![]()
|
|
New Zealand là một nước theo chế độ quân chủ lập hiến, quốc hội là cơ quan lănh đạo cao nhất. Nước này có diện tích đất sử dụng là 270, 500 km2, với số dân khoảng 3.7 triệu người trong đó 85% sống ở các đô thị, c̣n 29% sống ở các thành phố lớn, Auckland. Nước New Zealand có một bang duy nhất. Chính quyền địa phương được phân chia cho các hội đồng địa phương, hội đồng quận, và hội đồng thành phố.

New Zealand nằm phía nam Thái b́nh dương, cách Úc 1600 km, New Zealand được h́nh thành bởi 2 ḥn đảo lớn ( Bắc và Nam ) và 1 dải đảo nhỏ. Đảo Bắc nơi có thủ đô Wellington và đảo Nam nơi có thành phố Christ Church nổi tiếng với những dăy núi chạy dài theo chiều dài của đảo tạo nên 1 cảnh quan tuyệt đẹp. New Zealand có khí hậu ôn đới với mùa đông ẩm ướt và mùa hè ấm và khô.
Hiệp ước Waitangi giữa người bản xứ Maori của New Zealand và với Vua nước Anh được kí vào năm 1840. Bản hiệp ước bằng tiếng anh có 3 điều khoản sau:
1. Các lănh đạo của liên minh các bộ tộc ở New Zealand, các vị lănh đạo riêng và độc lập th́ không được thành thành viên của liên minh của Nữ hoàng Anh và không có quyền sử dụng đất và các quyền tối cao độc lập mà điều này được nói đến ở hành động và sử dụng của Liên minh hoặc các lănh đạo, hoặc nhiều đề xuất để áp dụng hoặc để hành động trong các lănh thổ tương ứng như quyền tối cao duy nhất.
2. Nữ hoàng Anh thừa nhận và đảm bảo với các nhà lănh đạo và các bộ tộc ở New Zealand, từng gia đ́nh, cá nhân về việc sở hữu Đất đai, rừng và các sở hữu khác nữa... những thứ mà họ có thể được sở hữu chung và riêng: nhưng các nhà Lănh đạo Liên minh các bộ tộc và các nhà lănh đạo riêng nhượng toàn quyền cho Nữ hoàng về đất đai v́ vậy giữa người chủ sở hữu tài sản và người đại diện của Nữ Hoàng có thể thoả hiệp chuyển nhưỡng đất đai cho nhau với mức giá thoả hiệp giữa hai bên.
3. Nữ Hoàng có quyền mở rộng bảo vệ Hoàng gia ở New zealand và phổ biến cho họ các quyền và đặc quyền của công dân nước Anh.
Mặc dù với nền nông nghiệp, sản xuất, du lịch và các dịch vụ khác là những ngành chiếm ưu thế của nền kinh tế, nhưng bên cạnh đó ngành văn hoá lại là một ngành phát triển quan trọng. Lượng việc làm trong ngành này xấp xỉ chiếm 5% lực lượng lao động. Hơn 5% cơ sở kinh doanh hoạt động trong ngành này.
Mối quan tâm của chính phủ trong đời sống văn hoá của New Zealand có nguồn gốc từ cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, khi lần đầu tiên chính phủ thành lập tổ chức di sản quốc gia (các cơ quan tiên nhiệm ngày nay là Bảo tàng Te Papa Tongarewa của New Zealand, Thư viện Quốc gia, và Cơ quan lưu trữ quốc gia). Có nhiều bảo tàng, pḥng trưng bày,và các thư viện cũng được thành lập ở các vùng địa phương vào cuối thế kỉ thứ 19. …….Mối quan tâm của nhà nước trong ngành phát thanh truyền h́nh, cũng đă mở rộng, kể từ năm 1925.
Chính phủ hỗ trợ cho nghệ thuật bắt đầu những năm 1940, với việc thành lập dàn giao hưởng quốc gia và Quỹ văn học New Zealand. Các hoạt động khác đă tiếp tục trong hơn nửa thế kỉ tới: Hội đồng nghệ thuật Nữ hoàng Elizabeth II (năm 1963) – sau đó được cơ cấu lại thành Hội đồng nghệ thuật Toi Aotearoa của New zealand (năm 1994); Uỷ ban phim truyện New zealand (năm 1978); và Uỷ ban phát thanh truyền h́nh (NZ On Air), năm 1989.
New Zealand ủng hộ mô h́nh hộ trợ tầm xa theo Khối thịnh vượng chung, do đó New Zealand đă thành lập các tổ chức hỗ trợ cho ngành văn hoá. Theo mô h́nh này, Chính phủ phải tài trợ cho các cơ quan văn hoá và bộ nhiệm ban quan lư về lĩnh vực văn hoá, Nhưng phải thực hiện theo luật nghị viện Anh. Trong giới hạn của luật này, mỗi cơ quan tự hoạt động nghệ thuật phải thực hiện đầy đủ về chính sách. Kiểu mẫu này cho phép ngành này phát triển mà không cần đến sự can thiệp quá nhiều của chính phủ, và v́ thế các dịch vụ này nhằm bảo vệ tính tự do của ḿnh.
Năm 1970, nhà nước tập trung hỗ trợ “nghệ thuật đỉnh cao” bằng các cơ chế và các chính sách nhằm giúp đỡ rộng khắp các hoạt động văn hoá ở các cộng đồng dân tộc và địa phương. Các chính sách này có liên quan đến việc khích lệ việc tham gia vào cộng đồng cũng như hỗ trợ những người hành nghề văn hoá. Việc thay đổi chính sách đă phản ánh tư tưởng phát triển ngành văn hoá do tổ chức quốc tế UNESCO xúc tiến.
Một nhân tố nữa có ảnh hưởng đến chính sách văn hoá là làm mới hệ thống pháp luật mà đă được nói rơ trong Hiệp ước Waitangi từ năm 1975. Các cơ quan của chính phủ đă được thành lập, hoặc được tái cơ cấu, trong một vài năm kể từ khi có sự gia tăng của hai nền văn hoá.
Các cuộc cải cách kinh tế của những năm 1980 đă loại trừ vai tṛ của chính phủ trong trợ cấp sản xuất ở hầu hết các ngành nghề. Trong khi đó chính phủ vẫn tiếp tục hỗ trợ ngành văn hoá, trong mười năm qua có một tầm quan trọng trong việc đảm bảo trách nhiệm giải tŕnh tài chính của các tổ chức nhận hỗ trợ của quỹ công cộng, và việc bào chữa ủng hộ bằng các điều khoản về nhu cầu công cộng một cách thích đáng.
Việc cân đối quỹ tài trợ công cộng cho ngành văn hoá đă thay đổi từ việc phân bổ của chính phủ về số tiền thu được từ xổ số. (Xem mục 3.1, “ Tài chính cho các hoạt động văn hoá”.) Qua cùng một thời ḱ, việc phổ biến văn hoá toàn cầu đă thúc đẩy thảo luận chứng nhận văn hoá tự nhiên của New Zealand.
Mối quan tâm của chính phủ trong ngành văn hoá đă phát triển một kiểu cách chậm răi trong suốt những thập kỉ qua, và đă kéo theo một vài bộ ban ngành của chính phủ. Một bộ đă được giao nhiệm vụ tư vấn Chính phủ về các vấn đề trong ngành văn hoá, lúc này Bộ Văn hoá vẫn chưa được thành lập cho đến năm 1991. Một phần của những năm 1997 – năm 2000 “Các Vùng phạm vi chiến lược kết quả”, Chính phủ đă xác định nhu cầu phát triển một khuôn khổ về chính sách để “khuyến khích và xác nhận sự tiến triển của New Zealand và di sản văn hoá”.
|
|
|
|
1 Các bộ ban ngành thuộc chính phủ
Bộ di sản và văn hoá: Bộ Văn hoá và di sản là Bộ đầu tiên chịu trách nhiệm về ngành văn hoá. Bộ được thành lập vào năm 1991 (là Bộ văn hoá), cùng với việc uỷ thác nhằm có được kết quả sau:
Hầu hết việc sử dụng có hiệu quả các tài nguyên công cộng được cực đại hoá việc hiểu biết, thưởng thức, và tham gia vào văn hoá của New Zealand nhằm thúc đẩy đề cao văn hoá New Zealand.

Một chức vụ bộ trưởng cho ngành văn hoá lần đầu tiên được bổ nhiệm vào năm 1975. Bộ trưởng là người nắm giữ sự hiểu biết như Bộ văn hoá.
Bộ cung cấp chính sách cho Bộ trưởng Bộ văn hoá về các vấn đề và những ưu tiên của chính phủ qua ngành văn hoá. Ngoài ra c̣n cung cấp những mục tiêu chính sách phát triển. Các nhà quản lư cũng thường xuyên hỗ trợ cho các cơ quan thuộc ngành văn hoá sau:
§ Hội đồng nghệ thuật Toi Aoteoroa New Zealand (được biết đến như là cơ quan sáng tạo của New Zealand)
§ Uỷ ban phim truyện New Zealand
§ Bảo tàng Te Papa Tongarewa New Zealand (được biết đến như là Te Papa)
§ Dàn nhạc giao hưởng New Zealand
§ Cơ quan lưu trữ phim New Zealand
Trong tất cả các cơ quan kể trên chỉ có Cơ quan lưu trữ phim New Zealand chịu sử quản lư của nhà nước. C̣n chức năng của chúng được đề cập ở mục 2.2.
Từ 1 tháng 7 năm 1998 Bộ cũng sẽ có quỹ tài trợ thường xuyên nhóm múa Balê của Hoàng gia New Zealand và Lễ hội Aotearoa biểu diễn nghệ thuật Maori truyền thống.
Các nhà tư vấn của Bộ cũng hỗ trợ vốn chính cho các dự án ở bảo tàng địa phương, và một chương tŕnh nhằm bảo đảm cho các bảo tàng và các pḥng trưng bày khỏi bị nguy cơ mất hoặc thiệt hại các cuộc triển lăm du lịch.
Cùng với sự cộng tác với Bộ thống kê New Zealand, Bộ đă triển khai một khuôn khổ về việc sưu tập và công bố các số liệu thống kê về văn hoá. (Xem mục 6, “Phát triển văn hoá”)
Bộ trưởng bộ văn hoá đă kéo thêm một vài các thành viên quốc tế hoặc các bản thoả thuận. Thêm vào đó, Bộ phục vụ các uỷ ban liên bộ có liên quan đến các mối quan hệ quốc tế.(Xem mục 7, “Hợp tác văn hoá quốc tế”).
Theo bộ văn hoá, một số các bộ ban ngành khác có các trách nhiệm về ngành văn hoá, đó là các ngành sau.
Bộ Nội vụ Thành lập trước Bộ văn hoá, Bộ này quản lư các nhà cố vấn về chính sách văn hoá. Với vai tṛ như Bộ văn hoá, Bộ nội vụ vẫn chịu một số trách nhiệm cung cấp các dịch vụ văn hoá trực tiếp. Đó là các nhà quản lư của New Zealand.
Cơ quan lưu trữ quốc gia, và Luật cho các di tích cổ năm 1975, luật này nhằm kiểm soát quyền sở hữu và xuất khẩu các tài sản văn hoá không cố định. Nó lưu giữ lịch sử của chính phủ và Từ điển Tiểu sử New Zealand. Ngoài ra, c̣n chịu trách nhiệm chăm sóc các phần mộ của chiến tranh để lại và các di tích quốc gia, và đóng vai tṛ của chính quyền trong hoạt động kỉ niệm lễ kí kết Hiệp ước Waitangi thường niên.
Te Puni Kokiri cố vấn cho chính phủ về tất cả các mặt của chính sách có ảnh hưởng đến Maori, bao gồm chính sách văn hoá. Nó cung cấp hỗ trợ cho Liên hoan Nghệ thuật biểu diễn Aotearoa cứ 2 năm được tổ chức một lần.
Bộ Thương mại chịu trách nhiệm về quyền sử hữu của chính phủ về mạng lưới phát thanh truyền h́nh công cộng, điều chỉnh đài phát nói chung, và Uỷ ban Phát thanh truyền h́nh nói riêng (được biết đến như là NZ On Air), đây là nơi cung cấp quỹ cho các chương tŕnh và các ư định khác. Bộ Thương mại cũng quản lư luật tài sản trí tuệ, bao gồm cả Luật bản quyền ra năm 1994.
Thư viện Quốc gia New Zealand là nơi chứa chính thức tất cả các ấn bản của New Zealand, Vai tṛ của Thư viện quốc gia là sưu tầm và duy tŕ các tài nguyên văn học và thông tin có liên quan đến nước New Zea land và Thái B́nh Dương, nhằm làm cho thông tin có thể sử dụng dễ dàng hơn và nhằm bảo quản di sản tài liệu của đất nước cho các thế hệ tương lai sau này. Thư viện Alexander Turnbull là một cơ quan đặc biệt của ngành thư viện, nơi đây các di sản được bảo tốn, và có thể được sử dụng với sự trợ giúp của các nhà quản lư và những người thủ thư đặc biệt.
Bộ Giáo dục cũng đóng một vai tṛ quan trọng trong văn hoá.
2 Các cơ quan trong ngành văn hoá quốc gia

Các cơ quan trong ngành văn hoá quốc gia sau đây thuộc sở hữu và/hoặc được sự hỗ trợ của Chính phủ New Zealand. Trừ khi được chú ư ở mặt khác, ban quản lư của họ đều có sự bổ nhiệm của chính phủ. Có một danh sách về các luật lệ nhằm kiểm soát các cơ quan này và các mặt của ngành văn hoá.
Hội đồng luật New Zealand Toi Aotearoa (được biết đến là Cơ quan sáng tạo của New Zealand) được quy định bằng đạo luật nhằm “khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động nghệ thuật ở New Zealand nhằm có lợi nhuận cho toàn thể người dân New Zealand”.
Cơ quan sáng tạo của New Zealand gồm có Hội đồng quản lư, hai ban nghệ thuật, một trong số đó là Te Waka Toi, hỗ trợ nghệ thuật Maori. Cơ quan sáng tạo New Zealand tạo ra những trợ cấp cho các dự án văn học, sân khấu, âm nhạc,nhạc kịch, nghệ thuật nghe nh́n, thủ công mỹ nghệ, khiêu vũ, truyền thông đa phương tiện, phim thí nghiệm và video của các công ty, các cá nhân, quốc gia và cộng đồng (và những phối hợp các h́nh thái của những nghệ thuật này).
Uỷ ban Nghệ thuật đảo Thái B́nh Dương cũng bao gồm trong cấu trúc các công ty biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp chính của New Zealand nhận được các trợ cấp hàng năm từ Cơ quan sáng tạo New Zealand.
Uỷ ban phim New Zealand chịu trách nhiệm khuyến khích việc sáng tạo và phát hành phim New Zealand và phát triển phim New Zealand. Đây không phải là một hăng sản xuất phim, nhưng lại là nơi hỗ trợ việc sản xuất thông qua việc đầu tư, quảng cáo, và thông qua viêc hỗ trợ về cơ sở hạ tầng và phát triển các sáng tạo này.
Dàn nhạc giao hưởng New Zealand là dàn nhạc giao hưởng quốc gia, là dàn nhạc chuyên nghiệp biểu diễn đầy đủ các tour du lịch. Nó là bộ phận thuộc cấu trúc của đài phát thanh liên bang cho tới năm 1988, khi nó trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Bộ văn hoá và Tài chính đều là cổ đông của Dàn nhạc giao hưởng này. Một hợp đồng mua bán các dịch vụ đă được đàm phán thường xuyên giữa Ban quản lư dàn nhạc và các Bộ trưởng đang nắm giữ cổ đông.
Bảo tàng Te Papa Tongarewa của New Zealand, bây giờ được biết đến là Te Papa, được thành lập vào năm 1992, thay thế Bảo tàng quốc gia và Pḥng trưng bày nghệ thuật cũ. Đó cũng là ư định được nói rơ trong các Luật, nhằm “cung cấp một diễn dàn nơi quốc gia có thể được hiện diện, thăm ḍ, và được bảp tồn cả về di sản văn hoá và sự hiểu biết về môi trường tự nhiên để hiểu rơ hơn về quá khứ, làm giàu thêm các thách thức gặp phải trong hiện tại và trong tương lai”. Các địa điểm công cộng của Bảo tàng là nơi đón tiếp ở một công tŕnh mới ở khu bến cảng Wellington nơi khai trương vào tháng 2 năm 1998.
Cơ quan lưu trữ phim quốc gia New Zealand sưu tầm, bảo tồn và trưng bày di sản phim ảnh của New Zealand. Cơ quan là một tổ chức từ thiện, độc lập với chính phủ. Nó bổ nhiệm uỷ viên quản trị của chính ḿnh.
Với Luật phát thanh truyền h́nh năm 1989, Uỷ ban phát thanh truyền h́nh, được biết đến là NZ On Air, thu phí phát thanh truyền h́nh công cộng mà mỗi cá nhân sở hữu một chiếc tivi phải trả và sử dụng số tiền thu được đển hỗ trợ cho các chương tŕnh trên đài phát thanh truyền h́nh New Zealand, bao gồm các chương tŕnh của các nhóm yêu thích đặc biệt. (NZ On Air c̣n có thêm các chức năng bao gồm mở rộng lượng phát sóng đến các vùng hẻo lánh và hỗ trợ cho việc lưu trữ của đài phát thanh truyền h́nh).
Một phần phí thu nhập của đài phát thành truyền h́nh công cộng (năm 1996/97 là 14.4%) cũng được sử dụng cấp cho Te Mangai Paho, để hỗ trợ cho đài phát thanh truyền h́nh Maori. Một phần chia nữa của phí đài phát thanh truyền h́nh được NZ on Air sử dụng để tính thêm vào chi phí của mạng lưới phát thanh công cộng của New Zealand.(xem mục 5.3 “Phát thanh truyền h́nh”)
Ban quản lư lịch sử New Zealand chịu trách nhiệm nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn, quản lư và nắm giữ các công tŕnh và cảnh quan mang tính lịch sử, bao gồm cả những điều quan trọng như Maori, dưới Luật Địa danh lịch sử năm 1993. Một phân của ban quản lư được Bộ bảo tồn bổ nhiệm, phần c̣n lại được ban quản lư tự quyết định.
Uỷ ban ngôn ngữ Maori thúc đẩy việc sử dụng ngôn ngữ Maori trong và ngoài chính phủ. Maori đă là ngôn ngữ chính thức của New Zealand.
Đào tạo về truyền thông đại chúng. Mục tiêu của đào tạo truyền thông là truyền cảm hứng và trang bị cho trẻ em để trở thành những người học tṛ độc lập trong đường đời. đào tạo truyền thông cũng đă thoả thuận với Bộ Giáo dục New Zealand xuất bản tài liệu của chương tŕnh giảng dạy trong phạm vi giáo dục của truyền thông nhằm giúp đỡ giáo viên có phương tiện giảng dạy.
Có nhiều tài liệu đă được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ, bao gồm 6 thứ ngôn ngữ của Đảo Thái B́nh Dương và bằng ngôn ngữ Maori. Học qua truyền thông cũng phát các chương tŕnh giáo dục phục vụ cho nhiều trường học ở các nước khác nữa.
|
|
|
|
1. Tài chính cho các hoạt động văn hoá

Trong ngân sách hàng năm của chính phủ New Zealand dành cho việc này, được biết đến như là Votes, cho mỗi ban chính phủ. Những Votes này tách ra thành các sản lượng riêng bao gồm, cho những bộ ban mà đă được liệt kê ở mục 2.2, các sản lượng văn hoá. Trong việc xác định tổng số của Vote Cultural Affairs, ví dụ như, chính phủ phân phát các phân cho các số lượng đại diện cho hoạt động của Cơ quan sáng tạo New Zealand, Uỷ ban phim New Zealand, và các cơ quan khác thuộc trách nhiệm của Bộ văn hoá.
Có một lượng cân đối đáng kể của quỹ văn hoá cũng được Ban quản lư trợ cấp xổ số, đây là cũng là cơ quan đóng vai tṛ phân phối lợi nhuận của xổ số từ thiện quốc gia do chính phủ điều hành. Cùng với yêu cầu việc quản lư của Ban quản lư xổ số từ thiện đă ấn định việc phân phối tỷ lệ phần trăm thu nhập cho Cơ quan sáng tạo New Zealand, Uỷ ban Phim quốc gia New Zealand, và Cơ quan lưu trữ phim New Zealand. Thực chất, trong những năm gần đây Ban quản lư xổ số từ thiện hỗ trợ cho những cơ quan này nhiều hơn là số lượng quỹ mà họ được hỗ trợ thông qua Vote Cultural. Ban quản lư xổ số từ thiện cũng đă cung cấp trợ cấp cho các cơ sở vật chất văn hoá và cho các dự án di sản văn hoá.
Hầu hết việc so sánh phù hợp cho việc chi tiêu của công chúng cho ngành này qua các năm do Niên giám New Zealand cung cấp, được Cơ quan Thống kê New Zealand cung cấp.
Bảng sau chỉ thấy tổng lượng chi tiêu cho ngành văn hoá của cơ quan trung ương(Govt) và Ban quản lư xổ số từ thiện (LGB) trong năm nay Bộ đă thành lập và năm 1995/96, hầu hết những năm gần đây đă được ghi lại trong Niên giám quốc giám.
|
|
1991/92 |
1995/96 |
|
|
$000 |
$000 |
|
Chính phủ |
15,373 |
106,434 |
|
Ban quản lư xổ số từ thiện |
48,406 |
30,645 |
Các chỉ số này của năm 1996/97 tương lương $77,803,000(chính phủ) và 31$,598,000(Ban quản lư xổ số từ thiện).
Nguyên nhân chính của sự bất thường của chính phủ chi tiêu cho ngành này giữa năm 1991/92 và 1996/97 là các chi phí xây dựng toà nhà mới của Bảo tàng Te Papa Tongarewa, v́ nó đă xuống cấp từ năm 1995/96.
Chính phủ chi cho ngành văn hoá bằng một phần trăm trong tổng lượng chi trong suốt thập kỉ qua được chỉ rơ trong bảng sau:
|
1986/87 |
1991/92 |
1996/97 |
|
1986/87 |
1991/92 |
1996/97 |
Chính quyền trung ương tăng thêm lượng chi vào các ngành giáo dục có liên quan đến ngành văn hoá năm 1996/97 tăng lên trong năm này xấp xỉ 2.4%. Tuy nhiên, ước lượng việc chi cho giáo dục văn hoá tăng việc định rơ câu hỏi và khó để mà tính toán một cách chính xác.
Tổng chi của chính quyền địa phương cho văn hoá không có giá trị. Các mục đích chi cho văn hoá được các chính quyền địa phương đề xuất thay đổi đáng kể, phụ thuộc vào quy mô của chương tŕnh phát triển văn hoá và cơ sở hạ tầng của chính quyền địa phương. tuy nhiên, hầu hết các chính quyền địa phương cấp các dịch vụ thư viện, nhưng ở một nơi nào đó lớn hơn th́ việc sở hữu và hỗ trợ nhiều hơn đó là cả bảo tàng và cả các pḥng trưng bày nghệ thuật.(Có 400 bảo tàng và pḥng trưng bày nghệ thuật ở New Zealand.)
Cơ quan sáng tạo New Zealand cấp cho mỗi chính quyền trong 74 tỉnh thành ở New Zealand về hỗ trợ ban đầu và tài trợ theo đầu người. Tổng chi củ việc này là 2.5triệu $ vào những năm 1996/97.
Một nguồn quỹ công cộng tài trợ cho văn hoá nữa từ phí của đài phát thanh truyền h́nh công cộng, trong những năm 1996/97 quỹ này đă đạt được 86 triệu $
2. Pháp luật
Không có một pháp chế nào luật liên quan đến chính sách văn hoá. Bộ Văn hoá đă tự thành lập nó qua Nội Các, hơn là nhờ vào pháp luật. Theo bộ luật của Nghị viện áp dụng chung cho ngành này (Hiệp ước Waitangi, Luật bản quyền, Luật tuyên ngôn), thi hành những quy định cho các lĩnh vực của ngành này, hoặc thành lập các cơ quan văn hoá. Một số luật sau đă được sữa đổi:
§ Hiệp ước Waitangi năm 1975
§ Luật bản tuyên ngôn New Zealand năm 1900-(tự do thể hiện:mục 14)
§ Luật ngôn ngữ Maori năm 1987
§ Luật bản quyền năm 1994
§ Luật Tài chính Công năm 1989
§ Luật các di sản cổ năm 1975
§ Luật lưu trữ năm 1957
§ Hội đồng luật Toi Aotearoa New Zealand năm 1994
§ Luật phát thanh truyền h́nh 1989
§ Luật Đánh bạc và xổ số năm 1977
§ Luật các địa điểm danh thắng năm 1993
§ Luật bảo tàng Te Papa Tongarewa New zealand năm 1992
§ Luật thư viện quốc gia năm 1965
§ Luật cho Uỷ ban phim New Zealand năm 1978
§ Luật cho dàn giao hưởng New Zealand 1988
|
|
|
|
IV. Các chính sách cho ngành văn hoá |
1. Di sản văn hoá

Trách nhiệm của chính quyền trung ương trong lĩnh vực di sản văn hoá chủ yếu thông qua các thành viên của các tổ chức quốc gia - như Bảo tàng Te Papa Tongarewa New Zealand, Thư viên quốc gia, và Cơ quan lưu trữ quốc gia- và trong quản lư pháp chế như Luật các địa điểm di tích lịch sử năm 1993 và Luật di tích cổ năm 1975.
Các tổ chức di sản phi lợi nhuận/từ thiện đều có thể được chọn làm Ban quản lư xổ số từ thiện tài trợ cho các dự án và các mục đích chính, trong khi đó các bảo tàng chính của các địa phương cũng có thể được chọn cho việc hỗ trợ vốn từ chính quyền trung ương.
2. Giáo dục và đào tạo văn hoá
Bộ giáo dục chịu trách nhiệm chính sách giáo dục ở tất cả các cấp độ, bao gồm việc phát triển các môn trong chương tŕnh giảng dạy quốc gia có liên quan đến ngành văn hoá cho các trường tiểu học và trung học. Việc đào tạo đặc biệt trong một số môn văn hoá - mặc dù không phải là tất cả- nhưng cũng được các trường đại học và các trường cao đẳng sử dụng, cũng như ở các tổ chức tư nhân. Bộ Giáo dục cũng tài trợ cho Trường múa và kịch nghệ.
Ngoài ra, Bộ giáo dục c̣n có trách nhiệm trong việc quản lư Uỷ ban UNESCO quốc gia New Zealand.
3. Nghệ thuật biểu diễn
Múa và kịch sân khấu nhận trợ cấp của chính phủ chủ yếu thông qua Cơ quan sáng tạo New Zealand. Vào năm 1997, 10 cơ quan sân khấu và 3 trung tâm múa được nhận trợ cấp hoạt động hàng năm.
Có nhiều nhóm dự án, cá nhân khác trong ngành này và các h́nh thái nghệ thuật khác được liệt kê trong mục này đều nhận được trợ cấp nhỏ hơn từ Cơ quan sáng tạo New Zealand mỗi năm.
Tất cả các trợ cấp đều được nhận khi hoàn thành dự án và sẽ được chuyển từ các đơn vị chức năng của Cơ quan sáng tạo New Zealand như phát triển các h́nh thái nghệ thuật, Maori và đảo Thái B́nh Dương, và các ư định có liên quan đến việc tiếp cận và cả việc tham gia vào đó nữa.
(Các ư định chiến lược đều đạt được theo quy định th́ được xem xét lại 3 năm mỗi lần). Có nhiều dự án được tài trợ là đều được quản lư bằng đa luật.
4. Nghệ thuật tạo h́nh/thị giác
Cơ quan sáng tạo New zealand tạo trợ cấp cho từng nghệ sĩ, cho các pḥng trưng bày, các dự án nghệ thuật ứng dụng nghe nh́n, cũng như các tổ chức quảng cáo triển lăm. Các việc sưu tầm chính để nắm giữ các pḥng trưng bày và các bảo tàng, trong khi đó Bảo tàng Te Papa Tongarewa cũng sư tầm và triển lăm nghệ thuật New Zealand.
5. Văn học
Hỗ trợ cho văn học thông qua Cơ quan sáng tạo New Zealand là dành cho các dự án liên quan đến từng tác giả, và đến từng nhà xuất bản, cả các ḍng chính và đặc biệt.
Việc xuất bản văn hoá cũng được chính phủ sản xuất: có cả nhà xuất bản lịch sử của Bộ nội vụ và Từ điển tiểu sử của New Zealand (Bộ nội vụ), và cả nhà xuất bản giáo dục của Học qua truyền thông.
6. Âm nhạc và nhạc kịch
Năm 1997 Cơ quan sáng tạo New Zealand đă trợ cấp chính cho 4 dàn nhạc chính quốc, và 3 cơ quan nhạc kịch chính, cũng như các đoàn hợp xướng, Viện âm nhạc New Zealand, nhóm tứ tấu đàn dây New Zealand, và tổ chức các nhà soạn nhạc SOUNZ. Nó tạo một trợ cấp nhỏ cho các cá nhân, các tổ chức và các dự án.
Tất cả các h́nh thái nghệ thuật trên, Cơ quan sáng tạo New zealand cũng cấp quỹ cho mỗi đề xuất như khi có công việc mới, quảng bá các tác phẩm new Zealand trong nước và ra quốc tế, và thiết lập hoặc cấp dưỡng các nghệ sĩ/các toà công sứ.
Dàn nhạc giao hưởng New Zealand (NZSO), thuộc sở hữu và được cấp tài trợ của Chính phủ, đây là một dàn nhạc cho du lịch có khoảng 95 người chơi nhạc. Những người chơi nhạc cho NZSO cũng bị thu hút vào những điều khác, các buổi đồng diễn nhỏ, hầu hết đều có ư nghĩa với Dàn nhạc Giao hưởng New Zealand.
|
|
|
|
1. Xuất bản sách
Xem mục 5. “Văn học” ở trên.
2. Báo chí
Không có thể áp dụng.
3. Phát thanh truyền h́nh

Có hai loạii phí cho các kênh phát sóng truyền h́nh (Truyền h́nh New Zealand) và hai mạng lưới phát thanh (Đài phát thanh New Zealand và Kênh FM) đều là các sở hữu công cộng. Truyền h́nh New Zealand là một hăng thương mại, cũng như là hăng thuộc sở hữu của nhà nước, được yêu cầu nộp lợi nhuận cho chính phủ. Đài phát thanh New Zealand và Kênh FM đều là các tổ chức phi thương mại. Với các trường hợp riêng không quan trọng, phát thanh truyền h́nh ở New Zealand đều ở trong khu vực tư nhân. Chương tŕnh truyền h́nh được sản xuất trong nước, hay là cho mạng lưới sở hữu công cộng hoặc tư nhân, đều có sự nhỏ hơn so với chương tŕnh của hầu hết các nước đă phát triển, và tính phụ thuộc c̣n cao trong việc thu phí phát thanh truyền h́nh công cộng. Xấp xỉ 30% chi phí của chương tŕnh đài địa phương được hỗ trợ từ phí này và được NZ On Air phân phối (xem mục 2.2 “Các cơ quan trong ngành văn hoá quốc gia”.)
Một số chương tŕnh phát thanh làm nổi bật các đài phát thanh tư nhân mà được nhận tài trợ của NZ on Air. Cơ quan cung cấp hỗ trơ tài chính đối với các đài phát thanh, phát chương tŕnh của các nhóm phi lợi nhuận, và cácdịch vụ của đảo Thái B́nh dương. Te Mangai Paho, trợ cấp cho các dịch vụ và các đài phát thanh Maori, và trợ cấp cho các chương tŕnh bằng tiếng Maori trên truyền h́nh.
4. Ngành Ghi âm
Ghi âm ở New Zealand là một hoạt động rộng khắp trong khối tư nhân. Tuy nhiên, NZ On Air hỗ trợ việc sản xuất cho các cảnh âm nhạc phổ biến, các quảng cáo phát hành các CD mới của các đài phát thanh, và các h́nh thái khác của việc quảng bá. Cơ quan sáng tạo New zealand tạo các hỗ trợ cho các dự án thu âm dành cho các thể loại.
5. Ngành phim và chiếu phim
Có 4 phim truyện được bỏ vốn của Uỷ ban phim New Zealand mà đă được phát hành vào năm 1997, một trong số đó có sự hợp tác với Canada.(Xem mục 7, “Hợp tác văn hoá quốc tế”.) Trong 5 năm qua số lượng phim truyện phát hành ở New Zealand mỗi năm có từ 2 đến 6 phim. Uỷ ban phim hỗ trợ việc sản xuất khoảng giữa 8 đến 10 phim ngắn mỗi năm.
Cơ quan sáng tạo và Uỷ ban cũng cùng nhau trợ cấp trong lĩnh vực quay và dựng phim thí nghiệm và đổi mới.
|
|
|
|
VI. Phát triển văn hoá |
1. Thống kê văn hoá

Bộ văn hoá và Cục thống kê New zealand đă tham gia vào một dự án phát triển nhằm cải thiện chất lượng thông tin thống kê có giá trị hơn trong ngành văn hoá ở New Zealand. Đầu tiên là nhà xuất bản, được xuất bản năm 1995. Nó xác định các hoạt động ngành văn hoá, và các loại thành 9 lĩnh vực chính, mỗi lĩnh vực đều có bản ghi dữ liệu riêng.
Cục thống kê văn hoá của New Zealand Nga Tatauranga Whakapuaki Tuariki o Aotearoa vào năm 1995 là đại diện chính thức đầu tiên của ngành thống kê văn hoá. Nó được dùng các loại khuôn khổ để đại diện cho các con số của những người hoạt động trong ngành văn hoá, các tổ chức văn hoá, các sản phẩm văn hoá, các dịch vụ văn hoá và nhữngngười tiêu dùng văn hoá. Nó cũng nhận ra những khoảng trống và các thiếu sót đang tồn tại trong các nguồn dữ liệu.
Vào năm 1996 Việc chi tiêu của các hộ gia đ́nh cho văn hoá Nga Whakapaunga Moni a-Kainga nga Mahi Whakapuaki Tuakiri đă thảo luận về mảng thị trường tiêu thụ văn hoá, tổng hợp lại lượng chi tiêu trong ngày của các hộ tư nhân dành cho các sản phẩm và các dịch vụ văn hoá. Như một phần của dự án việc xuất bản thêm nữa là một kế hoạch năm 1998 về việc làm của ngành văn hoá, dựa vào Dân số Census và Dwellings năm 1996.
Vào năm 1994 và 1997, Bộ văn hoá cũng đă có một cuộc khảo sát chính thức về những người New Zealand/quan điểm đối với văn hoá. Có một loạt báo đă xuất bản với đầu đề Văn hoá có tầm quan trọng như thế nào?
|
|
|
|
VII. Hợp tác văn hoá quốc tế |
New Zealand có một thoả thuận văn hoá thông thường với Cộng hoà nhân dân Trung hoa để các trao đổi văn hoá trở nên dễ dàng hơn. Việc tham gia vào Liên hoan nghệ thuật Thái B́nh Dương được sự quản lư của uỷ ban chính phủ, bao gồm trong đó có cả Bộ văn hoá.

Chương tŕnh trao đổi giữa New Zealand và Nhật bản, đó là các thoả thuận về phát triển giáo dục giữa hai nước, cũng có sự tham gia của văn hoá.
Bộ trưởng bộ văn hoá là một thành viên của Hội đồng các Bộ trưởng về văn hoá người Australia, một diễn đàn nơi mà những các Bộ trưởng về văn hoá Autralia – của các bang, nhà nước và các hạt –có thể gặp gỡ trao đỏi về các vấn đề thuộc chính sách văn hoá thường xuyên.
New Zealand có các thoả thuận liên chính phủ với các nước Pháp và Italia. Thoả thuận với Pháp đưa đến việc thành lập một Uỷ ban chung về Văn hoá, khoa học, kĩ thuật và giáo dục giữa Pháp và New Zealand.
New Zealand là một thành viên năng động của UNESCO, với văn pḥng chính thức đặt ở Bộ giáo dục; hiện nay New Zealand ban thường trực. New Zealand cũng là một thành viên được nhận làm hội viên Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và khôi phục tài sản văn hoá quốc tế UNESCO (ICCROM).
New Zealand có 5 thoả thuận hợp tác sản xuất phim với các nước khác nữa. Các thoả thuận này được kí kết với Vương quốc Anh, Canada và Italia đều ở cấp chính phủ, trong khi đó Uỷ ban phim New Zealand đă xem xét các thoả thuận với các điều khoản tương đương với các nước Pháp và Autralia. 5 thoả thuận cho phép việc đầu tư song phương (thường thường với điều này phải có sự tham gia của các đảng thứ ba) trong việc đầu tư vào phim truyện.
(Nguồn: Culturelink)
|
|