|
|
1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Chính sách văn hoá quốc gia của Phần Lan từ giữa thế kỉ 19 đến cuối thể kỉ 20 có thể chia ra 3 giai đoạn như sau:
* Giai đoạn nhà nước bảo hộ (patron state), từ những năm 1860 đến 1960;
* Sự ra đời của nhà nước phúc lợi cùng với những mục tiêu chính sách văn hoá rơ ràng, từ những năm 1960 đến những năm 1980;
* Giai đoạn sau nhà nước phúc lợi, từ cuối những năm 1990.
Ba yếu tố lịch sử đă thúc đẩy h́nh thành những diễn biến này:
* Phong trào dân sự, mặc dù có sự khác biệt về ngôn ngữ và tư tưởng, đă góp phần vào sự phát triển của một nền văn hóa Phần Lan đồng nhất;
* Sự quan tâm của nhà nước mới thành lập đối với việc thúc đẩy bản sắc văn hoá Phần Lan được phản ánh trong chính sách văn hoá của chính quyền trung ương nhằm phát triển nghệ thuật và các nghệ sĩ;
* Cam kết của các thành phố (vốn là những đơn vị cơ bản của chính quyền địa phương ở Phần Lan) về việc cung cấp các dịch vụ văn hoá cho công dân của ḿnh và thúc đẩy họ quan tâm hơn đến nghệ thuật và tham gia vào các hoạt động nghệ thuật không chuyên;
* Các ngành kinh doanh văn hoá, cho dù làm ăn kém hiệu quả cũng đă góp phần duy tŕ hoạt động sản xuất các sản phẩm văn hoá có giá trị.
Cơ sở của nền văn hoá quốc gia Phần Lan là sự bảo trợ cho sự phát triển đời sống văn hoá và nghệ thuật Phần Lan với hai ngôn ngữ song song tồn tại. Chúng được đặt ra và thể chế hoá dưới chế độ Sa Hoàng Nga (1809-1917), bên cạnh “chính phủ quốc gia” và Thượng viện của Công Quốc Phần Lan tự trị. Sau khi giành độc lập nhà nước mới đă tiếp quản vai tṛ bảo trợ và tiếp tục xây dựng bản sắc dân tộc và thống nhất đất nước trên cơ sở các di sản văn hoá đă h́nh thành từ thời nước Nga cai trị, và một phần là sự cai trị trước đó của Thuỵ Điển trong 7 thế kỉ. Trong thập kỉ đầu tiên của nền độc lập, với một cuộc nội chiến và hai cuộc chiến tranh với Liên Xô đă diễn ra, độc lập dân tộc và bản sắc dân tộc trở thành mục tiêu hàng đầu của sự bảo trợ nhà nước và của các chính sách văn hoá nghệ thuật quốc gia. Các mục tiêu khác, như thúc đẩy sáng tạo, tăng cường sự tham gia và phát triển dân chủ trong văn hoá đă bước đầu xây dựng được nền tảng trong những năm 1960, và dần thống nhất với các mục tiêu kinh tế xă hội khác khi tư tưởng nhà nước phúc lợi được h́nh thành toàn diện hơn và được áp dụng vào những năm 1970.
Hỗ trợ của nhà nước cho nghệ thuật và văn hoá đă vượt quá sự bảo trợ thuần tuư ngay cả trước khi đạt đến nhà nước phúc lợi xă hội. Các thành phố dần dần tiếp quản nhiệm vụ giáo dục cho người lớn và duy tŕ các thư viện công vốn trước đây do các tổ chức dân sự thực hiện, và nhà nước (Chính phủ trung ương) bắt đầu trợ cấp cho các thành phố một cách thường xuyên. Vai tṛ của nhà nước trong việc hỗ trợ các tổ chức này đă được ghi nhận trong những năm 1920 và trong quá tŕnh này trách nhiệm cùng hỗ trợ tài chính (của nhà nước và thành phố) trở thành một trong những nền tảng cho chính sách văn hoá Phần Lan hiện đại.
Cơ sở tài chính rộng răi hơn cho việc hỗ trợ các tổ chức văn hoá nghệ thuật và các dịch vụ văn hoá được ghi nhận trong luật vào các những năm 1960 và 1970. Việc trợ cấp cho các nghệ sĩ được quy định trong luật vào những năm 1960, hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động văn hoá của thành phố được bắt đầu thực hiện từ đầu những năm 1980.
Mặc dù một số tổ chức của nhà nước (đặc biệt là Nhà hát Opera Quốc gia và Nhà hát kịch) vẫn giữ quy chế pháp lư tư nhân, quá tŕnh quốc hữu hoá các tổ chức văn hoá và nghệ thuật được thúc đẩy vào những năm 1970 và tiếp tục diễn ra cho đến những năm 1990. Các tổ chức giáo dục đại học về nghệ thuật và Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia trở thành đối tượng được hưởng phân bổ từ hệ thống ngân sách nhà nước và các tổ chức giáo dục được hưởng quy chế đại học Quốc gia. Quá tŕnh chuyển quyền quản lí sang cho thành phố các bảo tàng tàng địa phương, nhà hát, giàn giao hưởng cũng diễn ra song song.
Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, nguồn tài chính của các tổ chức này được tổ chức thành một hệ thống phụ trong phạm vi hệ thống trợ cấp của nhà nước trung ương cho các thành phố. Bên cạnh luật mới về hỗ trợ tài chính, điều này (hệ thống phụ) cũng được ngầm hiểu là luật về bảo tàng, nhà hát kịch và giàn giao hưởng. Chỉ có rất ít các tổ chức nghề nghiệp về văn hóa và nghệ thuật (trong đó có Nhà hát kịch Quốc gia và Nhà hát Opera Quốc gia) vẫn phải nhận hỗ trợ tài chính theo cơ chế tuỳ nghi hàng năm (không ổn định). Các tổ chức được “nhà nước hoá”, như Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia và các trường đại học nghệ thuật, được phân bổ nguồn tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước.
Những miêu tả khái quát ở trên cho thấy rằng, về phương diện lịch sử, các thiết chế quan trọng của chính sách văn hoá Phần Lan là:
* Hỗ trợ trực tiếp cho nghệ thuật, nghệ sĩ và sáng tạo nghệ thuật, bao gồm giáo dục nghệ thuật và đào tạo nghề nghiệp cho nghệ sĩ (giáo dục ngoại khoá về âm nhạc, giáo dục nghệ thuật và giáo dục nghề nghiệp trong các trường/ chương tŕnh nghệ thuật, các trường bách khoa và trường đại học về nghệ thuật);
* Sở hữu của nhà nước và việc cùng hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá và nghệ thuật của chính quyền Trung ương và các thành phố, bao gồm cả việc sở hữu và điều hành hoạt động của các công ty phát thanh truyền h́nh nhà nước;
* Hỗ trợ cho ngành kinh doanh văn hoá không được chú trọng lắm;
* Thúc đẩy hợp tác văn hoá quốc tế, chủ yếu là thực hiện theo tinh thần ngoại giao.
Cuối những năm 1990 và những năm đầu tiên của thế kỉ 21 đă diễn ra thay đổi xă hội Phần Lan và sự trung thành của nó đối với nền tảng của nhà nước phúc lợi. Những thay đổi lại được thúc đẩy thêm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng vào giai đoạn 1991-1993.
Những thay đổi từ giữa những năm 1990 đă mở ra mô h́nh quản lí mới với hạn chế về định hướng thị trường tự do, trong khuôn khổ hội nhập châu Âu, mở rộng liên minh châu Âu và xă hội thông tin toàn cầu, và trị trường toàn cầu về hàng hoá và dịch vụ văn hoá. Những thay đổi diễn ra trong những năm 1990 và đầu thiên niên kỉ mới đă phần nào làm giảm vai tṛ của Trung ương, các thành phố và giảm sự hỗ trợ trực tiếp của nhà nước đối với hoạt động sáng tạo, cũng như giảm vai tṛ của nhà nước với tư cách là nơi cung cấp các dịch vụ văn hoá và tạo ra các sản phẩm văn hoá. Cùng lúc đó, vai tṛ của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp đầu tư cơ bản cho các công tŕnh cơ sở hạ tầng cho văn hoá, và đào tạo chuyên môn cho lực lượng hoạt động sáng tạo (nghệ sĩ, người làm việc trong các ngành dịch vụ văn hoá và các lĩnh vực liên quan đến truyền thông mới) đă trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Việc trở thành thành viên của Liên minh châu Âu, và các chính sách của liên minh châu Âu, đặc biệt là các chương tŕnh được hỗ trợ tài chính trong khuôn khổ các Quỹ Cơ cấu, đă liên kết chặt chẽ hơn các chính sách của nhà nước với các chính sách gắn kết xă hội và phát triển đô thị và các vùng.
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lư
2.1 Mô tả chung về hệ thống

Phần Lan – như các nước Bắc Âu khác – là một nước vừa mang tính tập trung lại mang tính phi tập trung. Đặc điểm này là do chính quyền địa phương có vai tṛ lớn và có sự độc lập về mặt nguyên tắc, xuất phát từ các quy định trong hiến pháp và luật, quyền đánh thuế thu nhập của các thành phố. Mặt khác, với sự ra đời của nhà nước phúc lợi, gánh nặng của việc thực hiện hệ thống dịch vụ công được đặt lên vai các thành phố; nhà nước trung ương đề ra khung pháp lư san đều chi tiêu giữa những thành phố giàu có và những thành phố nghèo hơn thông qua việc chuyển giao tài chính.
Vào cuối những năm 1980 và 1990, hệ thống này, trước đó chỉ bảo trợ cho các thư viện công và việc giáo dục cho người lớn, đă được mở rộng phạm vi ra đối với bảo tàng, nhà hát, giàn giao hưởng, và giáo dục cơ bản về nghệ thuật.
Từ sự thay đổi này, nhà nước đă đảm nhận việc hỗ trợ cho nghệ thuật và các tổ chức văn hoá nghệ thuật quốc gia, giáo dục nghệ thuật và văn hoá ở bậc đại học, hợp tác văn hoá quốc tế; nhà nước chia sẻ trách nhiệm tài chính với các thành phố để duy tŕ hệ thống dịch vụ quốc gia. Các thành phố, bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ – và hỗ trợ tài chính cho khoảng 2/3 các dịch vụ này – c̣n phải duy tŕ cơ sở hạ tầng, cung cấp tài chính, thực hiện hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá và nghệ thuật ở địa phương. Do đó nhà nước Trung ương và các thành phố có vai tṛ ngang bằng nhau trong việc ban hành và thực hiện các chính sách văn hoá; tuy nhiên vai tṛ của nhà nước thể hiện rơ ràng hơn trong việc định hướng.
Không có một cơ quan quản lí độc lập nào của vùng, mặc dù việc trở thành thành viên của EU đă thúc đẩy vai tṛ của các hội đồng vùng, (các hội đồng vùng vốn là liên minh của các thành phố).
Nghị viện là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng về ngân sách và pháp luật; các chính sách tổng thể th́ được lên kế hoạch và thực hiện cùng với Chính phủ (Hội đồng nhà nước), sáng kiến chính sách theo ngành lĩnh vực th́ được lên kế hoạch và thực hiện cùng với các bộ và bộ trưởng.
Việc cân bằng những quyền lực này của chính quyền trung ương có thể t́m thấy ngay trong hệ thống các chính quyền địa phương tự trị (các thành phố). Cấp vùng một mặt được quản lí bởi các cơ quan vùng của chính quyền trung ương (văn pḥng vùng, văn pḥng địa hạt theo linh vực, hoặc các trung tâm phát triển ngành (theo lĩnh vực), mặt khác bởi các cơ quan hợp tác giữa các thành phố. Cơ quan hợp tác thành phố – các hội đồng vùng – có trách nhiệm chính trong việc điều phối lập kế hoạch phát triển vùng.
Ở Nghị viện, việc chuẩn bị các dự luật và dự thảo ngân sách chủ yếu được thực hiện tại các uỷ ban của nghị viện. Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Nghị viện có trách nhiệm về các vấn đề chính sách văn hoá, nhưng Uỷ ban Tài chính lại có khả năng đề xuất những hạn chế đối với toàn bộ việc phân bổ ngân sách.
Sau khi Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu, Uỷ ban Tổng hợp ngày càng trở nên quan trọng trong việc xử lư các mối quan hệ giữa Phần Lan với các chính sách và luật lệ của Liên minh châu Âu. Do đó, Uỷ ban này xem xét các giải tŕnh của các bộ trưởng trước và sau các cuộc họp của Hội đồng và Liên minh châu Âu. Điều này có nghĩa là các bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng Văn hoá, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nghị viện.
Sau khi được thành lập, Chính phủ mới có nghĩa vụ tŕnh lên Nghị viện chương tŕnh hoạt động của ḿnh để thảo luận tại nghị viện. Chương tŕnh này đề ra các tiến tŕnh hoạt động của Chính phủ, và chương tŕnh này thường kèm theo các dự án và / hoặc các kế hoạch chiến lược được đề ra và thực hiện. Các dự án và kế hoạch này đề ra - một cách rơ ràng hoặc ngầm định (thông qua các phương án chính sách toàn diện hơn) – các mục tiêu của chính sách văn hoá.
Chính phủ không có các uỷ ban thường trực hoặc cơ quan chuyên môn để đưa ra các đề xuất về văn hoá. Chính phủ có thể thành lập một nhóm hoạt động đặc biệt để quản lí và chuẩn bị cho các quyết định trong các lĩnh vực chính sách quan trọng.
Ở cấp độ ngành theo lĩnh vực, trách nhiệm lập kế hoạch và thực hiện thuộc về Bộ Giáo dục và Văn hoá, theo tiếng Phần Lan là Opetusministerio (theo đúng nguyên văn là Bộ Giảng dạy). Bộ Giáo dục và Văn hoá có hai vị bộ trưởng, Bộ trưởng Giáo dục và Khoa học, và Bộ trưởng Văn hoá, thanh niên và thể thao. Vụ Chính sách Văn hoá thể thao và thanh niên được chia thành các ban là Ban Nghệ thuật và di sản, Ban Văn hoá và truyền thông, Ban Pháp luật và tài chính, Ban Thể thao và Ban Thanh niên.
Bộ Văn hoá Giáo dục, các Vụ, và các Ban có các nhiệm vụ lên kế hoạch chiến lược và quản lí, hướng dẫn thông qua việc cung cấp thông tin và kí kết các thoả thuận thực thi. Do đó, việc thực hiện chính sách trong quản lí văn hoá và nghệ thuật được giao phó cho những “cơ quan tối cao nhất”, những cơ quan đặc biệt và những tổ chức tương đương tổ chức Chính phủ. Trong thực hiện chính sách văn hoá, có một số tổ chức quan trọng sau đây:
* Hệ thống các hội đồng nghệ thuật (Hội đồng nghệ thuật Phần Lan và các tiểu hội đồng về điện ảnh, văn học, nghệ thuật thị giác, kịch, thiết kế, kiến trúc, nhiếp ảnh, âm nhạc, và múa), chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách đối với nghệ thuật và nghệ sĩ, và tạo cơ chế đánh giá để quyết định trợ cấp cho các nghệ sĩ và hỗ trợ cho các dự án do các nghệ sĩ thực hiện;
* Uỷ ban Quốc gia về cổ học, bên cạnh chức năng kiến trúc, c̣n là cơ quan chuyên môn của Chính phủ đối với toàn bộ lĩnh vực di sản và hoạt động chuyên môn về bảo tàng;
* Hiệp hội phim Phần Lan phân bổ nguồn hỗ trợ của nhà nước cho việc sản xuất phim và phân phối phim.
Hơn nữa chức năng thực hiện các chính sách cụ thể và những công việc có tính chuyên môn được thực hiện bởi các cơ quan như Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia, Cục lưu trữ phim Phần Lan, Uỷ ban phân loại phim, Thư viện cho người khiếm thị, và Ban quản lí pháo đài Suomenlinna (Pháo đài này đă được công nhận là Di sản Thế giới). Công ty Viekkaus, là công ty duy nhất của nhà nước được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực sổ xố, cá cược bóng đá và các hoạt động thể thao khác. Lợi nhuận của công ty này được dùng để hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật, văn hoá, khoa học, các chính sách đối với thanh niên và thể thao. Việc hỗ trợ được thực hiện thông qua ngân sách Chính phủ.
Trong số các bộ th́ những bộ sau đây có ảnh hưởng quan trọng đến việc lập kế hoạch và thực hiện chính sách văn hoá:

* Bộ Tài chính, cũng như các nước dân chủ phương Tây, có vai tṛ hướng dẫn và kiểm soát đối với các quá tŕnh ngân sách và lập kế hoạch kinh tế của tất cả các bộ;
* Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về vấn đề phát triển vùng và có vai tṛ trung tâm trong việc tổ chức và điều phối các chương tŕnh phát triển vùng và việc hỗ trợ tài chính cho các vấn đề do Liên minh châu Âu khởi xướng.
* Bộ Giao thông và Truyền thông có vai tṛ quan trọng trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động về viễn thông, phát thanh và truyền h́nh;
* Bộ Công nghiệp và Thương mại thực hiện hỗ trợ đối với R&D nghiên cứu và phát triển nói chung và cũng hỗ trợ cho các ngành kinh doanh văn hoá và truyền thông và ICT.
Các chính quyền địa phương ở Phần Lan có quyền tự trị, theo đó các thành phố có quyền đánh thuế (bao gồm cả thuế thu nhập). Chính quyền trung ương có vai tṛ cân đối sự không đồng đều trong việc cung cấp các dịch vụ công và phát triển cơ sở hạ tầng thông qua việc chuyển giao tài chính, hiện nay chủ yếu thực hiện thông qua trợ cấp bắt buộc. Hầu hết khoản tiền hỗ trợ cho văn hoá và nghệ thuật được thực hiện thông qua hệ thống trợ cấp bắt buộc này.
Việc ban hành các chính sách văn hoá ở cấp thành phố chủ yếu thuộc thẩm quyền của Hội đồng Thành phố (một cơ quan được thành lập do bầu cử), Ban Điều hành (phản ánh sự chia rẽ và liên minh các đảng phái trong Hội đồng), các uỷ ban chuyên môn theo ngành lĩnh vực và đội ngũ, đứng đầu là Thị trưởng. Về các uỷ ban chuyên môn và cơ quan quản lí theo chuyên môn, xu hướng những năm 1980 là kết hợp các vấn đề liên quan đến văn hoá (kịch, âm nhạc, nghệ thuật không chuyên,v.v..) vào thẩm quyền quản lí của một uỷ ban, đó là uỷ ban văn hoá. Nhưng đến những năm 1990, xu hướng đó lại bị đảo ngược, các vấn đề văn hoá lại được phân phối vào thẩm quyền của các uỷ ban đa lĩnh vực với thẩm quyền lớn hơn (ví dụ như uỷ ban du lịch, giải trí v.v..).
Ở cấp quản lí vùng không có một cơ quan độc lập nào được thành lập do bầu cử. Văn pḥng đặt tại vùng là những cơ quan đại diện của chính quyền trung ương, thực hiện các nhiệm vụ phát triển vùng nói chung, và phát triển các hệ thống dịch vụ công cộng nói riêng. Năm 1997, số lượng các văn pḥng đă giảm từ 11 xuống c̣n 5, và nhiều chức năng cụ thể đă được chuyển giao cho các cơ quan của chính quyền trung ương. Cũng vào thời điểm đó, 19 hội đồng vùng (liên đoàn các thành phố) đă có được vai tṛ lớn hơn đối với việc lập kế hoạch và phát triển vùng. Điều này một phần là do trách nhiệm của các hội đồng này trong việc lập kế hoạch và quản lí các chương tŕnh được hỗ trợ tài chính trong khuôn khổ các chương tŕnh của Liên minh châu Âu.
Các Hội đồng nghệ thuật vùng là một cơ quan thuộc hệ thống Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan ở cấp vùng. Tuy nhiên, các hội đồng này lại thuộc thẩm quyền chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo dục và Văn hoá và chúng được phân bổ theo số lượng các Văn pḥng vùng. Về cơ bản chúng có các chức năng hỗ trợ giống như Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan và các tiểu hội đồng nghệ thuật (trợ cấp cho các nghệ sĩ, hỗ trợ cho các dự án).
2.3 Hợp tác giữa các bộ và hợp tác giữa các cấp chính quyền
Trong hệ thống chính trị của Phần Lan, các phiên họp toàn thể của Chính phủ (Hội đồng Nhà nước) và những uỷ ban thường trực của nó, những nhóm hoạt động đặc biệt có vai tṛ rất lớn trong việc kiểm soát và hướng dẫn các bộ và điều phối hoạt động giữa các Bộ.
Vấn đề hợp tác giữa các lĩnh vực đă được thảo luận vào cuối những năm 1980, và gần đây một uỷ ban lâm thời gồm các Bộ trưởng đă được thành lập để lên kế hoạch cải tổ cho vấn đề này. Không có những chỉ thị rơ ràng trong việc hợp tác lên kế hoạch chính sách nói chung cũng như trong lĩnh vực văn hoá nói riêng. Việc trở thành thành viên của Liên minh châu Âu đă thúc đẩy nhu cầu hợp tác giữa các Bộ; để điều phối các vấn đề liên quan đến EU, Uỷ ban các Bộ trưởng đă được thành lập, và ở cấp cao nhất của ngành Hành pháp có Uỷ ban Liên Bộ về các vấn đề EU, uỷ ban này có tiểu ban, trong đó có tiểu ban các vấn đề văn hoá và nghe nh́n.
Việc lập kế hoạch và ban hành chính sách văn hoá thuộc thẩm quyền của Bộ Văn hoá và Giáo dục, tuy nhiên các Bộ khác cũng giữ những vai tṛ quan trọng (ví dụ như Bộ Thương mại và Công nghiệp trong các vấn đề liên quan đến R&D và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực văn hoá; Bộ Giao thông và Truyền thông, trong các vấn đề liên quan đến truyền thông, viễn thông và công nghệ thông tin; Bộ Tư pháp, trong các vấn đề liên quan đến bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ; Bộ Lao động, trong các vấn đề dự án xây dựng, chính sách lao động. Vị trí của Bộ Nội vụ cũng được nhấn mạnh do vai tṛ hàng đầu của nó trong các chính sách phát triển vùng. Bộ Nội vụ có tiếng nói quyết định đối với việc lựa chọn các dự án được hỗ trợ tài chính từ Quỹ Phát triển vùng của EU).
Trên thực tế rất khó có thể đánh giá được tầm ảnh hưởng của các Bộ này đối với việc thực hiện các chính sách văn hoá và mức độ các nguồn lực mà những Bộ này đă phân bổ, trực tiếp hoặc gián tiếp, cho lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật.
Không có các cơ quan liên chính quyền trong việc ban hành chính sách văn hoá và quản lí văn hoá. ở mức độ nào đó, các hội đồng nghệ thuật vùng đóng vai tṛ trung gian giữa chính quyền Trung ương và các cơ quan quản lí của thành phố. Về dịch vụ văn hoá công, Hiệp hội các chính quyền địa phương và vùng của Phần Lan là một trung gian quan trọng giữa chính quyền Trung ương và các thành phố.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá
Trong phạm vi thẩm quyền của Bộ Giáo dục và Văn hoá, việc quản lí hợp tác quốc tế về văn hoá được giao cho một cơ quan đặc biệt, đó là Ban Thư kí các vấn đề văn hoá quốc tế. Chức năng chính của cơ quan này là quản lí các mối quan hệ hợp tác song phương và đa phương. Các quan hệ song phương được thực hiện dựa trên các hiệp định văn hoá song phương (với 34 quốc gia) và những biên bản ghi nhớ (với 6 quốc gia). Các quan hệ đa phương được thực hiện dựa trên các công ước quốc tế, hiệp định quốc tế, và tư cách thành viên của Phần Lan trong các tổ chức quốc tế như UNESCO, Hội đồng châu Âu, ITU (Liên minh Viễn thông Quốc tế) và WIPO (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới). Ngoài ra, Phần Lan có một hệ thống các viện văn hoá đặt tại 15 quốc gia. Ban đặc trách EU của Bộ Giáo dục và Văn hoá thuộc quản lí của Ban Thư kí. Hầu hết các khoản phân bổ ngân sách của Bộ Giáo dục và Văn hoá cho hoạt động hợp tác quốc tế về văn hoá đều được thực hiện thông qua những hoạt động song phương và đa phương này.
Hợp tác với các nước Bắc Âu chiếm một vị trí đặc biệt trong chính sách hợp tác quốc tế của Phần Lan. Phần Lan có đại diện trong các uỷ ban giáo dục và văn hoá, các nhóm hoạt động thuộc Hội đồng các Bộ trưởng Bắc Âu, và tham gia vào Quỹ Văn hoá Bắc Âu (1996), quỹ này được điều hành bởi Ban thư kí các Bộ trưởng của Hội đồng Bắc Âu đặt tại Copenhagen. Phần Lan c̣n có các quỹ văn hoá song phương với tất cả các quốc gia Bắc Âu khác: Iceland (1974), Na uy (1979), Thuỵ Điển (1960), và Đan Mạch (1981). Các quỹ văn hoá này được điều hành bởi Trung Tâm Văn hoá Hanasaari Phần Lan – Thuỵ điển. Bộ Giáo dục và Văn hoá phân bổ tài chính cho hoạt động hợp tác với các nước Bắc Âu.
Việc trở thành thành viên EU và hệ thống các quan hệ hợp tác mới đă làm phân tán sự tham gia hợp tác quốc tế về văn hoá. Ví dụ, vấn đề Truyền thông liên quan đến EU thuộc trách nhiệm của Hiệp hội phim Phần Lan, Uỷ ban quốc gia về cổ học chịu trách nhiệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực di sản, và CIMO, trung tâm lưu động quốc tế, chịu trách nhiệm về các chương tŕnh trao đổi sinh viên và đóng vai tṛ đầu mối giao tiếp EU cho chương tŕnh văn hoá 2000.
Bộ Ngoại giao quảng bá văn hoá và nghệ thuật Phần Lan ở nước ngoài và, có tiếng nói, trên tinh thần ngoại giao văn hoá, trong tất cả các vấn đề hợp tác văn hoá có thể tạo ra ảnh hưởng chính trị lớn hơn. Chương tŕnh hợp tác với các khu vực lân cận, trong đó nhấn mạnh đến những h́nh thức hợp tác văn hoá mới với khu vực Baltic và Biển Barent, được điều phối và hỗ trợ tài chính bởi Bộ ngoại giao, mặc dù các bộ khác cũng trách nhiệm trong việc lựa chọn các dự án và phân bổ tài chính. Các trường đại học nghệ thuật, trung tâm nghiên cứu và những tổ chức văn hoá và nghệ thuật quan trọng cũng có những quan hệ hợp tác văn hoá của riêng ḿnh và có liên hệ mất thiết với các định chế quốc tế liên quan của châu Âu cũng như thế giới (Ví dụ Công ước châu Âu về Kịch, Liên minh kịch châu Âu, ITI, ICOM, ICOMOS, ELIA v.v..). Các thành phố cũng có các chương tŕnh hợp tác của riêng ḿnh và cũng tham gia vào các tổ chức như Liên minh các Thành phố vùng Baltic, Liên minh các Thành phố châu Âu. Các hiệp hội nghệ sĩ cũng có liên kết chặt chẽ với các hệ thống liên quan của châu Âu (IETM, International PEN, v.v..)
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

Mô h́nh chính sách văn hoá của Phần Lan là mô h́nh phi tập trung theo chiều ngang và chiều dọc. Ở cấp chính quyền trung ương, số cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ cố vấn cho Bộ Văn hoá và Giáo dục và thực thi các chính sách đă được ban hành. Các cơ quan này cũng có thẩm quyền độc lập trong ban hành quyết định.
Sự phi tập trung theo chiều ngang cũng thường theo mô h́nh nghiệp đoàn: các hiệp hội của những nghệ sĩ chuyên nghiệp và của những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá đóng một vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành và thực hiện những chính sách liên quan đến việc trợ cấp và hỗ trợ tài chính cho dự án. Mô h́nh này cũng được phản ánh ở vai tṛ trung tâm của các tổ chức đại diện của những nghệ sĩ và nhà sản xuất trong lĩnh vực bản quyền và trong việc quản lí các tổ chức bản quyền.
Phi tập trung theo chiều dọc diễn ra xung quanh chính quyền Trung ương và các thành phố tự trị. Trung ương chịu trách nhiệm về các tổ chức văn hoá và nghệ thuật quốc gia, thúc đẩy việc tiếp cận b́nh đẳng và rộng răi hơn về văn hoá và nghệ thuật bằng cách cung cấp tài chính cho các cơ quan văn hoá của địa phương và vùng. Điều này trước hết được thực hiện bằng trợ cấp theo mục tiêu và dưới sự giám sát của Bộ Văn hoá và Giáo dục.
Từ năm 1993 những khoản trợ cấp này đă được đưa vào hệ thống chuyển giao bắt buộc của nhà nước cho các thành phố. Việc chuyển giao này được mở rộng ra cả các lĩnh vực thư viện công, các cơ quan giáo dục người lớn, hoạt động văn hoá của thành phố không do dân chúng tự tổ chức, giáo dục cơ bản về nghệ thuật, bảo tàng, kịch, giao hưởng.
Nguyên tắc hỗ trợ tài chính của hệ thống trợ cấp nhà nước đă được mở rộng ra để áp dụng đối với các tổ chức quốc gia “phi lợi nhuận” như Nhà hát Kịch Quốc gia, Nhà hát Opera Quốc gia và một số bảo tàng đặc biệt có quy chế quốc gia. Một sổ tố chức quan trọng của các thành phố đă được chỉ định để thực hiện các chức năng đặc biệt đối với vùng và nhận được nguồn tài chính bổ sung để hoàn thành nhiệm vụ này.
Trong khi tập trung hoá theo chiều dọc, khối thứ ba đóng một vai tṛ quan trọng. Vai tṛ của các tổ chức văn hoá và nghệ thuật chuyên nghiệp đă được nói đến. Tuy nhiên, khối thứ ba có hai vai tṛ khác. Thứ nhất, các tổ chức t́nh nguyện có vai tṛ quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá và nghệ thuật không chuyên. Thứ hai, mặc dù phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhà nước, phần lớn các cơ quan văn hoá và nghệ thuật (đặc biệt là bảo tàng, nhà hát, giàn giao hưởng) lại hoạt động như là những tổ chức không phải thuộc khối công (những tổ chức t́nh nguyện, các quỹ hội, công ty cổ phần phi lợi nhuận).
Mô h́nh văn hoá của Phần Lan c̣n có ba đặc điểm khác biệt khác, tuy nhiên những đặc điểm này đang phải chịu những áp lực để thay đổi. Thứ nhất là sự phụ thuộc vào sở hữu nhà nước và ngân sách nhà nước và đặc biệt là, phụ thuộc vào sự thể chế hoá (đưa vào trong luật) nhằm đảm bảo tính ổn định của việc hỗ trợ nhà nước cho văn hoá và nghệ thuật. Tính ổn định này ngầm thị rằng các điều kiện được sử dụng để xem xét hỗ trợ tài chính chỉ thay đổi thông qua một đạo luật do Nghị viện ban hành. Gần đây, quá tŕnh “phi nhà nước hoá” (theo đó, bên cạnh các thoả thuận thực hiện chính sách và sự đơn giản hoá ngân sách c̣n bao gồm việc giao thẩm quyền từ nhà nước trung ương cho các thành phố) đă bắt đầu có tác động đến trật tự pháp lí khắt khe này.
Đặc điểm thứ hai là vai tṛ trung tâm của “các quỹ riêng”, nghĩa là lợi nhuận của Viekkaus, công ty sổ xố, cá độ thể thao của nhà nước, trong việc cung cấp tài chính cho nghệ thuật và văn hoá - bao gồm thể thao, hoạt động thanh niên và khoa học. Sau khủng hoảng kinh tế đầu những năm 1990, các nguồn tài chính này, lúc đầu chỉ được sử dụng một cách tuỳ nghi, đă bắt đầu được sử dụng để cung cấp tài chính cho hoạt động trợ cấp của nhà nước một cách thường xuyên hơn, ví dụ như cho các thư viện công, nhà hát, giàn giao hưởng và giáo dục cơ bản về nghệ thuật. Do đó, chính quyền trung ương ngày càng đóng góp ít hơn cho những dự án và sáng kiến mới. Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính của Veikkaus ngày càng tăng lên và đạt đến đỉnh điểm năm 2001 khi chiếm đến 72% nguồn tài chính mà Bộ Giáo dục và Văn hoá phân bổ cho nghệ thuật và văn hoá. Luật mới về sổ xố và cá độ, và về việc sử dụng lợi nhuận của Veikkaus đă bắt đầu làm tăng số tiền hỗ trợ có được từ thuế và giảm mức đóng góp của Veikkaus xuống 67% năm 2003.
Đặc điểm thứ ba là thiếu sự độc lập của cấp quản lí vùng – trong các lĩnh vực nói chung cũng như trong văn hoá nghệ thuật nói riêng. Hệ thống Hội đồng nghệ thuật ngay từ đầu đă được mở rộng ra cấp vùng bằng cách tạo ra hệ thống 11 hội đồng nghệ thuật khu vực. Tên của các hội đồng đă được thay đổi theo tên của các hội đồng nghệ thuật vùng và số lượng các hội đồng đă lên đến con số 13 khi cở quan quản lí vùng của chính quyền trung ương được cải tổ. Hiện tại đang có một cuộc tranh luận là nên hay không nên liên kết các hội đồng nghệ thuật vùng, về mặt quản lí thuộc Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan, với một số cơ quan thuộc Bộ Giáo dục và Văn hoá, và các văn pḥng Vùng của Chính quyền Trung ương.
Trong hệ thống trợ cấp trước đây một số cơ quan văn hoá và nghệ thuật nhận nguồn tài chính từ cả chính quyền Trung ương và thành phố đều có quy chế tổ chức cấp vùng (bảo tàng nghệ thuật và lịch sử vùng, nhà hát vùng). Những tổ chức này c̣n được nhận thêm nguồn tài chính bổ sung để thực hiện chức năng hoạt động cấp vùng. Trong hệ thống tài chính hiện nay, Bộ Giáo dục và Văn hoá có thể chỉ định một số tổ chức có tầm quan trọng đối với vùng và cấp cho các tổ chức này nguồn tài chính bổ sung. Các dàn xếp tài chính không thực sự làm cho các tổ chức này thành những tổ chức cấp vùng theo đúng nghĩa, cũng như về mặt sở hữu và quản lí, nhân lực và việc lập kế hoạch. Trên cấp độ quản lí, 19 hội đồng vùng (ban đầu vốn là hiệp hội các thành phố lân cận nhau để lập kế hoạch phát triển) đă được tổ chức lại để phù hợp với việc gia nhập EU và đă đảm nhận rất nhiều chức năng về lập kế hoạch và phát triển vùng, trong đó có một số chức năng thuộc lĩnh vực văn hoá. Tuy nhiên có một số hiệp hội các thành phố, không phải là những cơ quan vùng độc lập, và vai tṛ của chúng trong việc phát triển văn hoá trong vùng vẫn c̣n mờ nhạt.
Đă từng có xu hướng phi tập trung hoá và tư nhân hoá trong các chính sách văn hoá ở Phần Lan. Điều này thể hiện trong tự do hoá hệ thống trợ cấp của nhà nước cho các thành phố và những cơ quan văn hoá; trong các thoả thuận thực thi và trong việc đưa ra dự thảo ngân sách trong khuôn khổ ngân sách nhà nước. Nếu chúng ta xét vấn đề này từ quan điểm nâng cao dân chủ, th́ xu hướng này liên quan nhiều hơn đến việc Phần Lan trở thành thành viên của EU và việc cung cấp tài chính cho các dự án vùng và địa phương từ các Quỹ Cơ cấu trong khuôn khổ các chương tŕnh của EU. Xét từ góc độ quản lí, diễn biến này đă nâng cao vai tṛ của các hội đồng vùng và nó đă phát huy năng lực văn hoá ở cấp địa phương dưới h́nh thức các dự án hoặc sáng kiến. Các chương tŕnh ngoài EU (Phare, Tacis), cùng với chương tŕnh quốc gia về hợp tác với những vùng lân cận đă gây cản trở đối với các sáng kiến của các vùng và địa phương độc lập trong việc hợp tác với các địa phương và vùng khác của nước ngoài, ví dụ như với vùng Leningrad, các nước ở Biển Baltic và ở Biển Barent. “Northern Dimension”, một chương tŕnh của EU do Phần lan phát động, cũng góp phần thúc đẩy những xu hướng phát triển này.
3.2 Định nghĩa về văn hoá

Trong chính sách văn hoá của Phần Lan không có một định nghĩa chính thức nào về văn hoá. Tuy nhiên, theo những thống kê chính thức về văn hoá, th́ khái niệm này được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm văn hoá trước hết bao gồm nghệ thuật, nghĩa là nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật biểu diễn, lao động của cá nhân các nghệ sĩ và những lĩnh vực liên quan đến ngành kinh doanh văn hoá (xuất bản, phim, ghi âm, phát thanh truyền h́nh, các sản phẩm video và đa phương diện) với mức độ đủ cao của các nội dung văn hoá. Thứ hai, định nghĩa hẹp này bao gồm những lĩnh vực chính của dịch vụ văn hoá (thư viện công và các chương tŕnh văn hoá về giáo dục cho người lớn) và di sản văn hoá (di tích lịch sử, công tŕnh lịch sử, di tích văn hoá; bảo tàng lịch sử và bảo tàng nghệ thuật) và hợp tác văn hoá quốc tế. Giáo dục nghệ thuật nói chung (cho trẻ em, cho thanh niên) thường được tính vào giáo dục nghề nghiệp nghệ thuật thường không được tính vào v́ các lí do quản lí hành chính (chúng thuộc về thẩm quyền của giáo dục cấp cao và khoa học, tương tự như Thư viện Quốc gia và các thư viện nghiên cứu và khoa học, cơ quan lưu trữ, quản lí và những dịch vụ thông tin có liên quan).
Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm tất cả các ngành kinh doanh văn hoá, bất kể nội dung giáo dục nghề nghiệp trong nghệ thuật và văn hoá, tất cả các bảo tàng, thư viện khoa học và các pḥng lưu trữ.
Nên lưu ư rằng, trong khung EUROSTAT về các số liệu văn hoá được xây dựng dựa trên khái niệm rộng. Khung này cũng sử dụng trong phần tŕnh bày về các số liệu chi tiêu của nhà nước Phần Lan tại mục 6.4. Khung này đă bỏ qua nghề thủ công, phát thanh truyền h́nh của nhà nước vốn nhận nguồn tài chính từ phí cấp phép, quảng cáo, và du lịch văn hoá, cũng được đưa vào trong khái niệm rộng. Khái niệm rộng c̣n bao gồm các lĩnh vực này và cái gọi là chi tiêu thuế, các ước tính bằng tiền về khoản giảm thuế cho văn hoá và nghệ thuật.
3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá
Sự khẳng định bản sắc dân tộc đă trở thành nền tảng cho chính sách văn hoá của Phần Lan. Thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật đă trở thành mục tiêu thứ hai của chính sách văn hoá Phần Lan. Điều này từ trước đến nay được phản ánh trong các nỗ lực của nhà nước nhằm chăm lo cho các nghệ sĩ, và nâng cao vị thế kinh tế của họ thông qua các hệ thống tài trợ nghệ thuật và chính sách hưu trí. Trong những năm gần đây, theo xu hướng quốc tế, Chính phủ Phần Lan đă bắt đầu nhấn mạnh đến sáng tạo, đổi mới và đóng góp của nghệ sĩ đối với sự tăng trưởng kinh tế. Do đó, Chính phủ liên minh hiện nay (gồm các Đảng Dân chủ-Xă hội, Đảng Trung dung, Đảng Thụy Điển) đă cam kết trong chương tŕnh hành động của ḿnh (2003) về soạn thảo một chiến lược sáng tạo cho Phần Lan. Việc soạn thảo chiến lược được dự kiến bắt đầu thực hiện từ Mùa Xuân 2004.
Thứ ba, việc chia sẻ trách nhiệm của nhà nước và các thành phố, cung cấp tài chính, và duy tŕ hệ thống toàn diện cấp vùng các dịch vụ văn hoá cho thấy nỗ lực muốn mở rộng sự tham gia vào đời sống văn hoá. Việc đưa phương pháp chính sách nghệ thuật của trung ương và việc sử dụng ư kiến chuyên gia và việc các thành phố có vai tṛ chủ đạo trong việc cung cấp các dịch vụ này là những dấu hiệu của sự phi tập trung – cả theo chiều dọc và chiều ngang. Tất nhiên, phi tập trung đến mức nào để dân chủ hoá việc ban hành chính sách văn hoá lại là chuyện khác.
Bảo vệ các dân tộc thiểu số bao gồm những người nói tiếng Thuỵ Điển, Người Sami và Người Roma là dấu hiệu của mong muốn về đa dạng văn hoá. Các quyết định cho người ngoại kiều có các quyền chính trị, kinh tế và xă hội giống như các công dân Phần Lan một mặt phản ánh chính sách b́nh đẳng, và mặt khác sẽ nâng cao sự đa dạng văn hoá. Những nguyên tắc trừu tượng hơn, thúc đẩy nhân quyền và quyền văn hoá, được phản ánh trọng tinh thần mới của Hiến pháp Phần Lan và việc phê chuẩn các công ước, hiệp định quốc tế liên quan, có thể xem là cơ sở đạo đức cho những nỗ lực pháp lí này.
Các mục tiêu trên cho thấy một danh sách khá toàn diện về các mục tiêu truyền thống, ngoài ra c̣n có những mục tiêu chung có tính mới hơn. Các mục tiêu này cũng phù hợp với điều đă được tiêu chuẩn hoá trong chương tŕnh của Hội đồng châu Âu về xem xét chính sách văn hoá quốc gia. Mặt khác, ư kiến cho rằng văn hoá và nghệ thuật phải phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu và việc làm và phải đóng vai tṛ yếu tố tích cực trong sự phát triển vùng ngày càng trở nên phổ biến tại Phần Lan.
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
4.1 Những vấn đề chính sách quan trọng và những ưu tiên
Các mục tiêu chính sách văn hoá đă được xác định chi tiết hơn vào năm 1999:
- Xác định rơ hơn vai tṛ và nhiệm vụ của hệ thống các hội đồng nghệ thuật;
- Chuẩn bị chương tŕnh chính sách mới cho nghệ thuật và các nghệ sĩ;
- Cải thiện việc hỗ trợ cho ngành phim trong nước;
- Nâng cao hỗ trợ cho các nhóm kịch độc lập;
- Thúc đẩy đa dạng văn hoá;
- Tăng cường vai tṛ của việc ban hành chính sách trong sự phát triển nói chung;
Các mục tiêu c̣n bao gồm:
- Yêu cầu duy tŕ Phần Lan trên mặt trận phát triển ICT và làm cho nó “… trở thành người tiên phong trong việc thực hiện xă hội thông tin nhân văn và ổn định”;
- Yêu cầu nâng cao sự gắn kết xă hội bằng cách giảm những bất b́nh đẳng về kinh tế và xă hội, hạn chế các tác động tiêu cực của toàn cầu hoá.
Trong số các mục tiêu này, hai mục tiêu đầu tiên đă bắt đầu được tiến hành từ năm 2000 và Chính phủ trước đây đă có một chương tŕnh chính sách mới về nghệ thuật và các nghệ sĩ, chính sách này được đưa ra năm 2002. Trọng tâm của chương tŕnh này là thúc đẩy sáng tạo như là một phần không thể thiếu của xă hội phúc lợi mới. Cùng lúc đó, một số công việc của kế hoạch 2000 nhằm nâng cao vị trí kinh tế và xă hội của các nghệ sĩ đă được thực hiện, và các công việc nhằm hướng đến thực hiện một loạt các kế hoạch chính sách trước đó cũng đă được khởi xướng. Công việc này bao gồm các kế hoạch nhằm phát triển các lĩnh vực như kiến trúc, thiết kế, ngành kinh doanh sách, múa rối, và truyện tranh. Bộ Giáo dục và Văn hoá hiện đang soạn thảo một kế hoạch toàn diện hơn về chính sách sáng tạo và cũng bắt đầu đánh giá về mặt quốc tế hệ thống các hội đồng nghệ thuật.
Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu và kế hoạch này lại bị cản trở bởi các chính sách tài chính nghiêm ngặt của chính phủ trước đó. Hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật và văn hoá bị đ́nh trệ và phụ thuộc vào lợi nhuận của lô tô, sổ xố và cá độ thể thao, mà nguồn tài chính này lại không ổn định để đảm bảo thực hiện các chương tŕnh mới và thực hiện cải tổ. Luật mới về sổ xố và cá độ thể thao đă có hiệu lực từ năm 2002 và vẫn giữ ba lĩnh vực thuộc độc quyền của ba công ty: lô tô và cá độ thể thao (Công ty Veikkaus Ltd), máy giật xèng và ṣng bạc (Công ty Slot Machine Association), tổ chức đua ngựa, (Công ty Fintoto).
Trong giai đoạn 1996-2000 công ty Veikkaus gặp khó khăn về lợi nhuận nên không cấp đủ nguồn tài chính cho ngân sách trung ương như dự tính, nhưng một loại tṛ chơi mới (Keno) được ra đời đă làm cho lợi nhuận của công ty này tăng lên. Luật mới về việc sử dụng lợi nhuận của Veikkaus quy định rằng phải tăng nguồn ngân sách thường xuyên để hỗ trợ cho nghệ thuật và văn hoá, nhưng vào thời điểm này, tỉ lệ tài chính dành cho văn hoá và nghệ thuật sẽ được giảm xuống. Điều này có nghĩa là sẽ không có hi vọng nào về việc Chính phủ sẽ tăng nguồn tài chính trong vài năm tới.
Người ta ngày càng quan tâm đến việc xem vấn đề văn hoá như là một vấn đề sinh động của sự phát triển. Mục tiêu trừu tượng này, ở một mức độ nào đó, đă được bảo đảm chắc chắn hơn trong các dự án nhận tài trợ từ các Quỹ Cơ cấu của EU, và vai tṛ của văn hoá trong các dự án phát triển của vùng ngày càng được chú trọng. Các số liệu thống kê của EU chỉ ra rằng về khía cạnh hỗ trợ tài chính cho văn hoá Phần Lan thuộc nhóm nước đứng hàng đầu, nhưng xét về mặt chi tiêu theo b́nh quân đầu người th́ nước này lại kém hơn các nước như Vương Quốc Anh, Ireland, Hy lạp.
4.2 Những vấn đề chính sách và các tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Vào giữa những năm 1990, các quy định về nhân quyền trong hiến pháp đă được sửa đổi nhằm mở rộng các quyền đó cho tất cả những người sống tại Phần Lan, và những sửa đổi này đă được ghi nhận trong hiến pháp mới. Thúc đẩy sự đa dạng chủ yếu được phản ánh trong một quá tŕnh cải tổ liên tục nhằm nâng cao vị trí của các dân tộc thiểu số (người Sami, Roma). Tăng các quyền của người nhập cư và tị nạn là vấn đề nằm trong chương tŕnh hoạt động của Chính phủ 5 năm qua, nhưng hầu hết các tiến bộ chủ yếu có được trong các biện pháp nhằm giúp các cộng đồng này hội nhập về mặt kinh tế và xă hội vào xă hội Phần Lan. Tuy nhiên hiện tượng nhập cư lại được kiểm soát nghiêm ngặt hơn, nhưng các quyền văn hoá được ghi nhận trong hiến pháp mới chỉ được thực hiện một vài biện pháp nhất định. Từ năm 1995 một thư viện đa ngữ đă được thành lập và phụ thuộc vào Thư viện Thành phố Helsinki. Bộ giáo dục và Văn hoá chỉ dành một lượng nhỏ ngân sách để hỗ trợ cho văn hoá của người thiểu số và chống lại sự phân biệt chủng tộc, hỗ trợ các dự án, sự kiện đa văn hoá và hỗ trợ những nghệ sĩ nhập cư.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Vấn đề b́nh đẳng giới chưa bao giờ được tuyên bố rơ ràng là một mục tiêu trong chính sách văn hoá của Phần Lan. Do đó diễn biến của nó phải được xem xét như là một phần của sự phát triển chung về sự hiện diện của giới và các nỗ lực pháp lí, hành chính nhằm làm cho sự hiện diện về giới trở nên b́nh đẳng hơn trong mọi lĩnh vực xă hội.
Chính sách về giới của Phần Lan, từ những năm 1970, đă đi theo mô h́nh “thuyết nam nữ b́nh quyền” của các nước Bắc Âu, trong đó các biện pháp chính được sử dụng là những biện pháp pháp lí, định lượng công chức và hành động tích cực, bao gồm các quy định về b́nh đẳng và hạn mức về sự hiện diện và việc làm của phụ nữ trên thị trường lao động. Kể từ Hội nghị Bắc Kinh (Hội nghị Thế giới lần thứ 4 về Phụ nữ), chính sách của Chính phủ đă được thay đổi theo xu hướng chủ đạo (quan điểm cho rằng cần có sự chia sẻ b́nh đẳng giữa nam và nữ) và phù hợp với các xu hướng trong các văn kiện của EU liên quan đến vấn đề b́nh đẳng giới bao gồm sự hiện diện, việc làm, phát triển nghề nghiệp và lương bổng. Cách tiếp cận mới này đă được thể hiện trong Luật B́nh đẳng năm 1995 và trong Chương tŕnh của Chính phủ năm 1997 về B́nh đẳng (tiêu đều phụ “Từ Bắc Kinh đến Phần Lan”).
Năm 1995 Chính phủ tŕnh dự luật lên Nghị viện Phần Lan nhằm sửa đổi Luật B́nh đẳng Giữa Nam giới và Nữ giới năm 1986. Dự luật này cho rằng “… trong nhiều khía cạnh các mục tiêu (của luật cũ) đă không đạt được. Cho dù có những thay đổi về pháp luật, vị trí của phụ nữ vẫn bị lép vế một cách rơ ràng so với nam giới trong đời sống lao động, trong gia đ́nh và trong cơ chế ban hành quyết định của xă hội. Đặc biệt trong lao động, các mục tiêu b́nh đẳng chưa hề đạt được. Luật mới nhằm vào việc đánh giá lại các vấn đề này và giải quyết chúng”
Mặc dù có những lập luận như thế, hệ quả thực tế của Luật B́nh đẳng mới lại là sự tập trung hoá trách nhiệm quản lí b́nh đẳng giới (Văn pḥng Giám sát B́nh đẳng) và thực thi các hạn mức yêu cầu về sự hiện diện b́nh đẳng giữa nam và nữ (tối thiểu 40% cho cả nam và nữ) trong các cơ quan hành pháp và chuyên môn ở trung ương và thành phố. Cải tổ gần đây đă thay đổi “hệ thống quản lư” trong văn hoá và nghệ thuật, bởi v́ hội đồng nghệ thuật và các hội đồng thành phố chịu trách nhiệm về vấn đề văn hoá phải tuân thủ những quy định này.
Việc xem xét sửa đổi Luật B́nh đẳng đă được chuẩn bị hơn một năm và dự thảo về vấn đề này đang được tranh luận gay gắt. B́nh đẳng về trả lương và những cách thức điều chỉnh sự khác biệt về giới trong việc trả tiền công là những nội dung tranh căi chính. Cùng thời điểm đó, việc điều chỉnh các ảnh hưởng về giới trong ban hành luật, các chương tŕnh chính sách quan trọng và trong quá tŕnh thực thi luật và các chương tŕnh ngày càng đạt nhiều kết quả khích lệ ở cấp chính quyền trung ương và thành phố. Yêu cầu phải ban hành và thể chế hoá các đánh giá ảnh hưởng về mặt giới là một trong các mục tiêu chính sách của chính phủ hiện nay.
4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách

Thông thường người Phần Lan nói tiếng Thuỵ Điển được xem là người thiểu số, mặc dù tư tưởng cơ bản trong xây dựng đất nước là Phần Lan có hai nền văn hoá song hành, một nền văn hoá dựa trên ngôn ngữ Thụy Điển và nền văn hoá kia dựa trên ngôn ngữ Phần Lan.
Quyền của cộng đồng nói tiếng Thuỵ Điển được bảo đảm trong Hiến pháp sửa đổi (1999) và sau đó được quy định trong Luật Ngôn ngữ, luật này cùng với các luật khác đă quy định sự b́nh đẳng (trước cơ quan hành chính và tư pháp) trong sử dụng tiếng bản ngữ và quyền giáo dục, và làm việc cho nhà nước.
Có một vấn đề mang tính “bắt buộc” đó là giảng dạy tiếng Thuỵ Điển như là ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục tiểu học và cấp hai. Luật ngôn ngữ và Luật Ngôn ngữ Sami – quy định quyền sử dụng tiếng Sami như là ngôn ngữ chính thức tại các khu vực người Sami sinh sống - đă được sửa đổi năm 2003 và ban hành năm 2004. Sami là nền văn hoá bản địa duy nhất được thừa nhận tại Phần Lan.
Bên cạnh người Sami, Hiến pháp dành một vị trí đặc biệt cho người La mă và với những người sử dụng ngôn ngữ kí kiệu, và bảo đảm ba cộng đồng này quyền được “ duy tŕ và phát triển ngôn ngữ và văn hoá của riêng họ”. Quyền của những cộng đồng thiểu số này cũng được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước khung châu Âu về Bảo vệ các dân tộc thiểu số và Hiến chương châu Âu về bảo vệ ngôn ngữ các vùng và ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

Mặc dù lĩnh vực truyền thông (cũng như lĩnh vực viễn thông) đă được tự do hoá ở Phần Lan với mức độ giống như các quốc gia thành viên EU khác, các công ty phát tranh truyền h́nh nhà nước (YLE, Công ty Phát thanh Truyền h́nh Phần Lan, FBC) vẫn duy tŕ được vị trí của ḿnh như là thành luỹ của “dịch vụ công”.
Các cải cách về tổ chức đối với cả các kênh phát thanh và truyền h́nh đă nhằm vào phân công lao động tốt hơn, tạo điều kiện cho sản xuất và truyền bá các chương tŕnh văn hoá có chất lượng cao. Cải tổ về tổ chức cũng nhằm chuyển đổi việc phát thanh radio và truyền h́nh sang công nghệ kĩ thuật số; những cải cánh này sẽ ưu tiên việc sử dụng hiệu quả những tài sản văn hoá và nghệ thuật lưu trữ đă lâu của FBC và ưu tiên vào cung cấp các chương tŕnh văn hoá mới. Việc thêm vào lịch phát sóng các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh của YLE cũng là kết quả của việc cải tổ này.
Ngoài ra, sự tập trung ngành truyền thông dường như vẫn c̣n tiếp tục. Công ty truyền thông lớn nhất Phần Lan, SanomaWSOY, thông qua sự tham gia thị trường quốc tế, đă tăng doanh thu của ḿnh lên 2.4 triệu euro. Rất khó để dự đoán diễn biến này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nội dung (nội dung trong các chương tŕnh) và sự đa đạng.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Các ngành kinh doanh văn hoá ở Phần Lan hiện đang tồn tại một xu hướng quốc tế hoá, cả theo nghĩa các công ty nước ngoài mua lại các công ty Phần Lan cũng như các công ty Phần Lan nắm quyền sở hữu đối với các công ty nước ngoài. Diễn biến này liên quan đến sự cạnh tranh giữa các công ty truyền thông lớn của các nước Bắc Âu và việc mở rộng ra vùng biển Baltic cũng là mục tiêu của các công ty này. Năm 2001, “gă khổng lồ truyền thông” của Phần Lan, SanomaWSOY đă mua lại VNU, một hăng xuất bản báo của Hà lan, sự kiện này và “những vụ thâu tóm khác” đă làm cho doanh thu của hăng này lên đến 2.4 tỉ euro; hiện tại, hai “gă khổng lồ” Bắc Âu khác là, Norwegian Schibsted (của Na Uy) và Swedish Bonnier (của Thuỵ Điển) đang cạnh tranh lẫn nhau để có được quyền sở hữu đối với tập đoàn truyền thông lớn thứ hai của Phần Lan, Alma Media.
Trong ngành kinh doanh văn hoá, có hai chủ đề lớn thường được tranh luận ở cấp quốc gia là hỗ trợ tài chính cho sản xuất phim trong nước và việc áp dụng công nghệ truyền h́nh số của Công ty phát thanh truyền h́nh Phần Lan (YLE/FBC). Vấn đề hỗ trợ tài chính tập trung vào: yêu cầu tăng hỗ trợ cho sản xuất phim trong nước, v́ trong những năm gần đây phim trong nước ngày càng được khán giả trong nước ưa chuộng và cũng đă được quốc tế biết đến nhiều hơn (đặc biệt là qua sự thành công của các “bộ phim nghệ thuật” của Aki Kaurismaki).
Công ty Phát thanh truyền h́nh Phần Lan (FBC) đă đưa ra hạn chót cho việc chuyển sang phát sóng truyền h́nh Kĩ thuật số, tuy nhiên tính khả thi về mặt kinh tế và sự thành công về mặt khán giả vấn là điều c̣n nghi ngờ và nhận được nhiều chỉ trích. Việc số hoá toàn bộ dịch vụ phát thanh truyền h́nh cũng như sự phát triển của các chương tŕnh tương tác có vẻ như thành công về mặt tài chính bằng việc bán cổ phần của DIGITA (công ti chịu trách nhiệm về các trạm và mạng lưới phát sóng trên mặt đất của FBC) cho công ty TDF của Pháp. DIGITA vẫn tiếp tục cung cấp các trạm và các mạng lưới cho FBC, và cũng sẽ chịu trách nhiệm về việc số hoá các mạng lưới và đưa ra các giải pháp kĩ thuật cho các dịch vụ kĩ thuật số có tính tương tác.
Trong lĩnh vực phim truyện và các sản phẩm nghe nh́n khác, không có một thoả thuận đối tác chính thức nào giữa các bên cung cấp tài chính của nhà nước và tư nhân. Các nhà cung cấp tài chính quan trọng đă đạt được thoả thuận về mức độ hỗ trợ cho mỗi trường hợp riêng biệt. Các nhà cung cấp tài chính quan trọng bao gồm Viện Phim Phần Lan, các công ty phát thanh truyền h́nh và AVEK. AVEK là Trung tâm xúc tiến văn hoá nghe nh́n Phần Lan, thuộc Kopiosto, tổ chức thu phí bản quyền. Hỗ trợ tài chính có thể thực hiện dựa trên thoả thuận song phương hoặc thoả thuận ba bên. Quỹ Phim và Truyền h́nh Bắc Âu và chương tŕnh Media Plus của EU cũng cung cấp tài chính bổ xung và khuyến khích nhà nước và tư nhân hợp tác trong việc hỗ trợ tài chính.
Hỗ trợ của nhà nước cho các lĩnh vực khác của ngành kinh doanh văn hoá rất hạn chế, đặc biệt là cho xuất bản sách và ghi âm. Mặt khác, các tác giả và dịch giả, nhạc sĩ, người biểu diễn và nhà sản xuất âm nhạc nhận được tiền bản qu