hóa của cộng đồng Flemish đă tổ chức được 9.991 hoạt động văn hóa chuyên nghiệp, thu hút 1.887.110 khán giả năm 2003. Cũng trong năm 2003, 499 triển lăm nghệ thuật đă được tổ chức.
Cộng đồng nói tiếng Pháp
Cộng đồng nói tiếng Pháp hộ trợ:
· 100 trung tâm văn hóa (các hoạt động nghệ thuật thuộc nhiều lĩnh vực) với số tiền 11.529.000 Euro.
· 145 thư viện công cộng, với số tiển 7 003 000 Euro
· 182 trung tâm thanh niên, số tiền 7.625.000 Euro
· 180 trung tâm biểu diễn và sáng tạo, số tiển 1.315.000 Euro
· 58 hiệp hội đào tạo liên tục (giáo dục công dân và sự tham gia vào cuộc sống văn hóa của cộng đồng), số tiền 184.000 Euros
· 194 hiệp hội văn hóa giải trí, số tiền 175.000 Euro
Một số hiệp hội đào tạo liên tục của địa phương tập trung vào các vấn đề liên văn hóa và các khán giả nước ngoài. Nhiều tổ chức thanh niên và trung tâm văn hóa làm việc thường xuyên với người nước ngoài để phản ánh sự đa dạng văn hóa của cộng đồng.
Tổng cục văn hóa đă dành 15% ngân sách của ḿnh để hỗ trợ các tổ chức và hiệp hội văn hóa địa phương.
Các tỉnh và xă cũng thường xuyên đóng góp hỗ trợ các tổ chức và hiệp hội này.
Cộng đồng nói tiếng Đức
Chính quyền cộng đồng nói tiếng Đức dành nhiều hỗ trợ tài chính cho hai trung tâm văn hóa khu vực hơn các trung tâm văn hóa địa phương, các thư viện và hội thảo sáng tạo.
(Nguồn: Culturalpolicies)