1.
Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
Trước thời điểm 25 tháng 4 năm 1974, người Bồ Đào Nha vẫn chịu cai trị bởi chế độ phản tự do và chủ nghĩa quốc gia “Salazarist”. Chế độ này được áp đặt từ sau vụ đảo chính quân sự ngày 28 tháng 5 năm 1926. Một trong những mối quan tâm của chế độ này là tổ chức các hoạt động văn hoá phục vụ cho mục đích tuyên truyền. Chế độ toàn trị “Estado Novo” tự cho mình quyền quyết định hình thức văn hoá nào là phù hợp với nhân dân Bồ Đào Nha, và từ đó áp đặt các giá trị văn hoá. Vì thế, hệ thống giáo dục và sự kiểm duyệt đóng một vai trò hết sức quan trọng.

Vụ đảo chính quân sự ngày 25 tháng 4 năm 1974 đã kết thúc chế độ “Salazarist” và mở đường cho Bồ Đào Nha tiến đến nền dân chủ. Nó cũng mang lại những thay đổi sâu sắc trong chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá tại đất nước này. Cho đến tháng 7 năm 1976 đã có đến 6 chính phủ lâm thời, tất cả đều “đoản thọ”. Sự kết thúc của chính phủ lâm thời thứ sáu vào năm 1976 đã đánh dấu một thời kì chính trị mới trên đất nước này, trong đó 14 chính phủ lập hiến đã thay thế nhau thực thi quyền lực.
Giai đoạn từ năm 1985 đến 1995 có đến liên tục 3 chính phủ của phái Dân chủ Xã hội, điều này dẫn đến đường lối chính sách văn hoá chung tương đối thống nhất. Các chương trình hoạt động của các chính phủ này đã thể hiện được tầm quan trọng mà họ đặt vào vấn đề di sản văn hoá và văn hoá đọc. Ngược lại, các chính phủ này lại ít quan tâm đến các lĩnh vực múa, nghệ thuật thị giác, kịch, điện ảnh, và nghệ thuật nghe nhìn, và điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các đạo luật được thông qua.
Chính phủ phái Xã hội Chủ nghĩa lên nắm quyền từ tháng 10 năm 1995, và bắt đầu chính sách can thiệp mạnh hơn vào lĩnh vực văn hoá so với ba chính phủ trước đó. Lần đầu tiên, lĩnh vực văn hoá được đặt dưới sự bảo hộ của Bộ Văn hoá, bởi vì lúc này văn hoá được xem là một trong các lĩnh vực ưu tiên trong hoạt động của Chính phủ. Cơ cấu Bộ trưởng đã được sửa đổi, những cơ quan đang có cũng được cải tổ lại, và thêm nhiều cơ quan được thành lập.
Dưới thời chính phủ Xã hội chủ nghĩa (1995-2002), có đến 3 vị Bộ trưởng Văn hoá. Chính phủ mới là sự liên hiệp giữa Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Nhân dân, được bầu vào năm 2002. Thời kì này đã có các sửa đổi về chính sách văn hoá và những thay đổi trong cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá. Những hạn chế về tài chính và sự tập trung các dịch vụ công là các đặc điểm chung của giai đoạn này. Thủ tướng Bồ Đào Nha miễn chức để đảm nhận chức chủ tịch Uỷ ban châu Âu vào năm 2004, và điều này dẫn đến bầu cử vài tháng sau đó. Sau kỳ bầu cử, chính phủ phái Xã hội Chủ nghĩa lên nắm quyền, và Bồ Đào Nha có vị Bộ trưởng Văn hoá mới, là người thứ sáu chỉ trong vòng 10 năm.
2.
Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lí
2.1
Mô tả chung về hệ thống
Quản lý hành chính được phân thành ba cấp: chính quyền trung ương, chính quyền thành phố và các vùng tự trị Azores và Madeira, những vùng này có quy chế hành chính và chính trị đặc biệt.

Mặc dù từ năm 1995 chính phủ trung ương và địa phương có ý định phối hợp với nhau để thực hiện các chương trình văn hoá, thì vẫn tồn tại sự trì hoãn trong việc chuyển giao trách nhiệm văn hoá từ phía trung ương cho các địa phương và vùng. Đại diện Văn hoá vùng là cơ quan được thành lập năm 1980 nhằm mục đích làm giảm sự mất cân bằng giữa các vùng trong việc tiếp cận đến văn hoá. Cơ quan này có thể được ví như là “đại sứ” của Bộ Văn hoá tại những vùng xa xôi hẻo lánh. Vào cuối những năm 1990, sự can thiệp của chính quyền địa phương vào lĩnh vực văn hoá đã tăng lên đáng kể. Trong khi đó, Hiệp hội Quốc gia các thành phố Bồ Đào Nha thường kêu gọi phải quan tâm đến việc phân phối bất bình đẳng các nguồn lực của quốc gia. Tuy nhiên một vài trường hợp tích cực về sự phi tập trung cũng được ghi nhận: việc mua hoặc phục hồi các cơ sở văn hoá tại một khu vực; việc phát triển các mạng lưới (thư viện công, bảo tàng, trung tâm biểu diễn, lưu trữ, v.v..); thực hiện các chương trình đào tạo; sự bùng nổ các lễ hội.
2.3
Hợp tác giữa các bộ ngành và giữa các cấp chính quyền
Một loạt các thoả thuận đã được kí kết giữa Bộ Văn hoá và các bộ khác nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các bộ. Ví dụ như hợp tác với Bộ Giáo dục trong việc thành lập mạng lưới thư viện quốc gia; hợp tác với Bộ Lao động và đoàn kết dân tộc trong việc phát triển văn hoá đọc như là một phương cách để chống lại sự tách biệt xã hội; hợp tác với Bộ Y tế trong việc xuất bản các tài liệu để ngăn ngừa bệnh tật; hợp tác với Bộ Môi trường, kế hoạch và phát triển vùng trong việc đào tạo những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá tại các chính quyền địa phương; hợp tác với Bộ Ngoại giao để quảng bá ra thế giới ngôn ngữ và văn hoá Bồ Đào Nha; với tất cả các bộ trong việc tham gia và xã hội thông tin, v.v..
2.4
Hợp tác quốc tế về văn hoá
Từ trước đến nay việc hợp tác quốc tế về văn hoá chủ yếu tập trung vào việc quảng bá văn hoá và ngôn ngữ Bồ Đào Nha thông qua:
3.
Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
3.1
Các yếu tố chính mô hình chính sách văn hoá hiện nay
Chính sách văn hoá của chính phủ phái xã hội chủ nghĩa, từ năm 1995 đến 2002 là sự hỗn hợp giữa mô hình can thiệp và mô hình độc lập. Bộ trưởng văn hoá thứ nhất (của chính phủ phái xã hội chủ nghĩa) cho rằng để thúc đẩy vị thế của văn hoá, phải nhận thấy rằng “thay vì áp dụng một cách mù quáng các triết lí của thị trường cho văn hoá, phải thừa nhận rằng một số lĩnh vực thuộc văn hoá sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu không có sự can thiệp đúng mức của nhà nước. Đa dạng hoá các nguồn tài chính, đặc biệt là phát triển nguồn tài chính của khối tư nhân, có thể làm tăng số lượng và chất của của các hoạt động văn hoá, nhưng cũng không thể thay thế cho sự can thiệp của nhà nước.”

Trong thời kỳ chính phủ phái dân chủ xã hội, đã có một số nỗ lực theo hướng thực hiện mô hình kinh doanh nhằm cung cấp nhiều hơn nguồn tài chính của tư nhân dành cho văn hoá. Chính phủ phái xã hội chủ nghĩa hiện nay khuyến khích sự hợp tác giữa nhà nước và các thành phố để thực hiện mô hình phi tập trung hơn.
Bên cạnh Bộ Văn hoá, các cơ quan khác cũng đóng vai trò tích cực trong lĩnh vực văn hoá.
· Viện Camoes (IC), là cơ quan thuộc Bộ ngoại giao (MNE); Ban Quản lí các công trình và di tích Quốc gia (DGEMN); Bộ Môi trường, kế hoạch và phát triển vùng (MAOTDR);
· Quỹ Calouste Gulbenkian là một trong số các tổ chức tư nhân có đóng góp rất lớn vào sự phát triển văn hoá của Bồ Đào Nha. Được thành lập năm 1956, tổ chức này đã đóng một vai trò quan trọng trong rất nhiều các hoạt động văn hoá. Các tổ chức quan trọng khác còn có Quỹ Phương Đông, được thành lập năm 1988 nhằm mục đích tăng cường các mối liên hệ văn hoá và lịch sử giữa Bồ Đào Nha và các quốc gia phương Đông, đặc biệt là Macao và ấn Độ; Quỹ Serralves, được thành lập năm 1989, đã xây dựng được một bảo tàng quốc gia về nghệ thuật đương đại; Culturgest, một doanh nghiệp được thành lập năm 1993, và cũng đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hoá.
3.2
Định nghĩa văn hoá
Khái nhiệm văn hoá, vốn chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển của Bồ Đào Nha, được ghi nhận trong các văn bản chính thức, đặc biệt là văn bản do chính phủ cánh tả ban hành.
3.3
Các mục tiêu chính sách văn hoá
Hiện nay, chính sách văn hoá quốc gia tập trung vào:
· Phi tập trung hoá – hướng vào sự phát triển của các mạng lưới hiện có của các thư viện, bảo tàng, cơ quan lưu trữ và các trung tâm nghệ thuật biểu diễn;
· Quốc tế hoá - hướng vào truyền bá ra thế giới văn hoá Bồ Đào Nha, đặc biệt là việc trao đổi với các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha trên thế giới;
· Phân loại – hướng vào việc nâng cao tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực văn hoá;
· Phát triển sự đa dạng – hướng vào việc cân bằng sự hỗ trợ cho các hình thức văn hoá khác nhau.
4.
Các vấn đề hiện nay trong việc phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
4.1
Những vấn đề chủ yếu trong chính sách văn hoá và các ưu tiên
Trong các tranh luận ở thập kỷ trước, có đến 5 chính phủ và 6 Bộ trưởng văn hoá đã có ảnh hưởng rõ ràng đến các đường lối chính sách văn hoá, hoặc là bằng cách gián đoạn việc áp dụng một số biện pháp, hoặc là bằng cách ban hành những biện pháp mới trước khi đánh giá những biện pháp trước đó (ví dụ, những thay đổi thường xuyên trong việc phân bổ tài chính cho nghệ thuật thị giác, tuy nhiên vẫn không cải thiện được các điều kiện hoạt động vốn đã khó khăn của lĩnh vực này)

Các ưu tiên chính sách văn hoá chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ các di sản, phát triển văn hoá đọc và xây dựng các mạng lưới quốc gia các hoạt động và cơ sở văn hoá.
4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số
Hai chủ đề lớn nhận được sự quan tâm trong những năm gần đây là việc tài trợ và sự áp giá cố định đối với sách (được quy định trong luật năm 1996). Các vấn đề này đã được thảo luận tại Bồ Đào Nha vào cuối những năm 1980 và những năm 1990. Hai chủ đề quan trọng khác là hỗ trợ cho các nhà hát (nhóm kịch) và quy định pháp lý đối với sản xuất phim và các sản phẩm nghe nhìn (năm 2004 Luật Điện ảnh và nghe nhìn đang trong quá trình soạn thảo).
Mãi cho đến gần đây các tổ chức chính trị mới chuyển sự quan tâm của mình đến các vấn đề có liên quan đến dân tộc thiểu số ở Bồ Đào Nha. Trong những năm 1990, nhà nước đã đưa ra quan điểm chủ nghĩa can thiệp. Đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là việc ban hành quy định về cấp quy chế hợp pháp cho những người di dân bất hợp pháp (từ năm 1993 đến 1996).
Các biện pháp khác gồm: thành lập Ban thư kí về điều phối các chương trình giáo dục đa văn hoá (1991) và Dự án giáo dục đa văn hoá (1993). Cao uỷ người nhập cư và dân tộc thiểu số được thành lập năm 1996 cùng với nhóm hoạt động về bình đẳng và hội nhập của người Gypsies, và việc ban hành Luật bầu cử chính quyền địa phương. Luật này cho phép những người không phải công dân Bồ Đào Nha có quyền bầu cử và ứng cử vào làm việc tại cơ quan chính quyền địa phương. Ngoài ra còn có một số biện pháp nhằm khắc phục sự tách biệt về mặt xã hội, những biện pháp có tác động đến những người dân tộc thiểu số, ví dụ như Chương trình chống đói nghèo và Chương trình bảo đảm thu nhập tối thiểu (xem phần 5.1).
4.2.2
Bình đẳng giới và chính sách văn hoá
Không có một chiến lược cụ thể nào để hỗ trợ cho các phụ nữ có trình độ chuyên môn trong thị trường lao động thuộc lĩnh vực văn hoá. Bình đẳng giới được quy định trong luật về quyền và tự do. Đề nghị ban hành một hệ thống sử dụng các hạn mức để nâng cao vai trò của phụ nữ đã bị bãi bỏ trong kì bỏ phiếu cho một dự luật được chính phủ đề xuất năm 1999. Trong quá trình thảo luận công khai lúc đó, một số người được phỏng vấn đã cho rằng hạn mức là một biện pháp phân biệt đối xử và không nên áp dụng.
Tỷ lệ phụ nữ trong trường đại học đang tăng dần lên, và hiện nay chiếm tỉ lệ cao hơn tỉ lệ nam giới trong tất cả các cấp học. Tuy nhiên, phụ nữ ở các vị trí quan trọng trong lĩnh vực văn hoá lại chiếm tỉ lệ thấp hơn so với nam giới. Hiện nay đang có những biến chuyển tích cực liên quan đến việc này (sự hiện diện của phụ nữ) trong lĩnh vực nghệ thuật, tình trạng hiện nay vẫn là nam giới chiếm đa số trong các cương vị quản lí còn phụ nữ chiếm đa số trong các vị trí “phổ thông”. Điều này càng được thể hiện rõ ràng hơn trong các nghiên cứu gần đây, đặc biệt là nghiên cứu về nhạc cổ điển, hoặc trong các lĩnh vực truyền thông mới cũng như trong ngành kinh doanh sáng tạo (sản xuất phim, xuất bản sách).
4.2.3
Ngôn ngữ và chính sách
Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức duy nhất tại Bồ Đào Nha; hiện nay trên thế giới có khoảng 200 triệu người sử dụng ngôn ngữ này.
4.2.4
Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Các thoả thuận đạt được gần đây và những hình thức liên hiệp đang diễn ra giữa nhiều nghệ sĩ trong lĩnh vực văn hoá, bao gồm cả sản xuất phim, các hãng truyền hình, những nhà phân phối. Mục tiêu chính của các thoả thuận này là bảo đảm tính đa dạng và sự tồn tại của hoạt động sản xuất văn hoá.
Một kênh truyền hình có các chương trình đặc biệt dành cho các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha, đặc biệt là ở châu Phi. Các chương trình truyền hình khác tập trung vào đối tượng người nhập cư từ Đông Âu đang sống và làm việc tại Bồ Đào Nha.
4.2.5
Các ngành kinh doanh văn hoá: Sự phát triển, các chương trình và quan hệ đối tác
Chính sách đối với các ngành kinh doanh văn hoá ở Bồ Đào Nha được thực hiện trên cơ sở yêu cầu về sự cân bằng giữa sự hỗ trợ của nhà nước và sự điều tiết quản lí. Đối với ngành phim, hỗ trợ tài chính của nhà nước thường thực hiện trực tiếp đối với sản xuất và công chiếu, tuy nhiên phía thị trường lại kêu gọi thiết lập cơ chế điều chỉnh việc phân phối. Do đó một nghiên cứu về sự phối hợp giữa các cơ quan thuộc Bộ Văn hoá và các doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hoá đã được thực hiện. Cần phải thấy rằng nhu cầu thiết lập một “ngành kinh doanh nội dung” ở Bồ Đào Nha nằm sau quyết định chuyển Viện Nghe nhìn và điện ảnh Bồ Đào Nha (IPACA) thành Viện Phim, nghe nhìn và đa phương tiện (ICAM). Một số bộ ngành khác cũng có những cam kết thực hiện những chương trình nhằm xây dựng xã hội thông tin và lĩnh vực nghe nhìn, ví dụ như chương trình đưa internet vào trường học, được thực hiện với sự hợp tác giữa Bộ Văn hoá, khoa học và công nghệ với Bộ Giáo dục.
Bảng 1: Ước tính tổng thu nhập trong lĩnh vực truyền thông, 1990/1996/2000 (tỉ escudos, theo hiện giá)
|
Lĩnh vực |
1990 |
1996 |
2000 |
Tỉ lệ thay đổi 1990-2000 |
|
Điện ảnh |
3.8 |
7.5 |
10.0 |
163% |
|
Thuê Video |
4.0 |
2.0 |
2.5 |
-38% |
|
Bán Video |
1.0 |
4.6 |
8.0 |
700% |
|
Truyền hình |
30.0 |
55.0 |
60.0 |
100% |
|
Truyền hình có trả tiền |
0.0 |
0.0 |
3.0 |
|
|
Truyền hình Cable |
0.0 |
2.0 |
5.0 |
- |
|
Báo |
45.0 |
65.0 |
75.0 |
67% |
|
Tạp chí |
20.0 |
35.0 |
45.0 |
125% |
|
Sách |
25.0 |
30.0 |
35.0 |
40% |
|
Âm nhạc |
15.0 |
20.0 |
25.0 |
67% |
|
Đa phương tiện |
0.0 |
0.3 |
2.0 |
- |
|
Tổng |
143.8 |
221.4 |
270.5 |
88% |
Nguồn: CIMA. Số liệu của IPACA và FEVIP và các ước tính của tạp chí Revista Briefing.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn
hoá
Nhân viên làm việc trong lĩnh vực truyền thông nghe nhìn và các hoạt động văn hoá xã hội chiếm tỷ lệ cao cho thấy tầm quan trọng của các lĩnh vực này đối với thị trường lao động văn hoá.
Quỹ cấu trúc châu Âu có ảnh hưởng tích cực đến việc làm trong lĩnh vực văn hoá ở Bồ Đào Nha, đặc biệt là thông qua chương trình hành động văn hoá (POC, 2000/2006). Tuy nhiên, một vài chương trình EU ( ví dụ. Chương trình văn hoá 2000) đã không thành công trong việc thu hút được nhiều người vào làm việc trong lĩnh vực văn hoá. POC (chương trình hành động văn hoá )đang cố gắng thay đổi tình hình này, bằng cách đầu tư nhiều thời gian và ngân sách để thúc đẩy chương trình văn hoá 2000.
Bảng 2 dưới đây cung cấp số liệu phân tích việc làm trong lĩnh vực nghệ thuật khác nhau theo giới tính. Con số dưới đây không bao gồm những người chuyên nghiệp tự do, điều này giải thích tại sao số người tham gia vào văn hoá ít hơn con số người ta nghĩ rằng cần thiết làm việc trong giới âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn.
Bảng 2: Tỷ lệ viên chức làm việc trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau. Theo %, năm 2002.
|
Lĩnh vực văn hoá |
Giới tính |
Tổng |
|
|
Nam |
Nữ |
||
|
Nghệ thuật thị giác |
66.1 |
33.9 |
3.3 |
|
Âm nhạc |
66.1 |
33.9 |
4.0 |
|
Nghệ thuật biểu diễn |
40.3 |
59.7 |
6.0 |
|
Khiêu vụ |
18.5 |
81.5 |
3.5 |
|
Rạp hát |
70.9 |
29.1 |
2.5 |
|
Nghệ thuật nghe nhìn |
74.7 |
25.3 |
32.4 |
|
Điện ảnh |
71.8 |
28.2 |
7.1 |
|
Vô tuyến truyền hình |
74.3 |
25.7 |
7.3 |
|
Đài phát thanh |
70.5 |
29.5 |
3.6 |
|
Điện ảnh + truyền hình +phát thanh |
77.4 |
22.6 |
14.5 |
|
Văn học |
53.2 |
46.8 |
5.4 |
|
Sách |
60.7 |
39.3 |
4.2 |
|
Thư viện |
27.7 |
72.3 |
1.2 |
|
Bảo tồn bảo tàng |
37.8 |
62.2 |
11.7 |
|
Di sản văn hoá |
49.3 |
50.7 |
1.5 |
|
Bảo tàng và văn thư lưu trữ |
36.2 |
63.8 |
10.2 |
|
Các hoạt động văn hoá xã hội |
9.2 |
90.0 |
37.2 |
|
Tổng |
42.2 |
57.6 |
100.0 |
Nguồn: MTS, Quadros de pessoal, 2002
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá
Từ năm 1995 đến 1997 xã hội thông tin là một trong những ưu tiên mang tính chất chính trị của chính phủ Bồ Đào Nha, sau một cuộc thảo luận chung, một cuốn sách xanh về xã hội thông tin đã nêu rõ những hữu ích của quá trình chuyển giao công nghệ mới.
Chiến dịch chính của quốc gia là nhằm đẩy mạnh và hiện đại hoá công nghệ văn hoá quốc gia và hộ trợ các chương trình sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ mới. Các biện pháp đẩy mạnh chiến dịch này đã được đưa vào khuôn khổ hai chương trình hành động: POC(IIIQCA) và POSI (chương trình xã hội thông tin)
Gần đây, chính sách văn hoá có thêm một vài quy định mới liên quan đến xã hội thông tin và truyền thông đó là việc thực thi việc mua bán các thiết bị truyền thông và chương trình đào tạo đặc biệt ở trường học, thư viện…nhằm tăng tính hữu ích của công nghệ internet và hiểu biết thêm về các chương trình của máy tính. Mặc dầu công nghệ thông tin đã có nhiều tiến triển, song năm 2003 mới chỉ có 38% hộ gia đình có máy tính và chỉ 22% hộ gia đình nối mạng.
4.2.9 Các vấn đề và chính sách di sản
Kể từ khi thiết lập Viện di sản văn hoá Bồ Đào Nha năm 1980, nhiều phương pháp và hoạt động bảo vệ di sản văn hoá đã được tiến hành như: cơ cấu lại tổ chức, thiết lập hệ thống lưu trữ, và kiểm kê di sản quốc gia. Mặc dù nhà nước đã hệ thống lại cơ cấu tổ chức, nhưng viện di sản vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm phân loại và thẩm định giá trị của di vật.
Nhận thức về giá trị di sản văn hoá của xã hội ngày càng tăng, cùng với nhiều công trình được xếp hạng và các bảo tàng công cộng đã thu hút nhiều khách du lịch.
Gần đây, mạng lưới bảo tàng Bồ Đào Nha đang hoạt động trong khuôn khổ của Viện bảo tàng (Bộ Văn hoá), là cơ quan hộ trợ tài chính và công nghệ cho quá trình nâng cấp quản lý và đào tạo nhân viên bảo tàng.
5.
Các quy
định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá
5.1.1 Hiến
pháp
Điều 9d của hiến pháp Bồ Đào Nha quy định rõ “ một trong những trách nhiệm cơ bản của nhà nước là thúc đẩy sự thịnh vượng và chất lượng đời sống cho người dân, và cân bằng quyền bình đẳng tham gia của người dân vào kinh tế, xã hội và văn hoá trong quá trình chuyển đổi và hiện đại hoá cơ cấu xã hội và nền kinh tế”

Điều 42 hiến pháp cũng quy định rõ rằng “ không giới hạn tính sáng tạo khoa học, nghệ thuật. Quyền này gồm cả quyền tự do sáng tạo, sản xuất và quảng bá các tác phẩm có tính chất khoa học, văn học hoặc tác phẩm nghệ thuật, và đựơc bảo vệ bản quyền một cách hợp pháp”
Điều 42.2 liên quan đến giáo dục văn hoá đó là : “ nhà nước không được lập kế hoạch giáo dục và phát triển văn hoá phù hợp với giới triết học, mỹ học, chính trị, hệ tư tưởng hoặc tôn giáo;
Điều 73.1 quy định “mọi người đều có quyền được tiếp cận nền giáo dục và văn hoá như nhau”;
Điều 73.2 nói rõ “ Nhà nước phải đẩy mạnh sự dân chủ hoá nền giáo dục và tạo các điều kiện thuận lợi khác cho việc giáo dục ở cả trường học và ở bất cứ nơi nào trên đất nước, nhằm góp phần cân bằng cơ hội, khắc phục sự không bình đẳng văn hoá, xã hội và kinh tế, phát triển nhân cách và tinh thần khoan dung, sự hiểu biết lẫn nhau, sự đoàn kết và trách nhiệm, gần gủi và tham gia vào đời sống xã hội một cách dân chủ ”
Điều 73.3 “Ngoài truyền thông đại chúng, các hiệp hội và tổ chức văn hoá, các đợn vị giải trí, các hiệp hội bảo vệ di sản văn hoá, và các cơ quan văn hoá khác, nhà nước cũng có nhiệm vụ nâng cao tính dân chủ hoá trong đời sống văn hoá bằng cách khuyến khích và đảm bảo sự tiếp cận của tất cả các công dân khi tham gia vào các hoạt động và việc đưa ra các ý tưởng sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá”
Bản hiến pháp của Bồ Đào Nha quy định rõ quyền được hưởng thụ và sáng tạo của người dân như sau:
1. Mọi người đều có quyền được hưởng thụ và sáng tạo văn hoá, và có nhiệm vụ bảo tồn, bảo vệ và mở rộng di sản văn hoá.
2. Nhiệm vụ của nhà nước đó là phối hợp với tất cả các cơ quan văn hoá:
· Nhằm đảm bảo cho các công dân được tiếp cận các loại phương tiện và máy móc trong của phạm vi hoạt động văn hoá
· Đưa ra những luật lễ mới nhằm khuyến khích người dân ngày càng đưa ra được nhiều sáng tạo mang tính chất cá nhân hoặc tập thể, và xây dựng được nhiều công trình văn hoá có chất lượng tốt hơn.
· Nhằm đẩy mạnh việc bảo vệ và nâng cao tầm nhận thức của người dân đối với di sản văn hoá
· Mở rộng mối giao thoa văn hoá với tất cả mọi người, đặc biệt là những người nói tiếng Bồ Đào Nha, và đảm bảo việc bảo vệ và quảng bá văn hoá Bồ Đào Nha ở nước ngoài.
· Phối hợp các chính sách văn hoá quốc gia với chính sách văn hoá quốc gia khác
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
Ở Bồ Đào Nha bao gồm 3 cấp chính quyền: chính quyền trung ương, chính quyền thành phố và vùng tự trị Azores and Madeira
Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm về những vấn đề văn hoá trong nước và Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm về những vấn đề văn hoá ở nước ngoài.
5.1.3
chương trình an sinh xã hội
Phúc lợi xã hội đối đối với các nghệ sĩ được quy định theo thông luật
5.1.4 Luật thuế
Bộ Tài Chính chịu trách nhiệm về việc quy định các chính sách tài chính và luật thuế trong lĩnh vực văn hoá.
Năm 1986, một đạo luật về thuế đối với các nhà tài trợ đã được thông qua, vì thế đã khuyến khích được sự tham gia tích cực hơn từ nhiều nhà tài trợ trong các lĩnh vực như giáo dục, môi trường, thể thao, khoa học và công nghệ.
5.1.5 Luật lao động
Luật lao động được quy định theo thông luật
5.1.6 quy định về bản quyền