CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ ÁO

 

 

1. Chính sách và các thiết chế văn hoá

2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính

3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

4. Các vấn đề phát triển chính sách hiện nay và những tranh luận

5. Các quy định pháp luật quan trọng về văn hoá

6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác mới

8. Hỗ trợ và tham gia hoạt động sáng tạo

 

1. Chính sách và các thiết chế văn hoá

 

Lịch sử nước Áo vào thế k20 được đánh dấu bằng sự suy tàn của Đế chế habsburg và sự kết thúc của chế độ quân chủ, bởi những khó khăn trong thời kỳ thành lập Nhà nước Cộng hoà Đầu tiên –giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh, bởi sự tồn tại như là một tỉnh thuộc Đức do Hitle thôn tính,  từ 1938 đến 1945, và bởi một giai đoạn bị đồng minh chiếm đóng từ 1945 đến 1955.

Chính sách văn hoá của Áo thời kỳ hậu chiến có xu hướng phi chính trị. Chính sách đó ủng hộ các nhà hát kịch và lễ hội của liên bang, bỏ qua hoạt động đương đại của văn học, kịch sân khấu, nghệ thuật thị giác và âm nhạc. Hầu hết các nghệ sĩ và học giả từng bị chủ nghĩa phát xít xua đuổi trong thời kỳ chiến tranh đă không được mời trở lại.

Thái độ đối với văn hoá sau thời kỳ chiến tranh đă thay đổi theo các xu hướng chính trị và cực đoan ở châu Âu vào thập niên 60 và 70. Sự tiên phong về văn hoá trở thành một yếu tố chính trị và được sử dụng làm công cụ để chuẩn bị cho những thay đổi sắp tới ở Áo, ví dụ như Chính phủ Dân chủ Xă hội của Bruno Kresky. Điều này hứa hẹn sự hiện đại hoá và cải tổ toàn diện bao gồm cả một quan điểm về văn hoá chứa đựng mọi khía cạnh của cuộc sống. Không những vậy,  chính sách văn hoá thực tế chỉ được xem là một biến thể  của chính sách xă hội.

Một loạt các biện pháp chính sách văn hoá của Bộ Giáo dục và Nghệ thuật đă được ban hành năm 1975. Các mục tiêu cơ bản của chính sách này là cải thiện các tập quán văn hoá, nâng cao tŕnh độ học vấn và giảm khoảng cách Giáo dục giữa  thành thị và nông thôn. Một dịch vụ văn hoá đă được Bộ Giáo dục và Nghệ thuật thành lập  nhằm tạo  sự liên hệ giữa các nghệ sĩ và những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá, cũng như tạo mối liên kết giữa các trường học, cơ sở Giáo dục , công ty và trung tâm văn hoá. Điều này đánh dấu một bước ngoặt v́ nó đă mở ra một cuộc đối thoại giữa các cơ quan chính quyền với các nghệ sĩ và những người  trung gian làm nghệ thuật. Bước đi có tính quyết định đối với hệ thống nghệ thuật đă diễn ra trong giai đoạn này, sau đó từng bước được mở rộng và hoàn thiện trong suốt 25 năm qua, bao gồm việc thành lập nhiều cơ quan cố vấn khác nhau (các hội đồng, đoàn bồi thẩm, uỷ ban và những người quản lư chuyên trách). Những cơ quan này được trao một số quyền để làm cho hệ thống hỗ trợ nghệ thuật được dân chủ hơn. Các cơ quan trung gian cũng được thành lập, do Chính phủ kiểm soát và ở mức độ nào đó nằm dưới sự  kiểm soát của doanh nghiệp tư nhân.

Vào thập niên 80, nước Áo đă diễn ra một sự bùng nổ thực sự về văn hoá, thể hiện qua việc rất nhiều sự kiện được tổ chức và kinh phí dành  cho văn hoá tăng khoảng 7 lần so với kinh phí  hàng năm của 25 năm trước đó. Nói chung, lư do của sự tăng lên là tài trợ cho  các sự kiện có quy mô lớn cũng như phải tổ chức hàng hoạt các lễ hội và triển lăm .

Đến cuối thập niên 80, các ưu tiên chính sách văn hoá đă thay đổi. Những cuộc thảo luận đă tập trung vào các vấn đề tài trợ cho văn hoá và tư nhân hoá văn hoá. Đây là thời điểm có sự đổi mới quan trọng trong liên minh giữa Đảng Dân chủ Nhân dân Cơ đốc và Đảng Dân chủ Xă hội, ngược lại với  bối cảnh thay đổi chính trị quan trọng năm 1989. Năm 1988, sự hỗ trợ của nhà nước cho nghệ thuật được quy định trong luật liên bang có tên: Luật Liên bang về Phát triển Nghệ thuật. Trong khi những cuộc thảo luận công khai về tư nhân hoá ở thập niên 80 không thu hút được sự chú ư th́ đến những năm cuối của thập niên 90 nó lại trở thành một chủ đề nóng, đặc biệt là trong các lĩnh vực như âm nhạc, nhạc kịch đại chúng và bảo tàng. Đây là những lĩnh vực mà theo tiêu chuẩn đánh giá quốc tế th́ có thể đă thu hút được nhiều tài trợ hơn so với những ngành đi tiên phong lúc bấy giờ.

Năm 1998 đă diễn ra một cuộc thảo luận về thay đổi chính sách văn hoá. Thủ tướng và Bộ trưởng phụ trách về văn hoá đă thành lập một nhóm hoạt động, bao gồm các chuyên gia, để phân tích các chính sách và việc quản lư văn hoá của liên bang. Các đề xuất đă được thảo ra nhằm  hiện đại hoá và cải thiện quản lư nhà nước về văn hoá (Weiss-buch 1998). Mặc dù những đề xuất này đă được thảo luận rộng răi trên báo chí và giữa những người ban hành chính sách với các nghệ sĩ nhưng chúng vẫn không được thực thi.

Một thay đổi lớn khác về chính trị đă diễn ra năm 2000 với việc thành lập liên minh giữa Đảng Nhân dân và Đảng Tự do cánh hữu . Sự chuyển biến chính trị này vấp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của nhiều thế lực trong nước cũng như quốc tế. Năm 2002 liên minh tái đắc cử. Các mục tiêu chính sách văn hoá tập trung vào việc cơ cấu lại sự hỗ trợ của nhà nước đối với văn hoá (các tổ chức văn hoá sử dụng các nguồn tài chính bên ngoài và giảm ngân sách của nhà nước đối với văn hoá). Bên cạnh đó,  sự chú trọng cũng được đặt ra đối với lĩnh vực văn hoá có uy tín, những ngành kinh doanh sáng tạo và sự phát triển của các dự án có định hướng kinh tế (ví dụ như các lễ hội để thúc đẩy du lịch).

 

Trở về

 

2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính

2.1 Cơ cấu tổ chức

Hiện tại không có sơ đồ cơ cấu tổ chức.

Cấp Liên bang:

Bộ trưởng nghệ thuật và cơ quan truyền thông cùng với Bộ Nghệ thuật thuộc Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm về:

·         Phát triển nghệ thuật thị giác, kiến trúc, thiết kế và thời trang

·         Phát triển âm nhạc và nghệ thuật tŕnh diễn

·         Phát triển phim và nghệ thuật media, nhiếp ảnh

·         Các vấn đề pháp lư

·         Quản lư ngân sách và kiểm soát việc trợ cấp

·         Các vấn đề văn học và xuất bản

·         Quan hệ đối ngoại song phương và đa phương trong lĩnh vực văn hoá

·         Các giải thưởng

·         Cơ quan điều phối với EU (Trung tâm Liên lạc về văn hoá), Hiệp hội các Nhà hát Liên bang Áo

·         Các sáng kiến văn hoá và các trung tâm văn hoá vùng, hỗ trợ các hoạt động đa văn hoá, các dự án liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hoá.

 Các tổ chức thuộc Bộ Nghệ thuật của Chính phủ liên bang.

·         Viện Phim Áo – OFI.

·         Bundestheater Holding, bao gồm Burgtheater (Nhà hát Quốc gia) và Nhà hát Opera Vienna, Volksoper Wien, Theaterservice GmbH, công ty lớn nhất thế giới về sân khấu

·         Artothek: Việc quản lư bộ sự tập này, bao gồm 28 000 mẫu vật, đă được quy định vào năm 2002; nhà nước liên bang vẫn là chủ sở hữu của bản thân bộ sưu tập.

·         Osterreicheische Fotogaleri (cùng với Rupertinum, Salzburg)KulturKontakt Austria (xem phần 7.1).

 

Cơ quan Luật Hiến pháp thuộc Chính phủ Liên bang (Verfassungsdienst/ Medienangelelgenheiten): được giao nhiệm vụ về các vấn đề chính sách truyền thông liên quan đến truyền thông mới.

·         Giải thích luật truyền thông (Rundfunkgesetz, Privatradiogesetz, Kabel- und Satelliten-rundfunkgesetz, KommAustria-Gesetz)

·         Phối hợp các vấn đề pháp lư liên quan đến truyền thông mới và internet (Uỷ ban tư vấn về truyền thông mới và Internet được thành lập tháng 10/1998).

 

Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá (BMBWK) chịu trách nhiệm về các vấn đề văn hoá (di sản văn hoá, Giáo dục nghệ thuật v.v..), Giáo dục, trung học và đại học. Cụ thể hơn, Bộ này chịu trách nhiệm về:

 

Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá(BMBWK ) chịu trách nhiệm quản lư các cơ quan sau:

·         OKS (Cơ quan Dịch vụ Văn hoá Áo – Giáo dục nghệ thuật)

·         KulturKontakt Austria.

·         Vụ chính sách văn hoá thuộc Bộ Ngoại Giao liên bang (BmaA) chịu trách nhiệm về:

·         Các vấn đề văn hoá song phương và đa phương

·         Các viện và uỷ ban văn hoá ở nước ngoài (29 Kulturforen, trước đây là Kulturinstitute, ở 26 quốc gia)

·         50 thư viện Áo ở nước ngoài

·         5 chi nhánh của học viện Áo (Osterreich Institute: các viện này cung cấp các chương tŕnh dạy tiếng Đức ở Slovakia, Cộng hoà Séc, Ba lan, Hungary).

 

Bộ Giáo dục, Khoa học, Văn hoáBộ Ngoại giao liên bang cùng chịu trách nhiệm về:

·         Các trung tâm nghiên cứu nước Áo.

·         Cơ quan hợp tác Áo-Ukraina về khoa học, Giáo dục và Văn hoá ở Lvov

·         Các tuỳ viên khoa học và Giáo dục.

Ngoài ra c̣n có các cơ quan khác cùng chịu trách nhiệm về vấn đề văn hoá:

Bộ Kinh tế và Lao động liên bang chịu trách nhiệm về:

·         Các giải thưởng trong lĩnh vực kinh doanh văn hoá (ví dụ như: giải thưởng cho chương tŕnh quảng Cáo hay nhất trên truyền h́nh)

·         Các thoả thuận song phương về điện ảnh (với Đức, Thuỹ sĩ, Pháp, Tây Ban Nha và Ư).

Bộ Nội vụ liên bang có trách nhiệm:

·         Tổ chức lễ kỉ niệm  Holocaust(nạn tàn sát người Do thái thời Hitler)

·         Liên kết thực hiện tổ chức lễ kỉ niệm Holocaust (24 địa điểm mỗi năm)

·         Hiệp hội “Never Forget” về Bảo vệ Lễ kỉ niệm Holocaust (16 địa điểm mỗi năm)

·         Liên kết thực hiện ở nước ngoài các lễ kỉ niệm theo Luật Dịch vụ Cộng đồng (26 địa điểm mỗi năm).

Cấp Bang

 

Bundeslander (các bang) ở Áo bao gồm: Burgenland, Carinthia, Lower Austria, Salzburg, Styria, Tyrol, Upper Austria, Vienna, Vorarlberg. Trong cơ quan hành chính của mỗi bang đều có một bộ phận đảm trách về văn hoá. ở một số bang, các bộ phận này c̣n có thêm chức năng quản lư về khoa học hoặc  Giáo dục. Ngoại trừ Vienna, mỗi bang ở Áo có Luật phát triển văn hoá riêng, hầu hết các luật này đă có hiệu lực từ thập niên 80.

 Nh́n chung trách nhiệm văn hoá của các Bang gồm:

·         Các vấn đề pháp lư liên quan đến chính sách văn hoá (kulturhoheit, ví dụ như chủ quyền văn hoá)

·         Thúc đẩy các hoạt động văn hoá của từng bang, thường là phối hợp với liên bang (các ưu tiên khác nhau cho hoạt động thúc đẩy)

·         Thúc đẩy các hoạt động để bảo tồn vẻ bề ngoài của các ngôi làng và thành phố – duy tŕ các trung tâm phố cổ

·         Các hiệp hội và quỹ thuộc sở hữu của các Bang

·         Trường nhạc

·         Kịch, điện ảnh, các sự kiện và lễ hội (ví dụ như Lễ hội Salzburg, Ars Electronica in Linz, Lễ hội Bregenz, steirischer herbst, Graz)

·         Di sản, truyền thống và nghệ thuật dân gian

·         Thể thao.

 

Cấp địa phương

                     

Trách nhiệm về văn hoá ở cấp địa phương thuộc về các hội đồng thành phố, hoặc tại các đô thị nhỏ hơn là thị trưởng. Đa số các cơ quan địa phương hoặc các chính quyền đô thị đều có các ban văn hoá (thường gộp chung với khoa học và Giáo dục), các ban này chịu trách nhiệm về vấn đề thư viện, ǵn giữ văn hoá dân gian và sân khấu. Các cộng đồng có dân số ít hơn 20 000 người thường không có ban văn hoá riêng.

 

Thẩm quyền ở cấp địa phương gồm:

·         Bảo tồn dáng vẻ của các ngôi làng, thị trấn, và trung tâm phố cổ

·         Các lễ hội, đặc biệt là ở thành phố trung tâm của bang như Bregenz, Salzburg, Linz (thường phối hợp với các bang hoặc liên bang)

·         Thúc đẩy các tổ chức đô thị ở các thành phố (sân khấu, các trung tâm văn hoá, v.v..)

·         Các bảo tàng địa phương

·         Các thư viện, các cơ sở Giáo dục người lớn.

 

2.2 Mô tả tổng quát hệ thống

 

Áo là một nước liên bang. Điều 15 Hiến pháp trao hết thẩm quyền văn hoá cho các bang (quy định này thường được gọi là “chủ quyền văn hoá”). Trong khi đó Chính phủ liên bang vẫn có thẩm quyền đồi với các vấn đề “chủ quyền” như lưu trữ và thư viện về khoa học và kỹ thuật, các bộ sưu tập nghệ thuật và khoa học, các cơ sở của liên bang (Bảo tàng liên bang, Thư viện Quốc gia), các nhà hát liên bang, di tích lịch sử, các Giáo phái, các quỹ và hội.

Mặc dù trách nhiệm đă được xác định rơ ràng trong một số lĩnh vực văn hoá cụ thể, các cơ quan nhà nước (tại các cấp chính quyền) có thể đóng một vai tṛ tích cực trong việc hỗ trợ các hoạt động văn hoá và nghệ thuật. Nhưng trong trường hợp này, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước được xác lập bằng sự hợp tác không chính thức cũng như nhiều sự cạnh tranh (xem thêm phần 2.3). Về mặt nguyên tắc Áo là một nước liên bang, nhưng trên thực tế Chính phủ liên bang lại đóng vai tṛ tích cực hơn các bang trong việc hỗ trợ nghệ thuật và văn hoá.

Quản lư văn hoá của nhà nước Cộng hoà Liên bang

Năm  1997, vấn đề nghệ thuật được chuyển giao cho Chính phủ liên bang và Bộ trưởng chịu trách nhiệm về văn hoá, nghệ thuật và truyền thông. Kể từ thập niên 70, đây là lần đầu tiên các vấn đề văn hoá và nghệ thuật được đưa vào chuyên mục như là chính sách truyền thông. Các quyết định về hỗ trợ được đưa ra dựa trên các đề xuất của các ủy ban cố vấn, bao gồm các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan thuộc Bộ Nghệ thuật (xem phần 5.1): nghệ thuật thị giác, âm nhạc, kịch, múa, phim – Viện phim Áo (Uỷ ban Lựa chọn/ Auswahlkommission), văn học, dịch thuật, xuất bản, kiến trúc,  sáng kiến văn hoá. Các khuyến nghị của uỷ ban cố vấn không có tính bắt buộc.

Các dự luật thường được các bộ liên quan soạn thảo, thông thường có sự tư vấn của các chuyên gia. Sau khi được Nội các thông qua, dự luật được chuyển sang Hội đồng Nhà nước để thảo luận và sửa đổi từng phần tại các uỷ ban liên quan (ví dụ như về văn hoá). Các thay đổi khác có thể thực hiện tại phiên họp toàn thể. Quá tŕnh bỏ phiếu cuối cùng cần phải có một phần ba số phiếu của Nghị viện, ngoại trừ Luật hiến pháp và các luật liên quan đến trường học (yêu cầu hai phần ba số phiếu).

Báo cáo hàng năm (Kunstbericht) do Bộ Nghệ thuật xuất bản đưa ra các thông tin về chi tiêu của nhà nước cho các hoạt động văn hoá và nghệ thuật. Để đạt được sự minh bạch và so sánh, đặc biệt là giữa chi tiêu của các bang và chi tiêu của liên bang, một hệ thống mới đă được thiết lập vào năm 1996 và sắp xếp các dữ liệu theo lĩnh vực (ví dụ như văn học; phim và nhiếp ảnh v.v..) thay v́ phân loại theo cơ quan quản lư (hệ thống LIKUS, xem phần 6). Báo cáo hàng năm của Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá cung cấp thông tin về chi tiêu của cơ quan này. Ngoài ra Vụ chính sách văn hoá thuộc Bộ Ngoại giao liên bang cũng xuất bản báo cáo hàng năm  và một bản tin hàng tháng.

Quản lư văn hoá của các bang và chính quyền địa phương

Các bang có vai tṛ tích cực trong việc thúc đẩy văn hoá ở nhiều lĩnh vực liên quan, dựa trên các yếu tố của luật tư nhân. Chính quyền các bang có ít nhất một cơ quan đảm trách các vấn đề văn hoá. Một thành viên của chính quyền đảm nhận chung trách nhiệm chính trị tại cơ quan này. Đôi khi, một số thẩm quyền văn hoá lại thuộc về thống đốc. Thủ phủ của các bang cũng như các đô thị nhỏ ở nông thôn phân bổ các nguồn lực đáng kể cho hoạt động thúc đẩy văn hoá, tập trung vào các tổ chức ở đô thị, bảo tàng, thư viện và cơ sở Giáo dục người lớn ở địa phương.

2.3 Hợp tác giữa các bộ và các chính quyền

Các cuộc họp thông tin hàng năm giữa các chính quyền (landeskulturreferenkonferenz) được tổ chức giữa 9 bang và Chính phủ liên bang. Tại đây các dự án và sự kiện văn hoá quan trọng được đem ra thảo luận (ví dụ như ngày lễ toàn xá năm 2005, năm nước Áo giữ chức chủ tịch EU và lễ kỉ niệm lần thứ 250 ngày sinh của Mozart vào năm 2006). Các viên chức hành chính và chính trị tham dự các cuộc họp này theo lời mời của Chính phủ liên bang. Theo đề nghị, không chính thức, các cuộc họp liên bộ được tổ chức giữa các bộ chức năng và các cơ quan quản lư liên quan.

 

2.4 Hợp tác văn hoá quốc tế

 

Các nhiệm vụ chính của chính sách văn hoá quốc tế đă được vạch ra trong một tài  liệu (Auslandskultur Neu, 2001) do Bộ Ngoại giao liên bang ban hành năm 2001. Yếu tố chủ chốt là cơ cấu lại các viện văn hoá và các sở văn hoá thuộc các Đại sứ quán Áo dưới dạng 28 “diễn đàn văn hoá” (Kulturforen) ở 25 Quốc gia. Mùa thu năm 2004, một diễn đàn văn hoá mới đă được mở ra tại Bắc Kinh.

Quan điểm mới đă xác định các khu vực trọng tâm:

·         “Trung tâm văn hoá toàn cầu” như ở New York, London, Paris v.v..;

·         “Văn hoá láng giềng” như ở Hungary, Slovakia, Slovenia v.v.. bao gồm cả Đông Nam châu Âu

·         Phát triển các ‘nước đối tác” (ví dụ như ở Miền nam Caucus).

·         Quan điểm mới cũng xác định các ưu tiên sau:

·         Hỗ trợ các cuộc thảo luận về châu âu và “Các giá trị châu âu” tại các sự kiện và hội thảo quy mô lớn;

·         Phân tích lịch sử nước Áo thế kỉ 20 (ví dụ như các tác phẩm nghệ thuật văn học bị đánh cắp, mang ra nước ngoài);

·         Hợp tác văn hoá với các nước tham gia trong khối EU, đặc biệt là ở Trung Âu;

·         Hợp tác văn hoá nhằm góp phần ổn định khu vực Ban Căng

·         Hợp tác văn hoá với các quốc gia đối tác ở các nước thuộc “Thế giới thứ ba”.

 Dễn đàn “Văn hoá - Trung tâm  châu Âu được thành lập tại hội nghị các Bộ trưởng ngoại giao được tổ chức vào năm 2001 giữa các quốc gia “văn hoá láng giềng (Áo, Ba Lan, Cộng hoà Czech, Hungary, Slovakia, Slovenia). Đây là một diễn đàn nhằm thúc đẩy đối thoại về văn hoá với mục đích tạo ra sự hỗ trợ cho các dự án văn hoá song phương và đa phương tập trung vào các lợi ích chung của Trung âu. Sáng kiến “Đối thoại Văn hoá” nhằm thúc đẩy các cuộc đối thoại giữa các tôn Giáo lớn trên thế giới.

Các vấn đề đa phương của chính sách văn hoá quốc tế liên quan đến văn hoá trong phạm vi của UNESCO, Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và OSCE. ở cấp song phương, các hiệp định hợp tác văn hoá đă được kư kết với 25 quốc gia (có 8 quốc gia thành viên EU). Các hiệp định bổ sung về hợp tác đă được kư kết với 12 nước trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Hợp tác không chính thức trong lĩnh vực văn hoá và khoa học đă xây xựng được quan hệ đối tác với 6 quốc gia không có thoả thuận chính thức bằng văn bản.

 

 

Trở về

3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

 

Hệ thống chính sách của Áo bao gồm các yếu tố khác nhau. Về mặt nguyên tắc, Áo là một nước theo chế độ liên bang. Trách nhiệm của nhà nước về văn hoá được phân bổ lại theo lĩnh vực cho các cơ quan, tổ chức khác nhau, ví dụ như Viện phim và KulturKontakt. Ngoài ra, các nỗ lực cũng được thực hiện nhằm chuyển giao trách nhiệm văn hoá thông qua việc cải tổ các nhà hát thuộc liên bang hoặc tái cơ cấu các bảo tàng thuộc liên  bang (xem thêm phần 7.1).

3.2 Định nghĩa về văn hoá

Ở Áo không có định nghĩa chính thức về văn hoá. Văn hoá và việc phát triển văn hoá là một phần được quy định trong Luật phát triển Nghệ thuật liên bang. Các định nghĩa khác nhau về văn hoá có thể t́m thấy trong Luật phát triển Nghệ thuật của mỗi bang, trong đó thường nhấn mạnh đến đặc điểm vùng của các hoạt động văn hoá.

3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá

Thông thường, các mục tiêu chính của chính sách văn hoá có thể chia làm 3 nhóm:

·         Các nhu cầu văn hoá cơ bản: Tự do nghệ thuật, đa nguyên, chất lượng, đổi mới, sáng tạo, bản sắc, quốc tế hoá (hội nhập), đồng bộ các điều kiện chung cho các nghệ sĩ và khả năng để họ phát triển.

·         Quản lư: Minh bạch, thúc đẩy, cạnh tranh, hiệu quả, hợp tác giữa nhà nước và tư nhân, linh hoạt, phi tập trung, lập kế hoạch, phục vụ có định hướng, có giá trị.

·         Các mục tiêu chính trị – xă hội: sự tham gia, b́nh đẳng, an sinh xă hội, tính đại diện, hiểu được hiệu quả kinh tế của lĩnh vực văn hoá.

 

Trở về

       4. Các vấn đề phát triển chính sách hiện nay và những tranh luận

   4.1 Chính sách văn hoá và các ưu tiên

Năm 2000, Chính phủ liên minh đă đưa ra các ưu tiên mới về chính sách văn hoá. Việc phát triển nghệ thuật hiện đại không c̣n được đề cập đến trong chính sách của liên minh, thay vào đó là văn hoá dân gian (“khuyến khích văn hoá vùng” hoặc “thực hiện các nghiên cứu tập trung vào văn hoá dân gian”). Các ưu tiên khác bao gồm:

·         Thực hiện chương tŕnh an sinh xă hội mới cho các nghệ sĩ (được ban hành năm 2001);

·         Lưu số hoá các di sản;

·         Bảo vệ các nguồn tài chính của các nhà hát và bảo tàng thuộc liên bang;

·         Khuyến khích tư nhân tài trợ cho ngành sáng tạo;

·         Hỗ trợ tập trung đối với sản xuất phim và từng bước xây dựng nước Áo thành trung tâm kinh doanh ngành phim.

·         Khấu trừ thuế đối với những khoản chi tiêu cho nghệ thuật được xem là “ khoản chi tiêu đặc biệt”.

Các vấn đề chính trong chính sách truyền thông là việc thành lập một tổ chức đặc biệt về viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông (KommAustria),  Luật phát thanh-truyền h́nh mới (2001) và Luật phát thanh tư nhân (2001).

Trong tài liệu chính sách của Chính phủ liên minh (Chương tŕnh của Chính phủ Liên bang Áo về Giai đoạn lập pháp thứ 22, 2003), Chính phủ tái đắc cử (2002) đă đưa ra những mục tiêu trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật và truyền thông như sau:

 

·         Đưa ra các biện pháp thuế để thúc đẩy thị trường nghệ thuật, tài trợ cho nghệ thuật và bảo vệ các công tŕnh kỷ niệm

·         Nâng cao vị thế  các nghệ sĩ nghệ thuật hiện đại của Áo trên trường quốc tế.

·         Tạo thêm nhiều hỗ trợ hơn cho các sáng kiến văn hoá vùng và hoạt động văn hoá của thanh thiếu niên.

·         Nâng trợ cấp cho ngành phim và sửa đổi luật trợ cấp cho ngành phim;

·         Đề ra chiến dịch thúc đẩy truyền h́nh kỹ thuật số;

·         Hỗ trợ sản xuất phim thông qua phí phát thanh và truyền h́nh;

·         Đánh giá trợ cấp cho bÁo chí

·         Loại bỏ các khoản phí quảng cáo và thông báo.

Những cuộc tranh luận công thường liên quan đến việc phân bổ tiền của nhà nước.  Sự cắt giảm ngân sách  vốn đă ảnh hưởng đến lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật, cũng đă góp phần vào việc tạo ra sự bất ổn và thay đổi đối với hiện trạng của lĩnh vực văn hoá ở Áo. Trong khi ngân sách của các tổ chức lớn (như các bảo tàng thuộc liên bang) đă tăng lên, th́ những tổ chức nhỏ hơn, đặc biệt là các hiệp hội, đang liên tục phải đối mặt với những mối đe doạ đến sự tồn tại của ḿnh.

  4.2 Những vấn đề chính sách và các tranh luận

  4.2.1 Quy định đối với văn hoá cộng đồng thiểu số

Năm 1976 Nhà nước liên bang thông qua luật mới về quyền của các dân tộc thiểu số bản địa ở Áo, the Volksgruppengesetz (Luật các nhóm dân tộc). Luật này làm giảm đáng kể các quyền được quy định trong Điều 7 của Hiệp ước thành lập Nhà nước năm 1955. Năm nhóm dân tộc, sau đó là sáu nhóm , được thừa nhận là các nhóm dân tộc thiểu số ở các khu vực khác nhau của Áo: người Slovenes (ở Carinthia), người Croats (Burgenland), người Hungary (ở Burgenland và Vienna), và người Czech và Slovaks (ở Vienna). Năm 1982, người La mă (ở tất cả chín bang của Áo). Hiện nay đang diễn ra một cuộc tranh luận giữa các nhóm dân tộc thiểu số về việc các quy định bảo vệ di sản văn hoá của họ đă không được thực hiện đầy đủ.

Những người nhập cư  vào nước Áo từ thập niên 60, c̣n được gọi là GastarbeiterInnen, chủ yếu là người Nam Tư cũ và Thổ Nhĩ Kỳ, họ không được  thừa nhận là dân tộc thiểu số và cũng không được bảo đảm các quyền để duy tŕ bản sắc văn hoá của ḿnh. Cũng cần lưu ư rằng số lượng người nhập cư nhiều hơn rất nhiều số lượng của một dân tộc thiểu số được thừa nhận.  Ví dụ, cộng đồng Slovenes có 20 000 (điều tra năm 1999), trong khi đó tổng số người nhập cư từ Nam Tư cũ là 339 000 người.

Năm 1999, Bộ Nghệ thuật đă đệ tŕnh một báo cá về “Đa dạng văn hoá của Áo”. Đây là một trong số các nghiên cứu được thực hiện tại 7 quốc gia, dưới sự bảo trợ của hội đồng châu Âu. Báo cáo này do Andrea Ellmeier thực hiện tháng 2/2000.

Tóm lại, ở Áo, Bộ Nghệ thuật của Chính phủ Liên bang không có một chương tŕnh cụ thể nào đối với các nhóm dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, một ban Volksgruppengesetz (Luật các nhóm dân tộc) chịu trách nhiệm về việc hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá của các dân tộc thiểu số. Cộng đồng người nhập cư không được chính thức công nhận là dân tộc thiểu số nên không nhận được sự hỗ trợ hoặc hưởng các quyền pháp lư của nhân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hoá của những nhóm dân tộc này được thực hiện thông qua ngân sách văn hoá tiêu chuẩn ở cấp nhà nước, vùng hoặc cấp địa phương. Từ năm 1998, một ban chuyên trách về Các hoạt động quốc tế và giao lưu văn hoá thuộc Sở Văn hoá của thành phố Vienna đă được thành lập để hỗ trợ cho các dự án của các hiệp hội để thực hiện các hoạt động văn hoá và dự án của cộng đồng người nhập cư.

Năm 2000, Luật các nhóm dân tộc đă được đưa vào hiến pháp (Điều 8, đoạn 2), là một nội dung của mục tiêu quốc gia. Năm 2001, Chính phủ đă kư Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ các vùng hoặc dân tộc thiểu số.

 4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

Ở Áo không có các chương tŕnh chính trị xác định rơ ràng các mục tiêu để giúp đỡ phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá. Những năm gần đây, một nhóm hoạt động về văn hoá và nghệ thuật thuộc Bộ Bảo vệ người tiêu dùng và các Vấn đề phụ nữ  trước đây - đứng đầu là một nữ bộ trưởng - đă được thành lập ở chính phủ liên bang để thảo luận các biện pháp chính sách thay thế đối với b́nh đẳng giới trong nghệ thuật và truyền thông. Năm 2000, Bộ này đă bị chính phủ liên minh giải tán và hoạt động chính trị của phụ nữ được chuyển sang hoạt động chính trị gia đ́nh. Kể từ khi chính phủ liên minh tái đắc cử năm 2002, th́ Bộ Y tế và các vấn đề phụ nữ được thành lập để chịu trách nhiệm về các vấn đề về phụ nữ.

Trong các cơ quan hành chính, những “viên chức b́nh đẳng” trước đây – các công chức làm việc về vấn đề b́nh đẳng giới - được chuyển sang thành “viên chức cải cách về giới”. Chính sách cải cách về giới tập trung vào việc cải cách các quá tŕnh đưa ra chính sách thay v́ chỉ liên quan đến việc thực hiện chính sách b́nh đẳng giới trong việc làm. Kể từ năm 2001, Sở Văn hoá của thành phố Vienna công bố các dữ liệu về giới trong phần phụ lục “Frauenkunstbericht” vào BÁo cÁo tài chính hàng năm.

Cựu Bộ trưởng Bộ Phụ nữ đă thuê điều tra t́nh trạng (xă hội) của các nữ nghệ sĩ ở Áo (1998-1999). Nghiên cứu này đă chỉ ra rằng bên cạnh vị thế thấp kém trong việc làm, thu nhập và vị trí xă hội của các nghệ sĩ nữ cũng thấp hơn so với nam giới.

Một nghiên cứu ở cấp quốc gia về địa vị của phụ nữ trong ngành nghệ thuật và truyền thông Áo, một phần của dự án so sánh của châu âu do ERICarts phối hợp điều tra về t́nh trạng việc làm của phụ nữ trong lĩnh vực nghệ thuật và truyền thông. Nghiên cứu gần đây lại chủ yếu tập trung vào sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí ban hành quyết định. Nghiên cứu này cho thấy rằng có nhiều phụ nữ có năng lực không có nghĩa là họ sẽ đảm nhận các vị trí quan trọng.

 4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách

 

Ngôn ngữ chính của Áo là

tiếng Đức. Ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số được đề cập trong Luật Dân tộc Thiểu số là tiếng Croatia và Hungary (chủ yếu ở bang Burgenland) và tiếng Sloven (chủ yếu ở Bang Carinthia). ở Burgenland, ngôn ngữ giảng dạy tại một trường học phụ thuộc vào số lượng học sinh trong trường đó nói ngôn ngữ thứ hai. Giảng dạy bằng tiếng Hun-ga-ry tại cấp tiểu học được thực hiện đối với cộng đồng người Hun-ga-ry ở Bang Burgenland.  Đối với cộng đồng thiểu số lớn nhất ở Áo, người Sloven (ở Nam Tư)ở bang Caringthian, Giáo dục cấp hai được thực hiện bằng tiếng Sloven. Chính sách này c̣n được gọi là “quyền Giáo dục của người thiểu số”.

4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

Kể từ khi thế độc quyền của Công ty Phát thanh Truyền h́nh Áo (ORF) bị phá vỡ, hệ thống truyền thông được chia ra như sau:

·         Khối in ấn, phát thanh và truyền h́nh của nhà nước (ORF, công bÁo)

·         Khối tư nhân, hoạt động v́ lợi nhuận (phát thanh truyền h́nh và xuất bản của tư nhân)

·         Khối tư nhân hoạt động phi lợi nhuận (phát thanh, in ấn miễn phí).

Đặc điểm chính của t́nh h́nh truyền thông Áo là sự tập trung vào lĩnh vực truyền thông in ấn. Đây là một trong những lĩnh vực được các nước trên thế giới tập trung nhiều nhất: năm 1988 hăng nhật bÁo hàng đầu ở Áo là Kronenznitung (thu hút trên 50 số hộ gia đ́nh ở Áo) và Kurier đă hợp nhất lại thành tập đoàn Mediaprint. Do đó năm 2001đă có một vụ sáp nhập lớn khác, điều này đă làm cho t́nh trạng càng thêm sâu sắc: chỉ một tập đoàn xuất bản hiện nay đă xuất bản tới ba tờ tuần bÁo kinh tế chính trị lớn nhất (News, Format, Profil; và Trend), các tạp chí truyền h́nh (TV-Media và e-media) và bảy tạp chí đời sống.

Năm 2001, sự đa dạng nội dung bị hạn chế thêm bởi việc cắt giảm trợ cấp của nhà nước đối với hoạt động phân phối báo chí (và sự trợ cấp đă bị huỷ vào tháng 1/ 2002). Điều này dẫn đến những khó khăn về tài chính cho các hăng báo và tạp chí nhỏ. Nhiều sáng kiến văn hoá và các tổ chức dân sự, vốn dựa trên tiền hỗ trợ phân phối cho hoạt động xuất bản của ḿnh, đặc biệt là ở cấp vùng, đă buộc phải giải thể. Năm 2002, Chính phủ công bố kế hoạch chi tiết về việc cải tổ hệ thống trong tương lai: cho đến năm 2005, nghĩa vụ đóng thuế đối với khoản thu từ quảng cáo của các hăng báo sẽ bị băi bỏ (năm 2001 số tiền này là 100 triệu euro).

·         Từ năm 2000, những thay đổi quan trọng đă diễn ra trong lĩnh vực truyền thông điện tử:

·         Việc cấp phép được giao cho Hăng truyền thông tư nhân (hoạt động trên toàn quốc) thông qua Luật Truyền h́nh Tư nhân (2001)

·         Những giấy phép mới đă cấp cho 23 hăng truyền thanh vùng và địa phương, thông qua Luật Phát thanh Tư nhân

·         Cơ quan giám sát truyền thông (“KommAustria”) đă được thành lập, cơ quan này thuộc quyền quản lư của Thủ tướng liên bang.

         4.2.5 Kinh doanh văn hoá: Sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác.

Gần đây, những ngành kinh doanh sáng tạo ngày càng được quan tâm. Bắt đầu từ cuộc điều tra năm 2001 nhằm xem xét t́nh h́nh của ngành kinh doanh sáng tạo ở Bang Burgenland (Instinct Domain, 2001).

Hai năm sau, Báo cáo Kinh tế về Ngành sáng tạo ở Áo đă được xuất bản (KMU-Forchung Austria/Institut fur Kulturmanagement, 2003). Báo cáo này nhấn mạnh đến tiềm năng kinh tế của ngành kinh doanh sáng tạo của Áo và sự tăng trưởng đặc biệt của lĩnh vực này trong những năm gần đây. Do đó, Pḥng Thương mại liên bang Áo đă thành lập một cơ quan có thẩm quyền về tính kinh tế của ngành kinh doanh sáng tạo (“creative wirtschaft austria”). Một chương tŕnh hỗ trợ mới gần đây có tên “IP ImpulsProgramm creativewirtschaft” đă nhận được số tiền 3.8 triệu euro (cho đến cuối năm 2005). Chương tŕnh này tập trung vào các lĩnh vực âm nhạc, truyền thông đa phương tiện và thiết kế. Đây là một phần trong chiến lược quốc gia nhằm thúc đẩy tiềm năng sáng tạo và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Áo trong lĩnh vực CI (Creative Industry) và làm tăng số lượng các doanh nghiệp và việc làm trong lĩnh vực này, v.v..

Năm 2002, Thành phố Viên đề ra chương tŕnh hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc ngành kinh doanh sáng tạo. Chương tŕnh hộ trợ này trước mắt tập trung đầu tư  vào các dự án truyền thông mới do đó đă có 109 đề xuất về lĩnh vực này, 16 trong số đó đă nhận được hỗ trợ. Năm 2003, “Nghiên cứu về tiềm năng kinh tế của lĩnh vực kinh doanh sáng tạo ở Viên” có tên (ệsterreichische Kulturdokumentation/Mediacult/Wifo, 2004) đă được tiến hành . Nghiên cứu này đă phân tích các tiềm năng thị trường, sự đổi mới và việc làm của các lĩnh vực định hướng kinh tế thị trường ở Viên như thiết kế thời trang, đồ hoạ, quảng cáo, truyền thông đa phương tiện và kiến trúc cũng như các lĩnh vực hỗn hợp giữa nghệ thuật và thương mại như văn học và xuất bản, âm nhạc, phim, mỹ thuật và thị trường nghệ thuật và nghệ thuật tŕnh diễn, thư viện và bảo tàng. Một số kết quả thu được:

·         24% các công ty ở Viên (18 000 công ty) có số lao động khoảng 100 000 đến 120 000 lao động được xem là một bộ phận của lĩnh vực kinh doanh sáng tạo

·         Giữa năm1998 và 2002, tăng trưởng việc làm của lĩnh vực này trung b́nh là 6%, so với 2% của toàn bộ nền kinh tế;

·         Trong số 18 000 công ty, 48.2% là doanh nghiệp một chủ, 47.9% doanh nghiệp có từ 1 đến 19 lao động, 3.2% có dưới 99 lao động, 0.5% có từ 100 đến 249 lao động và 0.3% có trên 250 lao động

·         Tŕnh độ của những người lao động trong lĩnh vực này là trên mức trung b́nh: cứ bốn người th́ có một người có bằng đại học, trên 44% có  tŕnh độ tương đương Giáo dục cấp A.

Năm 2003, Công ty “Departue - wirtschaft, kunst und kultur gmbh” được Hội đồng thành phố Viên thành lập. Nó đóng vai tṛ là cơ quan dịch vụ và hỗ trợ kinh tế cho khoảng 18000 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sáng tạo ở Viên. Từ năm 2004 (cho đến cuối năm 2005) công ty này đă hỗ trợ 7 triệu euro cho các lĩnh vực thời trang, âm nhạc, truyền thông đa phương tiện và thiết kế.

Tất cả các sáng kiến và hoạt động này luôn kèm theo những mối lo ngại cho rằng sự tập trung vào ngành kinh doanh sáng tạo sẽ dẫn đến cắt giảm hỗ trợ của nhà nước cho nghệ thuật.

 4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

Việc làm là vấn đề thách thức lớn nhất  của các quốc gia châu Âu vào thập niên 90, đă được chính phủ Áo đưa vào trọng tâm hoạt động của ḿnh. Năm 1999, lĩnh vực văn hoá trở thành một phần trong chiến lược quốc gia về việc làm. Sự thành công trong hoạt động của lĩnh vực kinh doanh văn hoá và truyền thông, với doanh thu tăng cao, được Chính phủ nh́n nhận là nguồn tạo việc làm mới. “Văn hoá và việc làm” làm một trong những vấn đề chính sách văn hoá quan trọng đă được đề cập trong thời gian Áo đảm nhận vị trí Chủ tịch EU vào nửa cuối của năm 1998 tại hội nghị “Văn hoá: công nghệ mới, Văn hoá và việc làm”.

  Có nhiều nghiên cứu về việc làm trong lĩnh vực văn hoá đă được công bố:

·         Pḥng Lao động đă uỷ quyền nghiên cứu về chủ đề “Tính kinh tế của văn hoá và giải trí, một phần của Thị trường lao động Viên”, trong đó nói rằng một trong những yếu kém lớn nhất ở Áo là việc xúc tiến và sử dụng các hàng hoá văn hoá và một trong những điểm mạnh là khía cạnh sáng tạo của các sản phẩm văn hoá (Geldner; 2000).

·         “ảnh hưởng của thông tin và công nghệ truyền thông đối với việc làm và năng lực” là nghiên cứu do Viện tư vấn và nghiên cứu thị trường lao động thực hiện. Nghiên cứu này chỉ ra rằng ngành kinh doanh văn hoá có khả năng tạo thêm nhiều việc làm hơn so với các ngành kinh doanh khác và các pḥng lao động nên có nhiều chương tŕnh đào tạo hơn đối với công nhân và những người làm trong lĩnh vực văn hoá (Schiffbọnker / Kernbeị; 2000).

·         The osterreichische kuvlturdokumentation. internationales archiv fỹr kulturanalysen đă tham gia vào một chương tŕnh nghiên cứu về “Khai thác và phát triển tiềm năng việc làm của lĩnh vực văn hoá” ở châu Âu. Chương tŕnh này do Cơ quan việc làm và xă hội của EU thuê thực hiện, công bố vào năm 2001. Mục tiêu chính của nghiên cứu là phát triển các chiến lược mới nhằm khai thác tiềm năng việc làm trong lĩnh vực văn hoá. Các chiến lược được tŕnh bày trong bÁo cÁo tổng kết tập trung  vào việc thúc đẩy sự minh bạch và sự linh động giữa các quốc gia trong thị trường lao động của lĩnh vực văn hoá, đưa ra các chính sách Giáo dục và đào tạo phù hợp đối với các nghề nghiệp trong lĩnh vực này, và thúc đẩy những quan hệ đối tác mới ở cấp địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế. Số hoá các di sản văn hoá được cho là một trong những thách thức lớn nhất đối với thị trường lao động trong lĩnh vực văn hoá ở châu Âu. (MKW Wirtschaftsforschungs GmbH, ửsterreichische kulturdokumentation. internationales archiv fỹr kulturanalysen, et al; 2001).

·         Quan hệ đối tác phát triển b́nh đẳng, Dịch vụ nghệ thuật và hoạt động nghệ thuật của Lĩnh vực Thứ ba, đang thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực việc làm mới cho các nghệ sĩ trong Lĩnh vực Thứ Ba (ví dụ như: công việc xă hội, chăm sóc y tế). Dự án này bắt đầu từ tháng 9/2002 và kéo dài trong thời gian 30 tháng, với sự tham gia của 12 tổ chức đối tác.

·         Theo cách phân loại của NACE, số người làm thuê trong lĩnh vực văn hoá vào năm 2000 là 108000 người. Con số này tương ứng với 2.7% tổng số lao động. Một vài số liệu quan trọng khác được công bố trong Kulturstatistik 2000/2001:

·         Hoạt động văn hoá là công việc chính của 83% số lao động trong lĩnh vực văn hoá

·         59% số người làm việc trong lĩnh vực văn hoá theo giờ hành chính

·         60% là nam giới ( chiếm tỉ lệ người làm việc toàn thời gian cao hơn)

·         40% là nữ giới (chiếm tới 45% số người làm việc bán thời gian )

·         Hai phần ba số lao động ở độ tuổi từ 25  đến 49

·         Tỉ lệ việc làm trong lĩnh vực văn hoá cao nhất là ở Viên (4.6%) và Salzburg (3.5%).

Tỉ lệ việc làm cao nhất được liệt kê trong phân mục “văn hoá và giải trí” với khoảng 45000 người (21000 nghệ sĩ và nhà văn), tiếp theo là phân mục “in ấn” (18000 người), và kiến trúc (142 00 người) và “xuất bản” 11000 người.

 4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá

Tháng 4/2000, Chính phủ đă đồng ư với sáng kiến “e-Austria in e-Europe” (nước Áo điện tử trong châu âu điện tử). Sáng kiến này tập trung vào việc lưu số hoá các di sản văn hoá. Do đó Austrian Digital Heritage Initiative( Viện số hoá di sản Áo) đă được thành lập để lưu giữ các tác phẩm văn hoá và khoa học/hàn lâm dưới dạng kỹ thuật số. Thư viện Quốc gia Áo, từ năm 2002 là một viện khoa học độc lập của nhà nước liên bang, cũng đang thiết lập những tiêu chuẩn mới cho lĩnh vực này. Bên cạnh các dự án lưu số hoá trong lĩnh vực bảo tàng và di sản văn hoá, năm 2000 chính phủ liên minh cũng đă xác định các mục tiêu về văn hoá và truyền thông sau đây:

 

·         Tiến hành “thí điểm” với sự nhấn mạnh đến lĩnh vực truyền thông điện tử (xem phần 4.2.9);

·         Thành lập cơ quan quản lư về truyền thông (“KommAustria”);

·         Số hoá ngành truyền h́nh (“Digital Platform Austria” được thành lập vào năm 2001);

·         Thành lập một cơ quan có chức năng nâng cao nhận thức của dân chúng đối với các công nghệ truyền thông và thông tin mới.

·         Hỗ trợ và phát triển lĩnh vực “nghệ thuật truyền thông”;

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh

Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá (BMBWK) có trách nhiệm chính đối với các vấn đề liên quan đến Giáo dục nghệ thuật. ở cấp tiểu học, Giáo dục nghệ thuật bao gồm Giáo dục âm nhạc và nghệ thuật thị giác. ở cấp hai, học sinh có thể lựa chọn trong số các môn nghệ thuật, điều này khác với các chương tŕnh học phổ cập hiện có. Thông thường, các trường hướng nghiệp không có chương tŕnh Giáo dục nghệ thuật. Tuy nhiên, có những môn học đặc biệt trong lĩnh vực này (ví dụ như thời trang). Mỗi chương tŕnh nghệ thuật, ví dụ như việc giao lưu giữa các nghệ sĩ và trường học, được thúc đẩy thông qua các hoạt động của ệsterreichische Kulturservice (ệks), đây là một tổ chức Giáo dục văn hoá và phổ biến nghệ thuật tại các trường học kể từ năm 1997. Các dự án khác do Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá phát động c̣n có, “giải thưởng văn học truyền thông hàng năm” và cổng giao diện để thúc đẩy hợp tác giữa các bảo tàng và trường học thông qua việc sử dụng công nghệ mới. Kể từ đầu thập niên 90 việc Giáo dục nhiều lĩnh vực văn hoá được đưa vào giảng dạy tại các trường học ở Áo. Đầu năm 2005, Bộ Giáo dục Khoa học và Văn hoá sẽ tiến hành dự án cơ sở dữ liệu về các hoạt động điển h́nh.

Năm 1998, một đạo luật mới ban hành để trao quy chế đại học cho 6 trường cao đẳng nghệ thuật (Graz, Linz, Salzburg, và 3 trường ở Viên) với các chương tŕnh như âm nhạc, thiết kế, kịch, hội hoạ và nghệ thuật điêu khắc. Để thực hiện Luật năm 1993, Cơ quan Fachochschulen về truyền thông đa phương tiện, thiết kế đă mở cửa cho các sinh viên (từ năm 1994). Năm 2004, trường đại học tư Anton Bruckner ở Linz (trước đây là Bruckner-Konservatorium) về âm nhạc, nghệ thuật tŕnh diễn và múa đă được thành lập. Trong 5 năm qua số lượng các khoá học sau đại học đă tăng lên trong các ngành quản lư văn hoá, truyền thông nhiều lĩnh vực,  khoa học h́nh ảnh, lưu trữ, âm nhạc, thiết kế, sân khấu, tổ chức sự kiện và quản lư bảo tàng và triển lăm.

4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách

Một số tổ chức văn hoá quan trọng của quốc gia là: các bảo tàng của liên bang và MuseumsQuartier ở Viên, Thư viện Quốc gia Áo, Cơ quan lưu trữ ghi âm, nhà hát giao hưởng Viên, nhà Di tích lịch sử Liên bang, Cơ quan lưu trữ phim và Bảo tàng phim. Các cơ quan này đang tiến hành thay đổi về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và tính kinh tế. Sự cải tổ quan trọng nhất là quyết định dành quy chế pháp lư đầy đủ cho các bảo tàng thuộc liên bang và chuyển đổi chúng thành các tổ chức khoa học theo luật công – một bước đi quan trọng hướng đến tính độc lập. Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá đă xây dựng cho mỗi bảo tàng liên bang những quy chế mới.

MuseumQuartier: Các kế hoạch thành lập một khu bảo tàng tại nơi ở của hoàng gia trước đây ở Vienna đă được thảo luận từ năm 1980. Dự án được lựa chọn, thông qua một cuộc thi kiến trúc tổ chức vào năm 1990, đă bị sửa đổi trong mười năm sau đó. Sự tŕ hoăn này là do các cuộc tranh luận công khai và những nỗ lực chống lại dự án này. Museum Quartier là nơi đặt trụ sở của các tổ chức văn hoá sau đây: Hiệp hội Ludwig về Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại, Bảo tàng Leopold, Kunsthalle Wien, hai địa điểm tổ chức lễ hội và các sự kiện, Architekturzentrum Wien, pḥng thu cho các nghệ sĩ, bảo tàng cho trẻ em, nhà hát cho trẻ em,và những tổ chức văn hoá khác (như Đài phát thanh truyền h́nh tư nhân Puls TV).

“Quartier 21”, được thành lập tháng 9/ 2002, đă tạo điều kiện cho các sáng kiến văn hoá nhỏ, độc lập:

·         trên nền tảng “transeuropa” để xem xét sự giao lưu văn hoá thường nhật của một châu Âu đang phát triển (Diễn đàn transeuropa A9, phụ lục của KulturKontakt v.v..)

·         Tại đây cũng có các văn pḥng của một số tổ chức văn hoá như springerin (một tạp chí về lư thuyết nghệ thuật đương đại), Klangspuren (một liên hoan âm nhạc mới (tân nhạc)), ImPulsTanz (liên hoan múa hiện đại), và Eikon (một tạp chí định kỳ về nghiệp ảnh nghệ thuật và truyền thông) v.v..

 

Trở về

  5. Các quy định pháp luật quan trọng về văn hoá

  5.1 Quy định chung

  5.1.1 Hiến pháp

Việc tập hợp những quy định có hiệu lực hiện hành trong lĩnh vực văn hoá ở Áo bị cản trở bởi hai yếu tố. Thứ nhất, Áo là một nước liên bang trong đó các bang có quyền tương đối độc lập. Sự độc lập này được phản ánh trong việc chuyển giao trách nhiệm văn hoá cho các bang. Thứ hai, Hiến pháp liên bang không đề cập đến văn hoá và nghệ thuật một cách rơ ràng. Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá không được ban hành theo một đạo luật văn hoá riêng toàn diện, cũng như không được tập hợp một cách có hệ thống.

Do đó, trong toàn bộ hệ thống pháp luật có thể t́m thấy mỗi văn bản lại quy định một lĩnh vực văn hoá: ví dụ trong Luật Hiến pháp Liên bang (xem phần 5.1.2) hoặc Luật cơ bản về Quyền dân sự (trong đó có điều khoản Tự do nghệ thuật - đoạn 17a, quyết định 1982).

5.1.2 Phân chia thẩm quyền

Điều 15, đoạn 1 của Hiến pháp Liên bang quy định rằng tất cả những vấn đề không được chuyển giao cho nhà nước liên bang đều thuộc thẩm quyền các bang, bao gồm cả văn hoá. Tuy nhiên, theo điều 10, trách nhiệm đối với các vấn đề thuộc “chủ quyền” như thư viện và lưu trữ về khoa học và kỹ thuật, nghệ thuật và các bộ sưu tập khoa học và các cơ sở của liên bang (bảo tàng của liên bang, và Thư viện Quốc gia), Nhà hát kịch Quốc gia, di tích lịch sử, tôn Giáo, các hiệp hội và quỹ đều được chuyển giao cho chính phủ liên bang. Các bang chịu trách nhiệm về bảo tồn diện mạo của các thị trấn, ngôi làng, các hiệp hội và quỹ thuộc Bang, nhà hát, rạp chiếu phim, các sự kiện, di sản, nghệ thuật truyền thống và dân gian. Tuy nhiên, theo Điều 17 Hiến pháp, chỉnh phủ liên bang và các bang, với tư cách là những cơ quan thực thi luật dân sự, không chịu ràng buộc bởi việc phân phối về thẩm quyền ở trên.

5.1.3 Phân bổ tiền của nhà nước

Luật Liên bang về Phát triển Nghệ thuật được ban hành năm 1988 (sửa đổi năm 1997 và 2000) bao gồm các quy định rằng ngân sách liên bang phải dành những khoản tiền cần thiết để phát triển nghệ thuật v́ cộng đồng, đồng thời t́nh trạng xă hội của các nghệ sĩ cũng  như khung pháp lư về việc tài trợ tư nhân phải được cải thiện. Luật quy định rằng sự phát triển phải được định hướng chủ yếu vào “nghệ thuật đương đại, xu hướng thay đổi và các biến thể của nó” và luật này đă liệt kê danh mục các lĩnh vực được hỗ trợ dưới các h́nh thức sản xuất, trưng bày, tuyên truyền và bảo tồn các tác phẩm và tài liệu. Các cơ sở phục vụ cho mục đích này cũng phải nhận được sự hỗ trợ tương ứng. Luật cũng đưa ra danh mục các biện pháp cụ thể cần phải thực hiện (ví dụ như các quỹ, các khoản trợ cấp, việc mua sắm, cho vay vốn, đặt hàng, trao giải thưởng).

Một hệ thống cố vấn cũng đă đi vào hoạt động từ năm 1973, bao gồm các cơ quan đánh giá để ra quyết định về việc trợ cấp tiền. Luật cũng quy định rằng cần thiết phải tránh sự xung đột về trách nhiệm giữa chính quyền liên bang và các bang bằng cách thực hiện nguyên tắc “hỗ trợ”. Chính phủ liên bang phải hỗ trợ các hoạt động và dự án của các vùng hoặc địa phương, là các dự án hoặc hoạt động có tính thí điểm hoặc lợi ích của dự án vượt quá phạm vi của vùng, hoặc những dự án, hoạt động có tính đổi mới hoặc chúng được thực hiện trong phạm vi một chương tŕnh phát triển đơn lẻ”.

Ngoại trừ ở Viên, tất cá các bang đều có Luật phát triển văn hoá riêng, hầu hết các luật này được ban hành và thực hiện vào thập niên 80.

Luật Hỗ trợ Nghệ thuật (1981) quy định rằng bên cạnh các loại phí phát thanh và truyền h́nh hàng tháng, nhà nước và các bang cũng phải góp phần hỗ trợ cho lĩnh vực nghệ thuật đương đại, theo tỉ lệ 70:30. 85%khoản đóng góp của nhà nước được thực hiện thông qua Bộ Nghệ thuật, phần c̣n lại được chi thông qua việc bảo vệ các di sản và bảo tàng. Năm 2000, các khoản đóng góp được tăng thêm nhằm hỗ trợ cho các quỹ bảo hiểm  an sinh xă hội (xem phần 5.1.4).

 5.1.4 Cơ cấu tổ chức phúc lợi xă hội

 

Trong một thời gian dài, không có những quy định đảm bảo rằng luật an sinh xă hội sẽ được thực hiện cho tất cả các nghệ sĩ. Bảo hiểm an sinh xă hội chỉ được áp dụng đối với nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật thị giác. Đối với những nghệ sĩ trong các lĩnh vực khác th́ bảo hiểm xă hội không được áp dụng. Cho nên giai đoạn này một số quỹ đă được thành lập để giúp đỡ các nghệ sĩ tham gia vào chế độ  bảo hiểm an sinh xă hội, ví dụ như quỹ Kunstlerhilfe Fonds của các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác (xem phần 8.1.1). Họ có thể tự do tham gia (không mang  tính bắt buộc)

Việc sửa đổi Luật phúc lợi xă hội và việc làm (1997) bước đầu đă tạo ra sự thay đổi: cho đến trước năm 1997, chế độ an sinh xă hội được thực hiện rất khác nhau đối với các nghệ sĩ. Chế độ đó phụ thuộc vào chuyên môn,

quan hệ lao động và lĩnh vực hoạt động. Luật sửa đổi đă quy định chung về điều kiện lao động và yêu cầu kư hợp đồng cho những cộng tác viên dưới dạng hợp đồng lao động, c̣n gọi là người tự doanh “kiểu mới” , một thuật ngữ dùng để chỉ những cá nhân kinh doanh không cần giấy phép thương mại – hoặc hợp đồng dịch vụ tự doanh. Việc kư hợp đồng lao động hay hợp đồng dịch vụ tự doanh phụ thuộc vào bản chất của công việc (những người thực hiện theo chế độ hợp đồng dịch vụ tự doanh nhận được nhiều quyền lợi hơn so với người tự doanh, nhưng ít quyền lợi hơn so với người làm thuê).

Theo luật sửa đổi, những người có thu nhập trên 6 453 euro th́ bắt buộc phải đóng tiền bảo hiểm an sinh xă hội (24% thu nhập hàng năm đối với người làm việc theo hợp đồng lao động và 17.5% đối với thu nhập của hợp đồng dịch vụ tự doanh). Cho đến cuối năm 2000, các nghệ sĩ không bị buộc phải thực hiện những quy định này. Những người lựa chọn đóng bảo hiểm có thể xin hỗ trợ của các quỹ nói trên, như quỹ Kunstlerhilfe Fonds (xem phần 8.1.1) để bù đắp các khoản chi phí bảo hiểm xă hội. (xem phần 5.3.9).

Từ tháng 01/ 2001, những nghệ sĩ hoạt động theo h́nh thức cộng tác viên được hưởng quy chế hoạt động của những người tự doanh. Tuy nhiên, từ tháng 8/2001, họ không được hưởng quy chế  hợp đồng tự doanh nữa. Nói chung, những người tự doanh không được hưởng trợ cấp ốm đau và họ phải trả 20% chi phí chăm sóc y tế.

5.1.5 Luật thuế

Mặc dù sự sửa đổi “Quy định tài trợ” được Bộ Tài chính liên bang ban hành năm 1987, theo ước tính khối tư nhân đóng góp khoảng 1.8% vào tổng số tiền chi tiêu cho văn hoá. Sắc lệnh tài trợ quy định doanh nghiệp, doanh nhân được miễn thuế đối với các chi phí tài trợ cho các sự kiện văn hoá. Sắc lệnh đưa ra các điều kiện cần thiết để được hưởng ưu đăi này (ví dụ, khoản hỗ trợ phải dưới dạng quảng cÁo). Quy định này chỉ cho phép một lượng chi tiêu nhỏ được khấu trừ thuế. Ngoài ra, theo dự kiến sẽ có một số luật mới được ban hành.

Ban Nghệ thuật thuộc Chính phủ liên bang đă thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của những ưu đăi thuế này đối với việc mua các tác phẩm nghệ thuật (Osterreichisches Institut fur Wirtschaftsforschung (Wifo), 2002). Nghiên cứu này ước tính, trong trường hợp có những ưu đăi thuế th́ tiềm năng thị trường của doanh nghiệp tư nhân là khoảng 50 đến 70 triệu euro.

Theo điều khoản sửa đổi năm 1997 của Luật Liên bang về phát triển nghệ thuật (1988), một số khoản hỗ trợ của nhà nước không bị đánh thuế. Luật có hiệu lực hồi tố đến năm 1991. Những khoản trợ cấp này bao gồm: tài trợ giải thưởng và các khoản bổ sung của Viện phim Áo để thúc đẩy sáng tạo ư tưởng phim và kịch bản phim; thu nhập và hỗ trợ do đóng góp của các quỹ công hoặc các tổ chức tài trợ nhà nước và tư nhân, các khoản bù đắp cho chi tiêu liên quan, hoặc cho các hoạt động ở nước ngoài ngoài trừ hoạt động của các hội tư nhân.

Luật thuế sửa đổi năm 2000 quy định rằng khoảng 12 % (không quá 8 725 euro mỗi năm) thu nhập của các nghệ sĩ/tác giả được hưởng khấu trừ thuế. Hơn nữa các khoản thu nhập của họ (thu nhập không thường xuyên) có thể được giàn ra trong ba năm (b́nh quân thu nhập). Năm 2000 các ưu đăi về thuế đối với nghệ sĩ nước ngoài cư trú tại Áo đă được ban hành. Hiện nay nghệ sĩ sáng tạo người nước ngoài có thể xin hưởng miễn trách nhiệm thuế một phần hoặc toàn phần nếu trách nhiệm đó lớn hơn (vượt quá) so với trách nhiệm về thuế tại quốc gia họ mang quốc tịch, nếu việc cư trú của họ nhằm phát triển nghệ thuật ở Áo hoặc nếu hoạt động của họ mang lại lợi ích công cộng.

Một biện pháp khuyến khích nữa đă được ban hành tháng 10/ 2002, theo đó tiền quyên góp cho các bảo tàng (các bảo tàng lớn của tư nhân hoặc bảo tàng của liên bang) sẽ được khấu trừ thuế.

Theo Luật thuế VAT (1994) có hai tỉ suất thuế khác nhau là 20% và 10%. Tỉ suất 10% áp dụng cho thu nhập liên quan đến hoạt động nghệ thuật, điện ảnh, nhà hát, hoà nhạc, tham quan bảo tàng, bách thảo hoặc khu bảo tồn tự nhiên, cũng như dịch vụ của Công ty Phát thanh truyền h́nh Áo (ORF) và các công ty truyền h́nh cáp, tạp chí và nhật bÁo. Đối với đĩa CD, thuế suất áp dụng là 20%.

   5.1.6 Luật lao động

Cùng với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng tăng, cơ cấu việc làm ở Áo đă thay đổi đáng kể trong những năm qua. Ví dụ, số người lao động theo chế độ freier Dienstvertrag (hợp đồng dịch vụ tự doanh) đă tăng lên 150% trong ṿng 5 năm. Đến cuối năm 2002, con số thống kê là 24300 người. Trường hợp tương tự cũng xảy ra đối với những người làm việc theo chế độ Werkvertrag (hợp đồng lao động) – hay những người tự doanh “kiểu mới”: số lượng đă tăng lên gấp bốn lần trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2002, từ 7 700 người đến 30 300 người. Nh́n chung những người hoạt động tự do không nằm trong các nhóm trên th́ được hưởng các quyền lợi và biện pháp bảo vệ bằng những quy định chung trong Luật lao động.

Trong lĩnh vực nghệ thuật tŕnh diễn, Luật Nghệ sĩ biểu diễn (Schauspielergesetz, 1992) quy định thời giờ làm việc, quyền nghỉ ngơi và khen thưởng đối với các nghệ sĩ biểu diễn, các quy định này khác với quy định đối với người lao động khác. Trước đây, các nghệ sĩ được cho là những người lao động, nhưng là lao động toàn thời gian trong đó các chi phí và nghĩa vụ thuộc về người chủ lao động (ví dụ như những người tổ chức lễ hội). Các quy định đó thường bị trốn tránh, vi phạm.

5.1.7 Bản quyền

Theo Luật Bản quyền của Áo, sở hữu bản quyền được dành cho người (tác giả) sáng tạo ra tác phẩm. Luật không yêu cầu một hành vi chính thức nào (thông bÁo hoặc đăng kư) phải thực hiện để nhận được sự bảo vệ bản quyền đối với một tác phẩm. Theo Điều 1, tác phẩm phải là “sáng tạo trí tuệ cá nhân trong các lĩnh vực văn học, âm nhạc, nghệ thuật thị giác và phim”. Từ thập niên 80, các diễn biến đ̣i bồi thường ngày càng phát triển theo xu hướng bù đắp toàn bộ. Việc kiện  bồi thường được thực hiện bởi các tổ chức thu phí bản quyền, do đó chúng thường hướng vào các mục đích văn hoá, xă hội c̣n người chủ sở hữu bản quyền chỉ nhận được một phần.

Luật Bản quyền sửa đổi năm 1980 đă đưa ra h́nh thức phí bản quyền đối với băng trắng. Tổ chức thu phí bản quyền Austro-Mechana được giao nhiệm vụ thu loại phí này. Mức phí giao động từ 0.04 euro đến 0.24 euro, phụ thuộc vào việc nó được điều chỉnh bởi hợp đồng hay phí tự định (cơ quan thu phí sẽ định ra một mức phí cụ thể khi không có hợp đồng để căn cứ) và phụ thuộc vào loại phương tiện ghi. Năm 2002, tổng tiền phí thu được lên đến 10.9 tỉ euro.

Tương ứng với loại phí này, một loại phí sao chụp - đối với những thiết bị đơn lẻ và đối với các máy (quy mô lớn) - đă được ban hành năm 1996. Các tổ chức Literar-Mechana, VBK (tổ chức thu phí bản quyền của các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác) và Musikedition có trách nhiệm thu loại phí này.

Năm 1994, luật quy định cho phép các tác giả được nhận tiền bản quyền cho thuê sách tại khoảng 2 500 thư viện công trên toàn quốc; tổng số tiền do tổ chức thu phí của các tác giả thoả thuận. Năm 1996, hiệp hội quyền tác giả đă thoả thuận, theo hợp đồng, với Chính phủ Liên bang là 116 276 euro, với các bang là 465 106 euro.

Những sửa đổi khác của Luật Bản quyền là vào năm 2003 nhằm phù hợp với Chỉ thị của EU về hài hoà một số lĩnh vực bản quyền và các quyền liên quan trong xă hội thông tin. Những thay đổi nhỏ bao gồm việc liệt kê danh mục các loại tác phẩm được sử dụng miễn phí và nâng cao sự bảo vệ của pháp luật chống lại việc sử dụng trái phép các tác phẩm (đặc biệt là sao chép trái phép) bằng cách sử dụng các biện pháp kỹ thuật.

Hiện nay ở Áo không có quy định về quyền bán lại. Tuy nhiên, theo Chỉ thị 2001 của Liên minh châu âu, quy định về vấn đề này phải được ban hành trong năm 2006.

5.1.8 Luật bảo vệ dữ liệu

Bảo vệ dữ liệu được bảo đảm về mặt pháp lư trong ṿng 20 năm. Luật Bảo vệ Dữ liệu năm 2000, chủ yếu nhằm thực hiện những quy tắc bảo vệ dữ liệu của EU, đă quy định tất cả các quyền và nghĩa vụ của người khai thác các tập hợp thông tin và áp dụng cho cả tập hợp thông tin hợp pháp của nhà nước (các cơ quan nhà nước..) và tư nhân (các công ty, hiệp hội và những tổ chức khác..), bao gồm cả những thông tin do các tổ chức văn hoá nắm giữ. Về cơ bản, theo Điều 47, việc thay đổi địa chỉ lưu trữ thông tin (trong hệ thống dữ liệu) cần phải được sự đồng ư của những người (cơ quan, tổ chức, cá nhân) bị tác động do sự thay đổi đó, mặc dù có những ngoại lệ nhất định (ví dụ như v́ những lư do lưu trữ hoặc khoa học).

 5.1.9 Luật ngôn ngữ

Luật Phát thanh Truyền h́nh(ORF) mới (2001) quy định rằng ORF có nghĩa vụ bảo đảm “tất cả các khía cạnh của đời sống xă hội công chúng phải nhận thức được” và các chương tŕnh phát sóng phải có cả ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Mặc dù đă có quy định hỗ trợ cho các chương tŕnh bằng tiếng dân tộc thiểu số, nhưng quy định đó rất chung chung và người quản lư có thể áp dụng nó “theo mức độ phù hợp”, có nghĩa là không bắt buộc. Chương tŕnh phát thanh thứ ba yêu cầu phải thực hiện chủ yếu bằng ngoại ngữ (tiếng Anh).

Kể từ khi thông qua Luật Phát thanh truyền h́nh Tư nhân năm 1998, có rất nhiều hăng phát thanh nhỏ (phi thương mại) đă được thành lập và hiện nay chúng cung cấp các chương tŕnh cho người thiểu số và nhập cư (ở toàn quốc) – ví dụ như Radio Orange (đài phát thanh miễn phí ở Vienne), Radio Mora (Đài phát thanh tư nhân miễn phí, tiếng Croatia, do Trung tâm văn hoá Croatia Kuga ở Burgenland điều hành) hoặc radio Korotan /Radio Agora (hai đài phát thanh tiếng Slovenia ở Carinthia). Cho đến năm 2001, việc phát sóng của các đài trên được Chính phủ liên bang hỗ trợ. Sau này, những đài phát thanh miễn phí liên tục gặp những khó khăn và Radio Mora đă buộc phải đóng cửa do khó khăn về tài chính.

  5.2 Luật về văn hoá

Một số quy định hoặc luật của liên bang:

- Luật phân bổ tiền trợ cấp Nhà nước (1997);

- Luật Liên bang về phát triển nghệ thuật (sửa đổi năm 2000);

- Luật Phát thanh – Truyền h́nh Nhà nước (sửa đổi năm 2001);

- Luật Bản quyền (sửa đổi năm 2003);

- Luật Phát triển Phim (sửa đổi năm 2004);

- Luật Liên bang về Tổ chức Nhà hát (1998);

- Luật Liên bang về Bảo tàng (1998);

- Luật Bảo tồn Di tích (sửa đổi năm 1999).

Cũng có những luật về phát triển văn hoá do các bang ban hành, ngoại trừ Viên.

Bên cạnh sự hỗ trợ trực tiếp của nhà nước, pháp luật Áo cũng quy định một số biện pháp quan trọng hỗ trợ gián tiếp cho nghệ thuật. Chúng liên quan đến các quy định pháp luật khác nhau về chính sách xă hội và chính sách tài chính, hệ thống bảo hiểm xă hội cho nghệ sĩ, các biện pháp thực hiện trong lĩnh vực quản lư thị trường lao động, pháp luật về bản quyền (cả việc chi trả trực tiếp và gián tiếp, như tiền bản quyền tại thư viện). Khuyến khích khối tư nhân hỗ trợ cho nghệ thuật bằng các biện pháp miễn thuế, khấu trừ thuế đối với các khoản tiền quyên góp của tư nhân và tiền tài trợ cho nghệ thuật, phát triển các tác phẩm nghệ thuật trên các ngôi nhà được xây bằng tiền của nhà nước. Mặc dù những chính sách này được hoan nghênh, song trong một số lĩnh vực như giàn giao hưởng hoặc nhà hát các quy định này rất ít được được thực hiện.

 

 5.3 Quy định của các lĩnh vực cụ thể

 

Nh́n chung Luật Liên bang về phát triển nghệ thuật quy định rằng việc phát triển được định hướng chủ yếu vào “nghệ thuật đương đại, những thay đổi và các phiên bản của nó” với các lĩnh vực như văn học, nghệ thuật tŕnh diễn, âm nhạc, nghệ thuật thị giác, nhiếp ảnh, phim, video và các loại h́nh nghệ thuật thử nghiệm (đoạn 2.(1)).

   5.3.1 Nghệ thuật thị giác và nghệ thuật ứng dụng

Theo Luật Liên bang về Phát triển Nghệ thuật, việc chính phủ mua các tác phẩm nghệ thuật của những nghệ sĩ mỹ thuật đương đại là một biện pháp hỗ trợ. Việc quản lư các bộ sưu tập này – Bộ sưu tập Artothek – bao gồm hơn 28 000 tác phẩm đă được thoả thuận vào năm 2002; chính phủ liên bang vẫn là chủ sở hữu đối với bộ sưu tập.

   5.3.2 Nghệ thuật tŕnh diễn và âm nhạc

Có những quy định cụ thể liên quan đến lĩnh vực kịch sân khấu. Theo Luật b́nh đẳng hoá tài chính, Chính phủ có nghĩa vụ chi bổ sung hàng năm (hiện nay là khoảng 21.3 triệu euro) cho các nhà hát kịch của thành phố và vùng.

Luật Liên bang về Thành lập Quỹ Lễ hội Salzburg (1950) quy định tài trợ hỗn hợp cho lễ hội Salzburg, Chính phủ liên bang (40%) và bang Salzburg (20%).

Tháng 8/1998, các nhà hát kịch liên bang (Burg và Akademietheater, Staats- und Volksoper) được tổ chức lại thành những công ty hữu hạn theo luật tư nhân (xem thêm phần 7.2). “Chủ” của các công ty này là nhà nước Cộng hoà Áo. Nhiệm vụ văn hoá của chúng được xác định trong Luật Liên bang về tổ chức nhà hát, 1998. Luật quy định rằng, hàng năm Chính phủ phải cung ứng một khoản tiền 133.6 triệu euro.

Nhà hát tư nhân ở Viên (Josefstadt, Volkstheater, theater de Jugend, Kammeroper) đều nhận đồng tài trợ của Chính phủ liên bang trên cơ sở thoả thuận đặc biệt với thành phố Viên.

   5.3.2 Di sản văn hoá

Những thay đổi nhiều nhất trong những năm gần đây chủ yếu liên quan đến các bảo tàng thuộc liên bang. Luật Liên bang về bảo tàng năm 1998 trao cho các bảo tàng năng lực pháp lư đầy đủ và chuyển các bảo tàng này thành những tổ chức khoa học hoạt động theo luật công – một bước đi quan trọng tiến tới sự độc lập hơn. Các bảo tàng liên bang vẫn thuộc quản lư của Bộ Giáo dục Khoa học và Văn hoá cũng như nhận nguồn tài trợ chủ yếu từ Bộ này. Phần ngân sách c̣n lại th́ các bảo tàng tự xoay sở. Những người chỉ trích về “độc lập một phần” e ngại rằng những bảo tàng nhỏ hơn sẽ không trụ nổi với các áp lực tài chính ngày càng gia tăng, khi việc huy động tiền từ khối tư nhân ngày càng khó khăn. Do đó, các chương tŕnh chính của Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Nhà hát Áo đă được hợp nhất thành Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật.

Năm 1998, Luật Liên bang về trao trả các tác phẩm nghệ thuật cho những người thừa kế Do Thái đă được thông qua và một nhóm làm việc đă được thành lập để làm rơ nguồn gốc của các tác phẩm nghệ thuật có liên quan. Bên cạnh đó, một uỷ ban cố vấn cũng được Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá thành lập vào năm 1998 (Restituionsbericht, 2001/2002). Một Uỷ ban Lịch sử cũng được thành lập (những người sáng lập bao gồm Thủ tướng, phó Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng Liên bang), cơ quan này có nhiệm vụ điều tra và bÁo cÁo về toàn bộ những tác phẩm nghệ thuật ở Áo bị chiếm đoạt vào thời Phát Xít (Nazi) và việc trao trả, bồi thường (bao gồm cả những lợi ích tài chính và xă hội khác) của Nhà nước Cộng hoà sau năm 1945.

Luật Liên bang về trao trả các tác phẩm nghệ thuật không thừa nhận bất kỳ quan điểm pháp lư nào đối với những người kế thừa. Nó đề cập đến việc quản lư các bảo tàng liên bang và các bộ sưu tập của nhà nước, các ngoại lệ bao gồm cả Bộ sưu tập Leopold (việc tịch thu hai bức tranh của bộ sưu tập này ở New York đă khởi đầu cho cuộc tranh căi dẫn đến việc ban hành luật trên) và việc nắm giữ của các trường đại học nghệ thuật.

Theo luật sửa đổi về Luật Bảo tồn Di tích năm 1999, cơ quan di tích liên bang (Thuộc Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá) có thể ban hành một quy định tạm thời giải quyết các di tích thuộc sở hữu của các cơ quan nhà nước phù hợp với việc bảo tồn di tích. Những di tích này phải được đăng kư vào danh mục các di tích trước năm 2010. Hơn nữa, trong phạm vi của luật sửa đổi, việc cấm xuất khẩu các hàng hoá văn hoá đă được quy định, phù hợp với định hướng của EU, và 56 khu vườn có giá trị lịch sử đă được đưa vào danh mục bảo tồn.

   5.3.4 Văn học và Thư viện

Trợ cấp của Chính phủ đối với các thư viện nhà nước được thực hiện theo Luật liên bang về Giáo dục người lớn và các thư viện Nhà nước (1973), theo đó tiền trợ cấp có nguồn gốc ngân sách liên bang. Bộ chịu trách nhiệm thực hiện là Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá. Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp c̣n có các quỹ dành đề đào tạo nhân viên và Giáo dục nâng cao, các dự án cấp quốc gia và các phần mềm.

   5.3.5 Kiến trúc và môi trường

Năm 1985, một quyết định của Hội đồng Bộ trưởng quy định phần bắt buộc dành cho nghệ thuật trong các dự án xây dựng dân sự của liên bang: đối với các dự án của nhà nước phải trích 1% chi phí xây dựng ṛng để dành cho nghệ thuật. Thủ tục lựa chọn được quyết định bởi một cơ quan tư vấn chuyên môn. Từ năm 1992, các công tŕnh xây dựng của Chính phủ hoặc các cơ quan hành chính khác do Bundesimmobiliengesellschaft (BIG) (Công ty bất động sản liên bang) thực hiện. Kể từ đó, các dự án “Kunst und Bau” được điều phối thực hiện bởi cơ quan tư vấn chuyên môn của Chính phủ, BIG và các nhà thầu xây dựng.

   5.3.6 Phim, video và nhiếp ảnh

Luật Phát triển Phim (1998) quy định hoạt động của Viện phim Áo (OFI), theo đó Viện phim có trách nhiệm hỗ trợ và phát triển ngành phim của Áo, ví dụ như phân bổ nguồn trợ cấp cho ngành phim, đặc biệt là cho các nhà sản xuất. Các dự án phim sẽ được các thành viên của Viện phim lựa chọn. Luật sửa đổi năm 1998 là nhằm tăng cường cơ sở kinh tế cho ngành phim bằng cách hợp tác sản xuất với quốc tế dễ dàng hơn, khuyến khích hỗ trợ hệ thống phân phối và thành lập một chương tŕnh hỗ trợ điện ảnh (15% ngân sách được dành cho thế hệ các nhà làm phim và nhà sản xuất phim mới). Trong một sửa đổi gần đây (năm 2004), luật Phát triển phim đă quy định thành lập Hội đồng phim Áo. Hàng năm Viện phim Áo phải tŕnh một bÁo cÁo về mặt kinh tế của ngành phim.

Sự phát triển toàn cầu của lĩnh vực truyền thông nghe nh́n cũng như sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực này đ̣i hỏi phải nhanh chóng tổ chức lại, có quy định phù hợp đối với lĩnh vực nghe nh́n của Áo ,đặc biệt là vấn đề độc quyền của Công ty Phát thanh Truyền h́nh Áo (ORF). Luật Phát thanh Truyền h́nh Nhà nước đă được sửa đổi vào các năm 1997, 1999 nhằm giúp quản lư hệ thống truyền h́nh nhà nước hiệu quả hơn trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt (xem 4.2.6).

“Thoả thuận Phim/Truyền h́nh” (Fernsehabkommen 1981), được kư kết giữa Công ty Phát thanh Truyền h́nh Áo (ORF) và Viện Phim Áo nhằm hỗ trợ và phát triển ngành phim. Nguồn tài chính do Công ty Phát thanh truyền h́nh Áo cung cấp (5.3 triệu euro năm 2004).

Theo sửa đổi về Luật “KommAustria” (xem phần 4.2.4), năm 2004 “Quỹ hỗ trợ truyền h́nh” được thành lập. Quỹ này hàng năm nhận được khoảng 7.5 triệu euro và thu các khoản phí phát sóng truyền h́nh để hỗ trợ cho việc sản xuất các bộ phim truyền h́nh, phim dài tập và phim tài liệu. Quỹ này do Cơ quan quản lư truyền h́nh và viễn thông (RTR) quản lư, trực thuộc Cơ quan quản lư truyền thông (“KommAustria”). Tranh luận công khai nhằm vào định hướng chung của các điều kiện thương mại được sử dụng, cũng như việc quỹ này do RTR (một cơ quan hành chính thuần tuư) quản lư mà không phải là Viện phim Áo.

   5.3.7 Kinh doanh văn hoá

Năm 2001, Luật Liên bang về giá sách cố định được thực hiện. Luật này đề cập đến việc xuất bản, nhập khẩu và mua bán, nhưng không đề cập đến buôn bán giữa các nước thông qua phương tiện điện tử. Nó có vai tṛ quan trọng trong việc bảo đảm cho các nhà xuất bản nhỏ, những công ty bán sách, hăng phân phối v.v.., vốn đóng vai tṛ quan trọng đối với việc duy tŕ sự đa dạng về truyền thông, có thể vẫn cạnh tranh được với các nhà xuất bản và các doanh nghiệp phân phối lớn.

Năm 2001, một luật mới được thông qua để tư nhân hoá các nhà xuất bản lớn của Áo (Osterreichischer Bundesverlag). Quá tŕnh này đă hoàn tất vào năm 2002. Bên mua, một tập đoàn xuất bản của Đức, phải duy tŕ mức độ xuất bản các ấn phẩm của trường học cũng như xuất bản và lưu trữ các tác phẩm của các tác giả người Áo cho đến năm 2007.

Theo một sửa đổi của Luật Liên bang về phát triển nghệ thuật năm 2001, một số bảo tàng liên bang, bang và thành phố được lựa chọn có thể nhận được khoản tiền bổ sung hàng năm để mua về các tác phẩm nghệ thuật tại các pḥng trưng bày của Áo. Ngoài ra, sự hỗ trợ c̣n được thực hiện (từ năm 2002) đối với việc tham gia của các nghệ sĩ (pḥng trưng bày) Áo tại các liên hoan nghệ thuật quốc tế.

   5.3.8 Truyền thông đại chúng

Các quy định về nội dung phù hợp với chỉ thị của EU “Truyền h́nh không biên giới” (xem Luật Truyền h́nh Áo, Điều 1, 2 b, 1999).

Quảng cÁo cũng được quy định trong Luật Phát thanh Truyền h́nh. Trong quy định mới đây nhất (có hiệu lực từ tháng 1/1999) th́ chỉ được phép quảng cÁo 35 phút mỗi ngày đối với kênh truyền h́nh và 120 phút mỗi ngày đối với  kênh phát thanh. Austria 1 là đài phát thanh nhà nước duy nhất không có chương tŕnh quảng cÁo cũng như Radio Orange là một trong các hăng phát thanh tư nhân không có chương tŕnh quảng cÁo.

Các điều khoản sửa đổi Luật Phát thanh Truyền h́nh cấm việc “quảng cÁo gây gián đoạn” (ví dụ như quảng cÁo gây gián đoạn các chương tŕnh đang phát). Việc quảng cÁo trên sóng phát thanh và truyền h́nh nhà nước bị cấm vào các ngày như Ngày thứ Sáu Tuần thánh (Ngày kỉ niệm đức chúa Giê su bị đóng đinh), Dịp Giáng sinh và Ngày lễ thánh. Hơn nữa, quảng cÁo trên truyền h́nh cho các bÁo, tạp chí bị hạn chế xuống mức 2 phút mỗi ngày. Các chương tŕnh phát ngang và “quảng cÁo gây gián đoạn” chỉ được phép thực hiện đối với việc truyền phát các sự kiện (đặc biệt là các sự kiện thể thao). Từ năm 1999, các chương tŕnh truyền h́nh cho người thiểu số có xu hướng suy yếu đi.

Luật sửa đổi Luật Phát thanh Truyền h́nh (“Luật Công ty Phát thanh Truyền h́nh Áo) vào năm 2001 đă đề cập đến chuyển đổi pháp lư ORF thành hiệp hội và ban hành quy định mới về việc phát sóng một số chương tŕnh bắt buộc. Luật sửa đổi cũng có một điều khoản mới về việc quảng bá các sản phẩm nghệ thuật và sáng tạo của Áo. Việc chỉ định hội đồng hiệp hội một phần do Chính phủ đề xuất. Một thay đổi đáng kể là việc đưa ra quy định cấm các chính trị gia tham gia vào hội đồng. Các nhiệm vụ được tách riêng ra khỏi các hoạt động thương mại của ORF (Công ty phát thanh truyền h́nh). Mặc dù những cải tổ này nhằm làm giảm ảnh hưởng của các đảng phái chính trị đối với ORF, nhưng vẫn có nhiều người nghi ngờ về việc các cải tổ này có làm cho ORF độc lập hơn hay không (ít bị ảnh hưởng bởi chính trị hơn).

Luật Truyền h́nh mới, quy định việc phát triển nghệ thuật và văn hoá, cũng bao gồm việc hạn chế đối với quảng cÁo. Điều này dẫn đến cắt giảm tài chính trong ngân sách của ORF (công ty phát thanh truyền h́nh): một trong những hậu quả của nó là việc huỷ bỏ một chương tŕnh truyền h́nh chất lượng cao Kunst-Stucke. Việc huỷ bỏ này đang bị các nghệ sĩ phản đối – chương tŕnh này chủ yếu giới thiệu về nghệ thuật đương đại và phim trong ṿng 20 năm qua.

Năm 2004, Luật Hỗ trợ BÁo chí (Press Subsidy Act) (Pressefửrderungsgesetz) có hiệu lực. Bên cạnh việc phân bổ trợ cấp cho các tờ tuần bÁo và nhật bÁo và việc hỗ trợ đặc biệt để bảo đảm sự đa dạng trong các tờ nhật bÁo của vùng, Luật Hỗ trợ bÁo chí cũng đưa ra nhiều chính sách mới, như hỗ trợ cho việc đào tạo các nhà bÁo và cho các dự án nghiên cứu. Luật Hỗ trợ Nghề bÁo (Journalism Subsidy Act) năm 1984 (Publizistik-fửrderungsgesetz) có một số quy định về việc hỗ trợ cho các tạp chí định kỳ nếu đó là những tạp chí chuyên về các chủ đề văn hoá hoặc chủ đề có liên quan đến lĩnh vực khoa học. Từ năm 2004, Cơ quan Truyền thông Áo (KommAustria) chịu trách nhiệm quản lư việc hỗ trợ cho bÁo chí  theo Luật Hỗ trợ Nghề bÁo. Cũng vào năm 2004, một quỹ kỹ thuật số hoá đă được thành lập nhằm thúc đẩy việc phát sóng các chương tŕnh bằng kỹ thuật số (quỹ này hàng năm nhận được số tiền 7,5 triệu euro từ nguồn thu phí phát thanh truyền h́nh).

Năm 2004 Luật sửa đổi Luật phát thanh tư nhân được ban hành. Trong tương lai, những hăng phát thanh toàn quốc hoặc những hăng phát thanh chứng minh được khả năng tài chính lâu dài sẽ nhận được ưu đăi trong việc cấp giấy phép. Những người chỉ trích e ngại rằng điều này sẽ dẫn đến sự tập trung mạnh hơn trong lĩnh vực phát thanh và điều này sẽ loại bỏ các hăng phát thanh miễn phí hoặc phi thương mại.

 

   5.3.9 Quy định pháp luật đối với các nghệ sĩ tự doanh

 

Có thể nói các nghệ sĩ đă tương đối thành công trong việc tạo ra, nâng cao và củng cố việc tự bảo vệ ḿnh. Các tác giả và dịch giả, các tổ chức văn hoá, một số nhà hát độc lập, các nhà nhiếp ảnh và các nghệ sĩ media có khả năng thành lập các hiệp hội hoặc các nhóm cùng lợi ích để đại diện cho họ trong công chúng, để vận động cho việc thành lập nhiều quỹ hơn hoặc có nhiều đơn đặt hàng hơn, để đấu tranh cho việc cải thiện về mặt pháp lư và xă hội và để duy tŕ quyền tự do nghệ thuật. Một trong những thành công của họ là việc cải thiện luồng thông tin trên thị trường và trao đổi thông tin với nhau giữa các nghệ sĩ. Đối với vấn đề an sinh xă hội của các nghệ sĩ, các tổ chức bảo vệ hoặc các nhóm lợi ích của họ đă đấu tranh để đạt được những cải cách hoặc sự tiến bộ trong các lĩnh vực như bản quyền, chương tŕnh an sinh xă hội cho nghệ sĩ và những lợi ích xă hội khác.

Từ tháng 1/2001, khi Luật an sinh xă hội của các Nghệ sĩ (KỹnstlerSozialversi-cherungsfondsgesetz) có hiệu lực, các nghệ sĩ hoạt động tự do được đối xử như là những người hoạt động tự doanh. Điều này có nghĩa họ phải đóng tiền bảo hiểm an sinh xă hội bắt buộc nếu họ có thu nhập trên 6,453 euro một năm. Trong nhiều trường hợp, theo quy định của luật, các nghệ sĩ phải đóng hai loại bảo hiểm khác nhau: bảo hiểm bắt buộc đối với người làm việc tự do và các loại phí bảo hiểm an sinh xă hội khác phải đóng theo hợp đồng lao động bán thời gian. Bởi v́ nhiều nghệ sĩ làm việc tự do cũng có thể làm việc theo chế độ bán thời gian, nên việc đóng phí bảo hiểm xă hội của họ tương đối cao so với tổng thu nhập.

Một nhóm làm việc đại diện cho tất cả các bên liên quan đến vấn đề này đă thảo luận về khả năng có những quy định đặc biệt và giúp đỡ các nghệ sĩ chi trả các khoản phí này. Một luật mới đă quy định thành lập quỹ bảo hiểm an sinh xă hội (Kỹnstlersozialversich ---erungs-Fonds), quỹ này sẽ trợ cấp cho nghệ sĩ số tiền lên đến 72 euro mỗi tháng nếu thu nhập của họ nằm trong khoảng 316 euro và 1,635 euro /tháng. Những nghệ sĩ được nhận trợ cấp phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, ví dụ như đang được đào tạo đặc biệt (tại trường đại học về nghệ thuật..). Một số khác th́ do một uỷ ban lựa chọn. Quỹ Bảo hiểm an sinh xă hội thay thế cho quỹ Kỹnstlerhilfe Fonds trước đây. Năm 2000, Chính phủ đă cấp cho Quỹ Bảo hiểm an sinh xă hội một khoản hỗ trợ bổ sung, theo quy định của Luật hỗ trợ nghệ thuật.

Đầu năm 2002, các nhóm lợi ích của nghệ sĩ đă tổ chức điều tra để biết thông tin về hiểu biết của các nghệ sĩ đối với hệ thống bảo hiểm xă hội mới. Rất nhiều nghệ sĩ cảm thấy không chắc chắn về hệ quả thuế thu nhập của họ, bởi v́ khoản tiền trợ cấp được tính trên dự tính thu nhập trong tương lai.

 

Trở về

   6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

   6.1 Tóm tắt

Năm 2001, theo ước tính nhà nước (bao gồm liên bang, bang và địa phương) đă chi ra 1.83 tỉ euro cho lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật, chiếm khoảng 1.27% tổng chi tiêu của nhà nước. Năm 2002 con số này là khoảng 1.89 tỉ euro, 1.29% tổng chi tiêu của nhà nước. Trong tổng số tiền chi cho văn hoá, chi tiêu của liên bang chiếm 38%, số c̣n lại là của các bang, trong đó Viên chiếm 38%, các thành phố 23%.

Năm 2001 là năm đầu tiên chi tiêu cho lĩnh vực văn hoá của các bang, bao gồm cả Viên, trên danh nghĩa, lớn hơn chi tiêu của liên bang. Tính từ ngân sách 2000, năm đầu tiên sử dụng đồng euro, chi tiêu của liên bang cho văn hoá và nghệ thuật tăng từ 668.8 triệu euro lên đến 710.4 euro năm 2002, khoảng 6.4%. Trong cùng giai đoạn này tổng chi tiêu của các bang là từ 593.5 triệu euro đến 722.41 triệu euro, tức là 21.7%.

Phần lớn chi tiêu cho lĩnh vực văn hoá của liên bang (khoảng 50%) tập trung vào việc duy tŕ các dự án lớn và các nhà hát và bảo tàng liên bang cũng như các hoạt động nghệ thuật tŕnh diễn - đa số các tổ chức và hoạt động này ở Viên. Các nhà hát liên bang được Chính phủ tài trợ, trong khi các bảo tàng liên bang được hỗ trợ từ nguồn ngân sách của Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá.

Hỗ trợ của các bang (ngoại trừ Viên) đă tăng gấp ba lần kể từ năm 1980. Số tiền chủ yếu được chi cho Giáo dục, tiếp theo là nghệ thuật tŕnh diễn. Chi cho Giáo dục bao gồm cả việc đầu tư đáng kể vào các trường nhạc và các nhạc viện.

Nguồn hỗ trợ bổ sung cho các lĩnh vực văn hoá “phi truyền thống” (không có tính chất truyền thống) như là nghệ thuật đương đại hoặc sự phát triển nghệ thuật nói chung, được lấy từ các loại phí gián tiếp, đặc biệt là phí phát thanh. Một uỷ ban cố vấn có trách nhiệm giám sát việc chi tiêu của Chính phủ và Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá. Tại 7 bang cũng thực hiện theo mô h́nh này và đánh thuế đối với “truyền h́nh, phát thanh hay c̣n gọi là đồng si linh văn hoá”. Các nguồn tài chính khác cũng có ảnh hưởng đáng kể đến ngân sách của một số tổ chức văn hoá (trong một số trường hợp các nguồn này có thể chiếm đến 15%). Các nguồn thu cũng có thể là từ thuế “băng trắng” của các tổ chức thu phí bản quyền

   6.2 Chi tiêu văn hoá tính theo b́nh quân đầu người

Năm 2001, chi tiêu cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người ở Áo là 227.70 euro, chiếm 0.83% GDP năm 2001.

Năm 2002, chi tiêu cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người 234.2 euro; khoảng 0.88% GDP. Con số so sánh cho thấy tăng rất ít.

   6.3 Thống kê chi tiêu văn hoá theo cấp chính quyền

   Bảng 1: Chi tiêu cho văn hoá tính theo cấp chính quyền, triệu euro, năm 2001.

 

Cấp chính quyền

Tổng chi tiêu

% trên tổng số

Liên bang

699.77

38.17%

Bang

704.76

38.45%

Thành phố

428.62

23.38%

Tổng

1 833.15

100%

Nguồn: Kulturstatistik 2001/02 (thống kê văn hoá)

 

              Bảng 2: Chi tiêu cho văn hoá tính theo cấp chính quyền, triệu euro, năm 2002

 

Cấp chính quyền

Tổng chi tiêu

% trên tổng số

Liên bang

710.74

37.63%

Bang

722.41

38.25%

Thành phố

455.67

24.12%

Tổng số

1 888.82

100%

Nguồn: Kulturstatistik 2001/02. (Thống kê văn hoá)

                                                                                      

Thống kê chi tiêu văn hoá được tính theo cấp chính quyền, bảng 1 là của năm 2001, bảng 2 là của năm 2002. Các số liệu trong cả hai bảng được tính dựa trên bảng 3 và bảng 4 tŕnh bày trong phần 6.4. Các thông tin trong bảng 1 và 2 để nhằm xác định tỉ lệ giữa các cấp chính quyền trong việc chi tiêu cho văn hoá, trong khi thông tin trong bảng 3 và 4 đi vào chi tiết các tiểu mục chi tiêu của các cấp chính quyền. Các số liệu thống kê không phải là cơ sở để xác định sự chuyển giao giữa các cấp chính quyền. Đặc biệt là lượng tiền được chuyển từ chính quyền bang xuống cấp địa phương không thể tŕnh bày được do tính phức tạp của nó. Chi tiêu cho Giáo dục nghệ thuật chiếm một phần lớn trong tổng chi tiêu văn hoá của các bang, chiếm khoảng 50%. Việc thành phố Viên chi tiêu tuỳ ư cho lĩnh vực văn hoá đă có tác động lớn đến mức chi b́nh quân cho lĩnh vực Giáo dục nói chung, 26%. Tiền chi tiêu cho Giáo dục nghệ thuật có nghĩa là: ở cấp liên bang sẽ chi cho các trường đại học nghệ thuật, ở cấp bang và thành phố sẽ chi tiêu cho các trường nhạc.

Các trường nhạc được tổ chức theo nhiều h́nh thức và quy chế khác nhau. Việc tổ chức và quản lư các trường nhạc tuỳ thuộc vào một phần nhiệm vụ hành chính của các bang, các tổ hiệp hội độc lập hoặc các tổ chức theo luật doanh nghiệp. Tuỳ theo các h́nh thức như vậy mà bang có sự hỗ trợ khác nhau. Trong niên giám hàng năm về các trường nhạc đă không đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên người ta có dự tính đưa vào trong ấn phẩm tiếp theo. Những vấn đề  này là lư do chính của việc tổng số tiền các cơ quan cấp dưới chi ra – dựa trên “bÁo cÁo tài trợ” – không trùng khớp với tổng số tiền chi cho nghệ thuật tính dựa trên các tài liệu ngân sách. Nhưng các tài liệu ngân sách không giúp ích trong việc liên hệ đến tổng các khoản chi ở các tiểu mục phân loại. Các bÁo cÁo thống kê năm 2005 sẽ được thực hiện tốt hơn bằng việc t́m ra các niên giám thống kê của các trường nhạc năm tới. Trong khi đó giải pháp được đề xuất là trích số liệu từ tổng gộp chi tiêu được tính ở cấp địa phương.

  6.4 Thống kê theo lĩnh vực

 Bảng 3: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, thống kê theo lĩnh vực, 2001

 

    Lĩnh vực

Liên  bang

Bang

Thành phố

Tổng

 

triệu euro

 %

triệu  euro

 %

triệu  euro

%

triệu  euro

 %

Tài sản văn hoá

230.88

32.99%

163.03

23.13%

171.37

30.92%

550.55

30.02%

I.1 Di sản Văn hoá

204.23

 

131.77

 

148.65

 

470.65

 

1.1 Di tích lịch sử

98.14

14.02%

30.82

4.37%

80.95

14.60%

203.39

11.09%

1.2  Bảo tàng

106.09

15.16%

100.95

14.32%

67.7

12.21%

267.26

14.57%

I.2  Lưu trữ

 

 

 

 

 

 

 

 

2.1  Lưu trữ

 

 

 

 

 

 

 

 

I.3  Thư viện

26.65

 

31.26

 

22.72

 

79.90

 

3.1  Thư viện

26.65

3.81%

31.26

4.44%

22.72

4.10%

79.90

4.36%

Nghệ thuật

232.25

33.19%

232.73

33.02%

130.46

23.54%

549.06

29.94%

II.4  Kiến trúc

 

 

 

 

 

 

 

 

4.1  Kiến trúc

 

 

 

 

 

 

 

 

II.5 Nghệ thuật thị giác

8.48

 

20.00

 

6.76

 

34.27

 

5.1 Nghệ thuật thị giác (Bao gồm cả thiết kế)

8.48

1.21%

20.00

2.84%

6.76

1.22%

34.27

1.87%

II.6 Nghệ thuật tŕnh  diễn

  223.77

 

212.73

 

123.70

 

514.79

 

6.1 Âm nhạc

12.18

1.74%

53.96

7.66%

45.14

8.14%

106.44

5.80%

6.2 Kịch và nhạc kịch

   175.27

25.05%

114.35

16.23%

66.43

11.98%

316.20

17.24%

6.3 Đa lĩnh vực

36.32

5.19%

44.42

6,30%

12.13

2.19%

92.15

5.02%

Truyền thông

45.11

6.45%

18.56

2.63%

5.56

1.00%

69.17

3.77%

III.7  Sách và bÁo

23.01

 

4.27

 

1.65

 

28.91

 

7.1     Sách

7.25

1.04%

2.61

0.37%

1.65

0.30%

11.50

0.63%

7.2     BÁo

15.76

2.25%

1.66

0.24%

0

0.00%

17.41

0.95%

III.8  Nghe, nghe nh́n và đa phương tiện

22.10

 

 

 

14.29

3.91

40.26

 

8.1  Điện ảnh

15.55

2.22%

14.23

2.0%

2.96

0.53%

32.71

1.78%

8.2   Phát thanh

6.55

0.94%

0.06

0.01%

0.95

0.17%

7.55

0.41%

8.3   Truyền h́nh

 

 

 

 

 

 

 

 

Khác

 191.53

27.37%

290.44

41.21%

246.93

44.55%

665.37

36.28%

IV.9  Đa lĩnh vực

   185.01

 

219.96

 

228.51

 

573.27

 

9.1   Văn hoá xă hội

5.37

0.77%

42.77

6.07%

95.87

17.30%

143.42

7.82%

9.2 Quan hệ văn hoá nước ngoài

 33.74

4.82%

0.38

0.05%

3.00

0.54%

37.12

2.02%

9.3  Hành chính

 

 

 

 

 

 

 

 

9.4 Hoạt động Giáo   dục

 145.90

20.85%

176.81

25.09%

129.64

23.39%

392.73

21.41%

IV.10 Khôngphân chia được theo lĩnh vực

6.52

 

70.4 8

 

18.42

 

92.10

 

10. Không phân chia được theo lĩnh vực

6.52

0.93%

70.48

10.00%

18.42

3.32%

92.10

5.02%

       Tổng

699.77

100.00%

704.76

100.00%

554.32

100.00

1834.15

100.00

 

Nguồn: Kulturstatistik 2001/02.

 

Bảng 4: Chi tiêu cho văn hoá, thống kê theo lĩnh vực, năm 2002.

 

Lĩnh vực

Liên bang

bang

Thành phố

Tổng số

 

Triệu Euro

 %

Triệu Euro

 %

Triệu Euro

 %

Triệu Euro

 %

Tài sản văn hoá

268.62

37.79%

166.69

23.07%

181.96

30.67%

599.30

31.73%

I.1  Di sản văn hoá

241.31

 

 

 

 

133.97

158.71

516.45

1.1  Di tích lịch sử

131.83

18.55%

36.33

5.03%

82.86

13.97%

243.01

12.87%

1.2  Bảo tàng

109.48

15.40%

97.64

13.52%

75.85

12.78%

273.44

14.48%

I.2  Lưu trữ

 

 

 

 

 

 

 

 

2.1  Lưu trữ

 

 

 

 

 

 

 

 

I.3  Thư viện

27.31

 

32.72

 

23.25

 

82.85

 

3.1 Thư viện

27.31

3.84%

32.72

4.53%

23.25

3.92%

82.85

4.39%

Nghệ thuật

204.68

28.80%

224.22

31.04%

131.88

22.23%

513.63

27.19%

II.4  Kiến trúc

 

 

 

 

 

 

 

 

4.1  Kiến trúc

 

 

 

 

 

 

 

 

II.5 Nghệ thuật thị giác

7.80

 

13.66

 

6.58

 

27.43

 

5.1  Nghệ thuật thị giác (bao gồm cả thiết kế)

7.80

1.10%

13.66

1.89%

6.58

1.11%

27.43

1.45%

II.6  Nghệ thuật tŕnh diễn