1. Chính sách và các thiết chế văn hoá
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề phát triển chính sách hiện nay và những tranh luận
5. Các quy định pháp luật quan trọng về văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác mới
8. Hỗ trợ và tham gia hoạt động sáng tạo
1. Chính sách và các thiết chế văn hoá
Lịch sử nước Áo vào thế kỷ 20 được đánh dấu bằng sự suy tàn của Đế chế habsburg và sự kết thúc của chế độ quân chủ, bởi những khó khăn trong thời kỳ thành lập Nhà nước Cộng hoà Đầu tiên –giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh, bởi sự tồn tại như là một tỉnh thuộc Đức do Hitle thôn tính, từ 1938 đến 1945, và bởi một giai đoạn bị đồng minh chiếm đóng từ 1945 đến 1955.
Chính sách văn hoá của Áo thời kỳ hậu chiến có xu hướng phi chính trị. Chính sách đó ủng hộ các nhà hát kịch và lễ hội của liên bang, bỏ qua hoạt động đương đại của văn học, kịch sân khấu, nghệ thuật thị giác và âm nhạc. Hầu hết các nghệ sĩ và học giả từng bị chủ nghĩa phát xít xua đuổi trong thời kỳ chiến tranh đă không được mời trở lại.

Thái độ đối với văn hoá sau thời kỳ chiến tranh đă thay đổi theo các xu hướng chính trị và cực đoan ở châu Âu vào thập niên 60 và 70. Sự tiên phong về văn hoá trở thành một yếu tố chính trị và được sử dụng làm công cụ để chuẩn bị cho những thay đổi sắp tới ở Áo, ví dụ như Chính phủ Dân chủ Xă hội của Bruno Kresky. Điều này hứa hẹn sự hiện đại hoá và cải tổ toàn diện bao gồm cả một quan điểm về văn hoá chứa đựng mọi khía cạnh của cuộc sống. Không những vậy, chính sách văn hoá thực tế chỉ được xem là một biến thể của chính sách xă hội.
Một loạt các biện pháp chính sách văn hoá của Bộ Giáo dục và Nghệ thuật đă được ban hành năm 1975. Các mục tiêu cơ bản của chính sách này là cải thiện các tập quán văn hoá, nâng cao tŕnh độ học vấn và giảm khoảng cách Giáo dục giữa thành thị và nông thôn. Một dịch vụ văn hoá đă được Bộ Giáo dục và Nghệ thuật thành lập nhằm tạo sự liên hệ giữa các nghệ sĩ và những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá, cũng như tạo mối liên kết giữa các trường học, cơ sở Giáo dục , công ty và trung tâm văn hoá. Điều này đánh dấu một bước ngoặt v́ nó đă mở ra một cuộc đối thoại giữa các cơ quan chính quyền với các nghệ sĩ và những người trung gian làm nghệ thuật. Bước đi có tính quyết định đối với hệ thống nghệ thuật đă diễn ra trong giai đoạn này, sau đó từng bước được mở rộng và hoàn thiện trong suốt 25 năm qua, bao gồm việc thành lập nhiều cơ quan cố vấn khác nhau (các hội đồng, đoàn bồi thẩm, uỷ ban và những người quản lư chuyên trách). Những cơ quan này được trao một số quyền để làm cho hệ thống hỗ trợ nghệ thuật được dân chủ hơn. Các cơ quan trung gian cũng được thành lập, do Chính phủ kiểm soát và ở mức độ nào đó nằm dưới sự kiểm soát của doanh nghiệp tư nhân.
Vào thập niên 80, nước Áo đă diễn ra một sự bùng nổ thực sự về văn hoá, thể hiện qua việc rất nhiều sự kiện được tổ chức và kinh phí dành cho văn hoá tăng khoảng 7 lần so với kinh phí hàng năm của 25 năm trước đó. Nói chung, lư do của sự tăng lên là tài trợ cho các sự kiện có quy mô lớn cũng như phải tổ chức hàng hoạt các lễ hội và triển lăm .
Đến cuối thập niên 80, các ưu tiên chính sách văn hoá đă thay đổi. Những cuộc thảo luận đă tập trung vào các vấn đề tài trợ cho văn hoá và tư nhân hoá văn hoá. Đây là thời điểm có sự đổi mới quan trọng trong liên minh giữa Đảng Dân chủ Nhân dân Cơ đốc và Đảng Dân chủ Xă hội, ngược lại với bối cảnh thay đổi chính trị quan trọng năm 1989. Năm 1988, sự hỗ trợ của nhà nước cho nghệ thuật được quy định trong luật liên bang có tên: Luật Liên bang về Phát triển Nghệ thuật. Trong khi những cuộc thảo luận công khai về tư nhân hoá ở thập niên 80 không thu hút được sự chú ư th́ đến những năm cuối của thập niên 90 nó lại trở thành một chủ đề nóng, đặc biệt là trong các lĩnh vực như âm nhạc, nhạc kịch đại chúng và bảo tàng. Đây là những lĩnh vực mà theo tiêu chuẩn đánh giá quốc tế th́ có thể đă thu hút được nhiều tài trợ hơn so với những ngành đi tiên phong lúc bấy giờ.

Năm 1998 đă diễn ra một cuộc thảo luận về thay đổi chính sách văn hoá. Thủ tướng và Bộ trưởng phụ trách về văn hoá đă thành lập một nhóm hoạt động, bao gồm các chuyên gia, để phân tích các chính sách và việc quản lư văn hoá của liên bang. Các đề xuất đă được thảo ra nhằm hiện đại hoá và cải thiện quản lư nhà nước về văn hoá (Weiss-buch 1998). Mặc dù những đề xuất này đă được thảo luận rộng răi trên báo chí và giữa những người ban hành chính sách với các nghệ sĩ nhưng chúng vẫn không được thực thi.
Một thay đổi lớn khác về chính trị đă diễn ra năm 2000 với việc thành lập liên minh giữa Đảng Nhân dân và Đảng Tự do cánh hữu . Sự chuyển biến chính trị này vấp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của nhiều thế lực trong nước cũng như quốc tế. Năm 2002 liên minh tái đắc cử. Các mục tiêu chính sách văn hoá tập trung vào việc cơ cấu lại sự hỗ trợ của nhà nước đối với văn hoá (các tổ chức văn hoá sử dụng các nguồn tài chính bên ngoài và giảm ngân sách của nhà nước đối với văn hoá). Bên cạnh đó, sự chú trọng cũng được đặt ra đối với lĩnh vực văn hoá có uy tín, những ngành kinh doanh sáng tạo và sự phát triển của các dự án có định hướng kinh tế (ví dụ như các lễ hội để thúc đẩy du lịch).
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
2.1 Cơ cấu tổ chức
Hiện tại không có sơ đồ cơ cấu tổ chức.
Cấp Liên bang:
Bộ trưởng nghệ thuật và cơ quan truyền thông cùng với Bộ Nghệ thuật thuộc Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm về:
· Phát triển nghệ thuật thị giác, kiến trúc, thiết kế và thời trang
· Phát triển âm nhạc và nghệ thuật tŕnh diễn
· Phát triển phim và nghệ thuật media, nhiếp ảnh
· Các vấn đề pháp lư
· Quản lư ngân sách và kiểm soát việc trợ cấp
· Các vấn đề văn học và xuất bản
· Quan hệ đối ngoại song phương và đa phương trong lĩnh vực văn hoá
· Các giải thưởng
· Cơ quan điều phối với EU (Trung tâm Liên lạc về văn hoá), Hiệp hội các Nhà hát Liên bang Áo
· Các sáng kiến văn hoá và các trung tâm văn hoá vùng, hỗ trợ các hoạt động đa văn hoá, các dự án liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hoá.
Các tổ chức thuộc Bộ Nghệ thuật của Chính phủ liên bang.
· Viện Phim Áo – OFI.
· Bundestheater Holding, bao gồm Burgtheater (Nhà hát Quốc gia) và Nhà hát Opera Vienna, Volksoper Wien, Theaterservice GmbH, công ty lớn nhất thế giới về sân khấu
· Artothek: Việc quản lư bộ sự tập này, bao gồm 28 000 mẫu vật, đă được quy định vào năm 2002; nhà nước liên bang vẫn là chủ sở hữu của bản thân bộ sưu tập.
· Osterreicheische Fotogaleri (cùng với Rupertinum, Salzburg)KulturKontakt Austria (xem phần 7.1).
Cơ quan Luật Hiến pháp thuộc Chính phủ Liên bang (Verfassungsdienst/ Medienangelelgenheiten): được giao nhiệm vụ về các vấn đề chính sách truyền thông liên quan đến truyền thông mới.
· Giải thích luật truyền thông (Rundfunkgesetz, Privatradiogesetz, Kabel- und Satelliten-rundfunkgesetz, KommAustria-Gesetz)
· Phối hợp các vấn đề pháp lư liên quan đến truyền thông mới và internet (Uỷ ban tư vấn về truyền thông mới và Internet được thành lập tháng 10/1998).
Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá (BMBWK) chịu trách nhiệm về các vấn đề văn hoá (di sản văn hoá, Giáo dục nghệ thuật v.v..), Giáo dục, trung học và đại học. Cụ thể hơn, Bộ này chịu trách nhiệm về:
Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá(BMBWK ) chịu trách nhiệm quản lư các cơ quan sau:
· OKS (Cơ quan Dịch vụ Văn hoá Áo – Giáo dục nghệ thuật)
· KulturKontakt Austria.
· Vụ chính sách văn hoá thuộc Bộ Ngoại Giao liên bang (BmaA) chịu trách nhiệm về:
· Các vấn đề văn hoá song phương và đa phương
· Các viện và uỷ ban văn hoá ở nước ngoài (29 Kulturforen, trước đây là Kulturinstitute, ở 26 quốc gia)
· 50 thư viện Áo ở nước ngoài
· 5 chi nhánh của học viện Áo (Osterreich Institute: các viện này cung cấp các chương tŕnh dạy tiếng Đức ở Slovakia, Cộng hoà Séc, Ba lan, Hungary).
Bộ Giáo dục, Khoa học, Văn hoá và Bộ Ngoại giao liên bang cùng chịu trách nhiệm về:
· Các trung tâm nghiên cứu nước Áo.
· Cơ quan hợp tác Áo-Ukraina về khoa học, Giáo dục và Văn hoá ở Lvov
· Các tuỳ viên khoa học và Giáo dục.
Ngoài ra c̣n có các cơ quan khác cùng chịu trách nhiệm về vấn đề văn hoá:
Bộ Kinh tế và Lao động liên bang chịu trách nhiệm về:
· Các giải thưởng trong lĩnh vực kinh doanh văn hoá (ví dụ như: giải thưởng cho chương tŕnh quảng Cáo hay nhất trên truyền h́nh)
· Các thoả thuận song phương về điện ảnh (với Đức, Thuỹ sĩ, Pháp, Tây Ban Nha và Ư).
Bộ Nội vụ liên bang có trách nhiệm:
· Tổ chức lễ kỉ niệm Holocaust(nạn tàn sát người Do thái thời Hitler)
· Liên kết thực hiện tổ chức lễ kỉ niệm Holocaust (24 địa điểm mỗi năm)
· Hiệp hội “Never Forget” về Bảo vệ Lễ kỉ niệm Holocaust (16 địa điểm mỗi năm)
· Liên kết thực hiện ở nước ngoài các lễ kỉ niệm theo Luật Dịch vụ Cộng đồng (26 địa điểm mỗi năm).
Cấp Bang

Bundeslander (các bang) ở Áo bao gồm: Burgenland, Carinthia, Lower Austria, Salzburg, Styria, Tyrol, Upper Austria, Vienna, Vorarlberg. Trong cơ quan hành chính của mỗi bang đều có một bộ phận đảm trách về văn hoá. ở một số bang, các bộ phận này c̣n có thêm chức năng quản lư về khoa học hoặc Giáo dục. Ngoại trừ Vienna, mỗi bang ở Áo có Luật phát triển văn hoá riêng, hầu hết các luật này đă có hiệu lực từ thập niên 80.
Nh́n chung trách nhiệm văn hoá của các Bang gồm:
· Các vấn đề pháp lư liên quan đến chính sách văn hoá (kulturhoheit, ví dụ như chủ quyền văn hoá)
· Thúc đẩy các hoạt động văn hoá của từng bang, thường là phối hợp với liên bang (các ưu tiên khác nhau cho hoạt động thúc đẩy)
· Thúc đẩy các hoạt động để bảo tồn vẻ bề ngoài của các ngôi làng và thành phố – duy tŕ các trung tâm phố cổ
· Các hiệp hội và quỹ thuộc sở hữu của các Bang
· Trường nhạc
· Kịch, điện ảnh, các sự kiện và lễ hội (ví dụ như Lễ hội Salzburg, Ars Electronica in Linz, Lễ hội Bregenz, steirischer herbst, Graz)
· Di sản, truyền thống và nghệ thuật dân gian
· Thể thao.
Cấp địa phương
Trách nhiệm về văn hoá ở cấp địa phương thuộc về các hội đồng thành phố, hoặc tại các đô thị nhỏ hơn là thị trưởng. Đa số các cơ quan địa phương hoặc các chính quyền đô thị đều có các ban văn hoá (thường gộp chung với khoa học và Giáo dục), các ban này chịu trách nhiệm về vấn đề thư viện, ǵn giữ văn hoá dân gian và sân khấu. Các cộng đồng có dân số ít hơn 20 000 người thường không có ban văn hoá riêng.
Thẩm quyền ở cấp địa phương gồm:
· Bảo tồn dáng vẻ của các ngôi làng, thị trấn, và trung tâm phố cổ
· Các lễ hội, đặc biệt là ở thành phố trung tâm của bang như Bregenz, Salzburg, Linz (thường phối hợp với các bang hoặc liên bang)
· Thúc đẩy các tổ chức đô thị ở các thành phố (sân khấu, các trung tâm văn hoá, v.v..)
· Các bảo tàng địa phương
· Các thư viện, các cơ sở Giáo dục người lớn.
2.2 Mô tả tổng quát hệ thống
Áo là một nước liên bang. Điều 15 Hiến pháp trao hết thẩm quyền văn hoá cho các bang (quy định này thường được gọi là “chủ quyền văn hoá”). Trong khi đó Chính phủ liên bang vẫn có thẩm quyền đồi với các vấn đề “chủ quyền” như lưu trữ và thư viện về khoa học và kỹ thuật, các bộ sưu tập nghệ thuật và khoa học, các cơ sở của liên bang (Bảo tàng liên bang, Thư viện Quốc gia), các nhà hát liên bang, di tích lịch sử, các Giáo phái, các quỹ và hội.
Mặc dù trách nhiệm đă được xác định rơ ràng trong một số lĩnh vực văn hoá cụ thể, các cơ quan nhà nước (tại các cấp chính quyền) có thể đóng một vai tṛ tích cực trong việc hỗ trợ các hoạt động văn hoá và nghệ thuật. Nhưng trong trường hợp này, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước được xác lập bằng sự hợp tác không chính thức cũng như nhiều sự cạnh tranh (xem thêm phần 2.3). Về mặt nguyên tắc Áo là một nước liên bang, nhưng trên thực tế Chính phủ liên bang lại đóng vai tṛ tích cực hơn các bang trong việc hỗ trợ nghệ thuật và văn hoá.
Quản lư văn hoá của nhà nước Cộng hoà Liên bang
Năm 1997, vấn đề nghệ thuật được chuyển giao cho Chính phủ liên bang và Bộ trưởng chịu trách nhiệm về văn hoá, nghệ thuật và truyền thông. Kể từ thập niên 70, đây là lần đầu tiên các vấn đề văn hoá và nghệ thuật được đưa vào chuyên mục như là chính sách truyền thông. Các quyết định về hỗ trợ được đưa ra dựa trên các đề xuất của các ủy ban cố vấn, bao gồm các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan thuộc Bộ Nghệ thuật (xem phần 5.1): nghệ thuật thị giác, âm nhạc, kịch, múa, phim – Viện phim Áo (Uỷ ban Lựa chọn/ Auswahlkommission), văn học, dịch thuật, xuất bản, kiến trúc, sáng kiến văn hoá. Các khuyến nghị của uỷ ban cố vấn không có tính bắt buộc.
Các dự luật thường được các bộ liên quan soạn thảo, thông thường có sự tư vấn của các chuyên gia. Sau khi được Nội các thông qua, dự luật được chuyển sang Hội đồng Nhà nước để thảo luận và sửa đổi từng phần tại các uỷ ban liên quan (ví dụ như về văn hoá). Các thay đổi khác có thể thực hiện tại phiên họp toàn thể. Quá tŕnh bỏ phiếu cuối cùng cần phải có một phần ba số phiếu của Nghị viện, ngoại trừ Luật hiến pháp và các luật liên quan đến trường học (yêu cầu hai phần ba số phiếu).
Báo cáo hàng năm (Kunstbericht) do Bộ Nghệ thuật xuất bản đưa ra các thông tin về chi tiêu của nhà nước cho các hoạt động văn hoá và nghệ thuật. Để đạt được sự minh bạch và so sánh, đặc biệt là giữa chi tiêu của các bang và chi tiêu của liên bang, một hệ thống mới đă được thiết lập vào năm 1996 và sắp xếp các dữ liệu theo lĩnh vực (ví dụ như văn học; phim và nhiếp ảnh v.v..) thay v́ phân loại theo cơ quan quản lư (hệ thống LIKUS, xem phần 6). Báo cáo hàng năm của Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá cung cấp thông tin về chi tiêu của cơ quan này. Ngoài ra Vụ chính sách văn hoá thuộc Bộ Ngoại giao liên bang cũng xuất bản báo cáo hàng năm và một bản tin hàng tháng.
Quản lư văn hoá của các bang và chính quyền địa phương
Các bang có vai tṛ tích cực trong việc thúc đẩy văn hoá ở nhiều lĩnh vực liên quan, dựa trên các yếu tố của luật tư nhân. Chính quyền các bang có ít nhất một cơ quan đảm trách các vấn đề văn hoá. Một thành viên của chính quyền đảm nhận chung trách nhiệm chính trị tại cơ quan này. Đôi khi, một số thẩm quyền văn hoá lại thuộc về thống đốc. Thủ phủ của các bang cũng như các đô thị nhỏ ở nông thôn phân bổ các nguồn lực đáng kể cho hoạt động thúc đẩy văn hoá, tập trung vào các tổ chức ở đô thị, bảo tàng, thư viện và cơ sở Giáo dục người lớn ở địa phương.
2.3 Hợp tác giữa các bộ và các chính quyền
Các cuộc họp thông tin hàng năm giữa các chính quyền (landeskulturreferenkonferenz) được tổ chức giữa 9 bang và Chính phủ liên bang. Tại đây các dự án và sự kiện văn hoá quan trọng được đem ra thảo luận (ví dụ như ngày lễ toàn xá năm 2005, năm nước Áo giữ chức chủ tịch EU và lễ kỉ niệm lần thứ 250 ngày sinh của Mozart vào năm 2006). Các viên chức hành chính và chính trị tham dự các cuộc họp này theo lời mời của Chính phủ liên bang. Theo đề nghị, không chính thức, các cuộc họp liên bộ được tổ chức giữa các bộ chức năng và các cơ quan quản lư liên quan.
2.4 Hợp tác văn hoá quốc tế

Các nhiệm vụ chính của chính sách văn hoá quốc tế đă được vạch ra trong một tài liệu (Auslandskultur Neu, 2001) do Bộ Ngoại giao liên bang ban hành năm 2001. Yếu tố chủ chốt là cơ cấu lại các viện văn hoá và các sở văn hoá thuộc các Đại sứ quán Áo dưới dạng 28 “diễn đàn văn hoá” (Kulturforen) ở 25 Quốc gia. Mùa thu năm 2004, một diễn đàn văn hoá mới đă được mở ra tại Bắc Kinh.
Quan điểm mới đă xác định các khu vực trọng tâm:
· “Trung tâm văn hoá toàn cầu” như ở New York, London, Paris v.v..;
· “Văn hoá láng giềng” như ở Hungary, Slovakia, Slovenia v.v.. bao gồm cả Đông Nam châu Âu
· Phát triển các ‘nước đối tác” (ví dụ như ở Miền nam Caucus).
· Quan điểm mới cũng xác định các ưu tiên sau:
· Hỗ trợ các cuộc thảo luận về châu âu và “Các giá trị châu âu” tại các sự kiện và hội thảo quy mô lớn;
· Phân tích lịch sử nước Áo thế kỉ 20 (ví dụ như các tác phẩm nghệ thuật văn học bị đánh cắp, mang ra nước ngoài);
· Hợp tác văn hoá với các nước tham gia trong khối EU, đặc biệt là ở Trung Âu;
· Hợp tác văn hoá nhằm góp phần ổn định khu vực Ban Căng
· Hợp tác văn hoá với các quốc gia đối tác ở các nước thuộc “Thế giới thứ ba”.
Dễn đàn “Văn hoá - Trung tâm châu Âu được thành lập tại hội nghị các Bộ trưởng ngoại giao được tổ chức vào năm 2001 giữa các quốc gia “văn hoá láng giềng (Áo, Ba Lan, Cộng hoà Czech, Hungary, Slovakia, Slovenia). Đây là một diễn đàn nhằm thúc đẩy đối thoại về văn hoá với mục đích tạo ra sự hỗ trợ cho các dự án văn hoá song phương và đa phương tập trung vào các lợi ích chung của Trung âu. Sáng kiến “Đối thoại Văn hoá” nhằm thúc đẩy các cuộc đối thoại giữa các tôn Giáo lớn trên thế giới.
Các vấn đề đa phương của chính sách văn hoá quốc tế liên quan đến văn hoá trong phạm vi của UNESCO, Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và OSCE. ở cấp song phương, các hiệp định hợp tác văn hoá đă được kư kết với 25 quốc gia (có 8 quốc gia thành viên EU). Các hiệp định bổ sung về hợp tác đă được kư kết với 12 nước trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Hợp tác không chính thức trong lĩnh vực văn hoá và khoa học đă xây xựng được quan hệ đối tác với 6 quốc gia không có thoả thuận chính thức bằng văn bản.
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay
Hệ thống chính sách của Áo bao gồm các yếu tố khác nhau. Về mặt nguyên tắc, Áo là một nước theo chế độ liên bang. Trách nhiệm của nhà nước về văn hoá được phân bổ lại theo lĩnh vực cho các cơ quan, tổ chức khác nhau, ví dụ như Viện phim và KulturKontakt. Ngoài ra, các nỗ lực cũng được thực hiện nhằm chuyển giao trách nhiệm văn hoá thông qua việc cải tổ các nhà hát thuộc liên bang hoặc tái cơ cấu các bảo tàng thuộc liên bang (xem thêm phần 7.1).
3.2 Định nghĩa về văn hoá
Ở Áo không có định nghĩa chính thức về văn hoá. Văn hoá và việc phát triển văn hoá là một phần được quy định trong Luật phát triển Nghệ thuật liên bang. Các định nghĩa khác nhau về văn hoá có thể t́m thấy trong Luật phát triển Nghệ thuật của mỗi bang, trong đó thường nhấn mạnh đến đặc điểm vùng của các hoạt động văn hoá.
3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá
Thông thường, các mục tiêu chính của chính sách văn hoá có thể chia làm 3 nhóm:
· Các nhu cầu văn hoá cơ bản: Tự do nghệ thuật, đa nguyên, chất lượng, đổi mới, sáng tạo, bản sắc, quốc tế hoá (hội nhập), đồng bộ các điều kiện chung cho các nghệ sĩ và khả năng để họ phát triển.
· Quản lư: Minh bạch, thúc đẩy, cạnh tranh, hiệu quả, hợp tác giữa nhà nước và tư nhân, linh hoạt, phi tập trung, lập kế hoạch, phục vụ có định hướng, có giá trị.
· Các mục tiêu chính trị – xă hội: sự tham gia, b́nh đẳng, an sinh xă hội, tính đại diện, hiểu được hiệu quả kinh tế của lĩnh vực văn hoá.
4. Các vấn đề phát triển chính sách hiện nay và những tranh luận
4.1 Chính sách văn hoá và các ưu tiên
Năm 2000, Chính phủ liên minh đă đưa ra các ưu tiên mới về chính sách văn hoá. Việc phát triển nghệ thuật hiện đại không c̣n được đề cập đến trong chính sách của liên minh, thay vào đó là văn hoá dân gian (“khuyến khích văn hoá vùng” hoặc “thực hiện các nghiên cứu tập trung vào văn hoá dân gian”). Các ưu tiên khác bao gồm:
· Thực hiện chương tŕnh an sinh xă hội mới cho các nghệ sĩ (được ban hành năm 2001);
· Lưu số hoá các di sản;
· Bảo vệ các nguồn tài chính của các nhà hát và bảo tàng thuộc liên bang;
· Khuyến khích tư nhân tài trợ cho ngành sáng tạo;
· Hỗ trợ tập trung đối với sản xuất phim và từng bước xây dựng nước Áo thành trung tâm kinh doanh ngành phim.
· Khấu trừ thuế đối với những khoản chi tiêu cho nghệ thuật được xem là “ khoản chi tiêu đặc biệt”.
Các vấn đề chính trong chính sách truyền thông là việc thành lập một tổ chức đặc biệt về viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông (KommAustria), Luật phát thanh-truyền h́nh mới (2001) và Luật phát thanh tư nhân (2001).
Trong tài liệu chính sách của Chính phủ liên minh (Chương tŕnh của Chính phủ Liên bang Áo về Giai đoạn lập pháp thứ 22, 2003), Chính phủ tái đắc cử (2002) đă đưa ra những mục tiêu trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật và truyền thông như sau:
· Đưa ra các biện pháp thuế để thúc đẩy thị trường nghệ thuật, tài trợ cho nghệ thuật và bảo vệ các công tŕnh kỷ niệm
· Nâng cao vị thế các nghệ sĩ nghệ thuật hiện đại của Áo trên trường quốc tế.
· Tạo thêm nhiều hỗ trợ hơn cho các sáng kiến văn hoá vùng và hoạt động văn hoá của thanh thiếu niên.
· Nâng trợ cấp cho ngành phim và sửa đổi luật trợ cấp cho ngành phim;
· Đề ra chiến dịch thúc đẩy truyền h́nh kỹ thuật số;
· Hỗ trợ sản xuất phim thông qua phí phát thanh và truyền h́nh;
· Đánh giá trợ cấp cho bÁo chí
· Loại bỏ các khoản phí quảng cáo và thông báo.
Những cuộc tranh luận công thường liên quan đến việc phân bổ tiền của nhà nước. Sự cắt giảm ngân sách vốn đă ảnh hưởng đến lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật, cũng đă góp phần vào việc tạo ra sự bất ổn và thay đổi đối với hiện trạng của lĩnh vực văn hoá ở Áo. Trong khi ngân sách của các tổ chức lớn (như các bảo tàng thuộc liên bang) đă tăng lên, th́ những tổ chức nhỏ hơn, đặc biệt là các hiệp hội, đang liên tục phải đối mặt với những mối đe doạ đến sự tồn tại của ḿnh.
4.2 Những vấn đề chính sách và các tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá cộng đồng thiểu số
Năm 1976 Nhà nước liên bang thông qua luật mới về quyền của các dân tộc thiểu số bản địa ở Áo, the Volksgruppengesetz (Luật các nhóm dân tộc). Luật này làm giảm đáng kể các quyền được quy định trong Điều 7 của Hiệp ước thành lập Nhà nước năm 1955. Năm nhóm dân tộc, sau đó là sáu nhóm , được thừa nhận là các nhóm dân tộc thiểu số ở các khu vực khác nhau của Áo: người Slovenes (ở Carinthia), người Croats (Burgenland), người Hungary (ở Burgenland và Vienna), và người Czech và Slovaks (ở Vienna). Năm 1982, người La mă (ở tất cả chín bang của Áo). Hiện nay đang diễn ra một cuộc tranh luận giữa các nhóm dân tộc thiểu số về việc các quy định bảo vệ di sản văn hoá của họ đă không được thực hiện đầy đủ.
Những người nhập cư vào nước Áo từ thập niên 60, c̣n được gọi là GastarbeiterInnen, chủ yếu là người Nam Tư cũ và Thổ Nhĩ Kỳ, họ không được thừa nhận là dân tộc thiểu số và cũng không được bảo đảm các quyền để duy tŕ bản sắc văn hoá của ḿnh. Cũng cần lưu ư rằng số lượng người nhập cư nhiều hơn rất nhiều số lượng của một dân tộc thiểu số được thừa nhận. Ví dụ, cộng đồng Slovenes có 20 000 (điều tra năm 1999), trong khi đó tổng số người nhập cư từ Nam Tư cũ là 339 000 người.
Năm 1999, Bộ Nghệ thuật đă đệ tŕnh một báo cá về “Đa dạng văn hoá của Áo”. Đây là một trong số các nghiên cứu được thực hiện tại 7 quốc gia, dưới sự bảo trợ của hội đồng châu Âu. Báo cáo này do Andrea Ellmeier thực hiện tháng 2/2000.
Tóm lại, ở Áo, Bộ Nghệ thuật của Chính phủ Liên bang không có một chương tŕnh cụ thể nào đối với các nhóm dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, một ban Volksgruppengesetz (Luật các nhóm dân tộc) chịu trách nhiệm về việc hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá của các dân tộc thiểu số. Cộng đồng người nhập cư không được chính thức công nhận là dân tộc thiểu số nên không nhận được sự hỗ trợ hoặc hưởng các quyền pháp lư của nhân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hoá của những nhóm dân tộc này được thực hiện thông qua ngân sách văn hoá tiêu chuẩn ở cấp nhà nước, vùng hoặc cấp địa phương. Từ năm 1998, một ban chuyên trách về Các hoạt động quốc tế và giao lưu văn hoá thuộc Sở Văn hoá của thành phố Vienna đă được thành lập để hỗ trợ cho các dự án của các hiệp hội để thực hiện các hoạt động văn hoá và dự án của cộng đồng người nhập cư.
Năm 2000, Luật các nhóm dân tộc đă được đưa vào hiến pháp (Điều 8, đoạn 2), là một nội dung của mục tiêu quốc gia. Năm 2001, Chính phủ đă kư Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ các vùng hoặc dân tộc thiểu số.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Ở Áo không có các chương tŕnh chính trị xác định rơ ràng các mục tiêu để giúp đỡ phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá. Những năm gần đây, một nhóm hoạt động về văn hoá và nghệ thuật thuộc Bộ Bảo vệ người tiêu dùng và các Vấn đề phụ nữ trước đây - đứng đầu là một nữ bộ trưởng - đă được thành lập ở chính phủ liên bang để thảo luận các biện pháp chính sách thay thế đối với b́nh đẳng giới trong nghệ thuật và truyền thông. Năm 2000, Bộ này đă bị chính phủ liên minh giải tán và hoạt động chính trị của phụ nữ được chuyển sang hoạt động chính trị gia đ́nh. Kể từ khi chính phủ liên minh tái đắc cử năm 2002, th́ Bộ Y tế và các vấn đề phụ nữ được thành lập để chịu trách nhiệm về các vấn đề về phụ nữ.
Trong các cơ quan hành chính, những “viên chức b́nh đẳng” trước đây – các công chức làm việc về vấn đề b́nh đẳng giới - được chuyển sang thành “viên chức cải cách về giới”. Chính sách cải cách về giới tập trung vào việc cải cách các quá tŕnh đưa ra chính sách thay v́ chỉ liên quan đến việc thực hiện chính sách b́nh đẳng giới trong việc làm. Kể từ năm 2001, Sở Văn hoá của thành phố Vienna công bố các dữ liệu về giới trong phần phụ lục “Frauenkunstbericht” vào BÁo cÁo tài chính hàng năm.
Cựu Bộ trưởng Bộ Phụ nữ đă thuê điều tra t́nh trạng (xă hội) của các nữ nghệ sĩ ở Áo (1998-1999). Nghiên cứu này đă chỉ ra rằng bên cạnh vị thế thấp kém trong việc làm, thu nhập và vị trí xă hội của các nghệ sĩ nữ cũng thấp hơn so với nam giới.
Một nghiên cứu ở cấp quốc gia về địa vị của phụ nữ trong ngành nghệ thuật và truyền thông Áo, một phần của dự án so sánh của châu âu do ERICarts phối hợp điều tra về t́nh trạng việc làm của phụ nữ trong lĩnh vực nghệ thuật và truyền thông. Nghiên cứu gần đây lại chủ yếu tập trung vào sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí ban hành quyết định. Nghiên cứu này cho thấy rằng có nhiều phụ nữ có năng lực không có nghĩa là họ sẽ đảm nhận các vị trí quan trọng.
4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách
Ngôn ngữ chính của Áo là

tiếng Đức. Ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số được đề cập trong Luật Dân tộc Thiểu số là tiếng Croatia và Hungary (chủ yếu ở bang Burgenland) và tiếng Sloven (chủ yếu ở Bang Carinthia). ở Burgenland, ngôn ngữ giảng dạy tại một trường học phụ thuộc vào số lượng học sinh trong trường đó nói ngôn ngữ thứ hai. Giảng dạy bằng tiếng Hun-ga-ry tại cấp tiểu học được thực hiện đối với cộng đồng người Hun-ga-ry ở Bang Burgenland. Đối với cộng đồng thiểu số lớn nhất ở Áo, người Sloven (ở Nam Tư)ở bang Caringthian, Giáo dục cấp hai được thực hiện bằng tiếng Sloven. Chính sách này c̣n được gọi là “quyền Giáo dục của người thiểu số”.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Kể từ khi thế độc quyền của Công ty Phát thanh Truyền h́nh Áo (ORF) bị phá vỡ, hệ thống truyền thông được chia ra như sau:
· Khối in ấn, phát thanh và truyền h́nh của nhà nước (ORF, công bÁo)
· Khối tư nhân, hoạt động v́ lợi nhuận (phát thanh truyền h́nh và xuất bản của tư nhân)
· Khối tư nhân hoạt động phi lợi nhuận (phát thanh, in ấn miễn phí).
Đặc điểm chính của t́nh h́nh truyền thông Áo là sự tập trung vào lĩnh vực truyền thông in ấn. Đây là một trong những lĩnh vực được các nước trên thế giới tập trung nhiều nhất: năm 1988 hăng nhật bÁo hàng đầu ở Áo là Kronenznitung (thu hút trên 50 số hộ gia đ́nh ở Áo) và Kurier đă hợp nhất lại thành tập đoàn Mediaprint. Do đó năm 2001đă có một vụ sáp nhập lớn khác, điều này đă làm cho t́nh trạng càng thêm sâu sắc: chỉ một tập đoàn xuất bản hiện nay đă xuất bản tới ba tờ tuần bÁo kinh tế chính trị lớn nhất (News, Format, Profil; và Trend), các tạp chí truyền h́nh (TV-Media và e-media) và bảy tạp chí đời sống.
Năm 2001, sự đa dạng nội dung bị hạn chế thêm bởi việc cắt giảm trợ cấp của nhà nước đối với hoạt động phân phối báo chí (và sự trợ cấp đă bị huỷ vào tháng 1/ 2002). Điều này dẫn đến những khó khăn về tài chính cho các hăng báo và tạp chí nhỏ. Nhiều sáng kiến văn hoá và các tổ chức dân sự, vốn dựa trên tiền hỗ trợ phân phối cho hoạt động xuất bản của ḿnh, đặc biệt là ở cấp vùng, đă buộc phải giải thể. Năm 2002, Chính phủ công bố kế hoạch chi tiết về việc cải tổ hệ thống trong tương lai: cho đến năm 2005, nghĩa vụ đóng thuế đối với khoản thu từ quảng cáo của các hăng báo sẽ bị băi bỏ (năm 2001 số tiền này là 100 triệu euro).
· Từ năm 2000, những thay đổi quan trọng đă diễn ra trong lĩnh vực truyền thông điện tử:
· Việc cấp phép được giao cho Hăng truyền thông tư nhân (hoạt động trên toàn quốc) thông qua Luật Truyền h́nh Tư nhân (2001)
· Những giấy phép mới đă cấp cho 23 hăng truyền thanh vùng và địa phương, thông qua Luật Phát thanh Tư nhân
· Cơ quan giám sát truyền thông (“KommAustria”) đă được thành lập, cơ quan này thuộc quyền quản lư của Thủ tướng liên bang.
4.2.5 Kinh doanh văn hoá: Sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác.
Gần đây, những ngành kinh doanh sáng tạo ngày càng được quan tâm. Bắt đầu từ cuộc điều tra năm 2001 nhằm xem xét t́nh h́nh của ngành kinh doanh sáng tạo ở Bang Burgenland (Instinct Domain, 2001).
Hai năm sau, Báo cáo Kinh tế về Ngành sáng tạo ở Áo đă được xuất bản (KMU-Forchung Austria/Institut fur Kulturmanagement, 2003). Báo cáo này nhấn mạnh đến tiềm năng kinh tế của ngành kinh doanh sáng tạo của Áo và sự tăng trưởng đặc biệt của lĩnh vực này trong những năm gần đây. Do đó, Pḥng Thương mại liên bang Áo đă thành lập một cơ quan có thẩm quyền về tính kinh tế của ngành kinh doanh sáng tạo (“creative wirtschaft austria”). Một chương tŕnh hỗ trợ mới gần đây có tên “IP ImpulsProgramm creativewirtschaft” đă nhận được số tiền 3.8 triệu euro (cho đến cuối năm 2005). Chương tŕnh này tập trung vào các lĩnh vực âm nhạc, truyền thông đa phương tiện và thiết kế. Đây là một phần trong chiến lược quốc gia nhằm thúc đẩy tiềm năng sáng tạo và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Áo trong lĩnh vực CI (Creative Industry) và làm tăng số lượng các doanh nghiệp và việc làm trong lĩnh vực này, v.v..

Năm 2002, Thành phố Viên đề ra chương tŕnh hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc ngành kinh doanh sáng tạo. Chương tŕnh hộ trợ này trước mắt tập trung đầu tư vào các dự án truyền thông mới do đó đă có 109 đề xuất về lĩnh vực này, 16 trong số đó đă nhận được hỗ trợ. Năm 2003, “Nghiên cứu về tiềm năng kinh tế của lĩnh vực kinh doanh sáng tạo ở Viên” có tên (ệsterreichische Kulturdokumentation/Mediacult/Wifo, 2004) đă được tiến hành . Nghiên cứu này đă phân tích các tiềm năng thị trường, sự đổi mới và việc làm của các lĩnh vực định hướng kinh tế thị trường ở Viên như thiết kế thời trang, đồ hoạ, quảng cáo, truyền thông đa phương tiện và kiến trúc cũng như các lĩnh vực hỗn hợp giữa nghệ thuật và thương mại như văn học và xuất bản, âm nhạc, phim, mỹ thuật và thị trường nghệ thuật và nghệ thuật tŕnh diễn, thư viện và bảo tàng. Một số kết quả thu được:
· 24% các công ty ở Viên (18 000 công ty) có số lao động khoảng 100 000 đến 120 000 lao động được xem là một bộ phận của lĩnh vực kinh doanh sáng tạo
· Giữa năm1998 và 2002, tăng trưởng việc làm của lĩnh vực này trung b́nh là 6%, so với 2% của toàn bộ nền kinh tế;
· Trong số 18 000 công ty, 48.2% là doanh nghiệp một chủ, 47.9% doanh nghiệp có từ 1 đến 19 lao động, 3.2% có dưới 99 lao động, 0.5% có từ 100 đến 249 lao động và 0.3% có trên 250 lao động
· Tŕnh độ của những người lao động trong lĩnh vực này là trên mức trung b́nh: cứ bốn người th́ có một người có bằng đại học, trên 44% có tŕnh độ tương đương Giáo dục cấp A.
Năm 2003, Công ty “Departue - wirtschaft, kunst und kultur gmbh” được Hội đồng thành phố Viên thành lập. Nó đóng vai tṛ là cơ quan dịch vụ và hỗ trợ kinh tế cho khoảng 18000 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sáng tạo ở Viên. Từ năm 2004 (cho đến cuối năm 2005) công ty này đă hỗ trợ 7 triệu euro cho các lĩnh vực thời trang, âm nhạc, truyền thông đa phương tiện và thiết kế.
Tất cả các sáng kiến và hoạt động này luôn kèm theo những mối lo ngại cho rằng sự tập trung vào ngành kinh doanh sáng tạo sẽ dẫn đến cắt giảm hỗ trợ của nhà nước cho nghệ thuật.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Việc làm là vấn đề thách thức lớn nhất của các quốc gia châu Âu vào thập niên 90, đă được chí