|
|
1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Chính sách văn hoá quốc gia của Phần Lan từ giữa thế kỉ 19 đến cuối thể kỉ 20 có thể chia ra 3 giai đoạn như sau:
* Giai đoạn nhà nước bảo hộ (patron state), từ những năm 1860 đến 1960;
* Sự ra đời của nhà nước phúc lợi cùng với những mục tiêu chính sách văn hoá rơ ràng, từ những năm 1960 đến những năm 1980;
* Giai đoạn sau nhà nước phúc lợi, từ cuối những năm 1990.
Ba yếu tố lịch sử đă thúc đẩy h́nh thành những diễn biến này:
* Phong trào dân sự, mặc dù có sự khác biệt về ngôn ngữ và tư tưởng, đă góp phần vào sự phát triển của một nền văn hóa Phần Lan đồng nhất;
* Sự quan tâm của nhà nước mới thành lập đối với việc thúc đẩy bản sắc văn hoá Phần Lan được phản ánh trong chính sách văn hoá của chính quyền trung ương nhằm phát triển nghệ thuật và các nghệ sĩ;
* Cam kết của các thành phố (vốn là những đơn vị cơ bản của chính quyền địa phương ở Phần Lan) về việc cung cấp các dịch vụ văn hoá cho công dân của ḿnh và thúc đẩy họ quan tâm hơn đến nghệ thuật và tham gia vào các hoạt động nghệ thuật không chuyên;
* Các ngành kinh doanh văn hoá, cho dù làm ăn kém hiệu quả cũng đă góp phần duy tŕ hoạt động sản xuất các sản phẩm văn hoá có giá trị.
Cơ sở của nền văn hoá quốc gia Phần Lan là sự bảo trợ cho sự phát triển đời sống văn hoá và nghệ thuật Phần Lan với hai ngôn ngữ song song tồn tại. Chúng được đặt ra và thể chế hoá dưới chế độ Sa Hoàng Nga (1809-1917), bên cạnh “chính phủ quốc gia” và Thượng viện của Công Quốc Phần Lan tự trị. Sau khi giành độc lập nhà nước mới đă tiếp quản vai tṛ bảo trợ và tiếp tục xây dựng bản sắc dân tộc và thống nhất đất nước trên cơ sở các di sản văn hoá đă h́nh thành từ thời nước Nga cai trị, và một phần là sự cai trị trước đó của Thuỵ Điển trong 7 thế kỉ. Trong thập kỉ đầu tiên của nền độc lập, với một cuộc nội chiến và hai cuộc chiến tranh với Liên Xô đă diễn ra, độc lập dân tộc và bản sắc dân tộc trở thành mục tiêu hàng đầu của sự bảo trợ nhà nước và của các chính sách văn hoá nghệ thuật quốc gia. Các mục tiêu khác, như thúc đẩy sáng tạo, tăng cường sự tham gia và phát triển dân chủ trong văn hoá đă bước đầu xây dựng được nền tảng trong những năm 1960, và dần thống nhất với các mục tiêu kinh tế xă hội khác khi tư tưởng nhà nước phúc lợi được h́nh thành toàn diện hơn và được áp dụng vào những năm 1970.
Hỗ trợ của nhà nước cho nghệ thuật và văn hoá đă vượt quá sự bảo trợ thuần tuư ngay cả trước khi đạt đến nhà nước phúc lợi xă hội. Các thành phố dần dần tiếp quản nhiệm vụ giáo dục cho người lớn và duy tŕ các thư viện công vốn trước đây do các tổ chức dân sự thực hiện, và nhà nước (Chính phủ trung ương) bắt đầu trợ cấp cho các thành phố một cách thường xuyên. Vai tṛ của nhà nước trong việc hỗ trợ các tổ chức này đă được ghi nhận trong những năm 1920 và trong quá tŕnh này trách nhiệm cùng hỗ trợ tài chính (của nhà nước và thành phố) trở thành một trong những nền tảng cho chính sách văn hoá Phần Lan hiện đại.
Cơ sở tài chính rộng răi hơn cho việc hỗ trợ các tổ chức văn hoá nghệ thuật và các dịch vụ văn hoá được ghi nhận trong luật vào các những năm 1960 và 1970. Việc trợ cấp cho các nghệ sĩ được quy định trong luật vào những năm 1960, hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động văn hoá của thành phố được bắt đầu thực hiện từ đầu những năm 1980.
Mặc dù một số tổ chức của nhà nước (đặc biệt là Nhà hát Opera Quốc gia và Nhà hát kịch) vẫn giữ quy chế pháp lư tư nhân, quá tŕnh quốc hữu hoá các tổ chức văn hoá và nghệ thuật được thúc đẩy vào những năm 1970 và tiếp tục diễn ra cho đến những năm 1990. Các tổ chức giáo dục đại học về nghệ thuật và Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia trở thành đối tượng được hưởng phân bổ từ hệ thống ngân sách nhà nước và các tổ chức giáo dục được hưởng quy chế đại học Quốc gia. Quá tŕnh chuyển quyền quản lí sang cho thành phố các bảo tàng tàng địa phương, nhà hát, giàn giao hưởng cũng diễn ra song song.
Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, nguồn tài chính của các tổ chức này được tổ chức thành một hệ thống phụ trong phạm vi hệ thống trợ cấp của nhà nước trung ương cho các thành phố. Bên cạnh luật mới về hỗ trợ tài chính, điều này (hệ thống phụ) cũng được ngầm hiểu là luật về bảo tàng, nhà hát kịch và giàn giao hưởng. Chỉ có rất ít các tổ chức nghề nghiệp về văn hóa và nghệ thuật (trong đó có Nhà hát kịch Quốc gia và Nhà hát Opera Quốc gia) vẫn phải nhận hỗ trợ tài chính theo cơ chế tuỳ nghi hàng năm (không ổn định). Các tổ chức được “nhà nước hoá”, như Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia và các trường đại học nghệ thuật, được phân bổ nguồn tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước.
Những miêu tả khái quát ở trên cho thấy rằng, về phương diện lịch sử, các thiết chế quan trọng của chính sách văn hoá Phần Lan là:
* Hỗ trợ trực tiếp cho nghệ thuật, nghệ sĩ và sáng tạo nghệ thuật, bao gồm giáo dục nghệ thuật và đào tạo nghề nghiệp cho nghệ sĩ (giáo dục ngoại khoá về âm nhạc, giáo dục nghệ thuật và giáo dục nghề nghiệp trong các trường/ chương tŕnh nghệ thuật, các trường bách khoa và trường đại học về nghệ thuật);
* Sở hữu của nhà nước và việc cùng hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá và nghệ thuật của chính quyền Trung ương và các thành phố, bao gồm cả việc sở hữu và điều hành hoạt động của các công ty phát thanh truyền h́nh nhà nước;
* Hỗ trợ cho ngành kinh doanh văn hoá không được chú trọng lắm;
* Thúc đẩy hợp tác văn hoá quốc tế, chủ yếu là thực hiện theo tinh thần ngoại giao.
Cuối những năm 1990 và những năm đầu tiên của thế kỉ 21 đă diễn ra thay đổi xă hội Phần Lan và sự trung thành của nó đối với nền tảng của nhà nước phúc lợi. Những thay đổi lại được thúc đẩy thêm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng vào giai đoạn 1991-1993.
Những thay đổi từ giữa những năm 1990 đă mở ra mô h́nh quản lí mới với hạn chế về định hướng thị trường tự do, trong khuôn khổ hội nhập châu Âu, mở rộng liên minh châu Âu và xă hội thông tin toàn cầu, và trị trường toàn cầu về hàng hoá và dịch vụ văn hoá. Những thay đổi diễn ra trong những năm 1990 và đầu thiên niên kỉ mới đă phần nào làm giảm vai tṛ của Trung ương, các thành phố và giảm sự hỗ trợ trực tiếp của nhà nước đối với hoạt động sáng tạo, cũng như giảm vai tṛ của nhà nước với tư cách là nơi cung cấp các dịch vụ văn hoá và tạo ra các sản phẩm văn hoá. Cùng lúc đó, vai tṛ của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp đầu tư cơ bản cho các công tŕnh cơ sở hạ tầng cho văn hoá, và đào tạo chuyên môn cho lực lượng hoạt động sáng tạo (nghệ sĩ, người làm việc trong các ngành dịch vụ văn hoá và các lĩnh vực liên quan đến truyền thông mới) đă trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Việc trở thành thành viên của Liên minh châu Âu, và các chính sách của liên minh châu Âu, đặc biệt là các chương tŕnh được hỗ trợ tài chính trong khuôn khổ các Quỹ Cơ cấu, đă liên kết chặt chẽ hơn các chính sách của nhà nước với các chính sách gắn kết xă hội và phát triển đô thị và các vùng.
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lư
2.1 Mô tả chung về hệ thống

Phần Lan – như các nước Bắc Âu khác – là một nước vừa mang tính tập trung lại mang tính phi tập trung. Đặc điểm này là do chính quyền địa phương có vai tṛ lớn và có sự độc lập về mặt nguyên tắc, xuất phát từ các quy định trong hiến pháp và luật, quyền đánh thuế thu nhập của các thành phố. Mặt khác, với sự ra đời của nhà nước phúc lợi, gánh nặng của việc thực hiện hệ thống dịch vụ công được đặt lên vai các thành phố; nhà nước trung ương đề ra khung pháp lư san đều chi tiêu giữa những thành phố giàu có và những thành phố nghèo hơn thông qua việc chuyển giao tài chính.
Vào cuối những năm 1980 và 1990, hệ thống này, trước đó chỉ bảo trợ cho các thư viện công và việc giáo dục cho người lớn, đă được mở rộng phạm vi ra đối với bảo tàng, nhà hát, giàn giao hưởng, và giáo dục cơ bản về nghệ thuật.
Từ sự thay đổi này, nhà nước đă đảm nhận việc hỗ trợ cho nghệ thuật và các tổ chức văn hoá nghệ thuật quốc gia, giáo dục nghệ thuật và văn hoá ở bậc đại học, hợp tác văn hoá quốc tế; nhà nước chia sẻ trách nhiệm tài chính với các thành phố để duy tŕ hệ thống dịch vụ quốc gia. Các thành phố, bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ – và hỗ trợ tài chính cho khoảng 2/3 các dịch vụ này – c̣n phải duy tŕ cơ sở hạ tầng, cung cấp tài chính, thực hiện hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá và nghệ thuật ở địa phương. Do đó nhà nước Trung ương và các thành phố có vai tṛ ngang bằng nhau trong việc ban hành và thực hiện các chính sách văn hoá; tuy nhiên vai tṛ của nhà nước thể hiện rơ ràng hơn trong việc định hướng.
Không có một cơ quan quản lí độc lập nào của vùng, mặc dù việc trở thành thành viên của EU đă thúc đẩy vai tṛ của các hội đồng vùng, (các hội đồng vùng vốn là liên minh của các thành phố).
Nghị viện là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng về ngân sách và pháp luật; các chính sách tổng thể th́ được lên kế hoạch và thực hiện cùng với Chính phủ (Hội đồng nhà nước), sáng kiến chính sách theo ngành lĩnh vực th́ được lên kế hoạch và thực hiện cùng với các bộ và bộ trưởng.
Việc cân bằng những quyền lực này của chính quyền trung ương có thể t́m thấy ngay trong hệ thống các chính quyền địa phương tự trị (các thành phố). Cấp vùng một mặt được quản lí bởi các cơ quan vùng của chính quyền trung ương (văn pḥng vùng, văn pḥng địa hạt theo linh vực, hoặc các trung tâm phát triển ngành (theo lĩnh vực), mặt khác bởi các cơ quan hợp tác giữa các thành phố. Cơ quan hợp tác thành phố – các hội đồng vùng – có trách nhiệm chính trong việc điều phối lập kế hoạch phát triển vùng.
Ở Nghị viện, việc chuẩn bị các dự luật và dự thảo ngân sách chủ yếu được thực hiện tại các uỷ ban của nghị viện. Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Nghị viện có trách nhiệm về các vấn đề chính sách văn hoá, nhưng Uỷ ban Tài chính lại có khả năng đề xuất những hạn chế đối với toàn bộ việc phân bổ ngân sách.
Sau khi Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu, Uỷ ban Tổng hợp ngày càng trở nên quan trọng trong việc xử lư các mối quan hệ giữa Phần Lan với các chính sách và luật lệ của Liên minh châu Âu. Do đó, Uỷ ban này xem xét các giải tŕnh của các bộ trưởng trước và sau các cuộc họp của Hội đồng và Liên minh châu Âu. Điều này có nghĩa là các bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng Văn hoá, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nghị viện.
Sau khi được thành lập, Chính phủ mới có nghĩa vụ tŕnh lên Nghị viện chương tŕnh hoạt động của ḿnh để thảo luận tại nghị viện. Chương tŕnh này đề ra các tiến tŕnh hoạt động của Chính phủ, và chương tŕnh này thường kèm theo các dự án và / hoặc các kế hoạch chiến lược được đề ra và thực hiện. Các dự án và kế hoạch này đề ra - một cách rơ ràng hoặc ngầm định (thông qua các phương án chính sách toàn diện hơn) – các mục tiêu của chính sách văn hoá.
Chính phủ không có các uỷ ban thường trực hoặc cơ quan chuyên môn để đưa ra các đề xuất về văn hoá. Chính phủ có thể thành lập một nhóm hoạt động đặc biệt để quản lí và chuẩn bị cho các quyết định trong các lĩnh vực chính sách quan trọng.
Ở cấp độ ngành theo lĩnh vực, trách nhiệm lập kế hoạch và thực hiện thuộc về Bộ Giáo dục và Văn hoá, theo tiếng Phần Lan là Opetusministerio (theo đúng nguyên văn là Bộ Giảng dạy). Bộ Giáo dục và Văn hoá có hai vị bộ trưởng, Bộ trưởng Giáo dục và Khoa học, và Bộ trưởng Văn hoá, thanh niên và thể thao. Vụ Chính sách Văn hoá thể thao và thanh niên được chia thành các ban là Ban Nghệ thuật và di sản, Ban Văn hoá và truyền thông, Ban Pháp luật và tài chính, Ban Thể thao và Ban Thanh niên.
Bộ Văn hoá Giáo dục, các Vụ, và các Ban có các nhiệm vụ lên kế hoạch chiến lược và quản lí, hướng dẫn thông qua việc cung cấp thông tin và kí kết các thoả thuận thực thi. Do đó, việc thực hiện chính sách trong quản lí văn hoá và nghệ thuật được giao phó cho những “cơ quan tối cao nhất”, những cơ quan đặc biệt và những tổ chức tương đương tổ chức Chính phủ. Trong thực hiện chính sách văn hoá, có một số tổ chức quan trọng sau đây:
* Hệ thống các hội đồng nghệ thuật (Hội đồng nghệ thuật Phần Lan và các tiểu hội đồng về điện ảnh, văn học, nghệ thuật thị giác, kịch, thiết kế, kiến trúc, nhiếp ảnh, âm nhạc, và múa), chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách đối với nghệ thuật và nghệ sĩ, và tạo cơ chế đánh giá để quyết định trợ cấp cho các nghệ sĩ và hỗ trợ cho các dự án do các nghệ sĩ thực hiện;
* Uỷ ban Quốc gia về cổ học, bên cạnh chức năng kiến trúc, c̣n là cơ quan chuyên môn của Chính phủ đối với toàn bộ lĩnh vực di sản và hoạt động chuyên môn về bảo tàng;
* Hiệp hội phim Phần Lan phân bổ nguồn hỗ trợ của nhà nước cho việc sản xuất phim và phân phối phim.
Hơn nữa chức năng thực hiện các chính sách cụ thể và những công việc có tính chuyên môn được thực hiện bởi các cơ quan như Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia, Cục lưu trữ phim Phần Lan, Uỷ ban phân loại phim, Thư viện cho người khiếm thị, và Ban quản lí pháo đài Suomenlinna (Pháo đài này đă được công nhận là Di sản Thế giới). Công ty Viekkaus, là công ty duy nhất của nhà nước được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực sổ xố, cá cược bóng đá và các hoạt động thể thao khác. Lợi nhuận của công ty này được dùng để hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật, văn hoá, khoa học, các chính sách đối với thanh niên và thể thao. Việc hỗ trợ được thực hiện thông qua ngân sách Chính phủ.
Trong số các bộ th́ những bộ sau đây có ảnh hưởng quan trọng đến việc lập kế hoạch và thực hiện chính sách văn hoá:

* Bộ Tài chính, cũng như các nước dân chủ phương Tây, có vai tṛ hướng dẫn và kiểm soát đối với các quá tŕnh ngân sách và lập kế hoạch kinh tế của tất cả các bộ;
* Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về vấn đề phát triển vùng và có vai tṛ trung tâm trong việc tổ chức và điều phối các chương tŕnh phát triển vùng và việc hỗ trợ tài chính cho các vấn đề do Liên minh châu Âu khởi xướng.
* Bộ Giao thông và Truyền thông có vai tṛ quan trọng trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động về viễn thông, phát thanh và truyền h́nh;
* Bộ Công nghiệp và Thương mại thực hiện hỗ trợ đối với R&D nghiên cứu và phát triển nói chung và cũng hỗ trợ cho các ngành kinh doanh văn hoá và truyền thông và ICT.
Các chính quyền địa phương ở Phần Lan có quyền tự trị, theo đó các thành phố có quyền đánh thuế (bao gồm cả thuế thu nhập). Chính quyền trung ương có vai tṛ cân đối sự không đồng đều trong việc cung cấp các dịch vụ công và phát triển cơ sở hạ tầng thông qua việc chuyển giao tài chính, hiện nay chủ yếu thực hiện thông qua trợ cấp bắt buộc. Hầu hết khoản tiền hỗ trợ cho văn hoá và nghệ thuật được thực hiện thông qua hệ thống trợ cấp bắt buộc này.
Việc ban hành các chính sách văn hoá ở cấp thành phố chủ yếu thuộc thẩm quyền của Hội đồng Thành phố (một cơ quan được thành lập do bầu cử), Ban Điều hành (phản ánh sự chia rẽ và liên minh các đảng phái trong Hội đồng), các uỷ ban chuyên môn theo ngành lĩnh vực và đội ngũ, đứng đầu là Thị trưởng. Về các uỷ ban chuyên môn và cơ quan quản lí theo chuyên môn, xu hướng những năm 1980 là kết hợp các vấn đề liên quan đến văn hoá (kịch, âm nhạc, nghệ thuật không chuyên,v.v..) vào thẩm quyền quản lí của một uỷ ban, đó là uỷ ban văn hoá. Nhưng đến những năm 1990, xu hướng đó lại bị đảo ngược, các vấn đề văn hoá lại được phân phối vào thẩm quyền của các uỷ ban đa lĩnh vực với thẩm quyền lớn hơn (ví dụ như uỷ ban du lịch, giải trí v.v..).
Ở cấp quản lí vùng không có một cơ quan độc lập nào được thành lập do bầu cử. Văn pḥng đặt tại vùng là những cơ quan đại diện của chính quyền trung ương, thực hiện các nhiệm vụ phát triển vùng nói chung, và phát triển các hệ thống dịch vụ công cộng nói riêng. Năm 1997, số lượng các văn pḥng đă giảm từ 11 xuống c̣n 5, và nhiều chức năng cụ thể đă được chuyển giao cho các cơ quan của chính quyền trung ương. Cũng vào thời điểm đó, 19 hội đồng vùng (liên đoàn các thành phố) đă có được vai tṛ lớn hơn đối với việc lập kế hoạch và phát triển vùng. Điều này một phần là do trách nhiệm của các hội đồng này trong việc lập kế hoạch và quản lí các chương tŕnh được hỗ trợ tài chính trong khuôn khổ các chương tŕnh của Liên minh châu Âu.
Các Hội đồng nghệ thuật vùng là một cơ quan thuộc hệ thống Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan ở cấp vùng. Tuy nhiên, các hội đồng này lại thuộc thẩm quyền chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo dục và Văn hoá và chúng được phân bổ theo số lượng các Văn pḥng vùng. Về cơ bản chúng có các chức năng hỗ trợ giống như Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan và các tiểu hội đồng nghệ thuật (trợ cấp cho các nghệ sĩ, hỗ trợ cho các dự án).
2.3 Hợp tác giữa các bộ và hợp tác giữa các cấp chính quyền
Trong hệ thống chính trị của Phần Lan, các phiên họp toàn thể của Chính phủ (Hội đồng Nhà nước) và những uỷ ban thường trực của nó, những nhóm hoạt động đặc biệt có vai tṛ rất lớn trong việc kiểm soát và hướng dẫn các bộ và điều phối hoạt động giữa các Bộ.
Vấn đề hợp tác giữa các lĩnh vực đă được thảo luận vào cuối những năm 1980, và gần đây một uỷ ban lâm thời gồm các Bộ trưởng đă được thành lập để lên kế hoạch cải tổ cho vấn đề này. Không có những chỉ thị rơ ràng trong việc hợp tác lên kế hoạch chính sách nói chung cũng như trong lĩnh vực văn hoá nói riêng. Việc trở thành thành viên của Liên minh châu Âu đă thúc đẩy nhu cầu hợp tác giữa các Bộ; để điều phối các vấn đề liên quan đến EU, Uỷ ban các Bộ trưởng đă được thành lập, và ở cấp cao nhất của ngành Hành pháp có Uỷ ban Liên Bộ về các vấn đề EU, uỷ ban này có tiểu ban, trong đó có tiểu ban các vấn đề văn hoá và nghe nh́n.
Việc lập kế hoạch và ban hành chính sách văn hoá thuộc thẩm quyền của Bộ Văn hoá và Giáo dục, tuy nhiên các Bộ khác cũng giữ những vai tṛ quan trọng (ví dụ như Bộ Thương mại và Công nghiệp trong các vấn đề liên quan đến R&D và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực văn hoá; Bộ Giao thông và Truyền thông, trong các vấn đề liên quan đến truyền thông, viễn thông và công nghệ thông tin; Bộ Tư pháp, trong các vấn đề liên quan đến bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ; Bộ Lao động, trong các vấn đề dự án xây dựng, chính sách lao động. Vị trí của Bộ Nội vụ cũng được nhấn mạnh do vai tṛ hàng đầu của nó trong các chính sách phát triển vùng. Bộ Nội vụ có tiếng nói quyết định đối với việc lựa chọn các dự án được hỗ trợ tài chính từ Quỹ Phát triển vùng của EU).
Trên thực tế rất khó có thể đánh giá được tầm ảnh hưởng của các Bộ này đối với việc thực hiện các chính sách văn hoá và mức độ các nguồn lực mà những Bộ này đă phân bổ, trực tiếp hoặc gián tiếp, cho lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật.
Không có các cơ quan liên chính quyền trong việc ban hành chính sách văn hoá và quản lí văn hoá. ở mức độ nào đó, các hội đồng nghệ thuật vùng đóng vai tṛ trung gian giữa chính quyền Trung ương và các cơ quan quản lí của thành phố. Về dịch vụ văn hoá công, Hiệp hội các chính quyền địa phương và vùng của Phần Lan là một trung gian quan trọng giữa chính quyền Trung ương và các thành phố.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá
Trong phạm vi thẩm quyền của Bộ Giáo dục và Văn hoá, việc quản lí hợp tác quốc tế về văn hoá được giao cho một cơ quan đặc biệt, đó là Ban Thư kí các vấn đề văn hoá quốc tế. Chức năng chính của cơ quan này là quản lí các mối quan hệ hợp tác song phương và đa phương. Các quan hệ song phương được thực hiện dựa trên các hiệp định văn hoá song phương (với 34 quốc gia) và những biên bản ghi nhớ (với 6 quốc gia). Các quan hệ đa phương được thực hiện dựa trên các công ước quốc tế, hiệp định quốc tế, và tư cách thành viên của Phần Lan trong các tổ chức quốc tế như UNESCO, Hội đồng châu Âu, ITU (Liên minh Viễn thông Quốc tế) và WIPO (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới). Ngoài ra, Phần Lan có một hệ thống các viện văn hoá đặt tại 15 quốc gia. Ban đặc trách EU của Bộ Giáo dục và Văn hoá thuộc quản lí của Ban Thư kí. Hầu hết các khoản phân bổ ngân sách của Bộ Giáo dục và Văn hoá cho hoạt động hợp tác quốc tế về văn hoá đều được thực hiện thông qua những hoạt động song phương và đa phương này.
Hợp tác với các nước Bắc Âu chiếm một vị trí đặc biệt trong chính sách hợp tác quốc tế của Phần Lan. Phần Lan có đại diện trong các uỷ ban giáo dục và văn hoá, các nhóm hoạt động thuộc Hội đồng các Bộ trưởng Bắc Âu, và tham gia vào Quỹ Văn hoá Bắc Âu (1996), quỹ này được điều hành bởi Ban thư kí các Bộ trưởng của Hội đồng Bắc Âu đặt tại Copenhagen. Phần Lan c̣n có các quỹ văn hoá song phương với tất cả các quốc gia Bắc Âu khác: Iceland (1974), Na uy (1979), Thuỵ Điển (1960), và Đan Mạch (1981). Các quỹ văn hoá này được điều hành bởi Trung Tâm Văn hoá Hanasaari Phần Lan – Thuỵ điển. Bộ Giáo dục và Văn hoá phân bổ tài chính cho hoạt động hợp tác với các nước Bắc Âu.
Việc trở thành thành viên EU và hệ thống các quan hệ hợp tác mới đă làm phân tán sự tham gia hợp tác quốc tế về văn hoá. Ví dụ, vấn đề Truyền thông liên quan đến EU thuộc trách nhiệm của Hiệp hội phim Phần Lan, Uỷ ban quốc gia về cổ học chịu trách nhiệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực di sản, và CIMO, trung tâm lưu động quốc tế, chịu trách nhiệm về các chương tŕnh trao đổi sinh viên và đóng vai tṛ đầu mối giao tiếp EU cho chương tŕnh văn hoá 2000.
Bộ Ngoại giao quảng bá văn hoá và nghệ thuật Phần Lan ở nước ngoài và, có tiếng nói, trên tinh thần ngoại giao văn hoá, trong tất cả các vấn đề hợp tác văn hoá có thể tạo ra ảnh hưởng chính trị lớn hơn. Chương tŕnh hợp tác với các khu vực lân cận, trong đó nhấn mạnh đến những h́nh thức hợp tác văn hoá mới với khu vực Baltic và Biển Barent, được điều phối và hỗ trợ tài chính bởi Bộ ngoại giao, mặc dù các bộ khác cũng trách nhiệm trong việc lựa chọn các dự án và phân bổ tài chính. Các trường đại học nghệ thuật, trung tâm nghiên cứu và những tổ chức văn hoá và nghệ thuật quan trọng cũng có những quan hệ hợp tác văn hoá của riêng ḿnh và có liên hệ mất thiết với các định chế quốc tế liên quan của châu Âu cũng như thế giới (Ví dụ Công ước châu Âu về Kịch, Liên minh kịch châu Âu, ITI, ICOM, ICOMOS, ELIA v.v..). Các thành phố cũng có các chương tŕnh hợp tác của riêng ḿnh và cũng tham gia vào các tổ chức như Liên minh các Thành phố vùng Baltic, Liên minh các Thành phố châu Âu. Các hiệp hội nghệ sĩ cũng có liên kết chặt chẽ với các hệ thống liên quan của châu Âu (IETM, International PEN, v.v..)
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

Mô h́nh chính sách văn hoá của Phần Lan là mô h́nh phi tập trung theo chiều ngang và chiều dọc. Ở cấp chính quyền trung ương, số cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ cố vấn cho Bộ Văn hoá và Giáo dục và thực thi các chính sách đă được ban hành. Các cơ quan này cũng có thẩm quyền độc lập trong ban hành quyết định.
Sự phi tập trung theo chiều ngang cũng thường theo mô h́nh nghiệp đoàn: các hiệp hội của những nghệ sĩ chuyên nghiệp và của những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá đóng một vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành và thực hiện những chính sách liên quan đến việc trợ cấp và hỗ trợ tài chính cho dự án. Mô h́nh này cũng được phản ánh ở vai tṛ trung tâm của các tổ chức đại diện của những nghệ sĩ và nhà sản xuất trong lĩnh vực bản quyền và trong việc quản lí các tổ chức bản quyền.
Phi tập trung theo chiều dọc diễn ra xung quanh chính quyền Trung ương và các thành phố tự trị. Trung ương chịu trách nhiệm về các tổ chức văn hoá và nghệ thuật quốc gia, thúc đẩy việc tiếp cận b́nh đẳng và rộng răi hơn về văn hoá và nghệ thuật bằng cách cung cấp tài chính cho các cơ quan văn hoá của địa phương và vùng. Điều này trước hết được thực hiện bằng trợ cấp theo mục tiêu và dưới sự giám sát của Bộ Văn hoá và Giáo dục.
Từ năm 1993 những khoản trợ cấp này đă được đưa vào hệ thống chuyển giao bắt buộc của nhà nước cho các thành phố. Việc chuyển giao này được mở rộng ra cả các lĩnh vực thư viện công, các cơ quan giáo dục người lớn, hoạt động văn hoá của thành phố không do dân chúng tự tổ chức, giáo dục cơ bản về nghệ thuật, bảo tàng, kịch, giao hưởng.
Nguyên tắc hỗ trợ tài chính của hệ thống trợ cấp nhà nước đă được mở rộng ra để áp dụng đối với các tổ chức quốc gia “phi lợi nhuận” như Nhà hát Kịch Quốc gia, Nhà hát Opera Quốc gia và một số bảo tàng đặc biệt có quy chế quốc gia. Một sổ tố chức quan trọng của các thành phố đă được chỉ định để thực hiện các chức năng đặc biệt đối với vùng và nhận được nguồn tài chính bổ sung để hoàn thành nhiệm vụ này.
Trong khi tập trung hoá theo chiều dọc, khối thứ ba đóng một vai tṛ quan trọng. Vai tṛ của các tổ chức văn hoá và nghệ thuật chuyên nghiệp đă được nói đến. Tuy nhiên, khối thứ ba có hai vai tṛ khác. Thứ nhất, các tổ chức t́nh nguyện có vai tṛ quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá và nghệ thuật không chuyên. Thứ hai, mặc dù phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhà nước, phần lớn các cơ quan văn hoá và nghệ thuật (đặc biệt là bảo tàng, nhà hát, giàn giao hưởng) lại hoạt động như là những tổ chức không phải thuộc khối công (những tổ chức t́nh nguyện, các quỹ hội, công ty cổ phần phi lợi nhuận).
Mô h́nh văn hoá của Phần Lan c̣n có ba đặc điểm khác biệt khác, tuy nhiên những đặc điểm này đang phải chịu những áp lực để thay đổi. Thứ nhất là sự phụ thuộc vào sở hữu nhà nước và ngân sách nhà nước và đặc biệt là, phụ thuộc vào sự thể chế hoá (đưa vào trong luật) nhằm đảm bảo tính ổn định của việc hỗ trợ nhà nước cho văn hoá và nghệ thuật. Tính ổn định này ngầm thị rằng các điều kiện được sử dụng để xem xét hỗ trợ tài chính chỉ thay đổi thông qua một đạo luật do Nghị viện ban hành. Gần đây, quá tŕnh “phi nhà nước hoá” (theo đó, bên cạnh các thoả thuận thực hiện chính sách và sự đơn giản hoá ngân sách c̣n bao gồm việc giao thẩm quyền từ nhà nước trung ương cho các thành phố) đă bắt đầu có tác động đến trật tự pháp lí khắt khe này.
Đặc điểm thứ hai là vai tṛ trung tâm của “các quỹ riêng”, nghĩa là lợi nhuận của Viekkaus, công ty sổ xố, cá độ thể thao của nhà nước, trong việc cung cấp tài chính cho nghệ thuật và văn hoá - bao gồm thể thao, hoạt động thanh niên và khoa học. Sau khủng hoảng kinh tế đầu những năm 1990, các nguồn tài chính này, lúc đầu chỉ được sử dụng một cách tuỳ nghi, đă bắt đầu được sử dụng để cung cấp tài chính cho hoạt động trợ cấp của nhà nước một cách thường xuyên hơn, ví dụ như cho các thư viện công, nhà hát, giàn giao hưởng và giáo dục cơ bản về nghệ thuật. Do đó, chính quyền trung ương ngày càng đóng góp ít hơn cho những dự án và sáng kiến mới. Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính của Veikkaus ngày càng tăng lên và đạt đến đỉnh điểm năm 2001 khi chiếm đến 72% nguồn tài chính mà Bộ Giáo dục và Văn hoá phân bổ cho nghệ thuật và văn hoá. Luật mới về sổ xố và cá độ, và về việc sử dụng lợi nhuận của Veikkaus đă bắt đầu làm tăng số tiền hỗ trợ có được từ thuế và giảm mức đóng góp của Veikkaus xuống 67% năm 2003.
Đặc điểm thứ ba là thiếu sự độc lập của cấp quản lí vùng – trong các lĩnh vực nói chung cũng như trong văn hoá nghệ thuật nói riêng. Hệ thống Hội đồng nghệ thuật ngay từ đầu đă được mở rộng ra cấp vùng bằng cách tạo ra hệ thống 11 hội đồng nghệ thuật khu vực. Tên của các hội đồng đă được thay đổi theo tên của các hội đồng nghệ thuật vùng và số lượng các hội đồng đă lên đến con số 13 khi cở quan quản lí vùng của chính quyền trung ương được cải tổ. Hiện tại đang có một cuộc tranh luận là nên hay không nên liên kết các hội đồng nghệ thuật vùng, về mặt quản lí thuộc Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan, với một số cơ quan thuộc Bộ Giáo dục và Văn hoá, và các văn pḥng Vùng của Chính quyền Trung ương.
Trong hệ thống trợ cấp trước đây một số cơ quan văn hoá và nghệ thuật nhận nguồn tài chính từ cả chính quyền Trung ương và thành phố đều có quy chế tổ chức cấp vùng (bảo tàng nghệ thuật và lịch sử vùng, nhà hát vùng). Những tổ chức này c̣n được nhận thêm nguồn tài chính bổ sung để thực hiện chức năng hoạt động cấp vùng. Trong hệ thống tài chính hiện nay, Bộ Giáo dục và Văn hoá có thể chỉ định một số tổ chức có tầm quan trọng đối với vùng và cấp cho các tổ chức này nguồn tài chính bổ sung. Các dàn xếp tài chính không thực sự làm cho các tổ chức này thành những tổ chức cấp vùng theo đúng nghĩa, cũng như về mặt sở hữu và quản lí, nhân lực và việc lập kế hoạch. Trên cấp độ quản lí, 19 hội đồng vùng (ban đầu vốn là hiệp hội các thành phố lân cận nhau để lập kế hoạch phát triển) đă được tổ chức lại để phù hợp với việc gia nhập EU và đă đảm nhận rất nhiều chức năng về lập kế hoạch và phát triển vùng, trong đó có một số chức năng thuộc lĩnh vực văn hoá. Tuy nhiên có một số hiệp hội các thành phố, không phải là những cơ quan vùng độc lập, và vai tṛ của chúng trong việc phát triển văn hoá trong vùng vẫn c̣n mờ nhạt.
Đă từng có xu hướng phi tập trung hoá và tư nhân hoá trong các chính sách văn hoá ở Phần Lan. Điều này thể hiện trong tự do hoá hệ thống trợ cấp của nhà nước cho các thành phố và những cơ quan văn hoá; trong các thoả thuận thực thi và trong việc đưa ra dự thảo ngân sách trong khuôn khổ ngân sách nhà nước. Nếu chúng ta xét vấn đề này từ quan điểm nâng cao dân chủ, th́ xu hướng này liên quan nhiều hơn đến việc Phần Lan trở thành thành viên của EU và việc cung cấp tài chính cho các dự án vùng và địa phương từ các Quỹ Cơ cấu trong khuôn khổ các chương tŕnh của EU. Xét từ góc độ quản lí, diễn biến này đă nâng cao vai tṛ của các hội đồng vùng và nó đă phát huy năng lực văn hoá ở cấp địa phương dưới h́nh thức các dự án hoặc sáng kiến. Các chương tŕnh ngoài EU (Phare, Tacis), cùng với chương tŕnh quốc gia về hợp tác với những vùng lân cận đă gây cản trở đối với các sáng kiến của các vùng và địa phương độc lập trong việc hợp tác với các địa phương và vùng khác của nước ngoài, ví dụ như với vùng Leningrad, các nước ở Biển Baltic và ở Biển Barent. “Northern Dimension”, một chương tŕnh của EU do Phần lan phát động, cũng góp phần thúc đẩy những xu hướng phát triển này.
3.2 Định nghĩa về văn hoá

Trong chính sách văn hoá của Phần Lan không có một định nghĩa chính thức nào về văn hoá. Tuy nhiên, theo những thống kê chính thức về văn hoá, th́ khái niệm này được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm văn hoá trước hết bao gồm nghệ thuật, nghĩa là nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật biểu diễn, lao động của cá nhân các nghệ sĩ và những lĩnh vực liên quan đến ngành kinh doanh văn hoá (xuất bản, phim, ghi âm, phát thanh truyền h́nh, các sản phẩm video và đa phương diện) với mức độ đủ cao của các nội dung văn hoá. Thứ hai, định nghĩa hẹp này bao gồm những lĩnh vực chính của dịch vụ văn hoá (thư viện công và các chương tŕnh văn hoá về giáo dục cho người lớn) và di sản văn hoá (di tích lịch sử, công tŕnh lịch sử, di tích văn hoá; bảo tàng lịch sử và bảo tàng nghệ thuật) và hợp tác văn hoá quốc tế. Giáo dục nghệ thuật nói chung (cho trẻ em, cho thanh niên) thường được tính vào giáo dục nghề nghiệp nghệ thuật thường không được tính vào v́ các lí do quản lí hành chính (chúng thuộc về thẩm quyền của giáo dục cấp cao và khoa học, tương tự như Thư viện Quốc gia và các thư viện nghiên cứu và khoa học, cơ quan lưu trữ, quản lí và những dịch vụ thông tin có liên quan).
Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm tất cả các ngành kinh doanh văn hoá, bất kể nội dung giáo dục nghề nghiệp trong nghệ thuật và văn hoá, tất cả các bảo tàng, thư viện khoa học và các pḥng lưu trữ.
Nên lưu ư rằng, trong khung EUROSTAT về các số liệu văn hoá được xây dựng dựa trên khái niệm rộng. Khung này cũng sử dụng trong phần tŕnh bày về các số liệu chi tiêu của nhà nước Phần Lan tại mục 6.4. Khung này đă bỏ qua nghề thủ công, phát thanh truyền h́nh của nhà nước vốn nhận nguồn tài chính từ phí cấp phép, quảng cáo, và du lịch văn hoá, cũng được đưa vào trong khái niệm rộng. Khái niệm rộng c̣n bao gồm các lĩnh vực này và cái gọi là chi tiêu thuế, các ước tính bằng tiền về khoản giảm thuế cho văn hoá và nghệ thuật.
3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá
Sự khẳng định bản sắc dân tộc đă trở thành nền tảng cho chính sách văn hoá của Phần Lan. Thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật đă trở thành mục tiêu thứ hai của chính sách văn hoá Phần Lan. Điều này từ trước đến nay được phản ánh trong các nỗ lực của nhà nước nhằm chăm lo cho các nghệ sĩ, và nâng cao vị thế kinh tế của họ thông qua các hệ thống tài trợ nghệ thuật và chính sách hưu trí. Trong những năm gần đây, theo xu hướng quốc tế, Chính phủ Phần Lan đă bắt đầu nhấn mạnh đến sáng tạo, đổi mới và đóng góp của nghệ sĩ đối với sự tăng trưởng kinh tế. Do đó, Chính phủ liên minh hiện nay (gồm các Đảng Dân chủ-Xă hội, Đảng Trung dung, Đảng Thụy Điển) đă cam kết trong chương tŕnh hành động của ḿnh (2003) về soạn thảo một chiến lược sáng tạo cho Phần Lan. Việc soạn thảo chiến lược được dự kiến bắt đầu thực hiện từ Mùa Xuân 2004.
Thứ ba, việc chia sẻ trách nhiệm của nhà nước và các thành phố, cung cấp tài chính, và duy tŕ hệ thống toàn diện cấp vùng các dịch vụ văn hoá cho thấy nỗ lực muốn mở rộng sự tham gia vào đời sống văn hoá. Việc đưa phương pháp chính sách nghệ thuật của trung ương và việc sử dụng ư kiến chuyên gia và việc các thành phố có vai tṛ chủ đạo trong việc cung cấp các dịch vụ này là những dấu hiệu của sự phi tập trung – cả theo chiều dọc và chiều ngang. Tất nhiên, phi tập trung đến mức nào để dân chủ hoá việc ban hành chính sách văn hoá lại là chuyện khác.
Bảo vệ các dân tộc thiểu số bao gồm những người nói tiếng Thuỵ Điển, Người Sami và Người Roma là dấu hiệu của mong muốn về đa dạng văn hoá. Các quyết định cho người ngoại kiều có các quyền chính trị, kinh tế và xă hội giống như các công dân Phần Lan một mặt phản ánh chính sách b́nh đẳng, và mặt khác sẽ nâng cao sự đa dạng văn hoá. Những nguyên tắc trừu tượng hơn, thúc đẩy nhân quyền và quyền văn hoá, được phản ánh trọng tinh thần mới của Hiến pháp Phần Lan và việc phê chuẩn các công ước, hiệp định quốc tế liên quan, có thể xem là cơ sở đạo đức cho những nỗ lực pháp lí này.
Các mục tiêu trên cho thấy một danh sách khá toàn diện về các mục tiêu truyền thống, ngoài ra c̣n có những mục tiêu chung có tính mới hơn. Các mục tiêu này cũng phù hợp với điều đă được tiêu chuẩn hoá trong chương tŕnh của Hội đồng châu Âu về xem xét chính sách văn hoá quốc gia. Mặt khác, ư kiến cho rằng văn hoá và nghệ thuật phải phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu và việc làm và phải đóng vai tṛ yếu tố tích cực trong sự phát triển vùng ngày càng trở nên phổ biến tại Phần Lan.
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
4.1 Những vấn đề chính sách quan trọng và những ưu tiên
Các mục tiêu chính sách văn hoá đă được xác định chi tiết hơn vào năm 1999:
- Xác định rơ hơn vai tṛ và nhiệm vụ của hệ thống các hội đồng nghệ thuật;
- Chuẩn bị chương tŕnh chính sách mới cho nghệ thuật và các nghệ sĩ;
- Cải thiện việc hỗ trợ cho ngành phim trong nước;
- Nâng cao hỗ trợ cho các nhóm kịch độc lập;
- Thúc đẩy đa dạng văn hoá;
- Tăng cường vai tṛ của việc ban hành chính sách trong sự phát triển nói chung;
Các mục tiêu c̣n bao gồm:
- Yêu cầu duy tŕ Phần Lan trên mặt trận phát triển ICT và làm cho nó “… trở thành người tiên phong trong việc thực hiện xă hội thông tin nhân văn và ổn định”;
- Yêu cầu nâng cao sự gắn kết xă hội bằng cách giảm những bất b́nh đẳng về kinh tế và xă hội, hạn chế các tác động tiêu cực của toàn cầu hoá.
Trong số các mục tiêu này, hai mục tiêu đầu tiên đă bắt đầu được tiến hành từ năm 2000 và Chính phủ trước đây đă có một chương tŕnh chính sách mới về nghệ thuật và các nghệ sĩ, chính sách này được đưa ra năm 2002. Trọng tâm của chương tŕnh này là thúc đẩy sáng tạo như là một phần không thể thiếu của xă hội phúc lợi mới. Cùng lúc đó, một số công việc của kế hoạch 2000 nhằm nâng cao vị trí kinh tế và xă hội của các nghệ sĩ đă được thực hiện, và các công việc nhằm hướng đến thực hiện một loạt các kế hoạch chính sách trước đó cũng đă được khởi xướng. Công việc này bao gồm các kế hoạch nhằm phát triển các lĩnh vực như kiến trúc, thiết kế, ngành kinh doanh sách, múa rối, và truyện tranh. Bộ Giáo dục và Văn hoá hiện đang soạn thảo một kế hoạch toàn diện hơn về chính sách sáng tạo và cũng bắt đầu đánh giá về mặt quốc tế hệ thống các hội đồng nghệ thuật.
Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu và kế hoạch này lại bị cản trở bởi các chính sách tài chính nghiêm ngặt của chính phủ trước đó. Hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật và văn hoá bị đ́nh trệ và phụ thuộc vào lợi nhuận của lô tô, sổ xố và cá độ thể thao, mà nguồn tài chính này lại không ổn định để đảm bảo thực hiện các chương tŕnh mới và thực hiện cải tổ. Luật mới về sổ xố và cá độ thể thao đă có hiệu lực từ năm 2002 và vẫn giữ ba lĩnh vực thuộc độc quyền của ba công ty: lô tô và cá độ thể thao (Công ty Veikkaus Ltd), máy giật xèng và ṣng bạc (Công ty Slot Machine Association), tổ chức đua ngựa, (Công ty Fintoto).
Trong giai đoạn 1996-2000 công ty Veikkaus gặp khó khăn về lợi nhuận nên không cấp đủ nguồn tài chính cho ngân sách trung ương như dự tính, nhưng một loại tṛ chơi mới (Keno) được ra đời đă làm cho lợi nhuận của công ty này tăng lên. Luật mới về việc sử dụng lợi nhuận của Veikkaus quy định rằng phải tăng nguồn ngân sách thường xuyên để hỗ trợ cho nghệ thuật và văn hoá, nhưng vào thời điểm này, tỉ lệ tài chính dành cho văn hoá và nghệ thuật sẽ được giảm xuống. Điều này có nghĩa là sẽ không có hi vọng nào về việc Chính phủ sẽ tăng nguồn tài chính trong vài năm tới.
Người ta ngày càng quan tâm đến việc xem vấn đề văn hoá như là một vấn đề sinh động của sự phát triển. Mục tiêu trừu tượng này, ở một mức độ nào đó, đă được bảo đảm chắc chắn hơn trong các dự án nhận tài trợ từ các Quỹ Cơ cấu của EU, và vai tṛ của văn hoá trong các dự án phát triển của vùng ngày càng được chú trọng. Các số liệu thống kê của EU chỉ ra rằng về khía cạnh hỗ trợ tài chính cho văn hoá Phần Lan thuộc nhóm nước đứng hàng đầu, nhưng xét về mặt chi tiêu theo b́nh quân đầu người th́ nước này lại kém hơn các nước như Vương Quốc Anh, Ireland, Hy lạp.
4.2 Những vấn đề chính sách và các tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Vào giữa những năm 1990, các quy định về nhân quyền trong hiến pháp đă được sửa đổi nhằm mở rộng các quyền đó cho tất cả những người sống tại Phần Lan, và những sửa đổi này đă được ghi nhận trong hiến pháp mới. Thúc đẩy sự đa dạng chủ yếu được phản ánh trong một quá tŕnh cải tổ liên tục nhằm nâng cao vị trí của các dân tộc thiểu số (người Sami, Roma). Tăng các quyền của người nhập cư và tị nạn là vấn đề nằm trong chương tŕnh hoạt động của Chính phủ 5 năm qua, nhưng hầu hết các tiến bộ chủ yếu có được trong các biện pháp nhằm giúp các cộng đồng này hội nhập về mặt kinh tế và xă hội vào xă hội Phần Lan. Tuy nhiên hiện tượng nhập cư lại được kiểm soát nghiêm ngặt hơn, nhưng các quyền văn hoá được ghi nhận trong hiến pháp mới chỉ được thực hiện một vài biện pháp nhất định. Từ năm 1995 một thư viện đa ngữ đă được thành lập và phụ thuộc vào Thư viện Thành phố Helsinki. Bộ giáo dục và Văn hoá chỉ dành một lượng nhỏ ngân sách để hỗ trợ cho văn hoá của người thiểu số và chống lại sự phân biệt chủng tộc, hỗ trợ các dự án, sự kiện đa văn hoá và hỗ trợ những nghệ sĩ nhập cư.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Vấn đề b́nh đẳng giới chưa bao giờ được tuyên bố rơ ràng là một mục tiêu trong chính sách văn hoá của Phần Lan. Do đó diễn biến của nó phải được xem xét như là một phần của sự phát triển chung về sự hiện diện của giới và các nỗ lực pháp lí, hành chính nhằm làm cho sự hiện diện về giới trở nên b́nh đẳng hơn trong mọi lĩnh vực xă hội.
Chính sách về giới của Phần Lan, từ những năm 1970, đă đi theo mô h́nh “thuyết nam nữ b́nh quyền” của các nước Bắc Âu, trong đó các biện pháp chính được sử dụng là những biện pháp pháp lí, định lượng công chức và hành động tích cực, bao gồm các quy định về b́nh đẳng và hạn mức về sự hiện diện và việc làm của phụ nữ trên thị trường lao động. Kể từ Hội nghị Bắc Kinh (Hội nghị Thế giới lần thứ 4 về Phụ nữ), chính sách của Chính phủ đă được thay đổi theo xu hướng chủ đạo (quan điểm cho rằng cần có sự chia sẻ b́nh đẳng giữa nam và nữ) và phù hợp với các xu hướng trong các văn kiện của EU liên quan đến vấn đề b́nh đẳng giới bao gồm sự hiện diện, việc làm, phát triển nghề nghiệp và lương bổng. Cách tiếp cận mới này đă được thể hiện trong Luật B́nh đẳng năm 1995 và trong Chương tŕnh của Chính phủ năm 1997 về B́nh đẳng (tiêu đều phụ “Từ Bắc Kinh đến Phần Lan”).
Năm 1995 Chính phủ tŕnh dự luật lên Nghị viện Phần Lan nhằm sửa đổi Luật B́nh đẳng Giữa Nam giới và Nữ giới năm 1986. Dự luật này cho rằng “… trong nhiều khía cạnh các mục tiêu (của luật cũ) đă không đạt được. Cho dù có những thay đổi về pháp luật, vị trí của phụ nữ vẫn bị lép vế một cách rơ ràng so với nam giới trong đời sống lao động, trong gia đ́nh và trong cơ chế ban hành quyết định của xă hội. Đặc biệt trong lao động, các mục tiêu b́nh đẳng chưa hề đạt được. Luật mới nhằm vào việc đánh giá lại các vấn đề này và giải quyết chúng”
Mặc dù có những lập luận như thế, hệ quả thực tế của Luật B́nh đẳng mới lại là sự tập trung hoá trách nhiệm quản lí b́nh đẳng giới (Văn pḥng Giám sát B́nh đẳng) và thực thi các hạn mức yêu cầu về sự hiện diện b́nh đẳng giữa nam và nữ (tối thiểu 40% cho cả nam và nữ) trong các cơ quan hành pháp và chuyên môn ở trung ương và thành phố. Cải tổ gần đây đă thay đổi “hệ thống quản lư” trong văn hoá và nghệ thuật, bởi v́ hội đồng nghệ thuật và các hội đồng thành phố chịu trách nhiệm về vấn đề văn hoá phải tuân thủ những quy định này.
Việc xem xét sửa đổi Luật B́nh đẳng đă được chuẩn bị hơn một năm và dự thảo về vấn đề này đang được tranh luận gay gắt. B́nh đẳng về trả lương và những cách thức điều chỉnh sự khác biệt về giới trong việc trả tiền công là những nội dung tranh căi chính. Cùng thời điểm đó, việc điều chỉnh các ảnh hưởng về giới trong ban hành luật, các chương tŕnh chính sách quan trọng và trong quá tŕnh thực thi luật và các chương tŕnh ngày càng đạt nhiều kết quả khích lệ ở cấp chính quyền trung ương và thành phố. Yêu cầu phải ban hành và thể chế hoá các đánh giá ảnh hưởng về mặt giới là một trong các mục tiêu chính sách của chính phủ hiện nay.
4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách

Thông thường người Phần Lan nói tiếng Thuỵ Điển được xem là người thiểu số, mặc dù tư tưởng cơ bản trong xây dựng đất nước là Phần Lan có hai nền văn hoá song hành, một nền văn hoá dựa trên ngôn ngữ Thụy Điển và nền văn hoá kia dựa trên ngôn ngữ Phần Lan.
Quyền của cộng đồng nói tiếng Thuỵ Điển được bảo đảm trong Hiến pháp sửa đổi (1999) và sau đó được quy định trong Luật Ngôn ngữ, luật này cùng với các luật khác đă quy định sự b́nh đẳng (trước cơ quan hành chính và tư pháp) trong sử dụng tiếng bản ngữ và quyền giáo dục, và làm việc cho nhà nước.
Có một vấn đề mang tính “bắt buộc” đó là giảng dạy tiếng Thuỵ Điển như là ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục tiểu học và cấp hai. Luật ngôn ngữ và Luật Ngôn ngữ Sami – quy định quyền sử dụng tiếng Sami như là ngôn ngữ chính thức tại các khu vực người Sami sinh sống - đă được sửa đổi năm 2003 và ban hành năm 2004. Sami là nền văn hoá bản địa duy nhất được thừa nhận tại Phần Lan.
Bên cạnh người Sami, Hiến pháp dành một vị trí đặc biệt cho người La mă và với những người sử dụng ngôn ngữ kí kiệu, và bảo đảm ba cộng đồng này quyền được “ duy tŕ và phát triển ngôn ngữ và văn hoá của riêng họ”. Quyền của những cộng đồng thiểu số này cũng được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước khung châu Âu về Bảo vệ các dân tộc thiểu số và Hiến chương châu Âu về bảo vệ ngôn ngữ các vùng và ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

Mặc dù lĩnh vực truyền thông (cũng như lĩnh vực viễn thông) đă được tự do hoá ở Phần Lan với mức độ giống như các quốc gia thành viên EU khác, các công ty phát tranh truyền h́nh nhà nước (YLE, Công ty Phát thanh Truyền h́nh Phần Lan, FBC) vẫn duy tŕ được vị trí của ḿnh như là thành luỹ của “dịch vụ công”.
Các cải cách về tổ chức đối với cả các kênh phát thanh và truyền h́nh đă nhằm vào phân công lao động tốt hơn, tạo điều kiện cho sản xuất và truyền bá các chương tŕnh văn hoá có chất lượng cao. Cải tổ về tổ chức cũng nhằm chuyển đổi việc phát thanh radio và truyền h́nh sang công nghệ kĩ thuật số; những cải cánh này sẽ ưu tiên việc sử dụng hiệu quả những tài sản văn hoá và nghệ thuật lưu trữ đă lâu của FBC và ưu tiên vào cung cấp các chương tŕnh văn hoá mới. Việc thêm vào lịch phát sóng các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh của YLE cũng là kết quả của việc cải tổ này.
Ngoài ra, sự tập trung ngành truyền thông dường như vẫn c̣n tiếp tục. Công ty truyền thông lớn nhất Phần Lan, SanomaWSOY, thông qua sự tham gia thị trường quốc tế, đă tăng doanh thu của ḿnh lên 2.4 triệu euro. Rất khó để dự đoán diễn biến này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nội dung (nội dung trong các chương tŕnh) và sự đa đạng.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Các ngành kinh doanh văn hoá ở Phần Lan hiện đang tồn tại một xu hướng quốc tế hoá, cả theo nghĩa các công ty nước ngoài mua lại các công ty Phần Lan cũng như các công ty Phần Lan nắm quyền sở hữu đối với các công ty nước ngoài. Diễn biến này liên quan đến sự cạnh tranh giữa các công ty truyền thông lớn của các nước Bắc Âu và việc mở rộng ra vùng biển Baltic cũng là mục tiêu của các công ty này. Năm 2001, “gă khổng lồ truyền thông” của Phần Lan, SanomaWSOY đă mua lại VNU, một hăng xuất bản báo của Hà lan, sự kiện này và “những vụ thâu tóm khác” đă làm cho doanh thu của hăng này lên đến 2.4 tỉ euro; hiện tại, hai “gă khổng lồ” Bắc Âu khác là, Norwegian Schibsted (của Na Uy) và Swedish Bonnier (của Thuỵ Điển) đang cạnh tranh lẫn nhau để có được quyền sở hữu đối với tập đoàn truyền thông lớn thứ hai của Phần Lan, Alma Media.
Trong ngành kinh doanh văn hoá, có hai chủ đề lớn thường được tranh luận ở cấp quốc gia là hỗ trợ tài chính cho sản xuất phim trong nước và việc áp dụng công nghệ truyền h́nh số của Công ty phát thanh truyền h́nh Phần Lan (YLE/FBC). Vấn đề hỗ trợ tài chính tập trung vào: yêu cầu tăng hỗ trợ cho sản xuất phim trong nước, v́ trong những năm gần đây phim trong nước ngày càng được khán giả trong nước ưa chuộng và cũng đă được quốc tế biết đến nhiều hơn (đặc biệt là qua sự thành công của các “bộ phim nghệ thuật” của Aki Kaurismaki).
Công ty Phát thanh truyền h́nh Phần Lan (FBC) đă đưa ra hạn chót cho việc chuyển sang phát sóng truyền h́nh Kĩ thuật số, tuy nhiên tính khả thi về mặt kinh tế và sự thành công về mặt khán giả vấn là điều c̣n nghi ngờ và nhận được nhiều chỉ trích. Việc số hoá toàn bộ dịch vụ phát thanh truyền h́nh cũng như sự phát triển của các chương tŕnh tương tác có vẻ như thành công về mặt tài chính bằng việc bán cổ phần của DIGITA (công ti chịu trách nhiệm về các trạm và mạng lưới phát sóng trên mặt đất của FBC) cho công ty TDF của Pháp. DIGITA vẫn tiếp tục cung cấp các trạm và các mạng lưới cho FBC, và cũng sẽ chịu trách nhiệm về việc số hoá các mạng lưới và đưa ra các giải pháp kĩ thuật cho các dịch vụ kĩ thuật số có tính tương tác.
Trong lĩnh vực phim truyện và các sản phẩm nghe nh́n khác, không có một thoả thuận đối tác chính thức nào giữa các bên cung cấp tài chính của nhà nước và tư nhân. Các nhà cung cấp tài chính quan trọng đă đạt được thoả thuận về mức độ hỗ trợ cho mỗi trường hợp riêng biệt. Các nhà cung cấp tài chính quan trọng bao gồm Viện Phim Phần Lan, các công ty phát thanh truyền h́nh và AVEK. AVEK là Trung tâm xúc tiến văn hoá nghe nh́n Phần Lan, thuộc Kopiosto, tổ chức thu phí bản quyền. Hỗ trợ tài chính có thể thực hiện dựa trên thoả thuận song phương hoặc thoả thuận ba bên. Quỹ Phim và Truyền h́nh Bắc Âu và chương tŕnh Media Plus của EU cũng cung cấp tài chính bổ xung và khuyến khích nhà nước và tư nhân hợp tác trong việc hỗ trợ tài chính.
Hỗ trợ của nhà nước cho các lĩnh vực khác của ngành kinh doanh văn hoá rất hạn chế, đặc biệt là cho xuất bản sách và ghi âm. Mặt khác, các tác giả và dịch giả, nhạc sĩ, người biểu diễn và nhà sản xuất âm nhạc nhận được tiền bản quyền thông qua hệ thống trợ cấp hoặc trực tiếp thông qua tổ chức bản quyền và các quyền liên quan. Các nguồn trả tiền bản quyền chủ yếu bao gồm thư viện, việc phát lại trên phát thanh và truyền h́nh và việc sử dụng các bản ghi âm tại “nơi công cộng”. Tranh căi chủ yếu diễn ra xung quanh vấn đề hiểu thế nào là “nơi công cộng”, vấn đề gần đây nhất là việc phát tán trên Internet có thuộc phạm vi nơi công cộng hay không.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Ước tính về số lượng việc làm trong lĩnh vực văn hóa phụ thuộc rất nhiều vào cách hiểu “ngành nghề văn hoá”. Nếu chúng ta định nghĩa chỉ bao gồm các nghề nghiệp nghệ thuật (văn chương, phê b́nh, dịch thuật, nghệ thuật thị giác, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn, và giải trí, âm nhạc và các nghệ sĩ nhạc) th́ tổng số là 16 000 người (năm 2000). Khoảng hơn 20% trong số đó làm việc cho các cơ quan nghệ thuật, 35% là các nghệ sĩ làm việc tự do (cộng tác viên), và 45% làm trong kinh doanh giải trí (chủ yếu là các nghệ sĩ nhạc). Nếu chúng ta định nghĩa toàn diện về văn hoá, bao gồm truyền thông, tất cả những người làm trong ngành kinh doanh văn hoá, quảng cáo, nghề thủ công và các nghề liên quan, thư viện, bảo tàng, và lưu trữ, công viên giải trí, v.v.. th́ tổng số người lên đến gần 80000. Cũng nên lưu ư rằng con số này bao gồm tất cả những người làm các nghề nghiệp có liên quan đến văn hoá, chứ không phải chỉ có những người được đào tạo nghề nghiệp chuyên môn trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật.

Vấn đề việc làm trở nên nổi cộm sau cuộc khủng hoảng đầu những năm 1990, mặc dù phải mất một thời gian để đưa các biện pháp để thực hiện trong lĩnh vực văn hoá. Bộ Giáo dục và Văn hóa đă soạn thảo chiến lược việc làm, nhưng chiến lược này hầu như tập trung vào vấn đề giáo dục, vấn đề văn hoá ít được quan tâm. Báo cáo về những tác động của lĩnh vực văn hóa đối với vấn đề việc làm cuối cùng cũng được giải quyết trong các năm từ 1997-1999. Nhóm đặc trách về các ngành kinh doanh văn hoá và một số dự án nghiên cứu về các ngành lĩnh vực cụ thể (như dự án về ngành kinh doanh âm nhạc do Viện Âm nhạc Sibelius, một đơn vị nghiên cứu của Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan, và Công ty Culminatum đồng thực hiện) đă bổ sung vào một số đề xuất cụ thể hơn nhằm phát triển các ngành kinh doanh văn hoá và nâng cao hiệu quả về việc làm.
Một số thành phố ở Phần Lan, đặc biệt là thành phố Helsinki, đă chuẩn bị kế hoạch cho các ngành kinh doanh sáng tạo để thúc đẩy các cơ hội việc làm trong lĩnh vực này. Các thành phố cũng tích cực hợp tác với các thành phố khác của châu Âu để phát triển các ngành kinh doanh văn hoá.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá
Một đề xuất nhằm phát triển Phần Lan thành một xă hội thông tin đă tập trung vào chính sách văn hoá. Năm 1985, Bộ Giáo dục và Văn hoá đă chuẩn bị hai tài liệu chính sách chiến lược: Chiến lược thông tin cho giáo dục và nghiên cứu” và một báo cáo về Xă hội thông tin với định hướng văn hoá. Báo cáo, trong đó đề xuất một chiến lược cho vấn đề văn hoá trong phạm vi chính sách xă hội thông tin, gần đây đă được cập nhật và mở rộng ra thành tư tưởng chiến lược đến năm 2010. Sau đề xuất chiến lược này, Bộ Giáo dục và Văn hoá đă dành một nguồn tài chính đặc biệt để phát triển xă hội thông tin với định hướng văn hoá.
Tuy nhiên phần lớn số tiền này lại được đầu tư cho giáo dục; chỉ một lượng tiền nhỏ được phân bổ cho lĩnh vực văn hoá, bao gồm việc lưu số hoá các thư viện, bảo tàng, hệ thống thông tin văn hoá, và phân bổ để hỗ trợ cho các dự án xă hội thông tin văn hoá. Chiến lược dài hạn này nhằm thúc đẩy khía cạnh chính sách văn hoá trong phạm vi chính sách xă hội thông tin, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh doanh văn hoá, di sản văn hoá, tạo điều kiện cho công dân tiếp cận các dịch vụ thông tin và văn hoá, và vấn đề hợp tác quốc tế và hợp tác với Liên minh châu Âu.
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh
Những tranh luận về vấn đề giáo dục nghệ thuật đă chấm dứt sau khi Luật giáo dục cơ bản về nghệ thuật được ban hành năm 1992, theo đó các thành phố phải tổ chức việc giáo dục nghệ thuật ngoài hệ thống các môn học bắt buộc tại nhà trường, và nhà nước phải có trợ cấp đối với các thành phố và các tổ chức tư nhân trong vấn đề này. Tuy nhiên, phần lớn số tiền của nhà nước đầu tư cho giáo dục nghệ thuật cơ bản lại chảy vào các trường nhạc và nhạc viện.
Trong những năm 1990, các tổ chức văn hoá và nghệ thuật bắt đầu phát triển những chương tŕnh giáo dục nghệ thuật mới trong phạm vi các cơ sở của ḿnh. Ví dụ như, các chương tŕnh giáo dục của Nhà hát Opera quốc gia và Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia dành cho học sinh.
4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách
Các vấn đề quan trọng nhất về di sản vào đầu những năm 1990 là bảo vệ các công tŕnh có giá trị lịch sử và bảo vệ diện mạo của đô thị và vùng nông thôn. Vấn đề tranh căi gay gắt nhất tập trung xung quanh tính khả thi của việc giao cho cấp địa phương nhiều thẩm quyền hơn đối với các vấn đề liên quan đến quy hoạch, phân vùng. Trong giai đoạn khủng hoảng 1991-1993, các vấn đề trên dường như mất dần sự quan tâm, c̣n những vấn đề mang tính truyền thống hơn như chuyên nghiệp các hoạt động bảo tàng và xây dựng mạng lưới quốc gia các bảo tàng lại gây được sự chú ư. Kế hoạch tái tổ chức toàn bộ lĩnh vực bảo tàng đang được thực hiện bởi một uỷ ban đặc biệt được thành lập để giải quyết một vụ việc. Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia và Bảo tàng Quốc gia, hai tổ chức lớn của cả nước, đă có các kế hoạch cải tổ, và đối với Pḥng trưng bày nghệ thuật Quốc gia kế hoạch đó đă được thực hiện. Việc tận dụng nguồn tài chính và những lợi ích khác do việc trở thành thành viên EU cũng được xem là mối quan tâm hàng đầu của lĩnh vực di sản.
4.2.10 Các vấn đề khác
Hỗ trợ tài chính cho văn hoá và giáo dục đă được đưa vào mục tiêu hành động của các tổ chức nghệ thuật và những nhóm hoạt động về văn hoá. Việc cải cách pháp luật liên quan đến sổ xố, lô tô và cá độ thể thao – hoặc nói đầy đủ hơn là “tất cả các lĩnh vực đánh bạc” bao gồm máy giật xèng, hoạt động casino và cá độ đua ngựa - đă thu hút được sự tham gia của các bên liên quan (các nhóm hoạt động v́ nghệ thuật, văn hoá, thể thao, thanh niên, xă hội và các tổ chức cứu tế). Như đă nói ở trên, các bên liên quan đă đi đến một giải pháp thoả đáng từ đó luật mới được ban hành. Tuy nhiên, thành công này lại bị phủ bóng bởi một vấn đề mới mà nguyên nhân của nó là những công nghệ mới và sự toàn cầu hoá thị trường cá độ. Vấn đề đó là liệu có thể biện minh cho sự độc quyền của nhà nước khi những hạn chế đến tự do cạnh tranh trong lĩnh vực này (đánh bạc, cá độ) không được dỡ bỏ.
Có rất nhiều áp lực trực tiếp từ phía các công ty cá độ quốc tế nhằm băi bỏ các quy định độc quyền của nhà nước. Ví dụ như British Ladbrokes đă nhiều lần kiện với cáo buộc rằng sự độc quyền này vi phạm pháp luật EU về cạnh tranh tự do. Cho đến nay Toà công lư châu Âu chưa đưa ra một quan điểm rơ ràng trong vụ kiện liên quan đến độc quyền trong lĩnh vực cá độ, đánh bạc, nhưng t́nh h́nh có thể thay đổi khi chỉ thị mới của EU về tự do hoá thương mại và dịch vụ được ban hành. Dù sao th́ các công ty sổ xố quốc gia, kể cả Veikkaus Ltd đă phải đối phó với sự cạnh tranh khốc liệt từ các hoạt động tṛ chơi và cá độ trên Internet.
Sự hỗ trợ tài chính của nhà nước và việc quản lí văn hoá trong tương lai sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lợi nhuận kinh doanh của Veikaus. Hiện tại cần phải nhanh chóng cải thiện việc hỗ trợ không mang tính bắt buộc cho các dự án và cho lĩnh vực nghệ thuật thực nghiệm, ví dụ như các công ty kịch “frwe” và nghệ thuật truyền thông. Khả năng mở rộng hỗ trợ của trung ương cho các lĩnh vực kịch sân khấu, giao hưởng và bảo tàng cũng như việc tăng hỗ trợ để bù đắp chi phí ngày càng cao vẫn phụ thuộc vào tính liên tục và đều đặn của nguồn tiền thu được từ các hoạt động sổ xố và cá độ của Veikkaus.
5. Các quy định pháp luật chủ yếu trong lĩnh vực văn hoá
5.1 Quy định chung
5.1.1 Hiến pháp

Diễn biến sau khi ban hành Hiến pháp mới đă tạo điều kiện trực tiếp cho việc tập trung và hạn chế phạm vi của chính sách văn hoá. Thứ nhất là xác định cơ sở Hợp hiến của việc ban hành chính sách văn hoá và cơ quan quản lí văn hoá. Thứ hai là các quy định của hiến pháp bảo đảm cho công dân các quyền và tự do – bao gồm tự do nghệ thuật – và những quyền văn hoá khác của người dân tộc thiểu số. Chương hai, Điều 16 đề cập đến các quyền và tự do của công dân; điều 16 đưa ra bảo đảm của hiến pháp đối với quyền tự do nghiên cứu khoa học, nghệ thuật và giáo dục đại học. Điều 17 xác định tiếng Thuỵ Điển là ngôn ngữ quốc gia song hành với tiếng Phần Lan, quy định tiếng Sami, Roma và Ngôn ngữ kí hiệu Phần Lan là những ngôn ngữ thiểu số; văn hoá Sami được xem là văn hoá bản địa, cộng đồng Sami và những cộng đồng thiểu số khác có quyền phát triển nền văn hóa của riêng ḿnh. Điều 128 quy định rằng Đảo Aland sẽ có quy chế tự trị và được quy định trong một đạo luật đặc biệt. Điều 121 bảo đảm sự độc lập về văn hoá tại các vùng nơi người Sami sinh sống.
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
Hệ thống chính sách văn hoá Phần Lan được phát triển xung quanh trục nhà nước-các thành phố. Hiến pháp và các luật về chính quyền thành phố xác định vai tṛ của các thành phố bên cạnh vai tṛ của nhà nước. Cho dù các thành phố có quyền độc lập (trong đó có quyền đánh thuế thu nhập), các tổ chức, cơ quan văn hoá của thành phố phụ thuộc rất nhiều vào trợ cấp từ trung ương (thông qua các khoản chuyển giao ngân sách xuống cho thành phố). Các khoản chuyển giao này, nhằm cân bằng việc cung cấp các dịch vụ về văn hoá và nghệ thuật ở các vùng và địa phương, được chuyển cho các thành phố hoặc thông qua các thành phố để chuyển đến cho các tổ chức và hoạt động của thành phố, hoặc đến các tổ chức văn hoá và nghệ thuật hoạt động dưới dạng những tổ chức và quỹ hội t́nh nguyện. ở trung ương, việc phi tập trung cũng diễn ra rất mạnh: vai tṛ của các tổ chức văn hoá và nghệ thuật, các cơ quan và những “cánh tay nối dài” được quy định cụ thể trong luật. Hiến pháp quy định không một tổ chức công nào được quyền ban hành quyết định mà không dựa trên những luật cụ thể đó. Một số luật quan trọng:
*Luật về Trợ cấp của Nhà nước cho các Thành phố (1998): luật này quy định các nguyên tắc để tính và phân bổ các khoản tiền trợ cấp của nhà nước cho các thành phố.
*Luật các Hoạt động Văn hoá (1992): cơ sở pháp lí cho chính quyền trung ương thực hiện hỗ trợ đối với các hoạt động văn hoá ở các thành phố do người dân tự tổ chức.
5.1.3 Phân bổ tài chính
Các luật sau đây tạo cơ sở pháp lí cho việc hỗ trợ tài chính đối với văn hoá và nghệ thuật. Hai luật đầu tiên quy định cơ sở pháp lí đối với sổ xố quốc gia và việc sử dụng lợi nhuận từ sổ xố. Các luật c̣n lại quy định cơ sở pháp lí của việc trợ cấp của nhà nước cho các thành phố, các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá ở địa phương.
Bảng 1: Luật điều chỉnh việc phân bố nguồn tài chính
|
Luật |
B́nh luận |
|
Luật Sổ xố (1047/2001) |
Sửa đổi luật sổ xố đă được ban hành trước đó hơn hai thập kỉ; quy định nhà nước độc quyền trong các lĩnh vực 1) sổ xố, lô tô, cá độ, 2) máy giật xèng và ṣng bạc, và 3) cá độ đua ngựa để kí kết hợp đồng với những nhà tổ chức hoạt động này, quy định việc nộp lợi nhuận vào ngân sách nhà nước, và việc sử dụng nguồn tiền này vào các mục đích cụ thể |
|
Luật Quy định về việc Sử dụng Lợi nhuận từ Sổ xố/Lô tô, Cá cược bóng đá (1054/2001) |
Xác định tỉ lệ hàng năm của lợi nhuận từ sổ xố/lô tô, cá cược bóng đá vào các mục đích: 25% cho thể thao, 5% dành cho các biện pháp chính sách đối với thanh niên, 17.5% dành cho nghiên cứu khoa học và 25% dành cho nghệ thuật |
|
Luật về Trợ cấp của Nhà nước cho các Thành phố (688/1992, luật sửa đổi 1313/1998 1147/1996, 1102/1997, 1061/1998, 1126/1998 |
Xác định các nguyên tắc để tính toán và phân bổ ngân sách trung ương cho các thành phố |
|
Luật về Hỗ trợ tài chính cho văn hoá và giáo dục (ban đầu là luật số 705/1992; hiện nay là luật số 642/1998, luật sửa đổi số 1189/1999) |
Quy định cụ thể các nguyên tắc để tính toán và phân bổ nguồn trợ cấp của chính quyền trung ương cho các tổ chức như nhà hát, bảo tàng, giàn giao hưởng, giáo dục nghệ thuật, v.v.. |
|
Luật Hoạt động Văn hoá của Thành phố (728/1992, luật sửa đổi 1681/1992) |
Cơ sở pháp lí để chính quyền trung ương hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá tại các thành phố (những hoạt động không phải do nhà nước tổ chức) |
|
Luật Bảo tàng (729/1992, luật sửa đổi 1959/1995, 1166/1996) |
Cơ sở pháp lí để xác định các nhà hát kịch và dàn giao hưởng đủ điều kiện hưởng trợ cấp từ chính quyền trung ương theo "luật hỗ trợ tài chính" |
|
Luật Thư viện (công) (trước đây là luật 235/1986; hiện nay là luật 904/1998, các luật sửa đổi 134/1990, 725/1992) |
Cơ sở pháp lí để xác định nhiệm vụ của các thư viện công (tại các thành phố) đủ điều kiện hưởng trợ cấp từ ngân sách chính quyền trung ương theo "luật hỗ trợ tài chính" |
5.1.4 chương tŕnh an sinh xă hội
Người lao động trong lĩnh vực văn hoá bao gồm những người làm việc trong hệ thống dịch vụ văn hoá của nhà nước hoặc được nhà nước hỗ trợ- có cả nghệ thuật biểu diễn- đều được hưởng chế độ an sinh xă hội bắt buộc và chế độ hưu trí. Được hưởng chế độ này c̣n có những người làm việc dài hạn cho các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh văn hoá và các tổ chức thương mại/ nghề nghiệp trong các lĩnh vực nghệ thuật và văn hoá. Chế độ này không áp dụng đối với các nghệ sĩ hoặc người lao động (trong ngành văn hoá) theo h́nh thức cộng tác viên.
Đă có nhiều nỗ lực nhằm cải thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xă hội (đặc biệt là hưu trí) cho các nghệ sĩ. "Luật Hưu trí đối với nghệ sĩ và những người làm việc trong ngành nghề có thời gian làm việc ngắn" đă chuẩn hoá một số quy định, tuy nhiên c̣n rất nhiều khó khăn phải bàn đến. Ba lĩnh vực sau đây đă được yêu cầu phải cải tổ:
*Khi các nghệ sĩ đóng chi phí an sinh xă hội th́ phải được hưởng tiền lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp.
*Chế độ hưu trí và an sinh xă hội của các nghệ sĩ và những cộng tác viên phải phù hợp hơn với điều kiện thu nhập không đồng đều và không ổn định của các nghệ sĩ;
*Cải thiện các quyền của nghệ sĩ làm việc theo h́nh thức cộng tác viên.
Các vấn đề nói trên đă đạt được những tiến triển nhất định (ví dụ như lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp dựa trên tổng số tiền đóng bảo hiểm của nghệ sĩ), nhưng hầu hết các đề xuất cải tổ c̣n phải chờ để ban hành thành luật.
5.1.5 Luật thuế
Không có một quy định pháp lí hoặc hành chính nào để khuyến khích việc hiến tặng. Mặt khác, luật thuế thu nhập (tại điều 57) có quy định về khấu trừ thuế nhưng trong phạm vi hạn hẹp (tối thiểu 850 euro, tối đa 27000 euro) đối với việc hiến tặng tài sản cho nhà nước, trường đại học hoặc các tổ chức phi lợi nhuận trong lĩnh vực khoa học và nghệ thuật, các tài sản đó phải được Uỷ ban Ưu đăi thuế thừa nhận là có ư nghĩa về mặt văn hoá. Tuy nhiên, các khoản hiến tặng được khấu trừ thuế nhằm ǵn giữ các di sản văn hoá quốc gia cũng không có được mức giới hạn cao hơn. Một đạo luật đặc biệt cho phép giảm thuế đối với các giao dịch thương mại của các tổ chức t́nh nguyện và những tổ chức phi lợi nhuận khác, với điều kiện thu nhập phải được sử dụng "cho các mục đích chính đáng".

Luật thuế giá trị gia tăng của Phần Lan được ban hành phù hợp với các văn bản liên quan của Liên minh châu Âu. Tỉ suất thuế VAT là 8% đối với sách và các loại phí thu từ các dịch vụ và biểu diễn về văn hoá, nghệ thuật và giải trí (phí vào tham quan bảo tàng, tiền vé tại các rạp chiếu bóng, tiền vé xem biểu diễn kịch, giao hưởng và xiếc, âm nhạc và múa). Tỉ suất 8% cũng áp dụng đối với việc phát thanh và truyền h́nh; thuế suất 0% áp dụng đối với các báo, tập san. Tỉ suất thuế VAT thông thường ở Phần Lan là 22%.
5.1.6 Luật lao động
Các văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh việc sử dụng lực lượng lao động ở Phần Lan là Luật hợp đồng lao động và Luật công chức. Cả hai luật này xác định các quyền của người lao động và nghĩa vụ của bên thuê lao động. Các nghệ sĩ và người lao động theo h́nh thức cộng tác viên không thuộc diện áp dụng quy định của luật này.
5.1.7 Luật bản quyền
Luật Bản quyền đang có hiệu lực hiện nay được ban hành vào năm 1961, và từ đó đến nay đă qua 20 lần sửa đổi. Lần sửa đổi gần đây nhất là nhằm phù hợp với 7 Chỉ thị của Liên minh châu Âu. Dự luật của Chính phủ, trong đó vạch ra những thay đổi (nhằm phù hợp với chỉ thị của Liên minh châu Âu về xă hội thông tin), đă được tŕnh lên nghị viện vào tháng 3/ 2004, và hiện nay nó đang được xem xét tại Uỷ ban của Nghị viện (về văn hoá) với sự tham gia của các nhóm/ chuyên gia có liên quan. Dự luật này đưa ra các thay đổi rất sát với chỉ thị của EU.
Trong khuôn khổ của Luật Bản quyền, các tổ chức bản quyền và các quyền liên quan (tổ chức của các nhà văn, dịch giả, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn, hăng ghi âm và nhà sản xuất các chương tŕnh nghe-nh́n, v.v..) giám sát một cách hiệu quả đối với các quyền của tác giả và nhà sản xuất, các quyền đối với việc biểu diễn âm nhạc nơi công cộng và quyền sao chép. Như đă nói ở trên Luật bản quyền của Phần Lan quy định rằng giấy phép chung (có thể gia hạn) cho phép sử dụng tác phẩm của một tác giả hoặc một nghệ sĩ biểu diễn, khi thoả thuận (về việc) cho phép đă đạt được giữa người sử dụng với tổ chức quản lí và thu phí bản quyền (CMO). Các tổ chức này đại diện cho một số lượng lớn các tác giả và nghệ sĩ biểu diễn ở Phần Lan trong một lĩnh vực nhất định. Thu nhập (từ việc sao chép lại, bao gồm cả phát lại trên truyền h́nh và tỉ lệ của phí băng trắng) của các tổ chức thu phí Kopiosto và đơn vị trực thuộc của nó là AVEK, và Trung tâm Xúc tiến Văn hoá Nghe nh́n Phần Lan, là 16 triệu euro vào năm 2000. Thu nhập trong lĩnh vực bản quyền thuộc âm nhạc, bao gồm quyền của nhạc sĩ và các quyền liên quan đối với việc sử dụng các bản ghi âm nơi công cộng (bao gồm cả trên truyền h́nh và phát thanh) là khoảng 50 triệu euro vào năm 2002. Kể từ năm 1984 chế độ thu thuế băng trắng đă được áp dụng để thu tiền bản quyền đối với việc sao chép các sản phẩm nghe và nghe nh́n. Từ khi áp dụng đến nay đă thu về 140 triệu euro. Thu nhập được các tổ chức bản quyền phân phối, một phần là cho các chủ sở hữu bản quyền, một phần để bù đắp cho việc đào tạo, trợ cấp cho R&D (nghiên cứu và phát triển) và sản xuất. Trung tâm này thuộc quản lí của Kopiosto, tổ chức bản quyền thu phí đối với việc sao chép (bao gồm cả việc phát lại trên sóng phát thanh và truyền h́nh). Trung tâm này đă trở thành một cơ quan cung cấp tài chính quan trọng cho các dự án sản xuất về video và multimedia (đa phương tiện)
5.1.8 Luật bảo vệ dữ liệu
Bảo vệ dữ liệu - hay việc bảo vệ đối với các quyền của chủ sở hữu của hệ thống thông tin - cũng được quy định cùng với các vấn đề bản quyền khác. Đă có nhiều tranh luật liên quan đến quyền của "chủ sở hữu" đối với hệ thống thông tin, mà hệ thống này dường như thuộc về "công cộng" bởi v́ chúng được hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước hoặc những người thiết kế và thực hiện đều nhận tiền từ ngân sách nhà nước. Vấn đề này được giải quyết theo từng vụ việc cụ thể, và những tranh luận đă chịu tác động bởi các diễn biễn gần đây. Lĩnh vực thương mại quốc tế gần đây đă tạo ra một thách thức khi nhà sản xuất và phân phối các chương tŕnh giải bóng đá Ngoại hạng Anh (Fixtures Marketing Ltd) đă yêu cầu các công ty sổ xố quốc gia phải trả tiền cho họ v́ các công ty sổ xố đă sử dụng thông tin của họ để thiết lập hệ thống cá độ thể thao. Vụ việc này đă được đưa ra Toà công lí châu Âu và Veikkaus Ltd là bên thắng kiện, theo đó công ty sổ xố này không phải trả tiền cho Fixtures Marketing. Quyết định này cũng có nghĩa là Veikkaus sẽ có nhiều lợi nhuận hơn và nguồn tài chính sẽ "dồi dào hơn" để sử dụng vào các mục đích chính đáng, trong đó có cả lĩnh vực nghệ thuật và văn hoá.
5.1.9 Luật ngôn ngữ
Cộng đồng người Phần Lan nói tiếng Thuỵ Điển không chỉ là người thiểu số. Tư tưởng cơ bản về xây dựng đất nước quy định rằng Phần Lan có hai nền văn hoá song song, một nền văn hoá dựa trên ngôn ngữ Thuỵ Điển và nền văn hoá kia dựa trên ngôn ngữ Phần Lan. Quyền của cộng đồng nói tiếng Thuỵ Điển được bảo đảm trong hiến pháp mới sửa đổi (1999) và được định cụ thể hơn trong Luật Ngôn Ngữ. Luật này, cùng với các luật khác, quy định về việc sử dụng b́nh đẳng (tại toà án và các cơ quan hành chính) tiếng mẹ đẻ, hưởng giáo dục và được làm việc tại các cơ quan nhà nước. Luật mới về ngôn ngữ được ban hành năm 2003 và có hiệu lực từ đầu năm 2004: nó không mở rộng các quyền ngôn ngữ nhưng hướng tới bảo đảm thực thi các quyền này tốt hơn trên thực tế.
Hiến pháp cũng có quy định đặc biệt đối với người Sami, người Roma và những người sử dụng ngôn ngữ kí hiệu. Cả ba cộng đồng này được bảo đảm quyền "... duy tŕ và phát triển ngôn ngữ và văn hoá của riêng ḿnh". Quyền ngôn ngữ của các cộng đồng này cũng như người nước ngoài trong các thủ tục pháp lí và hành chính được bảo đảm bởi luật và quy định khác. Quyền văn hoá của các cộng đồng này cũng được ghi nhận bằng việc phê chuẩn các công ước quốc tế, đặc biệt là công ước Khung của châu Âu về bảo vệ dân tộc thiểu số và Hiến chương châu Âu về Bảo vệ ngôn ngữ của các vùng và dân tộc thiểu số
5.2 Luật văn hoá
Các nhà chính trị và viên chức ở Phần Lan vẫn thường lặp lại câu ngạn ngữ có từ thời Thuỵ Điển c̣n đô hộ" "land skall med lag byggas" (quốc gia phải được xây dựng trên cơ sở pháp luật). Tất nhiên, điều này trước hết nói đến trật tự hiến pháp, nhưng nó cũng là nguyên tắc cơ sở cho việc thực hiện chính sách. Thậm chí những cải tổ đă dẫn đến việc xây dựng một nhà nước phúc lợi ở Phần Lan cũng được ghi nhận trong luật, và cách dễ nhất để xác định các yếu tố cơ bản của chính sách văn hoá Phần Lan là xem xét các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực văn hoá.
Bảng 2 dưới đây tŕnh bày tổng quan về pháp luật hiện hành ở Phần Lan cho đến thời điểm cuối năm 2004, những văn bản quy định các vấn đề văn hoá một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngoài ra bảng này cũng chỉ ra một số sửa đổi, bổ sung gần đây, qua đó chứng minh được việc thực hiện các mục tiêu chính sách văn hoá và các vấn đề tranh luận được nêu ra trong phần 4.2. Phần b́nh luận giải thích nội dung và chính sách văn hoá liên quan của các đạo luật, sắc lệnh và các hiệp định quốc tế và công ước quốc tế. Để chi tiết hơn, xem tại các mục từ 5.3.1-5.3.10.
Các luật
chung, bao gồm Hiến pháp, và những căn cứ pháp lí khác để ban hành các chính
sách văn hoá, và quản lí các chính sách đó cũng được đề cập trong bảng này. Nó
chứng minh cho quyền tối cao của Nghị viện, là cơ quan có thẩm quyền quyết định
sau cùng về ngân sách nhà nước, vấn đề hiến pháp và những đạo luật khác, là chủ
thể quan trọng trong việc đưa ra đường lối cho nền kinh tế quốc dân, và là chủ
thể duy nhất có
chức năng điều phối mọi chính sách tổng quan của nhà nước. Phần đầu tiên của
Bảng là danh sách các văn bản quy định Bộ Giáo dục và Văn hoá là cơ quan quan
trọng trong việc đưa ra sáng kiến, lập kế hoạch và thực hiện các chính sách văn
hoá.
Sự phi tập trung theo chiều ngang của chính sách văn hoá Phần Lan, như đă nói tại phần 3.3, được phản ánh trong các luật và sắc lệnh tŕnh bày tại Bảng này. Các luật và sắc lệnh này quy định vị trí và vai tṛ của các tổ chức văn hoá quốc gia, các cơ quan và những "cánh tay nối dài". Vai tṛ của chính quyền các vùng và sự độc lập của chính quyền địa phương (các thành phố) trở nên rơ ràng trong phần liệt kê các luật liên quan đến hỗ trợ tài chính cho văn hoá và nghệ thuật.
Bảng 2: Các luật liên quan đến chính sách văn hoá và cơ quan quản lí văn hoá
|
Các văn bản pháp luật quan trọng về chính sách văn hoá |
B́nh luận |
|
I. Ban hành chính sách văn hoá và cơ quan quản lí |
|
|
Sắc lệnh về Bộ Văn hoá và Giáo dục (162/1997, sửa đổi 873/1997, 170/1998,442/2000, 319/2000); Lệnh về tổ chức và chức năng của Bộ Giáo dục(438/2000). |
Các văn bản pháp lí cao hơn về cơ quan quản lí nhà nước bao gồm Hiến pháp mới sửa đổi (731/1999); Luật Hội đồng Nhà nước 1120/1993; Lệnh về tổ chức và chức năng của các Bộ(1522/1995) |
|
Luật về tổ chức xúc tiến nghệ thuật (328/1967, sửa đổi 635/1997, 366/2000, 667/2002) |
Thành lập hệ thống các hội đồng quốc gia và hội đồng vùng hiện nay |
|
Luật về cơ quan quản lí nhà nước đối với Quỹ Cơ cấu, số 1353/1999, sửa đổi 1286/2000 |
Quy định mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các đơn vị hành chính trong việc hỗ trợ tài chính cho việc lập kế hoạch và thực hiện các chương tŕnh được hỗ trợ tài chính trong khuôn khổ các quỹ cơ cấu châu Âu |
|
Sắc lệnh của Bộ giáo dục về thẩm quyền của Uỷ ban giáo dục và các Văn pḥng Vùng trong việc quản lí các cơ quan quản lí Quỹ cơ cấu (933/2001) |
Giao các chức năng của Bộ Giáo dục về lập kế hoạch, thực hiện và ra quyết định trong Chương tŕnh Quỹ Cơ cấu EU cho Uỷ ban Giáo dục và các Văn pḥng Vùng |
|
Luật Uỷ ban Quốc gia về Cổ học (31/1972, sửa đổi 1016/1987, 1080/2001) |
Quy định cơ sở pháp lí cho các chuyên gia và cơ quan thực hiện chính sách về di sản |
|
Sắc lệnh Uỷ ban Quốc gia về Cổ học (119/1992) |
Quy định chi tiết Luật trên, ví dụ như Quy chế của Bảo tàng Quốc gia |
|
Luật Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia (trước đây là luật số 185/1990; hiện nay là 566/2000) |
Quy định tổ chức bảo trợ đối với ba bảo tàng nghệ thuật thuộc sở hữu nhà nước (Bảo tàng nghệ thuật trong nước, Bảo tàng nghệ thuật nước ngoài và Bảo tàng Nghệ thuật đương đại) |
|
Sắc lệnh về Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia ( 658/2000) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật Lưu trữ Phim (891/1978, sửa đổi 590/1989) |
Quy định về cơ quan lưu trữ phim |
|
Luật về Thư viện dành cho người khiếm thị (11/78, 638/1996, sửa đổi 835/1998) |
Quy định việc phục vụ sách dành cho người khiếm thị |
|
Sắc lệnh về Uỷ ban trao thưởng cho các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác (116/1997) |
Quy định cơ quan thực hiện việc bù đắp cho các nghệ sĩ khi họ trưng bày tác phẩm nghệ thuật của ḿnh nơi công cộng |
|
Luật về Uỷ ban Phim (775/2000) |
|
|
Sắc lệnh về Uỷ ban Phim (823/2000) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
II. Thúc đẩy nghệ thuật, các nghệ sĩ và sự sáng tạo |
|
|
Luật về trao thưởng cho các giáo sư và nghệ sĩ (734/1969, sửa đổi 143/1995, 367/2000, 666/2002) |
Quy định cơ sở pháp lí cho việc trao thưởng đối với nghệ sĩ |
|
Luật về Trợ cấp và Hỗ trợ các Nhà văn và Dịch giả (236/1961, sửa đổi 1080/83, 1067/1993, 1272/1994, 1358/1995, 1040/1996249/ 2002, 665/2002) |
Quy định việc hỗ trợ cho các nhà văn và dịch giả để bù đắp cho việc các tác phẩm của họ được sử dụng tại thư viện |
|
Luật về hỗ trợ các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác (115/1997) |
Quy định việc hỗ trợ đối với nghệ sĩ nghệ thuật thị giác khi trưng bày tác phẩm của họ nơi công cộng |
|
Quyết định của Hội đồng nhà nước về phụ cấp lương hưu cho các nghệ sĩ ( 75/1974) |
Quy định phụ cấp lương hưu đối với các nghệ sĩ cao tuổi – và hỗ trợ tài chính cho các tác phẩm nghệ thuật của họ |
|
Luật về Bảo đảm của Nhà nước đối với các Triển lăm Nghệ thuật (411/1986, sửa đổi 639/1991, 336/1994, 390/1997, 1116/2001)) |
Bảo đảm bằng h́nh thức bảo hiểm cho các nhà tổ chức triển lăm nghệ thuật |
|
Luật về Chế độ hưu trí của các nghệ sĩ và những người làm công việc có tuổi nghề ngắn (662/1985, đă quan nhiều lần sửa đổi). |
Bảo đảm việc trả lương hưu và các quyền liên quan đến hưu trí cho những người làm công việc có tuổi nghề ngắn, đặc biệt là các nhạc công, nghệ sĩ biểu diễn, nhà báo, thiết kế v.v.. |
|
III. Hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá và dịch vụ văn hoá |
|
|
Luật về Hỗ trợ Tài chính cho Giáo dục và Văn hoá (trước đây là luật số 705/1992; hiện nay là 642/1998, đă được sửa đổi theo 1186/1999) |
Xác định các nguyên tắc để tính toán và phân bổ trợ cấp của chính quyền trung ương cho cá tổ chức như nhà hát kịch, bảo tàng, giàn giao hưởng, giáo dục nghệ thuật phổ thông |
|
Luật về Hỗ trợ của Nhà nước cho các Thành phố (688/1992, đă sửa đổi 1313/1993 1147/1996, 1102/1997, 1061/1998, 1126/1998) |
Xác định các nguyên tắc để tính toán và phân bổ các khoản chuyển giao từ chính quyền trung ương cho thành phố |
|
Luật Sổ xố (1047/2001) |
Sửa đổi luật đă ban hành cách đây hai thập kỉ; trao cho nhà nước quyền độc quyền trong các lĩnh vựci 1) sổ xố / lô tô, cá độ bóng đá, 2) máy giật xèng và ṣng bạc, và 3) đua ngựa đối với các nhà tổ chức hoạt động kinh doanh này, quy định số lợi nhuận phải chuyển vào ngân sách nhà nước và sử dụng khoản lợi nhuận này vào những mục đích cụ thể |
|
Luật Quy định Sử dụng Lợi nhuận từ Sổ xố/ Lô tô và cá độ bóng đá (1054/2001) |
Xác định tỉ lệ lợi nhuận hàng năm của sổ xố/ lô tô, cá độ bóng đá vào các mục đích: 25% dành cho thể thao, 5% dành cho các biện pháp chính sách đối với thanh niên, 17.5% cho nghiên cứu khoa học và 35% cho nghệ thuật |
|
Sắc luật của chính phủ về việc tổ chức kinh doanh sổ xố (1345/2001) |
Quy định cụ thể các quy tắc mang tính kĩ thuật đối với mọi h́nh thức sổ xố |
|
IV. Các tổ chức văn hoá và nghệ thuật chuyên môn và các dịch vụ văn hoá của thành phố |
|
|
Luật Hoạt động Văn hoá của Thành phố (728/1992, sửa đổi 1681/1992) |
Cơ sở pháp lí để chính quyền trung ương hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá ở thành phố do người dân tổ chức |
|
Luật Bảo tàng (729/1992, sửa đổi 1959/1995, 1166/1996) |
Cơ sở pháp lí để xác định các bảo tàng đủ điều kiện hưởng trợ cấp từ chính quyền trung ương theo các quy định của “luật hỗ trợ tài chính” |
|
Luật Nhà hát và Giàn giao hưởng (730/1992, sửa đổi 1277/1994, 1460/1995, 642/1998) |
Cơ sở pháp lí để xác định các nhà hát và giàn giao hưởng đủ điều kiện hưởng trợ cấp từ chính quyền trung ương theo quy định của “luật hỗ trợ tài chính” |
|
Luật Thư viện (công) (trước đây là luật số 235/1986; hiện nay là 904/1998, sửa đổi 134/1990, 725/1992) |
Cơ sở pháp lí để xác định nhiệm vụ của các thư viện công (của các thành phố) đủ điều kiện để hưởng trợ cấp từ Chính phủ trung ương theo quy định của “luật hỗ trợ tài chính” |
|
Sắc lệnh Thư viện (Công) (1078/1998) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
V. Giáo dục người lớn |
|
|
Luật về giáo dục cho người lớn (632/1998) |
Luật mới ban hành xác định những h́nh thức truyền thống của việc t́nh nguyện giáo dục cho người lớn và quy định việc hỗ trợ của nhà nước |
|
Sắc lệnh về Giáo dục t́nh nguyện cho người lớn (805/1998) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
VI. Giáo dục và đào tạo nghệ thuật cho các nghệ sĩ |
|
|
Luật Giáo dục Đại học (1052/1986, sửa đổi 1207/1993 943/1996, 1279/2001) |
Bảo đảm việc hỗ trợ tài chính ổn định cho các trường đại học, trong đó có trường đại học nghệ thuật (Đại học Nghệt thuật và thiết kế, Viện Sebelius, Viện Mỹ thuật, Viện Kịch) và xác định tuổi đời hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn |
|
Luật Trường đại học (645/1997 sửa đổi 1059/1998). |
Quy định cơ cấu, chức năng và tổ chức đối các trường đại học và các đơn vị của nó, bao gồm cả trường đại học nghệ thuật (xem phần b́nh luận ở trên). |
|
Luật Giáo dục cơ bản về nghệ thuật (ban đầu là luật số 424/1992, hiện nay là 633/1998, được sửa đổi theo luật số 518/2000) |
Quy định việc tổ chức các môn học phụ về nghệ thuật cho trẻ em và thanh niên, quy định việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động này |
|
Sắc Lệnh Giáo dục cơ bản về Nghệ thuật (255/1995) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật Giáo dục Nghề nghiệp (630/1998)
|
Cơ sở pháp lí đối với việc giáo dục nghề nghiệp, trong đó có lĩnh vực văn hoá (nghề thủ công, thiết kế, múa, âm nhạc, v.v..) |
|
Sắc lệnh về Giáo dục Nghệ thuật (811/1998) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật Giáo dục Tổng hợp (633/1998) |
Xác định các mục tiêu và tổ chức của giáo dục tổng hợp, bao gồm cả giáo dục nghề nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật, văn hoá, truyền thông và nhân văn |
|
Sắc lệnh về Giáo dục Tổng hợp (256/1995) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật Chương tŕnh thí điểm về nghiên cứu sau đại học tại các trường đại học tổng hợp (645/2001) |
|
|
VII. Phát thanh truyền h́nh, phim, truyền thông đại chúng và các ngành kinh doanh văn hoá |
|
|
Luật phát triển Phim (28/2000) |
Luật này ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động của Viện Phim Phần Lan |
|
Sắc lệnh Phát triển phim (121/2000) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật về Hoạt động phát thanh truyền h́nh (744/1998) |
Xác định các điều kiện cho hoạt động phát thanh truyền h́nh, và cấp phép hoạt động cho các công ty phát thanh truyền h́nh |
|
Luật công ty phát thanh truyền h́nh Phần Lan (FBC, 1380/1993, sửa đổi 746/1998) |
Xác định vai tṛ của FBC như là một công ty phát thanh và truyền h́nh của nhà nước, và xác định tổ chức quản lí của công ty này |
|
Trước đây, luật về thanh tra đối với Video và các chương tŕnh nghe nh́n khác (697/1987), Hiện nya là Luật phân loại các chương tŕnh Nghe nh́n (775/2000) |
Phân loại theo độ tuổi đối với các chương tŕnh để bảo vệ trẻ em khỏi các h́nh ảnh bạo lực và t́nh dục; các vi phạm sẽ bị xử phạt theo Chương 17 Bộ Luật H́nh sự |
|
Sắc Lệnh về Uỷ ban Phân loại Phim 823/2000 |
Quy định chi tiết luật trên |
|
VIII. Thuế
|
|
|
Luật thuế giá trị gia tăng (1501/1993) |
Đặc biệt là luật 1265/2001sửa đổi điều 85a và quy định mức thuế thấp hơn (8%) đối với các sản phẩm văn hoá (sách) và các dịch vụ giải trí và văn hoá (vé xem biểu diễn nghệ thuật, xem phim, tham quan vườn thú, bảo tàng, v.v..). Một số sửa đổi cho phù hợp với chỉ thị của EU, sửa đổi gần đây nhất (1071/2001) mở rộng phạm vi áp dụng đối với việc mua bán các tác phẩm nghệ thuật |
|
Sắch lệnh về thuế giá trị gia tăng (50/1994) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
IX. Cạnh tranh tự do
|
|
|
Luật hạn chế cạnh tranh (480/1992) |
Để phù hợp với Chỉ thị của EU |
|
X. Luật bản quyền và các quyền liên quan
|
|
|
Luật Bản quyền (ban đầu là luật 174/19271, hiện nay là 404/1961, từ đó đă có hơn 20 lần sửa đổi) |
Dự luật sửa đổi gần đây nhất, theo Chỉ thị của EU 2001/29/EC về hài hoà một số khía cạnh bản quyền và các quyền liên quan trong xă hội thông tin và đă không được Nghị viện thông qua năm 2002. Dự luật này đă được sửa đổi lại và tŕnh lên Nghị viện tháng Ba năm 2004, và hiện đang được xem xét. Bên cạnh quá tŕnh xem xét này, Nghị viện cũng quyết định vấn đề phê chuẩn Công ước bản quyền của WIPO và Điều ước của WIPO về Biểu diễn và Ghi âm. Một số sửa đổi cụ thể để phù hợp với các chỉ thị của EU về bản quyền và các hiệp định quốc tế; một hệ thống các tổ chức bản quyền đă tham gia vào việc thực thi luật, thu và phân phối các khoản tiền bản quyền |
|
XI. Di sản văn hoá
|
|
|
Luật Bảo tàng (729/1992, luật sửa đổi số 1459/1995, 1166/1996), Luật Di chỉ Khảo cổ (số 295/1963, luật sửa đổi số 68/1995, 563/1995, 705/1995, 798/1996) |
Cơ sở pháp lí để bảo vệ các di chỉ khảo cổ và việc khai quật các di chỉ này |
|
Luật Lưu trữ (trước đây là luật số 184/1981, hiện nay là 831/1994) |
Quy định cơ sở pháp lí cho hệ thống lưu trữ quốc gia, các nguyên tắc để lưu giữ các tài liệu liên quan và quy định việc hỗ trợ đối với hoạt động lưu trữ của nhà nước và tư nhân |
|
Sắc lệnh Lưu trữ (1012/1982) |
Quy định chi tiết Luật trên |
|
Luật Lưu trữ Phim (576/1984) |
Cơ sở pháp lí và các nguyên tắc để lưu trữ phim |
|
Luật Xây dựng và quy hoạch (132/1999) |
Cơ sở pháp lí cho việc quy hoạch và việc bảo vệ công tŕnh xây dựng |
|
Luật Bảo vệ Công tŕnh xây dựng (60/1985), luật sửa đổi số 1152/1993) |
Cơ sở pháp lí để bảo vệ các công tŕnh có giá trị lịch sử |
|
Luật hạn chế Xuất khẩu các sản phẩm có giá trị văn hoá (trước đây là 445/1978, hiện nay là 115/1999)
|
|
|
Luật Quản lí Pháo đài Suomenlinna (1145/1988) |
Cơ sở pháp lí để thực hiện quản lí đối với pháo đài Suomenlinna, đă được UNESCO công nhận là Di sản thế giới |
|
XII. Người thiểu số và người nhập cư
|
|
|
Hiến pháp Phần Lan (731/1999) |
Điều 17 quy định tiếng Thụy Điển là một ngôn ngữ tồn tại song song với tiếng Phần Lan; ngôn ngữ của người Sami, Roma và Ngôn ngữ kí hiệu Phần Lan là ngôn ngữ của người thiểu số; Xem Sami là nền văn hoá bản địa, người Sami và các dân tộc thiểu số khác có quyền phát triển nền văn hoá của riêng ḿnh |
|
Luật Ngôn ngữ (4323/2003) và Luật Ngôn ngữ Sami 1080/2003
|
Luật ngôn ngữ quy định quyền và nghĩa vụ đối với việc sử dụng chính thức hai ngôn ngữ quốc gia tại các cộng đồng người Phần Lan nói tiếng Thuỵ Điển. Luật ngôn ngữ Sami quy định quyền sử dụng chính thức tiếng Sami, ít nhất là thông qua việc giải thích hoặc được nhận các văn bản chính thức bằng tiếng Sami |
|
Sắc lệnh về Uỷ ban Phát triển việc sử dụng chính thức Ngôn ngữ Thuỵ Điển (1037/2000) |
Thành lập cơ quan điều phối và phát triển việc sử dụng chính thức tiếng Thuỵ Điển |
|
Hiến pháp Phần Lan, điều 121
|
Bảo đảm quyền độc lập về văn hoá của người Sami tại các thành phố có cộng đồng người Sami sinh sống |
|
Luật Hội đồng Sami (974/1995, sửa đổi 975/1995, 1726/1995, 888/1996) |
Cơ sở pháp lí đối với cơ quan cố vấn, được thành lập do bầu cử. Hội đồng này xem xét mọi vấn đề của người Sami |
|
Luật về Quyền tự trị của vùng Aland (144/1991) |
Quy định quyền Tự trị của vùng Aland |
|
Hiến pháp Phần lan, Chương 2
|
Quy định các vấn đề nhân quyền: sự b́nh đẳng và không phân biệt đối xử trong quyền giáo dục, quyền sử dụng văn hoá và ngôn ngữ mẹ đẻ |
|
Luật Ngoại kiều (378/1991)
|
Quy định đối với người nước ngoài khi vào và cư trú tại Phần Lan; quy định cộng đồng này các quyền con người (nhân quyền) và quyền chính trị, quyền ở lại (cư trú) và đoàn tụ với các thành viên trong gia đ́nh; Luật này đă qua nhiều lần sửa đổi và hiện nay một dự luật mới đang được tranh luận tại nghị viện. |
|
Sắc lệnh Ngoại kiều (142/1994) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật người nhập cư và người tị nạn (493/1999, sửa đổi 118/2002, 1292/2002) |
Bảo đảm các cơ sở vật chất và kinh tế để người nhập cư và tị nạn có thể hội nhập nhanh nhất |
|
Sắc lệnh về người nhập cư và tị nạn (511/1999) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
XIII. Hợp tác văn hoá quốc tế
|
|
|
Sắc lệnh về việc gia nhập UNESCO (549/1956, sửa đổi 426/1967) |
Các Điều ước quốc tế như hiệp định, công ước, hiến chương, v.v.. có hiệu lực thông qua việc ban hành một văn bản (có thể là luật của Nghị viện hoặc Sắc lệnh |
|
Sắc lệnh về Uỷ ban UNESCO quốc gia (163/1966, sửa đổi 1168/1992) |
Xem b́nh luận ở trên |
|
Sắc lệnh về gia nhập hội đồng châu Âu (410/1989) |
Xem b́nh luận ở trên |
|
Sắc lệnh về việc gia nhập công ước châu Âu về văn hoá (98/1970) |
Xem b́nh luận ở trên |
|
Sắc lệnh gia nhập điều ước văn hoá vùng Bắc Âu (909/1971) |
Xem b́nh luận ở trên |
|
Sắc lệnh gia nhập quỹ văn hoá Bắc Âu |
Xem b́nh luận ở trên |
|
XIV. Các công ước, hiến chương, hiệp định quốc tế quan trọng về nhân quyền và quyền văn hoá mà Phần Lan đă phê chuẩn - ICCPR, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị - ICESCR, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xă hội và văn hoá - CERD, Công ước loại trừ các h́nh thức phân biệt chủng tộc - CRC, Công ước quyền trẻ em - CEDAW, Công ước loại trừ các h́nh thức phân biệt đối xử với phụ nữ - Công ước khung châu Âu về bảo vệ dân tộc thiểu số - Hiến chương châu Âu về bảo vệ ngôn ngữ các vùng và ngôn ngữ dân tộc thiểu số - Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản - Hiến chương châu Âu về xă hội - Nghị định thư số 3 về luật gia nhập Liên minh châu Âu. Phần Lan hợp tác với tư các quốc gia cũng như tư cách thành viên của EU trong việc tuân thủ các tổ chức quốc tế đối với các vấn đề người thiểu số: Liên hợp quốc, Hội đồng châu Âu, Hội đồng các Quốc gia biển Baltic, OSCE (Tổ chức an ninh và Hợp tác châu Âu), ILO (Tổ chức lao động quốc tế), và UNESCO
|
|
5.3 Các quy định cụ thể
5.3.1 nghệ thuật thị giác và nghệ thuật ứng dụng
Pháp luật Phần Lan về nghệ thuật và nghệ sĩ một mặt điều chỉnh vấn đề hỗ trợ của nhà nước và vấn đề quyền của các nghệ sĩ ở cấp độ cá nhân, mặt khác quy định sự hỗ trợ của nhà nước cho các tổ chức văn hoá và nghệ thuật. Sự hỗ trợ của nhà nước cho các tổ chức văn hoá nghệ thuật sẽ được đề cập chi tiết tại phần 7.2. Bảng 3 sau đây cung cấp các thông tin về những văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh vấn đề nghệ thuật và các nghệ sĩ. Bảng này cho thấy rằng các quy định pháp luật chủ yếu liên quan đến hỗ trợ tài chính, nghĩa là hệ thống các giải thưởng, trợ cấp và hỗ trợ cho các dự án và cải thiện môi trường sáng tạo
Bảng 3: Thúc đẩy phát triển nghệ thuật, nghệ sĩ và sự sáng tạo
|
Văn bản |
B́nh luận |
|
Luật về hỗ trợ cho Giáo sư nghệ thuật và nghệ sĩ (734/1969, sửa đổi 143/1995, 367/2000, 666/2002) |
Cơ sở pháp lí để thực hiện hỗ trợ cho các nghệ sĩ; luật sửa đổi số 143/1995 đă băi bỏ chế độ hỗ trợ 15 năm và làm cho hệ thống hỗ trợ này trở nên thực tế hơn |
|
Luật về hỗ trợ cho các nhà văn và dịch giả (236/1961, các luật sửa đổi số 1080/83, 1067/1993, 1272/1994, 1358/1995, 1040/1996249/ 2002, 665/2002) |
Quy định việc hỗ trợ cho các nhà văn và dịch giả để bù đắp cho việc tác phẩm của họ được sử dụng tại các thư viện |
|
Luật về một số hỗ trợ đặc biệt đối với nghệ sĩ nghệ thuật thị giác (115/1997) |
Quy định việc hỗ trợ đối với các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác khi tác phẩm của họ được trưng bày tại nơi công cộng |
|
Quyết định của Hội đồng nhà nước về phụ cấp lương hưu đối với nghệ sĩ (75/1974) |
Quy định phụ cấp cho các nghệ sĩ cao tuổi – và hỗ trợ tài chính cho các tác phẩm của họ |
|
Luật về bảo đảm của Nhà nước đối với các triển lăm nghệ thuật (411/1986, luật sửa đổi số 639/1991, 336/1994, 390/1997, 1116/2001)) |
Thực hiện chế độ bảo hiểm đối với các nhà tổ chức triển lăm |
|
Luật về lương hưu đối với nghệ sĩ và những người làm công việc có (tuổi thọ nghề) thời gian ngắn (662/1985, đă qua nhiều lần sửa đổi). |
Bảo đảm việc trả tiền lương hưu và các quyền về lương hưu đối với những người làm công việc có tuổi thọ nghề ngắn ví dụ như nhạc công, nghệ sĩ biểu diễn, nhà báo, hoạ sĩ vẽ cảnh, v.v... |
5.3.2 Nghệ thuật biểu diễn
Quy định về các nghệ sĩ biểu diễn cũng giống như các quy định chung đối với nghệ sĩ đă tŕnh bày tại Bảng 3 phần 5.3.1, xem thêm phần 7.2
5.3.3 Di sản văn hoá
Chính sách đối với việc bảo tồn các di sản văn hoá bao gồm các yếu tố sau: bảo vệ các công tŕnh tưởng niệm và các toà nhà có giá trị lịch sử, các di chỉ văn hoá và khảo cổ, ǵn giữ và giới thiệu các mẫu vật di sản văn hoá tại các bảo tàng, và bảo vệ các di chỉ văn hoá và xây dựng môi trường thông qua việc quy hoạch xây dựng. Trong tất cả các hoạt động này, Uỷ ban Quốc gia về cổ học có vai tṛ trung tâm, bên cạnh Bộ Môi trường; việc quy hoạch thuộc trách nhiệm của các hội đồng vùng và thành phố
Bảng 4: Các văn bản pháp luật quan trọng về di sản văn hoá
|
Văn bản |
B́nh luận |
|
Luật Bảo tàng (729/1992, sửa đổi 1459/1995, 1166/1996) |
Quy định cơ sở pháp lí để công nhận các bảo tàng chuyên ngành và bảo đảm cho các bảo tàng này nhận được hỗ trợ của nhà nước |
|
Luật về di chỉ khảo cổ (295/1963, các luật sửa đổi số 68/1995, 563/1995, 702/1995, 798/1996) |
Cơ sở pháp lí để bảo vệ các di chỉ khảo cổ và quyền khai quật |
|
Luật lưu trữ (trước đây là luật số 184/1981, hiện nay là 831/1994) |
Cơ sở pháp lí cho hệ thống Lưu trữ Quốc gia và các nguyên tắc lưu trữ và quy định sự hỗ trợ đối với hoạt động lưu trữ của Nhà nước và tư nhân |
|
Sắc lệnh về lưu trữ (1012/1982) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật Lưu trữ phim (576/1984) |
Quy định cơ sở pháp lí và các nguyên tắc để lưu trữ các tư liệu phim |
|
Luật Quy hoạch và xây dựng (132/1999) |
Quy định cơ sở pháp lí cho việc quy hoạch và bảo vệ môi trường xây dựng |
|
Luật Bảo vệ các công tŕnh xây dựng (60/1985, sửa đổi 1152/1993) |
Cơ sở pháp lí cho việc bảo vệ các công tŕnh xây dựng có ư nghĩa về mặt lịch sử |
|
Luật Hạn chế xuất khẩu các vật phẩm có giá trị về văn hoá (trước đây là luật số 445/1978, hiện nay là 115/1999) |
Ban hàn quy chế (EEC) số 3911/1992 |
|
Luật về cơ quan quản lư Khu vực pháo đài Suomenlinna (1145/1988) |
Cơ sở pháp lí để thực hiện quản lí đối với khu vực pháo đài đă được UNESCO công nhận Di sản thế giới |
5.3.4 Văn học và thư viện
Tiền bản quyền cho thuê sách được quy định trong Luật Hỗ trợ nhà văn và dịch giả (1961, sửa đổi gần đây nhất vào năm 2002). Luật này quy định một hệ thống hỗ trợ đặc biệt cho các nhà văn và dịch giả. Một uỷ ban đặc biệt được thành lập để thực hiện công việc đánh giá, và hiện nay hệ thống này được chuyển về quyền quản lí của Hội đồng Nghệ thuật Phần Lan. Năm 2000, có khoảng 2 triệu euro đă được phân bổ cho các nhà văn và dịch giả.
Luật Thư viện công được ban hành lần đầu tiên vào năm 1986 (sửa đổi gần đây nhất là vào năm 1998). Luật này tạo cơ sở pháp lư cho việc xác định nhiệm vụ của các thư viện công tại thành phố có đủ điều kiện để nhận hỗ trợ từ Chính phủ Trung ương theo quy định của “luật hỗ trợ tài chính”. Sắc lệnh Thư viện công (1998) quy định chi tiết luật này. Luật Lưu trữ được tŕnh bày tại Bảng 4, phần 5.3.3.
Để biết chi tiết hơn, xem tại Bảng 3 phần 5.3.1 và bảng 8 phần 7.2
5.3.5 Kiến trúc và môi trường
Kiến trúc được xem là một h́nh thức nghệ thuật và kiến trúc sư được xem là nghệ sĩ. Do đó, hỗ trợ của nhà nước cho lĩnh vực kiến trúc và kiến trúc sư được tŕnh bày tại Bảng 3, phần 5.3.1 đối với các nghệ sĩ.
Luật Bảo vệ các công tŕnh xây dựng (60/1985, sửa đổi 1125/1993) bảo vệ các toà nhà, các khu vực xây dựng và môi trường xây dựng có giá trị về mặt lịch sử văn hoá. Việc bảo vệ này liên quan đến các toà nhà nằm trong khu vực đă phân vùng (quy hoạch). Luật Xây dựng và sử dụng đất (132/1999) xác định hệ thống phân vùng (theo đó các thành phố có quyền độc lập trong việc phân vùng). Các di chỉ khảo cổ và công tŕnh tưởng niệm và nhà thờ được bảo vệ theo luật Di chỉ khảo cổ và Công tŕnh tưởng niệm (295/1963) và Luật Nhà thờ (635/1964).
5.3.6 Phim, video và nhiếp ảnh
Pháp luật chủ yếu đề cập đến việc sản xuất phim, phát thanh truyền h́nh và việc kiểm duyệt đối với phim và video (và hiện nay c̣n kiểm duyệt đối với máy tính và tṛ chơi điện tử). Hỗ trợ đối với sản xuất phim được thực hiện thông qua Hiệp hội phim Phần Lan. Luật và Sắc lệnh về sản xuất phim (2000) xác định tổ chức thực hiện hỗ trợ tài chính thông qua Hiệp hội phim và các h́nh thức hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy sản xuất và phân phối phim. Luật Phát thanh truyền h́nh, luật Công ty Phát thanh truyền h́nh Phần Lan và luật về Quỹ Phát thanh truyền h́nh Nhà nước đều có ư nghĩa quan trọng xét từ quan điểm tạo ra “thị trường” cho các nhà sản xuất phim truyện và nhà sản xuất các chương tŕnh truyền h́nh. Hệ thống kiểm duyệt của Phần Lan đối với phim, video và tṛ chơi điện tử hiện nay được xem là rất linh hoạt và hiệu quả.
Bảng 5: Luật phim, phát thanh, truyền h́nh
|
Văn bản |
B́nh luận |
|
Luật Phát triển phim (28/200) |
Luật này quy định chức năng của Viện phim Phần Lan |
|
Sắc lệnh phát triển phim (121/2000) |
Quy định chi tiết luật trên |
|
Luật Phát thanh truyền h́nh (744/1998) |
Quy định điều kiện hoạt động của các công ty phát thanh truyền h́nh và việc cung cấp dịch vụ của các công ty này |
|
Luật Công ty phát thanh truyền h́nh Phần Lan (FBC, 1380/1993, sửa đổi 746/1998) |
Quy định FBC là công ty phát thanh truyền h́nh quốc gia và quy định phương thức quản lí của công ty này |
|
Luật về quỹ phát thanh truyền h́nh Nhà nước (745/1998) |
Quy định việc tổ chức và h́nh thức sử dụng phí thu được từ dịch vụ phát thanh truyền h́nh |
|
Luật phân loại các chương tŕnh nghe nh́n (775/2000), trước đây là Luật về thanh tra đối với Video và các chương tŕnh nghe nh́n (697/1987) |
Phân loại theo độ tuổi các chương tŕnh nhằm bảo vệ trẻ em khỏi các h́nh ảnh bạo lực và t́nh dục; các hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Chương 17, Bộ luật H́nh sự |
|
Sắc lệnh về Uỷ ban phân loại phim (823/2000) |
Quy định chi tiết luật trên |
5.3.7 Các ngành kinh doanh văn hoá
Có rất ít luật điều chỉnh một cách trực tiếp đến các ngành kinh doanh văn hoá. Chúng chủ yếu liên quan đến sản xuất phim và phát thanh truyền h́nh (xem phần 5.3.6). Ngoài ra c̣n có luật điều chỉnh về nội dung, nghĩa là việc phân loại theo độ tuổi các chương tŕnh nghe nh́n nhằm bảo vệ trẻ em khỏi các h́nh ảnh bạo lực, t́nh dục, kinh dị hoặc “… những nội dung khác có thể gây ra tác động xấu đối với sự phát triển của trẻ em”. Mặt khác, pháp luật quy định rất cụ thể về vấn đề tự do bày tỏ, về bảo vệ bí mật đời tư. Luật thuế VAT (nhằm phù hợp với các chỉ thị của EU) cho phép đánh thuế với tỉ suất thấp (8% thay v́ 22%) đối với các hàng hoá và dịch vụ văn hoá. Luật thuế thu nhập cho phép khấu trừ thuế đối với việc hiến tặng cho các tổ chức xă hội và các quỹ từ thiện. Luật bảo vệ cạnh tranh tự do đă tỏ ra có hiệu quả trong việc ngăn chặn việc áp giá độc quyền trong các ngành kinh doanh văn hoá. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện luật này (Cục Quản lí cạnh tranh Phần Lan) đă tiến hành điều tra (1998-1999) đối với vụ sáp nhập lớn của công ty truyền thông hàng đầu của Phần Lan với một nhà xuất bản và một công ty phân phối sách và tạp chí. ở một số quốc gia EU khác, chỉ thị của EU nhằm vào việc ngăn ngừa các hạn chế cạnh tranh, và do đó, hệ thống này được gọi là hệ thống hạn chế cạnh tranh đối với các nhóm độc quyền. Chế độ giá cố định đối với sách đă được băi bỏ ở Phần Lan từ năm 1972.
Hiệp hội Phim Phần Lan, cơ quan có trách nhiệm hỗ trợ cho ngành điện ảnh, trước đây không có văn bản pháp luật nào làm cơ sở pháp lí để hoạt động ngoài Luật Hiệp hội. Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức và quản lí các hiệp hội của nhà nước và tư nhân. Trong khi Hiến pháp Phần Lan được sửa đổi, người ta chú ư đặc biệt đến tầm quan trọng của việc không giao quyền lực nhà nước cho các tổ chức tư nhân mà không có sự xác nhận (bởi việc ban hành một đạo luật). Điều này dẫn đến sự cần thiết phải thông qua Luật Phát triển phim vào năm 2000. Về cơ bản, luật này không làm thay đổi cách thức hoạt động của Hiệp hội Phim
5.3.8 Truyền thông đại chúng
Xem Bảng 5 tại phần 5.3.6 về các quy định đối với Phát thanh truyền h́nh
Hạn mức chương tŕnh truyền h́nh được quy định trong Luật Phát thanh truyền h́nh (1998) và phù hợp với các quy định của EU về “Truyền h́nh không biên giới”. Luật này đă tuân thủ chỉ thị của EU trong việc quy định thời lượng phát sóng các chương tŕnh EU trên các kênh truyền h́nh với … một tỉ lệ lớn thời lượng phát sóng, ngoại trừ thời lượng dành cho tin tức, sự kiện thể thao, các tṛ chơi, quảng cáo và dịch vụ điện toán”. Phù hợp với Điều 5 của Chỉ thị EU, Luật Phát thanh truyền h́nh đề ra hạn mức 15% cho chương tŕnh của các nhà sản xuất độc lập với điều kiện các chương tŕnh này phải được sản xuất trong ṿng 5 năm gần đây.
5.3.9 Luật đối với các nghệ sĩ tự doanh
Cơ sở pháp lí quan trọng đối với việc hỗ trợ trực tiếp cho nghệ thuật, nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật là Luật về Tổ chức phát triển nghệ thuật và Luật về Hỗ trợ đối với các Giáo sư nghệ thuật và nghệ sĩ (xem thêm phần 8.1.1). Ngoài ra, chúng ta có thể đề cập đến Luật Bảo đảm cho triển lăm nghệ thuật, quy định các biện pháp hỗ trợ gián tiếp nhằm thúc đẩy việc quảng bá các tác phẩm sáng tạo nghệ thuật.
Quy định đối với các nghệ sĩ nhằm vào việc hỗ trợ các khó khăn về kinh tế và xă hội do đặc thù của hoạt động nghệ thuật. Một vấn đề quan trọng là thuế thu nhập và thuế công ty. Có nhiều nỗ lực đă được thực hiện nhằm thay đổi việc đánh thuế đối với thu nhập từ giải thưởng và bản quyền, và nhằm đưa ra quyền thu nhập trung b́nh (bao gồm chi phí được khấu trừ thuế) trong nhiều năm.
Xem thêm phần 5.1.4
5.3.10 Các vấn đề khác
Tầm quan trọng của pháp luật về ngăn chặn cạnh tranh không b́nh đẳng đă được chứng minh, xét từ quan điểm nhằm tạo ra môi trường công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, và nhằm bảo đảm việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới và cho các ư tưởng mới/tác phẩm mới về nghệ thuật vốn là một phần của hoạt động sản xuất văn hoá.
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
6.1 Tổng quan

Đóng vai tṛ chính trong việc hỗ trợ tài chính cho văn hoá và nghệ thuật ở Phần Lan là chính quyền trung ương và các thành phố. Các lĩnh vực chính nhận được sự hỗ trợ tài chính là hoạt động sáng tạo (nghệ thuật và các nghệ sĩ), di sản, các tổ chức văn hoá và nghệ thuật (bao gồm cả tổ chức về nghệ thuật tŕnh diễn) và các dịch vụ mà tổ chức này cung cấp, và giáo dục văn hoá và nghệ thuật (cả giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp). H́nh thức hỗ trợ tài chính chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách, các khoản chuyển giao (trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan nhà nước) và hỗ trợ về thuế. Các số liệu về chi tiêu của nhà nước, tính theo giá chi phí hiện nay, rất đáng tin cậy; c̣n những số liệu về đầu tư cơ bản th́ không đáng tin cậy lắm.
ở Phần Lan không có chính quyền độc lập tại cấp vùng. Các tổ chức văn hóa vùng là những tổ chức của thành phố nhận trợ cấp bổ sung của nhà nước. Sử dụng khái niệm về văn hoá theo nghĩa rộng và các số liệu tŕnh bày trong phần 6.3, tỉ lệ cung cấp tài chính của trung ương là 58.3% và của thành phố là 41.7%. Nếu chúng ta hiểu văn hoá theo nghĩa hẹp, chi tiêu của nhà nước và thành phố được chia đều 50-50. Cũng phải lưu ư thêm rằng điều chúng ta đang nói đến là chi tiêu cho văn hoá. Theo số liệu năm 2001, tổng đầu tư cơ bản và các khoản chuyển giao của chính quyền trung ương là 18.1 triệu euro và của địa phương (thành phố) là 85.5 triệu euro. Trên thực tế, việc quản lí tài sản của chính quyền trung ương hiện nay được thực hiện bởi một công ty nhà nước, do đó rất khó để đánh giá việc đầu tư cơ bản của chính quyền trung ương trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật. Sử dụng khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng và có tính đến các số liệu đầu tư cơ bản quá thấp ở trên, th́ tỉ lệ chi tiêu cho văn hoá vào năm 2001 chiếm 3% tổng ngân sách nhà nước.
Không có một phương pháp chính xác nào để xác định chi tiêu của các hộ gia đ́nh cho văn hoá và nghệ thuật. Điều tra các hộ gia đ́nh về chi tiêu cho văn hoá, bao gồm các sản phẩm như báo, tạp chí, thuê bao truyền h́nh, thiết bị và chương tŕnh máy tính, tṛ chơi, v.v.. sách giáo khoa, sách bách khoa, các tư liệu và dịch vụ trong chụp ảnh. Nếu tính hết những yếu tố này th́ tỉ lệ chi tiêu cho “văn hoá” trên tổng chi tiêu của hộ gia đ́nh là 1.6-1.8%. Nếu chúng ta chỉ xem xét những sản phẩm văn hoá thực sự như tranh, tác phẩm thiết kế, vé xem điện ảnh và giao hưởng, vé xem triển lăm và tham quan bảo tàng, tiền thuê và mua băng video, các bản ghi âm, sách văn chương, v.v.. th́ tỉ lệ chi tiêu cho văn hoá và nghệ thuật trên tổng chi tiêu của hộ gia đ́nh là 0.4%.
6.2 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người
Theo định nghĩa của EUROSTAT, chi tiêu hàng năm của nhà nước cho văn hoá (không bao gồm truyền thông và giáo dục) tính theo b́nh quân đầu người ở Phần Lan là 140.35 euro năm 2001. Tỉ lệ chi tiêu trên GDP là 0.54%.
6.3 Thống kê chi tiêu theo cấp chính quyền
Bảng 6: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá: theo cấp chính quyền, triệu euro, năm 2001
|
Cấp chính quyền |
Chi tiêu |
|
|
Triệu euro |
% trên tổng số |
|
|
Trung ương Chi trực tiếp Chuyển giao cho thành phố Các khoản chuyển giao khác |
181.3 117.9 120.0 |
24.3 15.8 16.2 |
|
Thành phố Tất cả các chi tiêu trực tiếp và các khoản chuyển giao |
325.8 |
43.7 |
|
Tổng chi tiêu |
745.0 |
100 |
Nguồn: số liệu được tổng hợp cho điều tra của EUROSTAT, 2004
6.4 Thống kê theo lĩnh vực
Bảng 7 dưới đây tŕnh bày những số liệu về phân bổ chi tiêu theo các lĩnh vực (lĩnh vực chính và lĩnh vực phụ) của hoạt động văn hoá năm 2001. Các số liệu chỉ tŕnh bày chi tiêu ṛng (theo giá hiện thời). Lưu ư rằng lĩnh vực di sản bao gồm cả bảo tàng nghệ thuật, và các số liệu về giáo dục chỉ nói đến giáo dục đại học về nghệ thuật.
Các số liệu cho thấy sự vượt trội trong hai lĩnh vực: thư viện và nghệ thuật biểu diễn (nghệ thuật tŕnh diễn). Điều này cũng dễ hiểu xét về mặt ư thức cũng như về mặt kinh tế. Hệ thống thư viện công, các nhà hát, kịch opera và âm nhạc cổ điển đi tiên phong trong việc truyền bá văn hoá Phần Lan ra nước ngoài; đây cũng là lĩnh vực “sử dụng nhiều lao động” và được chính quyền trung ương cũng như thành phố hỗ trợ.
Trong các hoạt động văn hoá xă hội c̣n bao gồm cả chi tiêu của nhà nước đối với giáo dục ngoại khoá về nghệ thuật và chi tiêu cho văn hoá của các thành phố cho việc quản lí văn hoá và để hỗ trợ các hoạt động văn hoá do người dân tự tổ chức. Các thành phố nhận được các khoản chuyển giao ngân sách từ chính quyền trung ương cho các hoạt động này.
Bảng 7: Hỗ trợ tài chính của nhà nước cho văn hoá năm 2001.
|
Lĩnh vực |
Tổng chi tiêu của nhà nước
|
Chính quyền trung ương Chi trực tiếp |
Chính quyền trung ương Chuyển giao cho các thành phố |
Các khoản chuyển giao khác của chính quyền trung ương
|
Chính quyền địa phương. Tổng các khoản chi tiêu |
|
|
|
% |
euros |
euros |
euros |
euros |
euros |
|
Di sản văn hoá |
15.2 |
113 564 329 |
35 354 551 |
12 238 000 |
17 132 778 |
48 839 000 |
|
Các công tŕnh lịch sử và di chỉ khảo cổ |
|
11 917 676 |
11 917 676 |
|
|
|
|
Bảo tàng (Lịch sử & nghệ thuật) |
|
101 646 653 |
23 436 875 |
12 238 000 |
17 132 778 |
48 839 000 |
|
Các lĩnh vực khác |
|
|
|
|
|
|
|
Lưu trữ |
1.7 |
12 188 516 |
12 188 516 |
|
|
|
|
Thư viện |
30.53 |
226 895 533 |
16 633 774 |
81 000 000 |
3 363 759 |
125 898 000 |
|
Công |
|
214 695 533 |
4 433 774 |
81 000 000 |
3 363 759 |
125 898 000 |
|
Các cơ quan chức năng của thư viện quốc gia |
12 200 000 |
12 200 000 |
|
|
|
|
|
Kiến trúc |
0.1 |
1 011 716 |
513 375 |
498 341 |
|
|
|
Nghệ thuật thị giác |
5.5 |
40 749 871 |
35 991 835 |
4 758 036 |
|
|
|
Nghệ thuật thị giác |
5 639 928 |
4 079 144 |
1 560 784 |
|
|
|
|
Thiết kế |
3 795 210 |
959 562 |
2 835 648 |
|
|
|
|
Nhiếp ảnh |
979 497 |
617 893 |
361 604 |
|
|
|
|
Đa lĩnh vực |
237 951 |
237 951 |
|
|
|
|
|
Giáo dục |
24 842 000 |
24 842 000 |
|
|
|
|
|
Các khoản không thể phân tách |
5 255 285 |
5 255 285 |
|
|
|
|
|
Nghệ thuật tŕnh diễn |
30.0 |
223 685 778 |
55 523 060 |
17 961 000 |
69 017 718 |
81 157 000 |
|
Âm nhạc |
|
55 066 949 |
17 168 414 |
9 321 000 |
2 035 535 |
26 482 000 |
|
Múa |
3 255 233 |
940 269 |
1 699 964 |
615 000 |
|
|
|
Nhà hát kịch, Opera |
37 800 840 |
35 936 840 |
3 864 000 |
|
|
|
|
Kịch sân khấu |
|
88 715 986 |
1 473 339 |
8 640 000 |
28 406 647 |
50 196 000 |
|
Đa lĩnh vực |
|
|
|
|
|
|
|
Các h́nh thức Khác |
938 732 |
938 732 |
|
|
|
|
|
Không thể phân tách |
5 795 038 |
5 795 038 |
|
|
|
|
|
Giáo dục |
30 146 000 |
30 146 000 |
|
|
|
|
|
Sách và báo |
3.0 |
22 368 491 |
8 047 536 |
14 320 955 |
|
|
|
Sách |
6 198 943 |
4 497 988 |
1 700 955 |
|
|
|
|
Báo |
13 380 000 |
760 000 |
12 620 000 |
|
|
|
|
Không thể chia tách |
2 789 548 |
2 789 548 |
|
|
|
|
|
NGhe nh́n & Đa phơng tiện |
2.0 |
14 987 775 |
4 055 560 |
10 932 215 |
||