1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác
8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
Sự tham gia của chính phủ Liên bang vào chính sách văn hoá Thuỵ Sĩ đă có bước phát triển hơn kể từ khi chuyển đổi Pro Helvetia (C̣n gọi là Hội đồng nghệ thuật Thuỵ Sĩ) thành một quỹ hội công vào năm 1949. Trước thời điểm này, hỗ trợ cho văn hoá chủ yếu do các bang và thành phố thực hiện. Hỗ trợ của Liên bang cho các hoạt động văn hoá được thực hiện ở mức tối thiểu, ngoại trừ nguồn tài chính để hỗ trợ cho việc xây dựng Thư viện Quốc gia và Bảo tàng Quốc gia. Ngày nay, sự tham gia của chính quyền Liên bang vào đời sống văn hoá đă gia tăng. Tuy nhiên, các bang và thành phố vẫn là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu cho các hoạt động văn hoá.

Trong những năm 1950, có những dấu hiệu cho thấy rằng chất lượng cuộc sống văn hoá có những cải thiện. Tỉ lệ tham gia vào đời sống văn hoá ngày càng tăng, bên cạnh tỉ lệ tăng về tŕnh độ giáo dục, việc sử dụng rộng răi các phương tiện truyền thông đại chúng, và việc giảm thời giờ lao động. Cùng thời điểm đó, các cơ cấu truyền thống, bao gồm cả cơ cấu gia đ́nh, đă bị phá vỡ, và làn sóng đô thị hoá ngày càng mở rộng. Nghệ thuật cố gắng bắt kịp với những diễn biến xă hội này với các mức độ khác nhau, và điều này đă dẫn đến cách hiểu, định nghĩa rộng hơn về văn hoá.
Cho đến cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, ở Thuỵ Sĩ văn hoá thường được xem là vấn đề tư nhân. Mặc dù văn hoá được thành lập bởi các thành phố, bang và Liên bang, th́ lại hầu như không có một cuộc thảo luận công khai về vấn đề này. Vào đầu những năm 1970, thảo luận về chính sách văn hoá được thúc đẩy mạnh và dẫn đến phải thiết lập các cơ sở pháp lí và nhiệm vụ công cho Pro Helvetia; thành lập Uỷ ban lâm thời gồm các chuyên gia để giải quyết các vấn đề văn hoá của Thuỵ Sĩ (Clottu Commision, 1969); Thành lập Hội nghị các thành phố về vấn đề văn hoá (KSK, 1970); và thành lập một văn pḥng Liên bang về văn hoá năm 1975.
Trong khi khái niệm văn hoá ngày càng được mở rộng, th́ văn hoá lại là một yếu tố quan trọng trong nhiều lĩnh vực chính sách đang được thảo luận. Sự gắn kết dân tộc (bản sắc dân tộc) và đa dạng dân tộc, cũng như khoảng cách ngày càng tăng giữa thành thị và nông thôn đă trợ thành các vấn đề trung tâm của các chính sách.
Đă có những tài liệu về chiến lược chính sách và chiến lược văn hoá được đưa ra vào những năm 1980 nhằm bảo đảm những cơ sở tối thiểu cho văn hoá trên nhiều cấp độ chính sách cũng như đưa ra các kế hoạch thực hiện. Ví dụ, năm 1980 chính phủ Liên bang đă đưa ra một kế hoạch chi tiết cụ thể về văn hoá tŕnh lên Nghị viện, và năm 1984 Hội nghị các thành phố về văn hoá (KSK) đă đưa ra một tài liệu nghiên cứu chính sách văn hoá ở cấp vùng. Năm 1986 có một sáng kiến của thành phố, và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ư (tuy không thành công) nhằm lấy ư kiến về việc đưa các khía cạnh chung của chính sách văn hoá vào Hiến pháp Liên bang. Trong thời gian này, người ta cũng chú ư đến trao đổi văn hoá với nước ngoài.
Trong những năm 1980, các thành phố và bang có xu hướng tăng hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá. Điều này đă thể hiện trên thực tế, và để thực hiện cần phải có một cơ cấu hoàn thiện hơn cho chính sách văn hoá ở cấp chính quyền địa phương. Đến cuối những năm 1980, việc đánh giá các chính sách văn hoá được đưa vào trong các chương tŕnh chính trị và Hội nghị các đại diện văn hoá của các bang, và Văn pḥng văn hoá Liên bang đă được thành lập.
Ngân sách bị cắt giảm vào đầu những năm 1990. Trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trong lĩnh vực văn hoá cần phải được xác định rơ ràng hơn, ví dụ như trong việc hỗ trợ cho các tổ chức mang tầm quốc gia, sự b́nh đẳng giữa các vùng ngôn ngữ, và chính sách ngoại giao. Ngoài ra các vấn đề khác cũng thu hút sự quan tâm như tranh luận khoa học về văn hoá và chính sách văn hoá, thảo luận công khai về việc thiết lập cơ sở hiến pháp đối với thẩm quyền về văn hoá.
Ngày nay, văn hoá là một yếu tố trong các lĩnh vực chính sách khác nhau. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, chính phủ Thuỵ Sĩ đă ưu tiên cho chính sách ngoại giao về văn hoá. Những chủ đề quan trọng khác được tranh luận c̣n có vai tṛ của văn hoá đối với việc giữ ǵn bản sắc dân tộc (bao gồm cả những thảo luận về chính sách ngôn ngữ và chính sách đối với cộng đồng thiểu số). Bên cạnh đó, tranh luận về chính sách văn hoá như là một yếu tố của chính sách văn hoá định hướng trong tương lai cũng là một vấn đề mới được đưa vào các chương tŕnh chính trị.
Bước vào thiên niên kỉ mới, những tranh luận về việc thiết lập cơ sở hiến pháp cho văn hoá và việc theo đuổi mô h́nh Liên bang để phát triển chính sách văn hoá đă đạt được một bước tiến quan trọng. Về mặt pháp lí, luật hỗ trợ văn hoá đang được soạn thảo dưới sự chỉ đạo của Văn pḥng văn hoá Liên bang (BAK). Dự luật này sẽ được tŕnh lên Nghị viện vào năm 2007. Trong khi đó, luật về Pro Helvetia (Hội đồng nghệ thuật Thuỵ Sĩ) sẽ được sửa đổi nhằm hướng đến sự điều phối tốt hơn các hoạt động của tổ chức này, chủ yếu là hợp tác với Văn pḥng văn hoá Quốc gia (BAK) tại Thuỵ Sĩ và ở nước ngoài. Cả hai luật này sẽ chưa thể có hiệu lực trước năm 2008.
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
2.2 Mô tả chung hệ thống

Hiến pháp quy định sự tham gia của chính quyền Liên bang trong lĩnh vực văn hoá ở phạm vi rất hạn chế, ví dụ như hỗ trợ cho sản xuất phim, bảo vệ di sản tự nhiên, giáo dục và hoạt động văn hoá v́ lợi ích quốc gia, và vấn đề ngoại giao. Ở Thuỵ Sĩ có 26 bang, và hơn 2800 thành phố/ cộng đồng. Các đơn vị này đóng vai tṛ chính trong phát triển văn hoá, chúng xác định cho ḿnh các ưu tiên, và hoạt động độc lập với nhau. 5 thành phố lớn nhất bao gồm Zurich, Lausanne, Bern, Bale và Geneva đóng vai tṛ đặc biệt quan trọng và quyết định đến sự phát triển văn hoá. Cả 5 thành phố này cung cấp đến 80% chi tiêu tài chính cho văn hoá ở cấp thành phố, mặc dù mỗi thành phố có các chương tŕnh chính sách văn hoá, quản lí hành chính và ngân sách riêng.
Do tính không đồng nhất giữa các bang, thành phố và cộng đồng nên chỉ có thể phác hoạ trong phạm vi các hoạt động được thực hiện dựa trên điều kiện tài chính, số lượng dân cư, truyền thống văn hoá và một số yếu tố khác:
· Xác định các chương tŕnh chính sách văn hoá;
· Hỗ trợ cho các tổ chức, chương tŕnh và cho các cá nhân;
· Quản lí các chương tŕnh và các tổ chức;
· Trao giải thưởng;
Các cơ quan thuộc Liên bang:
Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK) thuộc Bộ Nội vụ (EDI) và là cơ quan chuyên môn của nhà nước Liên bang Thuỵ Sĩ đảm trách vấn đề thuộc chính sách văn hoá, phát triển văn hoá và bảo tồn văn hoá. Cơ quan này hỗ trợ cho việc phát triển và thực hiện các chính sách văn hoá ở cấp Liên bang, và tŕnh các quyết định lên cho Nghị viện phê chuẩn. Nó cũng đóng vai tṛ quan trọng trọng các lĩnh vực v́ lợi ích chung như chính sách ngôn ngữ, cộng đồng thiểu số, v.v.. Pḥng Văn hoá Liên bang cũng hỗ trợ trực tiếp cho việc sản xuất phim, nghệ thuật thị giác và thiết kế, và trợ cấp cho các hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp, các nhóm vận động hành lang.
Pro Helvitia (Hội đồng Nghệ thuật Thuỵ Sĩ), là cơ quan được chính phủ cung cấp tài chính 100%. Nó hoạt động độc lập trong các lĩnh vực như nghệ thuật thị giác, âm nhạc, văn học và nhân văn, kịch, múa, văn hoá và xă hội bằng cách hỗ trợ và thành lập các cơ quan liên lạc: ở Cairo (Ai Cập), Warsaw (Vác sa va – Ba Lan), Cape Town (Nam Phi) và Prague (Pra-ha – Cộng hoà Séc) (cho đến cuối năm 2005). Nó c̣n quản lí một trung tâm văn hoá ở Paris và là cơ quan hỗ trợ tài chính cho Istituto Svizzero di Roma và Viện Thuỵ Sĩ ở New York. Hội đồng Nghệ thuật Thuỵ Sĩ c̣n quản lí các dịch vụ thông tin và xuất bản quan trọng về văn hoá dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trong những năm qua, Pro Helvetia (Hội đồng Nghệ thuật Thuỵ Sĩ) đă trải qua một quá tŕnh cải tổ về cơ cấu. Luật về Pro Helvetia hiện đang được thảo luận, và dự kiến việc thảo luận sẽ hoàn thành vào năm 2008, và luật mới sẽ tạo điều kiện hợp tác tốt hơn giữa Hội đồng và các tổ chức hoạt động văn hoá khác.
Thuộc Bộ ngoại giao, Trung tâm chính sách văn hoá đối ngoại (KKA) là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện chính sách văn hoá đối ngoại của Bộ, thực hiện các dự án văn hoá với sự hợp tác của các phái đoàn Thuỵ Sĩ ở nước ngoài, và đại diện cho Thuỵ Sĩ tại UNESCO.
Cũng thuộc Bộ Ngoại giao, cơ quan “Thuỵ Sĩ ngày nay” (PRS), chịu trách nhiệm quảng bá h́nh ảnh đất nước Thuỵ Sĩ ra nước ngoài, và Cơ quan hợp tác và phát triển Thuỵ Sĩ (DEZA) thực hiện hỗ trợ đối với việc phát triển văn hoá và nghệ thuật tại các nước đang phát triển thông qua các triển lăm nghệ thuật, các buổi hoà nhạc hoặc liên hoan phim.
Về phía tư nhân: ví dụ như các nhà tài trợ, các quỹ hội đóng một vai tṛ quan trọng trong lĩnh vực văn hoá của Thuỵ Sĩ nếu so với các quốc gia châu Âu khác (xem phần 2.1 và 7.3). Điều này bắt nguồn từ lịch sử, trong đó sự tham gia của tư nhân vào hoạt động phát triển văn hoá cũng như hệ thống hỗ trợ kép theo đó phân bổ nguồn tài chính công được thực hiện với điều kiện có sự đóng góp của tư nhân.
2.3 Hợp tác giữa các Bộ ngành và các cấp chính quyền
Hội nghị đại diện văn hoá của các bang và Hội nghị giữa các thành phố về vấn đề văn hoá (KSK) được thành lập ra và được xem như là những diễn đàn thảo luận chứ không phải là cơ quan điều phối giữa các chính quyền này. Cả hai hội nghị này diễn ra theo chu ḱ hai năm một lần, và tại hội nghị có mời đại diện của Pḥng văn hoá Liên bang (BAK), của Hội đồng Nghệ thuật Thuỵ Sĩ tham gia với tư cách là quan sát viên. Hai hội nghị này hầu như có rất ít quan hệ hợp tác. Tuy nhiên trong lĩnh vực giáo dục (giáo dục về văn hoá) hợp tác giữa chính phủ Liên bang và các bang lại diễn ra thường xuyên.
Các cơ quan của Liên bang cũng hoạt động độc lập với nhau (không có sự hợp tác), ngoại trừ trong một số lĩnh vực, ví dụ như quảng bá văn hoá Thuỵ Sĩ ra nước ngoài. Một uỷ ban ‘5 bên’ đă được thành lập nhằm điều phối những hoạt động chung. Các thành viên của uỷ ban bao gồm Trung tâm chính sách văn hoá đối ngoại (KKA), Cơ quan Thuỵ Sĩ Ngày nay (PRS), Cơ quan hợp tác và phát triển Thuỵ Sĩ (DEZA) (ba cơ quan thuộc Bộ ngoại giao), Pḥng văn hoá Liên bang (BAK) và Pro Helvetia.
2.4 Hợp tác quốc tế

Tuỳ thuộc vào từng vấn đề mà Bộ ngoại giao (EDA) hoặc Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK) đại diện cho Thuỵ Sĩ tại các tổ chức quốc tế như UNESCO hoặc Hội đồng châu Âu.
Hợp tác quốc tế ở mọi cấp độ có một vai tṛ hết sức quan trọng đối với Thuỵ Sĩ. V́ không phải là thành viên của EU, Thuỵ Sĩ có rất nhiều hạn chế trong việc tham gia các chương tŕnh của EU. Tuy nhiên, Thuỵ Sĩ sẽ tham gia chương tŕnh MEDIA của Liên minh châu Âu vào năm 2006, đây là một bước phát triển quan trọng của ngành phim Thuỵ Sĩ. Các bang chịu trách nhiệm chính trong việc hợp tác trong khuôn khổ các chương tŕnh Interreg của Liên minh châu Âu. Các thành phố cũng đóng vai tṛ quan trọng trong thúc đẩy các quan hệ hợp tác quốc tế.
Pro Helvetia làm việc trực tiếp với các đối tác nước ngoài. Hoạt động của tổ chức này dựa trên nguyên tắc là chính sách ngoại giao của Thuỵ Sĩ không chỉ là quan hệ một chiều với nước ngoài, mà c̣n là việc phát triển các hiểu biết về văn hoá Thuỵ Sĩ tại các nước thứ ba và ngược lại.
Bộ Ngoại giao hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá thông qua mạng lưới các đại sứ quán tại nước ngoài, ví dụ như thông qua các cuộc tiếp xúc và các cơ sở của đại sứ quán.
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
3.1 Những yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá
Có hai yếu tố chính trong mô h́nh chính sách văn hoá của Thuỵ Sĩ: chế độ Liên bang và cũng phối hợp hỗ trợ.
Trong chính sách văn hoá Thuỵ Sĩ, Chế độ Liên bang có nghĩa là các biện pháp được quyết định và thực hiện ở cấp địa phương và vùng, bởi v́ điều đó được xem là sát với yêu cầu của các nghệ sĩ. Cùng phối hợp hỗ trợ có nghĩa là một mặt, nguồn tài chính của thành phố th́ do bang cung cấp, và của bang th́ do Liên bang cung cấp. Mặt khác, hỗ trợ của tư nhân thông qua các hiệp hội tổ chức, hoặc tài trợ tư nhân được xem là một điều kiện bắt buộc để được nhận hỗ trợ từ khối công. Khối tư nhân đóng vai tṛ như là bên bảo đảm trong việc cung cấp nguồn tài chính cần thiết, để từ đó khối công (nhà nước) sẽ thực hiện hỗ trợ.
Kết quả là một hệ thống đa tầng với nhiều h́nh thức hợp tác. Theo cách nói của Pro Helvetia: “tấm thảm văn hoá của Thuỵ Sĩ là sự chắp vá của 26 miếng ghép của 26 bang, mà không phải là một thể thống nhất. Cũng giống như giáo dục, hỗ trợ cho nghệ thuật cũng thuộc trách nhiệm của các bang.”
Do tính linh hoạt trong mô h́nh chính sách văn hoá của Thuỵ Sĩ nên tồn tại những khó khăn cố hữu, ví dụ như sự chồng chéo, trùng lặp. Việc tập trung các biện pháp chính sách văn hoá vào một mục tiêu chung rất khó khăn, và việc chi tiết kế hoạch trung hạn và dài hạn cũng là một nhiệm vụ rất phức tạp (xem phần 2.3). Có thể lấy ví dụ như việc thảo luận đă kéo dài từ rất lâu về Triển lăm quốc gia (Expo 02): cho dù một triển lăm chung có thể phản ánh sự phức tạp của văn hoá Thuỵ Sĩ, th́ vai tṛ của Chính phủ Liên bang thể hiện như thế nào, việc lựa chọn nơi tổ chức triển lăm khi mà mỗi vùng có ngôn ngữ khác nhau, v.v… Đặc biệt là ở cấp độ quốc gia, các cuộc thảo luận diễn ra trong nhiều năm mà các kết quả thường là những thoả hiệp hơn là các giải pháp mang tính hợp lí.
Tuy nhiên, chế độ Liên bang đă có được một định hướng mới trong vài năm qua (xem phần 4.2). Có thể giải thích cho điều này bằng một vài lí do như, trong quá tŕnh toàn cầu hoá, quá tŕnh khu vực hoá châu Âu và sự xuất hiện một hệ thống mới nhằm chia sẻ các gánh nặng tài chính giữa Liên bang, bang và thành phố. V́ thế, chính sách văn hoá phải thay đổi để phản ánh được xu hướng này. Những nỗ lực nhằm đạt được một khung chính sách văn hoá chung giữa Liên bang, bang và thành phố đang dần h́nh thành, mặc dù rất chậm chạp. Các cuộc thảo luận về luật Liên bang về văn hoá đều hướng vào việc tăng cường hiệu quả hợp tác giữa các cơ quan tổ chức quản lí và hoạt động về văn hoá (xem phần 2.3) ở cấp Liên bang, cũng như giữa các bang và các thành phố.
3.2 Định nghĩa văn hoá
Nguyên tắc chế độ Liên bang là cùng phối hợp hỗ trợ được thực hiện, việc Thuỵ Sĩ công nhận 4 ngôn ngữ chính thức, và một số lượng lớn dân số có nguồn gốc văn hoá khác nhau (người nước ngoài chiếm đến 20% dân số Thuỵ Sĩ), khiến cho rất khó khăn để đưa ra một định nghĩa chung về văn hoá ( xem phần 4.2.1).
Đoạn sau đây được trích ra từ Công bố của Pro Helvetia (C̣n gọi là Hội đồng nghệ thuật Thuỵ Sĩ) về Hỗ trợ tài chính cho giai đoạn 2000-2003 phản ánh được sự phức tạp này:
Thuỵ Sĩ không có một nền văn hoá quốc gia đồng nhất, cũng không có một bản sắc dân tộc rơ ràng. Một nền văn hoá chung không chỉ là việc thực hiện các nỗ lực lâu dài nhằm duy tŕ sự đa dạng văn hoá của đất nước chúng ta, mà c̣n là các biện pháp nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và đoàn kết giữa các vùng ngôn ngữ khác nhau của văn hoá Thuỵ Sĩ. Theo đó, các dự án văn hoá có vai tṛ hữu dụng trong việc mở rộng đối thoại, tổ chức các cuộc gặp gỡ và thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau. Theo định nghĩa này, văn hoá có nhiệm vụ thúc đẩy sự gắn kết trên toàn quốc thông qua các dự án trao đổi được hoạch định tốt.
Trong các cuộc thảo luận gần đây nhất về chủ đề này, một mô h́nh ba cấp đă được đề cập trong đó phân biệt giữa ba cấp văn hoá: cấp thứ nhất là văn hoá hiểu theo nghĩa văn minh, cấp thứ hai được hiểu theo nghĩa rộng hơn (văn hoá giúp con người tự hiểu ḿnh và môi trường xung quanh, bao gồm cả khoa học, nghiên cứu, giáo dục và nghệ thuật, các hành vi sưu tầm, ǵn giữ, giải thích, v.v..), và cấp thứ ba được hiểu theo nghĩa hẹp (nghệ thuật, các tổ chức có vai tṛ giải thích và dự đoán những xu hướng mới nảy sinh từ cấp thứ hai).
3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá
V́ không có định nghĩa về văn hoá cho nên rất khó để xác định các mục tiêu chính sách phản ánh quan điểm của các cơ quan, tổ chức trong chính sách văn hoá của Thuỵ Sĩ (chủ yếu là các bang và thành phố) vào thời điểm hiện nay.
Tuy nhiên, trong quá tŕnh thảo luận luật Liên bang về văn hoá, một số tài liệu đă nêu ra một số mục tiêu:
Những mục tiêu này phù hợp với các mục tiêu do Hội đồng châu Âu đề ra, bao gồm cả phát huy bản sắc, sáng tạo, đa dạng và việc tham gia vào đời sống văn hoá. Cũng cần phải nói rằng các mục tiêu chính sách văn hoá của hội đồng châu Âu không phải là những định hướng mang tính bắt buộc. Nhận định này được đưa ra dựa trên bản chất của mô h́nh chính sách văn hoá Thuỵ Sĩ là chế độ Liên bang và cùng phối hợp hỗ trợ.
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
4.1 Các vấn đề chính sách văn hoá và những ưu tiên

Thảo luận về sự gắn kết (đoàn kết) dân tộc, ví dụ như cùng chung sống và hiểu biết lẫn nhau của các cộng đồng văn hoá khác nhau – cả đối với người Thuỵ Sĩ và người nước ngoài – là ưu tiên dài hạn trong chính sách văn hoá của Thuỵ Sĩ. Khi đề cập đến vấn đề này th́ cũng phải nói đến luật ngôn ngữ - đang được soạn thảo và dự kiến sẽ tŕnh lên Nghị viện vào năm 2006. Mục tiêu chính của luật này là xây dựng định hướng về sử dụng ngôn ngữ chính thức trong cơ quan hành chính Liên bang, hỗ trợ trao đổi sinh viên, thành lập các tổ chức khoa học về đa ngôn ngữ, hỗ trợ các bang có sử dụng nhiều ngôn ngữ, và phát triển tiếng Romansh và tiếng ư tại Thuỵ Sĩ.
Một vấn đề dài hạn khác là sự cần thiết phải có một chính sách thống nhất của Liên bang trong việc hỗ trợ cho văn hoá, cũng như gia tăng sự hợp tác của các tổ chức văn hoá quốc gia (xem phần 2.3 và 3.1). Việc sửa đổi Hiến pháp Liên bang, trong đó bổ sung điều khoản về văn hoá và việc chuẩn bị luật văn hoá, và những cuộc thảo luận về việc cơ cấu lại Hội đồng nghệ thuật là hai vấn đề quan trọng.
Các vấn đề khác bao gồm thảo luận về các chương tŕnh hỗ trợ (có tính đến mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức kinh doanh); hỗ trợ cho truyền thông mới; thảo luận về hỗ trợ tài chính cho văn hoá theo nghĩa rộng (luật về quỹ hội, luật sổ xố); chi tiết về một khái niệm đầy đủ (phát triển, đào tạo, an sinh xă hội) đối với lĩnh vực múa; các biện pháp nhằm khắc phục nạn mù chữ.
4.2 Các vấn đề chính sách gần đây và những tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá cộng đồng thiểu số
Là một xă hội đa ngôn ngữ và đa văn hoá, Thuỵ Sĩ quan tâm rất nhiều đến vấn đề hội nhập của các nhóm văn hoá. Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK) đóng một vai tṛ quan trọng trọng việc hội nhập các cộng đồng văn hoá vào xă hội Thuỵ Sĩ. Do đó, cơ quan này đang đóng vài tṛ tiên phong trong việc xây dựng luật ngôn ngữ, trong đó có tính đến thực tế rằng Thuỵ Sĩ là một xă hội đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Bên cạnh đó – cùng với Uỷ ban UNESCO quốc gia – Pḥng Văn hoá Liên bang c̣n tham gia vào quá tŕnh tổ chức thực hiện Công ước của UNESCO về đa dạng văn hoá
Tại hầu hết các bang và những thành phố lớn, có các ban chuyên trách và những tổ chức hợp tác giữa nhà nước và tư nhân chuyên hoạt động trong các vấn đề về văn hoá các cộng đồng thiểu số. Ví dụ như Ban “SozioKultur” thuộc thành phố Zurich có nhiệm vụ thúc đẩy các cộng đồng văn hoá cùng chung sống, và thực hiện các biện pháp hỗ trợ như cơ sở hạ tầng cho thể thao, giáo dục, các dịch vụ tư vấn, v.v.. Hoặc “Begegnungszentrum” (điểm hẹn) tại thành phố Schaffhausen – một thành phố nhỏ - là một hiệp hội tư nhân chuyên cung cấp các khoá học (ví dụ như, dành cho người nước ngoài sống tại Thuỵ Sĩ), thông tin dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau, các lễ hội.. Tuy nhiên, một số đảng phái cực hữu thường cố gắng hạn chế các biện pháp này, điều đó phản ánh thái độ dè dặt của họ trong việc hội nhập. Tiêu biểu nhất trong những cuộc tranh luận hiện nay là thảo luận vấn đề nhập quốc tịch ở cấp cộng đồng (ở Thuỵ Sĩ việc nhập quốc tịch diễn ra ở cấp Liên bang, bang và cấp cộng đồng), điều này sẽ được quyết định bằng việc lấy ư kiến của công chúng, hoặc ư kiến của một uỷ ban gồm các chuyên gia.
Theo quy định của Pháp luật, nhiệm vụ của Hội đồng nghệ thuật là hỗ trợ cho các hoạt động nhằm thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hoá. Ban “văn hoá và xă hội” tập trung vào vai tṛ của nghệ thuật và văn hoá trong tiến tŕnh xă hội. Nó c̣n hỗ trợ các hoạt động nhằm thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm, thực hiện các dự án có sử dụng các phương tiện văn hoá và nghệ thuật để thúc đẩy thảo luận công khai những chủ đề văn hoá. Trọng tâm là thúc đẩy hiểu biết các nền văn hoá trong nước, và đối thoại giữa các nền văn hoá.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Luật b́nh đẳng nam nữ có hiệu lực từ năm 1996. Năm 2002, chính quyền Liên bang quyết định thực hiện kế hoạch hành động để thực hiện các quyết định đă được đưa ra tại Hội nghị thế giới của Liên hợp quốc về phụ nữ tổ chức năm 1995. Mục đích của kế hoạch hành động là thúc đẩy b́nh đẳng trong việc tham gia vào các địa vị quan trọng tại mọi cấp chính quyền, chuyển b́nh đẳng trong nghề nghiệp vào thực tế, thực hiện các chương tŕnh ngăn ngừa và can thiệp đối với hành vi bạo lực đối với phụ nữ, bảo đảm b́nh đẳng cơ hội giáo dục cho các trẻ em trai và gái. Ngoài ra, kế hoạch hành động c̣n kêu gọi việc thu thập, phân tích, và công bố các dự liệu về giới, xây dựng h́nh ảnh chân thực về phụ nữ và nam giới trên các phương tiện truyền thông.
Phụ nữ thực sự chiếm tỉ lệ thấp trong lĩnh vực giáo dục đại học và lĩnh vực nghiên cứu – phát triển. Một số biện pháp chính trị, hỗ trợ tài chính đă được ban hành để thúc đẩy tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực này. Các chương tŕnh đặc biệt cho lĩnh vực văn hoá không được đưa vào kế hoạch hành động.
4.2.3 Ngôn ngữ và chính sách

Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề quan trọng trong các cuộc tranh luận chính trị liên quan đến sự gắn kết xă hội (xem phần 4.2.1 và 5.3.2). Luật ngôn ngữ đang được soạn thảo, và sẽ tŕnh lên nghị viện vào năm 2006. nhiệm vụ chủ yếu của luật là đề ra các định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ chính thức tại các cơ quan thuộc Liên bang, hỗ trợ hoạt động trao đổi sinh viên, thành lập một tổ chức khoa học về đa ngôn ngữ, hỗ trợ các thành phố sử dụng nhiều ngôn ngữ, và phát triển tiếng Romansh và tiếng ư tại Thuỵ Sĩ. Trong chính sách ngôn ngữ của Thuỵ Sĩ, cũng cần phải đề cập đến phần 2 báo cáo của Hội đồng Liên bang gửi cho Tổng thư kí Hội đồng châu Âu về việc thực hiện Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ vùng và ngôn ngữ thiểu số. Các biện pháp đặc biệt bao gồm một chương tŕnh của Liên bang nhằm hỗ trợ việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Romansh và tiếng ư, và các nền văn hoá tại Bang Grisons và Ticino. Hội đồng nghệ thuật và các tổ chức khác hỗ trợ việc dịch các tác phẩm văn học và những tác phẩm khác từ loại ngôn ngữ chính thức này sang ngôn ngữ chính thức khác (xem phần 8.1.3). Ngoài ra c̣n có một tổ chức của tư nhân là “Trans Helvetia” chuyên tổ chức việc hợp tác và trao đổi giữa các công ty kịch tại các vùng nói tiếng Pháp và vùng nói tiếng Đức của Thuỵ Sĩ.
Hiện tại đang diễn ra một cuộc tranh luận về việc nên chọn ngoại ngữ thứ nhất nào để giảng dạy trong hệ thống trường học – nên chọn một trong ba ngôn ngữ chính thức c̣n lại hay chọn tiếng Anh? Mặc dù từ góc độ gắn kết xă hội th́ nên lựa chọn một trong ba ngôn ngữ chính thức c̣n lại, nhưng tại các vùng nói tiếng Đức th́ người ta có xu hướng chọn tiếng Anh bởi v́ tính phổ cập quốc tế của ngôn ngữ này.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Thuỵ Sĩ là một quốc gia đa văn hoá và đa ngôn ngữ. Nhiệm vụ của Công ty phát thanh truyền th́nh Thuỵ Sĩ (SRG, SSR, idée suisse) là sản xuất và phát các chương tŕnh phát thanh truyền h́nh dưới bốn thứ tiếng: Đức, Pháp, ư và Romansh. V́ lí do này, các đài phát thanh và truyền h́nh được phân bổ tại các vùng khác nhau, phù hợp với ngôn ngữ của từng vùng (xem phần 5.3.2). Các vùng nói tiếng Pháp và tiếng ư c̣n được bổ sung tài chính cho việc sản xuất các chương tŕnh, để theo kịp với các chương tŕnh bằng tiếng Đức. Theo luật sửa đổi luật phát thanh và truyền h́nh, lĩnh vực phát thanh và truyền h́nh của Thuỵ Sĩ cho phép sự tham gia của tư nhân, mặc dù các công ty truyền h́nh nhà nước (SRG, SSG, idee Suisse) vẫn tiếp tục chiếm ưu thế, chủ yếu là nhờ các lí do chính trị và văn hoá. Một luật mới cũng đang được thảo luận tại Nghị viện, nhưng chắc chắn sẽ không thực hiện trước năm 2007 do vẫn c̣n nhiều vấn đề quan trọng chưa được giải quyết, trong đó có vấn đề hỗ trợ tài chính của nhà nước cho khác đài truyền h́nh tư nhân, và việc quảng cáo phục vụ cho mục đích chính trị.
Tính đa dạng trong báo chí Thuỵ Sĩ phản ánh xă hội Liên bang và đa ngôn ngữ của Thuỵ Sĩ. Tuy nhiên, xu hướng tập trung trong lĩnh vực báo chí đă diễn ra ở đất nước này trong vài năm qua (theo số liệu của Cục thống kê Liên bang, năm 2000 có 78 tờ nhật báo; c̣n năm 1985 là 111 tờ). V́ lí do đó thảo luận về việc nên hay không nên hỗ trợ cho sự đa dạng trong báo chí, hoặc về việc liệu rằng điều này có làm bóp méo cơ chế báo chí thị trường hay không vẫn c̣n đang được tranh luận.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Cho đến năm 2003, có rất ít các thông tin và dữ liệu về các ngành kinh doanh văn hoá của Thuỵ Sĩ. Một số nghiên cứu của trường đại học Nghệ thuật và Thiết kế Zurich cho thấy rằng ngành kinh doanh văn hoá và nghệ thuật có khoảng 33500 doanh nghiệp hoạt động, và phải đóng thuế theo quy định. Trong toàn bộ nền kinh tế ngành này chiếm 3% số lượng các doanh nghiệp, và đóng góp cho ngân sách 32 triệu CHF. Ngành kinh doanh văn hoá tạo ra 118 000 việc làm và có giá trị gia tăng khoảng 12.5 tỉ CHF. (htttp://www.kulturwirtschaft.ch).
Một nghiên cứu chi tiết của Bang Zurich cho thấy rằng tổng giá trị gia tăng mà thành phố Zurich tạo ra chiếm ít nhất 50% tổng giá trị gia tăng của Bang Zurich, trong khi đó tổng giá trị gia tăng của Bang Zurich lại chiếm khoảng một phần tư tổng giá trị gia tăng của toàn Thuỵ Sĩ.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

Các nghiên cứu của Trường Đại học Nghệ thuật và Thiết kế đă đưa ra kiến nghị rằng các ngành kinh doanh văn hoá phải được đưa vào trong chính sách phát triển văn hoá trong tương lai. Tuy nhiên, các chiến lược nhằm thúc đẩy việc làm trong lĩnh vực văn hoá chỉ mới ở giai đoạn đầu. Các cuộc thảo luận hiện nay lần đầu tiên đề cập đến sự phụ thuộc rơ ràng giữa hỗ trợ cho lĩnh vực văn hoá và các ngành kinh doanh văn hoá.
Điều có thể nhận thấy được là những biện pháp đầu tiên đang thực hiện nhằm hướng đến ổn định cơ cấu thị trường (ví dụ như thị trường sách, nhăn CD ..) để thực hiện hỗ trợ gián tiếp cho các nghệ sĩ. Bang Zurich đang thực hiện một chiến lược nhằm đưa các lĩnh vực thuộc ngành kinh doanh văn hoá vào trong chiến lược kinh tế tổng thể.
Hợp tác giữa các trường đại học nghệ thuật và thiết kế với ngành kinh doanh văn hoá đă được thực hiện thông qua một mạng lưới có tên là “Swiss Design Network”. Một trong các trọng tâm đang tranh luận ở đây là thị trường thiết kế, và những xu hướng mới sẽ được phản ánh như thế nào trong các chương tŕnh giảng dạy của các trường đại học để giúp cho sinh viên có cơ hội việc làm tốt hơn sau khi ra trường.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá
Năm 1998, Chính phủ Liên bang đă ban hành chiến lược quốc gia về xă hội thông tin. Các ưu tiên được đặt ra trong lĩnh vực văn hoá đă được thể hiện trong dự án “sitemapping.ch”, bao gồm:
Từ năm 2004, “sitemapping.ch” đă cung cấp một khoản tài chính khiêm tốn (250000 CHF – năm 2004) để hỗ trợ thực hiện các dự án văn hoá có sử dụng công nghệ mới.
Về quan hệ đối tác giữa nhà nước và tư nhân, có thể kể đến “Plug.in”, một doanh nghiệp chuyên tổ chức các triển lăm và sự kiện văn hoá nghệ thuật, và có định hướng phát triển ở tầm quốc tế. Đây là một doanh nghiệp được thành lập theo h́nh thức tín thác bởi một quỹ hội tư nhân và Bang Basel. Doanh nghiệp này phối hợp với các tổ chức khác để thực hiện các dự án nghệ thuật truyền thông, thành lập các mạng lưới và cung cấp các dịch vụ trung gian cho các nghệ sĩ truyền thông (nghệ sĩ sử dụng các phương tiện truyền thông để tiến hành các hoạt động sáng tạo nghệ thuật).
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh
Các bang là cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với các trường học và lĩnh vực giáo dục nói chung. Trách nhiệm của Liên bang trong lĩnh vực giáo dục gồm có: hoạt động của các trường đại học cấp Liên bang, phân bổ tiền trợ cấp cho các trường đại học cấp bang, các chương tŕnh nghiên cứu và các trường học Thuỵ Sĩ ở nước ngoài. Cho đến gần đây, sau khi Hiến pháp Liên bang sửa đổi th́ Liên bang mới có thẩm quyền trong việc phát triển nghệ thuật và âm nhạc, đặc biệt là giáo dục về nghệ thuật và âm nhạc. Tuy nhiên, việc chi tiết hoá để thực hiện điều lệ hiến pháp sửa đổi đó sẽ chưa thể hoàn thành trước năm 2007.
Thuỵ Sĩ đang tiến hành thành lập các trường đại học khoa học ứng dụng, trong đó có trường đại học nghệ thuật và thiết kế. Một trong các mục tiêu là đưa các trường đại học này vào hệ thống giáo dục đại học và hỗ trợ tập trung, ưu tiên theo từng chủ đề. Trong số các nhiệm vụ chiến lược dài hạn của Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK) có các nhiệm vụ phát triển giáo dục chuyên nghiệp về nghệ thuật, công nhận chính thức các nghề nghiệp nghệ thuật và đào tạo lại cho các nghệ sĩ. Trước hết các biện pháp hỗ trợ sẽ được thực hiện trong lĩnh vực múa.
Với sáng kiến “Internet for Schools” (đưa Internet vào trường học), Swisscom (một công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc sở hữu nhà nước, và là công ty viễn thông hàng đầu của Thuỵ Sĩ) đang thực hiện trách nhiệm xă hội của một công ty lớn của bằng cách thực hiện hỗ trợ trực tiếp, và dài hạn cho hệ thống giáo dục của Thuỵ Sĩ.
Mục đích của chương tŕnh “Internet for Schools” là tất cả các trường học của Thuỵ Sĩ đều được kết nối với Internet vào cuối năm 2006.
4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách
ở Thuỵ Sĩ, có rất nhiều cơ quan, tổ chức tham gia vào việc phát triển lĩnh vực di sản. Các cơ quan của Bang phối hợp với cơ quan của Liên bang trong hầu hết các dự án.
Thư viện Quốc gia Thuỵ Sĩ là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc lưu giữ các tư liệu văn bản, h́nh ảnh, âm thanh có tầm quan trọng ở cấp quốc gia. Cơ quan này có một số tổ chức trực thuộc luôn sẵn sàng thực hiện các công việc này, và được hỗ trợ tài chính một phần hoặc toàn bộ từ Chính phủ Liên bang. Các tổ chức này bao gồm:
Ban Bảo vệ và Chăm sóc các Di sản và Di tích Lịch sử thuộc Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK) là cơ quan chịu trách nhiệm đối với việc phục hồi và bảo tồn các di tích lịch sử, cũng như thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường/ cảnh quan.
4.2.10 Các vấn đề khác
Luật sửa đổi Luật thành lập hiệp hội sẽ có hiệu lực từ tháng 1 năm 2006. Là một công cụ để điều chỉnh sự phát triển của các hiệp hội, luật này đặc biệt nhằm vào việc tạo ra các ưu đăi thuế. Ngoài ra, luật mới sửa đổi cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà tài trợ. Việc thực hiện kiểm toán bắt buộc cũng nâng cao tính minh bạch.
Một số tổ chức quan trọng như Swissfoundations (hiệp hội của các tổ chức tài trợ) cho rằng không nên sửa đổi luật này bởi v́ theo họ như thế một số nguyên tắc cơ bản của một hiệp hội có nguy cơ bị vi phạm.
Luật sổ xố cũng đang trong quá tŕnh sửa đổi. Hiện tại, chỉ có hai công ty sổ xố lớn (SwissLos và Loterie Romande) có quyền tổ chức các tṛ chơi may rủi, và điều này đă gây ra nhiều chỉ trích bởi những người có tư tưởng muốn tự do hoá thị trường này. Trong quá tŕnh sửa đổi Luật Sổ xố và cá độ chuyên nghiệp, đây là một trong các vấn đề bị chỉ trích nhiều nhất từ phía các tổ chức văn hoá. Họ cho rằng việc thành lập các tổ chức sổ xố tư nhân sẽ làm giảm nguồn đóng góp tài chính của lĩnh vực sổ xố cho nghệ thuật.
Trong những năm tới, lĩnh vực múa và nhiếp ảnh được dự đoán sẽ gây được nhiều sự quan tâm. Một cơ quan quốc gia quản lí trong lĩnh vực nhiếp ảnh đă được thành lập và sẽ được cung cấp tài chính từ nguồn tài chính công, và từ các quỹ hội của tư nhân.
Các tổ chức của nhà nước và tư nhân đều hoạt động dựa trên một tư tưởng phát triển chung đối với lĩnh vực múa, trong đó bao gồm các yếu tố như đào tạo, thừa nhận các bằng cấp, thực hiện phúc lợi xă hội.
Trong khuôn khổ chuyển đổi Thư viện Quốc gia Thuỵ Sĩ thành một quỹ hội công, một mục tiêu chiến lược của chính sách bảo tàng liên bang sẽ được sửa đổi.
5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá
5.1 Quy định chung

Lưu ư: v́ là một quốc gia mà tính chất Liên bang thể hiện triệt để, nhà nước Liên bang có ít cơ sở pháp lí để thực thi thẩm quyền trong lĩnh vực văn hoá so với các nhà nước khác.
5.1.1 Hiến pháp
Điều 69, bên cạnh các điều khoản khác của Hiến pháp Liên bang, đă đưa ra quy định chung về vai tṛ của Chính quyền liên bang trong lĩnh vực văn hoá. Ví dụ, tại Điều 2, khoản 2, quy định Chính quyền Liên bang Thuỵ Sĩ chịu trách nhiệm, bên cạnh các vấn đề khác, phát triển “đa dạng văn hoá quốc gia”. Điều 4 quy định về 4 ngôn ngữ quốc gia. Điều 18 bảo đảm về quyền tự do ngôn ngữ. Điều 21 bảo đảm quyền tự do nghệ thuật. Điều 35 quy định thực hiện các quyền cơ bản. Ngoài ra c̣n phải kể đến quy định cấm phân biệt đối xử (Điều 8, Khoản 2) và các khía cạnh văn hoá của việc tham gia vào đời sống chính trị (các Điều 34 và 39). Theo mục tiêu xă hội được quy định tại Điều 41, Khoản 1, Cl. g, theo đó chính quyền Liên bang và các bang phải đảm bảo “trẻ em và thanh thiếu niên được hỗ trợ trong quá tŕnh phát triển của ḿnh để trở thành những con người độc lập và có trách nhiệm xă hội, và được hỗ trợ trong quá tŕnh hội nhập về mặt xă hội, văn hoá và chính trị”. Thẩm quyền trong lĩnh vực văn hoá được quy định tại Điều 66 và 67 (giáo dục, hoạt động ngoại khoá cho thanh niên, giáo dục cho người lớn), Điều 70 (ngôn ngữ), Điều 71 (phim), Điều 78 (di sản tự nhiên và di sản văn hoá) và Điều 93, khoản 2 (định hướng phát triển truyền thông điện tử). Việc ban hành các đạo luật liên quan đến văn hoá đ̣i hỏi phải xem xét đến nọi dung văn hoá không chỉ là phát triển các chính sách văn hoá Liên bang, mà c̣n xem xét đến quy định trong các lĩnh vực chính sách khác.
Các từ ngữ trong các điều khoản của Hiến pháp liên quan đến lĩnh vực văn hoá, cụ thể như sau:
Điều 2 Mục đích
(2) Nhà nước liên bang phải phát triển phúc lợi chung, phát triển bền vững, sự đoàn kết trong nội bộ quốc gia, sự đa dạng văn hoá của quốc gia […]
Điều 4 Ngôn ngữ quốc gia (ngôn ngữ chính thức)
Ngôn ngữ quốc gia gồm có tiếng Đức, tiếng Pháp, Tiếng ư, và tiếng Romansh.
Điều 8 B́nh đẳng trước pháp luật […]
(2) Không một người nào phải chịu sự phân biệt đối xử dựa trên nguồn gốc, sắc tộc, giới tính, tuổi tác, ngôn ngữ, vị trí xă hội, lối sống, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc triết học, hoặc do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần. […]
Điều 18 Tự do ngôn ngữ
Quyền tự do ngôn ngữ được pháp luật bảo đảm
Điều 21 Tự do nghệ thuật
Quyền tự do nghệ thuật được pháp luật bảo đảm
Điều 66 Hỗ trợ cho giáo dục
(1) Nhà nước liên bang phải trợ cấp cho các bang đối với các chi tiêu mà các bang này phải chịu cho các khoản học bổng và những khoản hỗ trợ khác cho giáo dục
(2) Nhà nước liên bang phải hỗ trợ cho các bang trong các vấn đề liên quan đến trường học, tuy nhiên vẫn phải tôn trọng quyền tự chủ của các bang, và phải thực hiện các biện pháp riêng của liên bang nhằm khuyến khích giáo dục.
Điều 67 Giáo dục thanh niên và người lớn
(1) Liên bang và các bang khi thực hiện nhiệm vụ của ḿnh phải tính đến nhu cầu đặc biệt của nhóm thanh thiếu niên.
(2) Liên bang có thể hỗ trợ các bang trong việc thực hiện các hoạt động ngoại khoá dành cho thanh thiếu niên và giáo dục cho người lớn.
Điều 69 Văn hoá
(1) Lĩnh vực văn hoá thuộc thẩm quyền quyết định của các bang
(2) Liên bang có thể hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá có tầm quan trọng quốc gia, và khuyến khích phát triển nghệ thuật và âm nhạc, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục.
Điều 70 Ngôn ngữ
(1) Ngôn ngữ chính thức của nhà nước Thuỵ Sĩ gồm Tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng ư. Tiếng Romansh là ngôn ngữ chính thức trong giao tiếp giữa những người sử dụng tiếng Romansh.
(2) Các bang phải xác định ngôn ngữ chính thức của bang ḿnh. Nhằm ǵn giữ sự hài hoà giữa các cộng đồng sử dụng ngôn ngữ khác nhau, các bang phải tôn trọng truyền thống phân bố lănh thổ của các cộng đồng, và phải tính đến cộng đồng bản địa.
(3) Liên bang và các bang phải thúc đẩy sự giao lưu hiểu biết giữa các cộng đồng ngôn ngữ.
(4) Liên bang phải hỗ trợ cho các bang có nhiều ngôn ngữ chính thức để các bang này hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt của ḿnh.
(5) Liên bang phải hỗ trợ cho các bang Grisons và Ticino để các bang này thực hiện ǵn giữ và phát triển tiếng Romansh và tiếng ư.
Điều 71 Điện ảnh
1 Liên bang có thể hỗ trợ việc sản xuất phim của Thuỵ Sĩ
2 Liên bang có thể ban hành luật nhằm khuyến khích sự đa dạng và chất lượng của các tác phẩm điện ảnh
Điều 78 Di sản tự nhiên và di sản lịch sử
(1) Việc bảo vệ các di sản tự nhiên và di sản lịch sử thuộc thẩm quyền của các bang.
(2) Trong khi thực hiện nhiệm vụ của ḿnh, Liên bang phải tính đến các mục tiêu bảo vệ các di sản tự nhiên và di sản văn hoá. Liên bang có trách nhiệm bảo vệ các di tích cảnh quan, lịch sử, các di tích tự nhiên và văn hoá;
(3) Liên bang phải hỗ trợ cho các nỗ lực nhằm bảo vệ các di sản tự nhiên và di sản văn hoá, và có thể, thông qua thoả thuận hoặc bằng việc quốc hữu hoá, thực hiện thu về hoặc bảo vệ các di sản có tầm quan trọng quốc gia.
(4) Liên bang phải ban hành luật bảo vệ động thực vật, ǵn giữ môi trường tự nhiên và tính đa dạng của chúng. Liên bang phải bảo vệ các loài khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng.
(5) Các khu đồng hoang và đầm lầy có giá trị đặc biệt phải được bảo vệ. Không được phép xây cất, hoặc tạo ra bất cứ sự thay đổi nào đối với các khu vực này. Ngoại lệ duy nhất cho phép xây cất (lắp đặt) nhằm bảo đảm việc bảo vệ hoặc duy tŕ hoạt động nông nghiệp đang có.
Điều 93 Phát thanh và truyền h́nh
(1) Luật về phát thanh và truyền h́nh và các h́nh thức phát sóng các chuyên đề và thông tin thuộc thẩm quyền của Liên bang.
(2) Phát thanh và truyền h́nh phải góp phần vào sự phát triển của giáo dục và văn hoá, góp phần vào phát triển tự do ngôn luận, thoă măn nhu cầu giải trí của người nghe, người xem. Đài phải tính đến các đặc điểm của quốc gia và nhu cầu của các bang.
(3) Sự độc lập của các đài phát thanh truyền h́nh và tính tự quyết đối với các chương tŕnh của các đài được pháp luật bảo vệ.
(4) Vị trí và vai tṛ của các phương tiện truyền thông khác, đặc biệt là báo chí, phải được tính đến.
(5) Việc khiếu nại đối với các chương tŕnh phải được gửi đến một cơ quan độc lập để giải quyết.
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
“Các vấn đề văn hoá thuộc thẩm quyền của các bang”; đoạn đầu tiên của Điều 69 Hiến pháp Liên bang đă trao cho các bang quyền ban hành luật của riêng ḿnh. Giữa các bang và thành phố có sự khác biện lớn trong việc quy định về văn hoá, từ việc ghi nhận thành một điều khoản chính trong hiến pháp của bang (đôi khi quy định hẳn trong một đạo luật về văn hoá) – cho đến những định hướng (không mang tính ràng buộc). Có thể lấy ví dụ trong luật của bang Aargau. Luật này quy định rằng 1% thu doanh thu của năm trước phải được dành để chi tiêu cho văn hoá, trong khi tại bang Schaffhausen th́ dân chúng ở đây lại chấp nhận đưa một điều khoản chung về văn hoá vào trong Hiến pháp Bang – tuy nhiên một đạo luật về văn hoá lại chưa được ban hành. ở bang Zug, người ta đang c̣n tranh luận xem việc chi tiêu cho văn hoá có nên được quy định cụ thể trong hiến pháp hay không.
Có một vài lĩnh vực thuộc văn hoá mà thẩm quyền lại thuộc về chính quyền liên bang
5.1.3 Phân bổ ngân sách
Theo nguyên tắc, văn hoá là một trong nhiều lĩnh vực mà trách nhiệm quản lí thuộc về một cá nhân do dân chúng bầu ra. Sau đó trách nhiệm của người này thường được chuyển giao cho một viên chức cấp cao của một cơ quan hành chính và/ hoặc uỷ bang. Các luật và sắc lệnh quy định về trách nhiệm, tuy nhiên lại không quy định về tài chính. Thông thường quy định về tài chính thường được diễn đạt như sau: “Liên bang/ bang… có thể – trong phạm vi ngân sách đă được chấp thuận – phân bổ (x%) cho, ví dụ giáo dục, tài trợ,…”
Ngân sách thực tế do Nghị viện thông qua theo từng vấn đề riêng. Một khi tài chính được phân bổ cho một tổ chức, th́ thường kèm theo việc phân bổ ngân sách là định hướng về sử dụng ngân sách đó.
Đối với nguồn tài chính do Liên bang quản lí. Thông thường các nguồn tài chính này đă được xác định cho các mục đích cụ thể (ví dụ như cho văn hoá, cho xă hội)
5.1.4 Chương tŕnh an sinh xă hội

Không tồn tại một chương tŕnh an sinh xă hội toàn diện dành cho các nghệ sĩ. Chủ đề này từ lâu đă trở thành một ưu tiên của các hiệp hội. Cho đến nay có ba tổ chức phúc lợi xă hội trong lĩnh vực điện ảnh, kịch và âm nhạc – tất cả đều là các quỹ hội tư nhân, một số là quỹ tương trợ, một số quỹ được điều hành bởi các công ty thu phí bản quyền. Với hỗ trợ tài chính của Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK), “Suisseculture Sociale” (tổ chức trợ cấp cho các nghệ sĩ) và “Suisseculture Contact” (Một trung tâm tư vấn dành cho các nghệ sĩ) đă được thành lập.
Các hiệp hội lớn đă vận động để đưa vấn đề này vào trong nội dung của luật mới của Liên bang về phát triển văn hoá, dự kiến sẽ được tŕnh lên nghị viện vào năm 2007. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa thống nhất được liệu vấn đề này nên nằm trong một luật chung về phát triển văn hoá, hay là nên đưa nó vào trong luật sửa đổi luật an sinh xă hội.
5.1.5 Luật thuế
Quy định đặc biệt tại Điều 92 Luật liên bang về thuế thu nhập bao gồm cả thuế thu nhập đối với nghệ sĩ đang sống tại nước ngoài. Ngoài quy định trên, các nghệ sĩ đều chịu điều chỉnh bởi các quy định thuế giống như những người khác (đối với người làm việc tự doanh xem Điều 27ff. và 125, 2DBG, đối với người làm thuê xem Điều 26, 125, 1 và 127, 1 DBG).
Mặc dù so với các quốc gia châu Âu khác, ở Thuỵ Sĩ hỗ trợ của khối tư nhân dành cho văn hoá cao hơn rất nhiều (xem phần 2.2), th́ cũng có các ư kiến muốn tăng cường các biện pháp khuyến khích khác để thu hút thêm đầu tư của tư nhân để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Để làm được điều này cần phải sửa đổi một số luật, trong đó có Luật Thành lập Hội (xem phần 4.2.10), Luật Tài chính, Luật Sổ xố. Ngoài ra, thái độ của các cơ quan công quyền đối với các nhà đầu tư tư nhân cũng phải thay đổi nếu họ muốn tạo ra một môi trường thuận lợi hơn để thu hút đầu tư tư nhân.
Các khoản hiến tặng dưới h́nh thức tài trợ cũng được khấu trừ thuế. Các bang được khuyến khích ban hành chính sách thuế tự do hơn đối với các hội và nhà tài trợ tư nhân. Quy định khấu trừ thuế thay đổi tuỳ theo từng bang. ở cấp Liên bang, khấu trừ thuế có thể lên đến 10% lợi nhuận ṛng. Các bang có thể quy định tỉ lệ của riêng ḿnh, và các điều kiện để miễn, và đôi khi có thể miễn đến 100% như tại bang Bale.
Luật sổ xố hiện đang trong quá tŕnh sửa đổi. Hiện nay, hai công ty sổ xố lớn (SwissLos và Loterie Romande) độc quyền trong việc tổ chức các chương tŕnh sổ xố. Điều này đă gây ra nhiều chỉ trích từ phía những người ủng hộ phát triển thị trường tự do. Các tổ chức văn hoá cho rằng việc thừa nhận hoạt động kinh doanh sổ xố của tư nhân sẽ làm giảm nguồn tài chính của từ sổ xố dành cho lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật.
5.1.6 Luật lao động
Quan hệ lao động, bao gồm cả hợp đồng lao động, được điều chỉnh theo Bộ luật Nghĩa vụ (đặc biệt là tại điều 319ff.) và được giám sát thực hiện bởi các hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp (xem thêm phần 5.1.4).
5.1.7 Quy định về bản quyền
Luật quyền tác giả bảo vệ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, nhiếp ảnh và các lĩnh vực khác cũng như việc thu phí bản quyền. Các nghệ sĩ, nhà sản xuất về âm thanh, h́nh ảnh và thiết bị mang dữ liệu, hăng phát thanh truyền h́nh đều được bảo hộ quyền tác giả (URG). Thụy Sĩ là thành viên của Công ước Berne về Bảo vệ tác phẩm văn học nghệ thuật (1886), thành viên của Công ước Quốc tế về Bản quyền (1956). Công ước Geneva và Công ước Rome hiện tại vẫn chưa được Thụy Sĩ phê chuẩn.
Một luật mới đang được soạn thảo. Giữa các tổ chức văn hoá và các định chế công vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về vấn đề quyền bán lại của tác giả. Luật về quyền tác giả (URG) cũng quy định về việc sao chép các băng âm thanh và băng h́nh v́ mục đích sử dụng cá nhân. Luật cho phép việc sao chép để sử dụng vào mục đích giảng dạy, và sử dụng nội bộ, làm tư liệu tại các doanh nghiệp và cơ quan hành chính. Tiền bản quyền cho nhà văn và dịch giả được lấy từ nguồn phí băng trắng. Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu băng trắng phải đóng thuế theo tỉ suất thuế đă quy định trong Luật Quyền tác giả và tỉ suất thuế do SUISA quy định (SUISA là tổ chức thu phí bản quyền trong lĩnh vực âm nhạc). Hàng tháng, các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phải nộp báo cáo lên SUISA về số lượng băng trắng mà họ đă bán được.
Các tổ chức thu phí bản quyền ở Thụy Sĩ gồm có: SUISA (Tổ chức thu phí bản quyền trong lĩnh vực âm nhạc), Pro Litteris (văn học và mĩ thuật), Suissimage (tác phẩm nghe-nh́n), Societe suisse des auteurs (lời bài hát, nhạc phẩm tác phẩm biên đạo, tác phẩm nghe nh́n và đa phương tiện), và Suisseperform (quyền của các nghệ sĩ biểu diễn, hăng ghi âm, nhà sản xuất tác phẩm nghe nh́n và hăng phát thanh truyền h́nh).
Bảng 2 Thu nhập từ phí bản quyền đối với việc sao chép cá nhân, tỉ lệ phí do SUISA quy định, 2002.
|
|
Tiền phí thu được từ băng âm thanh, theo % |
Tiền phí thu được từ băng h́nh, theo % |
|
Quyền tác giả |
|
|
|
SUISA |
85 |
12.6 |
|
SSA |
5 |
3.55 |
|
Pro Litteris |
10 |
7.10 |
|
SUISSIMAGE |
0 |
76.70 |
|
Bản quyền của lĩnh vực biểu diễn |
|
|
|
Sissperform |
100 |
100 |
Nguồn: SUISA, 2002
* 3/4 số tổng số tiền thu được từ phí băng âm thanh, băng h́nh dành để trả tiền bản quyền cho tác giả, và 1/4 số tiền dành cho các nghệ sĩ biểu diễn/
Một dự luật về thu tiền bản quyền tại thư viện nhằm bù đắp cho các nhà văn do tác phẩm của họ được cho thuê tại các thư viện, tuy nhiên Nghị viện đă bác bỏ dự luật này. Thay vào đó, một luật mới đă được ban hành quy định về thu phí đối với việc sao chép v́ mục đích sử dụng cá nhân tại các thư viện công, việc sao chép thực hiện tại các trường học, doanh nghiệp và cơ quan hành chính.
5.1.8 Luật bảo vệ dữ liệu

Một sắc lệnh, căn cứ vào luật Liên bang về bảo vệ dữ liệu, đă động chạm đến các vấn đề liên quan đến văn hoá/ chính trị khi quy định về việc sao chép trên internet. Vấn đề này được khởi xướng bởi các tổ chức thu phí bản quyền và ifpi Schweiz (Uỷ ban Quốc gia Thụy Sĩ về Liên đoàn Quốc tế các Hăng ghi âm và ghi h́nh).
Luật liên bang về chuyển nhượng quốc tế các tài sản văn hoá và những trách nhiệm liên quan đến việc thực hiện sự cẩn trọng có thể được xem là một ngoại lệ. Luật quy định về việc chuyển nhượng các tài sản văn hoá phải phản ánh được việc thực thi các quy định trong Công ước năm 1970 của UNESCO.
5.1.9 Luật ngôn ngữ
Thụy Sĩ có 4 ngôn ngữ dân tộc và 3 ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức (theo thống kê năm 2000 có 63.7% dân chúng sử dụng ngôn ngữ này), tiếng Pháp (20.4%), tiếng ư (6.5%), và tiếng Romansh (0.5%) các ngôn ngữ khác (9%). Romansh cũng được xem là ngôn ngữ chính thức trong các công việc hành chính. Sau 6 năm chuẩn bị, luật ngôn ngữ dự kiến sẽ được tŕnh lên Nghị viện vào năm 2006. (xem thêm phần 4.2.3).
Công ty Phát thanh Truyền h́nh Thụy Sĩ (SRG, SSR, idee suisse) sản xuất 6 chương tŕnh truyền h́nh bằng tất cả các (4) ngôn ngữ và Liên bang đặc biệt chú trọng đến việc truyền bá văn hoá Romansh thông qua các chương tŕnh này. Các nguồn tài chính bổ sung cũng được dành cho SRG để thực hiện các chương tŕnh bằng tiếng Pháp và ư. Ngành điện ảnh cũng có cam kết tương tự liên quan đến vấn đề ngôn ngữ. Một nhà phân phối chỉ có thể phân phối một bộ phim nếu nhà phân phối đó sở hữu các quyền đối với bộ phim ở phiên bản gốc và các phiên bản bằng ngôn ngữ khác để thực hiện phân phối trên toàn quốc.
5.2 Pháp luật về văn hoá
Lưu ư: có rất nhiều luật, sắc lệnh và quy định ở cấp bang/ thành phố mà không được trích dẫn ra ở đây.
Thảo luận ở quy mô lớn hơn đang diễn ra tại cấp liên bang. Luật liên bang về phát triển văn hoá (KFG) có mục tiêu tạo ra một hệ thống toàn diện về phát triển văn hoá liên bang. Hơn nữa, luật c̣n điều chỉnh các lĩnh vực, các h́nh thức phát triển văn hoá mà hiện tại chưa có một đạo luật cụ thể nào điều chỉnh hoặc luật điều chỉnh đang c̣n trong quá tŕnh soạn thảo. Luật này cũng phải thích ứng với những đạo luật khác về phát triển văn hoá. Điều đó được quy định tại Điều 1 và điều 2. Ngoài ra c̣n các luật khác điều chỉnh vấn đề có liên quan đến văn hoá, ví dụ như luật phát thanh truyền h́nh, luật bản quyền, luật thuế và luật lao động.
Một cuộc điều tra về phương thức hợp tác của liên bang- đặc biệt là với các bang, thành phố - và liên hệ hệ thống phát triển văn hoá liên bang với các hệ thống tương ứng của các bang và thành phố.
5.3 Các quy định cụ thể
5.3.1 Nghệ thuật thị giác và nghệ thuật ứng dụng
(ví dụ như., hội hoạ, kiến trúc, nhiếp ảnh, đồ hoạ, thiết kế, gốm, dệt và trang trí)
Nghị quyết của Liên bang ngày 22 tháng 12, 1887 về Phát triển nghệ thuật đă tạo điều kiện cho chính quyền liên bang tham gia một cách tích cực trong việc phát triển văn hoá (mua các tác phẩm nghệ thuật, tham gia các triển lăm ở nước ngoài, trợ cấp,…)
Sắc lệnh ngày 29 tháng 9 năm 1924 về Phát triển nghệ thuật.
Sắc lệnh ngày 18 tháng 12 năm 1917 để thực hiện Nghị quyết của Liên bang về phát triển nghệ thuật. Văn bản này cho phép chính phủ liên bang tham gia một cách tích cự hơn trong việc phát triển lĩnh vực thiết kế (hỗ trợ tài chính, trợ cấp, v.v…)
5.3.2 Nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc
Theo luật mới về phát triển văn hoá, các vấn đề về hợp tác trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc sẽ thuộc thẩm quyền của cấp liên bang. Quy định này sẽ được đưa ra thảo luận tại Nghị viện vào năm 2007.
Tuy nhiên, các vấn đề khác của nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của cấp liên bang và thành phố.
5.3.3 Di sản văn hoá
Theo điều 78 Hiến pháp Liên bang, di sản văn hoá và các tài sản văn hoá được điều chỉnh bởi các luật và sắc lệnh về Bảo tồn di sản và tự nhiên, theo đó:
Để đạt được các mục tiêu này, chính quyền liên bang có thể thực hiện bảo tồn các công tŕnh thuộc sở hữu của ḿnh và giao phó, uỷ quyền hoặc hỗ trợ cho việc bảo tồn các di tích không thuộc sở hữu nhà nước.
Có hai uỷ ban cố vấn trong lĩnh vực di sản văn hoá là Uỷ ban Liên bang về Bảo tồn di sản và tự nhiên, và Uỷ ban Liên bang về Bảo tồn di tích lịch sử. Cục môi trường, rừng và thắng cảnh Liên bang, và Pḥng văn hoá Liên bang chỉ đóng vai tṛ tham vấn. Các cơ quan của bang cũng phối hợp hoạt động với các uỷ ban này.
Các quy định khác trong lĩnh vực di sản c̣n có: Danh mục ưu tiên về bảo tồn tự nhiên và di sản, Sắc lệnh về bảo tồn tự nhiên và di sản Liên bang và Luật thành lập bảo tàng quốc gia. Thụy Sĩ là thành viên của nhiều công ước, trong đó có công ước châu Âu về bảo tồn các di sản khảo cổ, Công ước bảo vệ các công tŕnh lịch sử ở châu Âu, và Công ước về bảo vệ các tài sản tự nhiên và văn hoá thế giới.
Luật liên bang ngày 18 tháng 12 năm 1992 về Bảo tàng Quốc gia Thụy Sĩ (SLBG)
Luật quy định trách nhiệm và cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ (quản lí các bộ sưu tập, mở cửa cho khách tham quan; thu thập các dữ liệu liên quan đến Thụy Sĩ; phát triển hệ thống thư viện quốc gia và quốc tế).
Sắc lệnh ngày 14 tháng 9 năm 1983 về Cơ quan Liên bang bảo tồn các di tích lịch sử)
Danh mục ưu tiên về bảo tồn di tích lịch sử, ngày 29 tháng 6 năm 1994.
Các lĩnh vực được ưu tiên thực hiện khi nguồn tài chính hạn hẹp, và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lí, hoạt động văn hoá.
Luật liên bang ngày 1 tháng 7 năm 1966 về Bảo vệ tự nhiên và di sản (NHG)
Luật quy định các trách nhiệm cụ thể (ǵn giữ, bảo vệ cũng như thúc đẩy công tác bảo tồn các cảnh quan tự nhiên, các di tích lịch sử, công tŕnh tự nhiên và văn hoá; hỗ trợ các bang và những tổ chức liên quan; thúc đẩy hoạt động giảng dạy và nghiên cứu).
Sắc lệnh ngày 16 tháng 1 năm 1991 về Bảo tồn tự nhiên và di sản (NHV)
Sắc lệnh ngày 20 tháng 6 năm 2003 về mua bán quốc tế các tài sản văn hoá (KGTG)
Luật về việc thực hiện công ước của UNESCO ngày 14 tháng 11 năm 1970 – nhập khẩu các tài sản văn hoá vào Thụy Sĩ, việc quá cảnh và xuất khẩu các tài sản văn hoá cũng như “hồi hương” các tài sản văn hoá.
Sắc lệnh ngày 3 tháng 4 năm 2005 về mua bán quốc tế các hàng hoá văn hoá (KGTK)
5.3.4 Văn học và thư viện

Luật liên bang ngày 6 tháng 10 năm 1995 về Hỗ trợ tài chính cho việc Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá ư và Romansh
Văn bản này quy định việc hỗ trợ tài chính của Chính phủ liên bang cho bang Grisons để thực hiện bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá Romansh và ư, hỗ trợ tài chính cho Bang Ticino trong việc phát triển văn hoá và ngôn ngữ ư.
Sắc lệnh ngày 26 tháng 6 năm 1996 về hỗ trợ tài chính cho việc Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá Romansh và ư
Luật liên bang ngày 18 tháng 12 năm 1992 về Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ (SLBG)
Luật này quy định về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ (việc sưu tập, đón khách tham quan); thu thập các dữ liệu có liên quan đến Thụy Sĩ; phát triển hệ thống thư viện Quốc gia và Quốc tế)
Sắc lệnh ngày 14 tháng 2 năm 1998 về Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ (SLBV)
Luật liên bang ngày 19 tháng 12 năm 2003 về Định hướng hỗ trợ tài chính cho Quỹ hội Bibliomedia
Liên bang có thể thực hiện hỗ trợ hàng năm, trong phạm vi nguồn tài chính phù hợp, cho quỹ hội Bibliomedia (Một quỹ hội do nhà nước thành lập để phát triển các thư viện và thúc đẩy văn hoá đọc)
5.3.5 Kiến trúc và môi trường
Luật liên bang ngày 1 tháng 7 năm 1966 về Bảo tồn tự nhiên và di sản (NHG)
Luật này quy định về trách nhiệm (ǵn giữ, bảo vệ và thúc đẩy công tác bảo tồn các cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử và các công tŕnh tự nhiên và văn hoá; hỗ trợ các bang và tổ chức liên quan; phát triển việc giảng dạy và nghiên cứu)
Sắc lệnh ngày 16 tháng 2 năm 1991 về Bảo tồn tự nhiên và di sản (NHV)
5.3.6 Phim, video và nhiếp ảnh
Luật Điện ảnh, và Sắc lệnh về điện ảnh đă có hiệu lực từ năm 2002. Sắc lệnh điện ảnh được soạn thảo bởi Pḥng văn hoá Liên bang (BAK) cùng với Uỷ ban phim Quốc gia và ngành công nghiệp điện ảnh Thụy Sĩ. Sắc lệnh này quy định cụ thể nhiệm vụ, và các công cụ, điều kiện áp dụng cho đến năm 2005 trong việc phát triển điện ảnh ở Thụy Sĩ. Các ưu tiên bao gồm t́m cách tăng số lượng khán giả đến với phim Thụy Sĩ, tăng cường nguồn hỗ trợ tài chính cho việc sản xuất phim và thực hiện thống kê về phim mới. Từ năm 1997, “succèss cinéma” (bộ phim thành công), một giải thưởng dành cho sản xuất phim, đă được thành lập nhằm cung cấp nguồn tài chính bổ sung cho những nhà sản xuất (nhóm sản xuất, nhà sản xuất, nhà phân phối và các rạp chiếu bóng) mà phim của họ thu hút được số lượng khán giả lớn nhất. Chương tŕnh hỗ trợ này sẽ c̣n tiếp tục trong một thời gian. Uỷ ban phim Liên bang đóng một vai tṛ rất quan trọng. Trong những năm tới, cơ quan này có chức năng giám sát thực hiện luật mới, việc phát triển của toàn bộ ngành phim, thực hiện tư vấn cho các quyết sách của liên bang và thúc đẩy hợp tác giữa các bang trong lĩnh vực điện ảnh.
Hầu như tất cả các phim của Thụy Sĩ đều là tác phẩm đồng sản xuất với các quốc gia châu Âu khác. V́ lí do này, Thụy Sĩ đóng một vai tṛ tích cực trong quỹ Euroimages do Hội đồng châu Âu thành lập. Hơn nữa, Thụy Sĩ, do không phải là thành viên của Liên minh châu Âu, sẽ tham gia chương tŕnh MEDIA của Liên minh Châu âu vào năm 2006, (xem phần 2.4). Để thúc đẩy hợp tác sản xuất, Thụy Sĩ đă kí các thoả thuận với 18 quốc gia. Với các quốc gia mà Thụy Sĩ không có thoả thuận cụ thể, th́ sẽ áp dụng Thoả thuận cùng sản xuất phim.
Chính phủ liên bang có thể hỗ trợ cho phim do trong nước trong nước sản xuất cũng như phim hợp tác sản xuất giữa Thụy Sĩ với nước ngoài thông qua việc hỗ trợ, trao giải thưởng (xem phần 8.1.3). Liên bang cũng hỗ trợ cho các liên hoan phim và cung cấp các nguồn lực cho việc giáo dục và đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực này.
Luật liên bang ngày 14 tháng 12 năm 2001 về Sản xuất phim và ngành phim (FiG)
Luật này thúc đẩy sự đa dạng và chất lượng của các bộ phim, việc sản xuất phim, và phát triển nền điện ảnh.
Sắc lệnh về Điện ảnh ngày 3 tháng 7 năm 2002 (FiV)
Văn bản này quy định về việc đánh giá tính đa dạng của các bộ phim; quy định thực hiện về thuế bảo hộ; việc đăng kí của các đại lí cho thuê và các rạp chiếu phim cũng như thông báo nội dung phim được tŕnh chiếu; thành lập Uỷ ban phim Quốc gia.
Sắc lệnh của Bộ Nội vụ (EDI) ngày 20 tháng 12 năm 2002 về phát triển điện ảnh (FiFV)
Văn bản này quy định các điều kiện và thủ tục cần thiết để hỗ trợ tài chính cho việc phát triển phim
Sắc lệnh của Bộ Nội vụ (EDI) ngày 30 tháng 9 năm 2004 về Giải thưởng điện ảnh)
Văn bản này quy định việc mới tham giải thưởng điện ảnh Thụy Sĩ, các yêu cầu tham gia, thủ tục đề cử và thủ tục để lựa chọn người (bộ phim..) đoạt giải.
5.3.7 Ngành kinh doanh văn hoá
Các ngành kinh doanh văn hoá được xem là một phần của khối kinh doanh tư nhân, và do đó có rất ít quy định pháp luật điều chỉnh, ngoại trừ ngành điện ảnh ( xem phần 5.3.6) và sách: Book trade ở Thụy Sĩ dựa trên chính sách giá cố định. Một thoả thuận giữa các nhà xuất bản, nhà phân phối và các hiệu sách bảo đảm rằng người tiêu dùng sẽ chỉ phải theo giá bán lẻ do nhà xuất bản ấn định. Mặc dù bị Uỷ ban cạnh tranh Liên bang cấm vào năm 1999, th́ quy định này hiện vẫn có hiệu lực. Theo một sáng kiến của nghị viện, cơ sở pháp lí cho việc ấn định giá sách sẽ được ban hành trong thời gian tới.
Phát triển điện ảnh: Phát triển điện ảnh trên cơ sở lợi nhuận (xem phần 5.3.6) căn cứ vào số tiền thu được tại các pḥng bán vé và do đó có quan hệ chặt chẽ với ngành kinh doanh phim. Thị trường này - cùng với lĩnh vực thiết kế – dựa rất nhiều vào yếu tố sáng tạo.
Sắc lệnh ngày 18 tháng 9 năm 1933 về Phát triển nghệ thuật ứng dụng
Sắc lệnh của Bộ nội vụ (EDI) ngày 20 tháng 12 năm 2002 về Phát triển điện ảnh (FiFV)
Văn bản này quy định về điều kiện và thủ tục cần thiết để hỗ trợ tài chính cho việc phát triển phim.
5.3.8 Truyền thông đại chúng

Thụy Sĩ là một quốc gia đa ngôn ngữ và đa văn hoá. Nhiệm vụ của Công ty Phát thanh Truyền h́nh Thụy Sĩ (SRG, SSR, idee suisse) là sản xuất và phát các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh theo bốn ngôn ngữ: Đức, Pháp, ư và Romansh. V́ thế, các đài phát thanh và truyền h́nh thường phân bổ theo các vùng sử dụng ngôn ngữ phù hợp, và các vùng sử dụng tiếng ư, Pháp được hỗ trợ bổ sung về tài chính để sản xuất các chương tŕnh cho ngang bằng với những chương tŕnh của các vùng sử dụng tiếng Đức.
Theo luật sửa đổi về Phát thanh truyền h́nh, lĩnh vực phát thanh truyền h́nh của Thụy Sĩ hiện nay cho phép các đài phát thanh truyền h́nh của tư nhân hoạt động. Tuy nhiên, phát thanh truyền h́nh của nhà nước (SRG, SSR, idee Suisse) vẫn chiếm ưu thế trong lĩnh vực này, điều đó xuất phát từ các lí do chính trị và văn hoá. Luật mới sửa đổi sẽ chưa có hiệu lực trước năm 2007. (xem thêm phần 4.2.4). Việc thành lập và tổ chức hoạt động của phát thanh truyền h́nh dựa trên quy định tại Điều 93 của Hiến pháp Liên bang, Luật và Sắc lệnh về phát thanh và truyền h́nh (RTGV/ RTVV) và một số định hướng (không có tính bắt buộc) của Bộ Truyền thông (BAKOM). Điều 93 quy định rằng thông tin, giáo dục và giải trí là những chức năng chính của Công ty phát thanh và truyền h́nh Thụy Sĩ (SRG, SSR, idee Suisse). Hiến pháp bảo đảm tính độc lập và tự chủ của lĩnh vực phát thanh truyền h́nh. Phát thanh và truyền h́nh phải coi trọng những tác phẩm do trong nước sản xuất cũng như các tác phẩm nghe nh́n hợp tác giữa Thụy Sĩ và các nước châu Âu. Công ty Phát thanh truyền h́nh Thụy Sĩ có quyền cấp phép và thu lệ phí truyền h́nh. Thụy Sĩ là thành viên của Liên hiệp Phát thanh truyền h́nh châu Âu, đóng trụ sở tại Geneva.
Sự đa dạng của nền báo chí Thụy Sĩ phản ánh tính chất liên bang và xă hội đa ngôn ngữ của Thụy Sĩ. Tuy nhiên, xu hướng tập trung (tích tụ) trong lĩnh vực báo chí đă xảy ra và có tác động đến Thụy Sĩ trong những năm qua (theo số liệu của cơ quan Thống kê Liên bang, năm 2000 có 79 tờ nhật báo; trong khi năm 1985 có 111). V́ lí do này, người ta đang c̣n thảo luận xem liệu nhà nước có nên hỗ trợ để duy tŕ sự đa dạng trong báo chí, hay việc hỗ trợ sẽ bóp méo cơ chế báo chí thị trường. Mặc dù việc hỗ trợ trực tiếp để duy tŕ sự đa dạng đă bị Nghị viện bác bỏ, nhưng các h́nh thức hỗ trợ gián tiếp (ví dụ như giảm các chi phí vận chuyển) lại được mở rộng.
Luật liên bang ngày 21 tháng 6 năm1991 về Phát thanh và Truyền h́nh (RTVG)
Văn bản này quy định, bên cạnh các vấn đề khác, nghĩa vụ của các đài truyền h́nh nhà nước phải coi trọng tính đa dạng của dân tộc, thu hút sự quan tâm của công chúng và tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hoá trên thế giới; phát triển văn hoá Thụy Sĩ và thúc đẩy người xem, người nghe tham gia vào đời sống văn hoá; thúc đẩy việc tiếp xúc với những người Thụy Sĩ đang sống tại nước ngoài và làm cho thế giới biết đến Thụy Sĩ nhiều hơn; chú trọng đến các việc sản xuất các sản phẩm nghe nh́n, đặc biệt là phim; cung cấp cho các vùng miền khác nhau với đầy đủ các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh .
Sắc lệnh về Phát thanh và Truyền h́nh ngày 6 tháng 10 năm 1997 (RTVV)
5.3.9 Quy định đối với những nghệ sĩ tự doanh
Hiện nay không có một khung pháp lí toàn diện đối với các nghệ sĩ. Trong những năm qua, vấn đề này là ưu tiên hàng đầu của các hiệp hội. Cho đến nay đă có ba tổ chức phúc lợi xă hội trong lĩnh vực điện ảnh, kịch và âm nhạc – tất cả đều là các quỹ hội tư nhân, một số là các quỹ tương trợ, một số được điều hành bởi các tổ chức thu phí bản quyền. Với sự hỗ trợ tài chính của Pḥng Văn hoá Liên bang (BAK), “Suisseculture Social” (một tổ chức trợ cấp cho các nghệ sĩ) và “Suisseculture Contact” (trung tâm tư vấn cho các nghệ sĩ) đă được thành lập.
Trong quá tŕnh xây dựng luật liên bang về văn hoá, một số giải pháp cụ thể cho các nghệ sĩ về vấn đề phúc lợi sẽ được đem ra thảo luận
5.3.10 Các vấn đề khác
Luật liên bang ngày 24 tháng 3 năm 2000 về Xây dựng h́nh ảnh Thụy Sĩ trên trường quốc tế
Luật này quy định Chính phủ Liên bang có nhiệm vụ nâng cao sự hiểu biết chung về đất nước Thụy Sĩ, quảng bá về vẻ đẹp và sự đa dạng của Thụy Sĩ. V́ thế hoạt động của các tổ chức thuộc Bộ ngoại giao phải được hỗ trợ.
Luật liên bang ngày 7 tháng 10 năm 1994 về Hiệp hội “v́ tương lai của cộng đồng người Thụy Sĩ sống du cư”
Chính phủ liên bang phải hỗ trợ cho Hiệp hội này, nhằm đảm bảo sự ổn định và cải thiện chất lượng sống cũng như bảo tồn bản sắc văn hoá của cộng đồng những người sống du cư.
Luật liên bang ngày 6 tháng 10 năm 1989 về phát triển các hoạt động ngoại khoá cho thanh niên (JPG)
Luật này quy định về nhiệm vụ của liên bang về việc phát triển các hoạt động ngoại khoá cho thanh thiếu niên.
Sắc lệnh ngày 10 tháng 12 năm 1990 về phát triển các hoạt động ngoại khoá cho thanh thiếu niên (JFV)
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
6.1 Tổng quan

Hàng năm các cơ quan nhà nước chi khoảng 2 tỉ CHF cho văn hoá. Từ năm 1990 khoản chi tiêu này đă dần tăng lên. Các thành phố đóng vai tṛ chủ yếu trong chi tiêu cho văn hoá (năm 2002, chi tiêu của các thành phố chiếm đến 39% tổng chi tiêu của nhà nước cho văn hoá), mặc dù tỉ lệ này có xu hướng giảm xuống từ năm 1990. Chi tiêu của các bang vẫn tương đối ổn định, trong khi chi tiêu của liên bang lại tăng lên kể từ năm 1996 – chủ yếu là chi tiêu của liên bang để trợ cấp cho phí vận chuyển báo chí (từ năm 1996) và các nghĩa vụ của liên bang liên quan đến triển lăm Swiss Expo 02.
Các cấp chính quyền đặt ra những ưu tiên rất khác nhau trong việc chi tiêu cho các lĩnh vực thuộc văn hoá. Ví dụ, các bang và thành phố thường ưu tiên chi tiêu cho các lĩnh vực “kịch và hoà nhạc”, “thư viện”, và “bảo tàng”, ngoài ra các bang c̣n ưu tiên cho lĩnh vực bảo tồn các toà nhà và công tŕnh có giá trị lịch sử (di tích lịch sử). Chính quyền liên bang lại hỗ trợ cho lĩnh vực truyền thông đại chúng và hỗ trợ cho Hội đồng Nghệ thuật (Pro Helvetia).
Tại cấp thành phố, chi tiêu của các thành phố lớn chiếm đến khoảng 4/5 tổng chi tiêu (năm 2002, tổng chi tiêu của các thành phố lớn chiếm đến 82%). Riêng 5 thành phố lớn nhất (gồm Zurich, Geneva, Basel, Bern, và Lausanne) đă chiếm đến 2/3 tổng chi tiêu của cấp thành phố.
Một cuộc điều tra thực hiện vào năm 2000 cho thấy, chi tiêu hàng năm của các doanh nghiệp tư nhân cho văn hoá vào khoảng 320 triệu CHF.
Theo điều tra về thu nhập và tiêu dùng (EVE), thu nhập b́nh quân của các hộ gia đ́nh tăng 4.1% trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2000, từ 8 356 CHF đến 8 696 CHF. Năm 2000, chi tiêu b́nh quân hàng tháng của các hộ gia đ́nh lên đến 7 634 CHF – tăng 2.9% so với năm 1998 (7 418 CHF).
Bảng 3 Chi tiêu của các hộ gia đ́nh vào năm 2000
|
Chi tiêu b́nh quân hàng tháng của các hộ gia đ́nh |
Tính theo CHF (Frăng Thụy Sĩ) |
Tính theo % |
|
Văn hoá và giải trí |
512 |
6.71* |
|
Sản phẩm nghe nh́n, thiết bị EDP |
80 |
1.5 |
|
Các trang bị phụ trợ cho mục đích giải trí |
112 |
1.46 |
|
Trang thiết bị chơi thể thao |
161 |
2.11 |
|
Sách, báo |
84 |
1.10 |
|
Đi nghỉ |
75 |
0.99 |
Nguồn: Điều tra về Tiêu dùng và Thu nhập (EVE), Thu nhập và Chi tiêu của hộ gia đ́nh trong năm 2000: Phân tích Chi tiết, Cục Thống kê Liên bang, 2003.
Lưu ư: Chỉ số giá tiêu dùng quốc dân (LIK) xác định giá cả của các hàng hoá và dịch vụ liên quan đến các hộ gia đ́nh. Nó cũng cho thấy mức độ người tiêu dùng phải tăng hoặc giảm chi tiêu của họ do sự thay đổi về giá cả, để duy tŕ lượng chi tiêu ổn định. LIK (Chỉ số giá tiêu dùng quốc dân) xác định giá cả bằng cách lựa chọn một nhóm hàng hoá và dịch vụ quan trọng mà các hộ gia đ́nh tiêu dùng. Nhóm hàng hoá này được phân loại và gán các trọng số tuỳ theo 12 mục chi tiêu quan trọng nhất của các hộ gia đ́nh. Mục “văn hoá và giải trí” chiếm tỉ lệ 9.3%.
6.2 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người
Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người vào năm 2002 là 310 CHF (Frăng Thụy Sĩ), tương ứng với 0.53% GDP.
Tỉ lệ này đă tăng lên nhanh chóng kể từ năm 1996 – chủ yếu là do trợ cấp của liên bang cho phí vận chuyển sách báo và do các nghĩa vụ của liên bang liên quan đến triển lăm Swiss Expo 02.
6.3 Chi tiêu cho lĩnh vực văn hoá theo cấp chính quyền
Bảng 4: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, theo cấp chính quyền, triệu CHF, 2002
|
Cấp chính quyền |
Triệu CHF (Frăng Thụy Sĩ) |
% trên tổng số |
|
Liên bang |
575 |
25.3 |
|
Bang |
823 |
36.2 |
|
Địa phương (thành phố) |
873 |
38.5 |
|
Tổng |
2 271 |
100 |
Nguồn: Cục Thống kê :iên bang; Quản lí tài chính liên bang
6.4 Thống kê theo lĩnh vực
Việc thống kê ở Thụy Sĩ không phân loại theo các chuẩn mực của Eurostat, mà các mục được phân loại như sau: thư viện, bảo tàng, kịch và nhạc cổ điển, các công tŕnh và di tích, truyền thông, lĩnh vực khác. Theo các số liệu thống kê, các thành phố tập trung chi tiêu của ḿnh vào các lĩnh vực kịch và nhạc cổ điển (bao gồm cả opera) và bảo tàng. Các bang chủ yếu chi tiêu vào bảo tồn các cảnh quan và tự nhiên. Những lĩnh vực này không được liên bang hỗ trợ trực tiếp.
Bảng 5: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, theo lĩnh vực, theo cấp chính quyền, ngh́n CHF (Frăng Thụy Sĩ), năm 1990, 1995 và 2000-2002.
|
|
Thư viện |
Bảo tàng |
Kịch, nhạc cổ điển |
Di sản văn hoá |
Truyền thông |
Khác |
Tổng |
% |
|
Thành phố |
||||||||
|
1990 |
97 712 |
106 361 |
319 665 |
49 502 |
18 552 |
221 900 |
813 692 |
52
|
|
1995
|
107 745 |
120 076 |
246 472 |
36 907 |
16 956 |
252 961 |
781 117 |
46 |
|
2000
|
120 987 |
125 891 |
266 762 |
33 392 |
28 061 |
271 832 |
846 925 |
41 |
|
2001
|
135 283 |
136 711 |
252 900 |
32 144 |
27 188 |
257 041 |
841 267 |
36 |
|
2002
|
135 760 |
151 895 |
255 095 |
32 429 |
26 912 |
271 307 |
873 397 |
38 |
|
Bang |
||||||||
|
1990
|
86 489 |
100 193 |
183 643 |
127 989 |
3 798 |
69 542 |
571 654 |
37 |
|
1995
|
87 944 |
121 291 |
250 591 |
124 157 |
4 424 |
85 049 |
673 456 |
40 |
|
2000
|
66 776 |
131 450 |
216 472 |
139 919 |
5 903 |
201 928 |
762 448 |
37 |
|
2001
|
69 542 |
147 773 |
255 211 |
152 291 |
8 845 |
170 082 |
803 744 |
35 |
|
2002
|
78 363 |
148 598 |
246 818 |
156 053 |
9 168 |
183 987 |
822 987 |
36 |
|
Liên bang |
||||||||
|
1990
|
12 120 |
21 584 |
- |
56 912 |
11 700 |
66 516 |
168 832 |
11 |
|
1995
|
21 288 |
38 690 |
- |
52 733 |
45 919 |
68 731 |
227 361 |
14 |
|
2000
|
20 698 |
36 564 |
- |
39 982 |
154 019 |
221 589 |
472 852 |
23 |
|
2001
|
2) 7 711 |
15 515 |
- |
49 554 |
160 883 |
447 332 |
680 995 |
29 |
|
2002
|
2) 5 974 |
15 266 |
- |
46 080 |
166 749 |
340 888 |
574 957 |
25 |
|
Tổng
|
||||||||
|
1990
|
196 321 |
228 138 |
503 308 |
234 403 |
34 050 |
357 958 |
1 554 178 |
|
|
1995
|
216 977 |
280 057 |
497 063 |
213 797 |
67 299 |
406 741 |
1 681 934 |
|
|
2000
|
208 461 |
293 905 |
483 234 |
213 293 |
187 983 |
695 349 |
2 082 225 |
|
|
2001
|
212 536 |
299 999 |
508 111 |
233 989 |
196 916 |
874 455 |
2 326 006 |
|
|
2002
|
220 097 |
315 758 |
501 914 |
234 561 |
202 830 |
796 181 |
2 271 341 |
|
Nguồn: Cục Thống kê Liên bang, Quản lí tài chính liên bang;
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác
7.1 Phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước

Ngay từ đầu mới thành lập, nhà nước Thụy Sĩ đă thể hiện rơ tính chất liên bang và trợ cấp. Do đó, những cuộc thảo luận gần đây ở Châu âu về xă hội công dân (xă hội dân sự), lĩnh vực thứ ba và việc chuyển giao trách nhiệm của nhà nước cho các tổ chức tư nhân không có ảnh hưởng nhiều đến lĩnh vực văn hoá ở Thụy Sĩ. Sự phi tập trung hoá, việc phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước hay quan hệ đối tác giữa nhà nước- tư nhân diễn ra rất thuận lợi. Vấn đề quan trọng hiện nay là tổ chức lại toàn bộ hệ thống trách nhiệm được chia sẻ giữa cấp liên bang và cấp bang nhằm giảm thiểu những phức tạp của cơ chế này.
V́ lí do đó, chính quyền liên bang và các bang dang xây dựng những phương cách mới – một diễn biến có thể ảnh hưởng đến lĩnh vực văn hoá.
Phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước có thể nhận thấy trong lĩnh vực công. Ví dụ, sau các cuộc trưng cầu dân ư ở địa phương, trách nhiệm đối với Nhà hát Opera Zurich được chuyển từ Thành phố sang cho Bang Zurich. Các thoả thuận cũng đă đạt được với các bang lân cận nhằm cung cấp các nguồn lực để duy tŕ Nhà hát Opera này. Việc chuyển giao trách nhiệm hỗ trợ tài chính có thể theo h́nh thức tính theo phần trăm thu tài chính của năm trước đó hoặc theo một con số cụ thể. Những thoả thuận này được thực hiện không dựa trên các căn cứ pháp lí cũng như không có tiền lệ nào để tuân theo.
Trong hầu hết các lĩnh vực của văn hoá ở Thụy Sĩ đều có quan hệ hợp tác giữa nhà nước và tư nhân. Do đó việc phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước chủ yếu diễn ra trong khối công. Có thể lấy ví dụ gần đây như việc chuyển đổi Bảo tàng Quốc gia thành một hiệp hội công, hoặc việc một công ty tư nhân và Pḥng Văn hoá Liên bang đă phối hợp thành lập một trung tâm quốc gia quản lí về lĩnh vực nhiếp ảnh.
7.2 Vị trí/ vai tṛ và sự phát triển của các tổ chức văn hoá
Thụy Sĩ chỉ có vài tổ chức văn hoá quốc gia. Có thể kể đến như Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ (đặt tại vùng nói tiếng Đức), Cơ quan Lưu trữ Văn học Thụy Sĩ (thành lập năm 1990, đặt tại vùng nói tiếng Pháp), Cơ quan Lữu trữ Âm thanh (thành lập năm 1987, đặt tại vùng nói tiếng ư). Cơ quan lưu trữ Văn học và Cơ quan lưu trữ Âm thanh thực hiện – phối hợp chặt chẽ với Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ - một trong các nhiệm vụ được quy định trong Luật về Thư viện Quốc gia. Các cơ quan lưu trữ này có nhiệm vụ thu nhập, lập thành catalogue và phổ biến cho công chúng các nội dung có liên quan đến lịch sử và văn hoá của Thụy Sĩ.
Thư viện Quốc gia Thụy Sĩ đóng trụ sở tại Zurich và có một số chi nhánh khác tại các vùng ngôn ngữ khác nhau.
Thụy Sĩ là một trong những quốc gia có nhiều bảo tàng nhất trên thế giới. từ năm 1950, số lượng các bảo tàng tăng lên gấp ba lần. Năm 2003 có đến 930 bảo tàng. Từ những năm 1990, một xu hướng mới có thể nhận thấy trong các bộ sưu tập của tư nhân về nghệ thuật đương đại. Các nhà sưu tầm muốn thành lập các bảo tàng của riêng ḿnh – thường được thiết kế, xây dựng bởi những kiến trúc sư nổi tiếng thế giới. Một ví dụ khác nhà là nhóm các nhà bảo trợ có tên là “Các Đệ nhất Phu nhân” đă chi 20 triệu CHF để xây dựng một nhà hát tại thành phố Basel.
Cơ quan lưu trữ Điện ảnh Thụy Sĩ là một quỹ hội được cung cấp tài chính bởi liên bang, Bang Vaud và thành phố Lausenne.
Thụy Sĩ có khoảng 6000 thư viện (theo số liệu năm 2000). Hiện nay, hầu hết trong số 29 thư viện lớn là các thư viện của các trường đại học, thư viện của các bang và thành phố.
Theo Cục Thống kê Liên bang vào năm 2003, 530 rạp chiếu bóng có tổng cộng số ghế ngồi khoảng 115 000. Một phần ba các rạp chiếu bóng (và số ghế) tập trung tại năm thành phố lớn nhất của Thụy Sĩ: Zurich, Bern, Bale, Geneva và Lausenne. 22 nhà hát lớn có các đoàn kịch của riêng ḿnh, và có lượng khán giả lên đến 1.5 triệu người, vào các năm 2002/2003. Schauspielhaus Zurich là một trong các nhà hát hàng đầu tại các vùng nói tiếng Đức của Châu âu, và cũng có thể nói tương tự về nhà hát Teatre Vidy Lausanne đối với các vùng nói tiếng Pháp ở Châu âu.
Các cuộc thảo luận hiện nay chủ yếu quan tâm đến việc chia sẻ trách nhiệm tài chính giữa các tổ chức văn hoá lớn.
Để biết thêm thông tin, xem phần 7.1
Các chiến lược về du lịch và văn hoá của các thành phố lớn ngày càng đóng vai tṛ quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức văn hoá. Có thể kể đến như Trung tâm Hội nghị và Văn hoá được thành lập tại Lucerne và một số lễ hội mùa hè.
7.3 Các quan hệ đối tác mới

Hợp tác giữa khối nhà nước và tư nhân đóng một vai tṛ quan trọng và thường được thực hiện trên tinh thần “phối hợp hỗ trợ”. Năm 2002, tỉ lệ phần trăm chi tiêu của tư nhân cho văn hoá là 16%. Hiện tại có hơn 10 000 quỹ, hội hoạt động v́ mục đích công cộng, trong đó có khoảng 1500 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hoá. Từ năm 2001, một tổ chức mới có tên là “Swiss Foundation” đă được thành lập để đại diện cho các quỹ, hội tại Thụy Sĩ. Mục đích của tổ chức này là thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng cho các quỹ, hội và thúc đẩy vai tṛ của các tổ chức này trong các h́nh thức hợp tác khác nhau.
Một số cơ quan liên bang đă hợp tác cùng với các đối tác tư nhân trong nhiều dự án (xem phần 7.1). Một tổ chức tư nhân quan trọng thường xuyên hợp tác trong các dự án với nhà nước là Migros. Theo quy định thành lập, Migros chi khoảng 0.5% doanh thu bán lẻ của ḿnh và 1% tổng doanh số bán sỉ (khoảng 100 triệu CHF) cho các hoạt động văn hoá và xă hội. Ví dụ, theo một số liệu về hỗ trợ cho văn hoá của Thụy Sĩ đă được Migros công bố trên internet. Hội đồng nghệ thuật phối hợp với Migros Kulturprozent (một tổ chức của tư nhân) đă thành lập một giải thưởng dành cho các nhà xuất bản. Mục tiêu của giải thưởng này là thúc đẩy các nhà xuất bản văn học độc lập ở Thụy Sĩ. Năm 2003, tổng giá trị giải thưởng khoảng 300000 CHF đă được trao cho bảy công ty xuất bản của vùng sử dụng tiếng Pháp và vùng Ticino. Hỗ trợ cho các biên tập viên tổng cộng lên đến 4 triệu CHF (Frăng Thụy Sĩ), và được phân phối thông qua các bang, thành phố và các tổ chức tư nhân.
Hợp tác nhà nước- tư nhân có thể nhận thấy ở tất cả các cấp chính quyền, gần đây nhất là “Swiss Films”. Từ năm 2004, Hội đồng Nghệ thuật Thụy Sĩ, Trung tâm Điện ảnh Thụy Sĩ và Phim ngắn Thụy Sĩ đă hợp tác với nhau trong chương tŕnh “Swiss Films” nhằm quản bá nền điện ảnh Thụy Sĩ ra nước ngoài. Các tổ chức trên đây được hỗ trợ tài chính từ chính phủ liên bang, các bang, thành phố và các nhà tài trợ, cũng như thu nhập họ tự kiếm được. Một ví dụ tiêu biểu khác về quan hệ hợp tác nhà nước tư nhân là Quỹ Hội Phim Zurich.
Trong những năm gần đây đă diễn ra xu hướng chuyển từ “bảo trợ” sang “tài trợ”. Việc tài trợ được diễn ra theo nhiều h́nh thức hợp tác. Các công ty lớn hiện nay thường có xu hướng xây dựng bản sắc của ḿnh bằng cách tổ chức các chuyến lưu diễn kịch, nhạc. Hơn nữa, trái với h́nh thức tài trợ cổ điển, các nhà đầu tư hiện nay thực hiện các dự án cùng với những tổ chức văn hoá hoặc nghệ sĩ.
8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ

Thụy Sĩ có rất nhiều các chương tŕnh hỗ trợ khác nhau dành cho nghệ sĩ. ở mọi cấp chính quyền – liên bang, bang và thành phố, có thể nhận thấy một số biện pháp sau:
· trợ cấp hoặc đóng góp cho việc đào tạo nghệ sĩ;
· trao giải thưởng thông qua các cuộc thi (xem phần 8.1.3);
· hỗ trợ cho các studio của các nghệ sĩ ở nước ngoài và tại Thụy Sĩ;
· tham gia vào các triển lăm quốc gia và quốc tế;
· mua các tác phẩm nghệ thuật để bổ sung vào Bộ sưu tập nghệ thuật quốc gia.
8.1.1 Các quỹ hỗ trợ đặc biệt dành cho nghệ sĩ
Được thành lập bởi Pḥng Văn hoá Liên bang, “Suisseculture Sociale” là một tổ chức trợ cấp vốn cho các nghệ sĩ. Nói cụ thể hơn, các tổ chức văn hoá lớn cung cấp tài chính cho các thành viên của ḿnh. Thụy Sĩ có một đặc thù là có rất nhiều quỹ tư nhân với quy mô nhỏ thực hiện cung cấp tài chính cho các nghệ sĩ. Tuy nhiên, tất cả các tổ chức này cũng không che dấu được một thực tế là Thụy Sĩ không có một chương tŕnh an sinh xă hội toàn diện dành cho các nghệ sĩ
8.1.2 Trợ cấp, giải thưởng, học bổng
Thành phố Zurich có thể xem là một trường hợp điển h́nh về thực hiện các chương tŕnh trợ cấp đa dạng. Trong năm 2002, thành phố này đă trao giải thưởng cho hơn 20 nghệ sĩ với tổng giá trị giải thưởng khoảng 350 000 CHF, bao gồm 13 nhà văn, b3 nhóm nhạc, 1 nhạc sĩ (nhà soạn nhạc) và 2 vũ công. Trong số đó có 11 người được trao giải thưởng danh dự (CHF 6000), 1 nhạc sĩ và 2 nhóm nhạc đều nhận được số tiền tương đương với lương b́nh quân hàng năm là 36 000 CHF (Frăng Thụy Sĩ), và 2 vũ công mỗi người nhận được 20 000 CHF. Trong lĩnh vực văn học, hai người nhận được số tiền tương đương với mức lương hàng năm, và hai người khác nhận được số tiền tương đương với một nửa mức lương hàng năm. Một số nghệ sĩ được tạo điều kiện làm việc tại các studio – ở Paris, Berlin và Rome – với khoảng thời gian nhất định.
Các bang và thành phố nhỏ không có những chương tŕnh hỗ trợ đa dạng như vậy. Họ thường thực hiện hỗ trợ dựa trên các dự án; ví dụ, thành lập các quỹ bằng nguồn tiền thu được từ sổ xố. Một số thành phố và các nghệ sĩ đồng sở hữu các studio ở nước ngoài.
Liên bang có một số chương tŕnh đặc biệt để hỗ trợ cho các nghệ sĩ. Hai chương tŕnh quan trọng nhất là cuộc thi mĩ thuật Liên bang và cuộc thi thiết kế Liên bang. Các cuộc thi này được tổ chức hàng năm bởi Pḥng Văn hoá Liên bang dành cho các nghệ sĩ, nhà thiết kế ở độ tuổi dưới 40. Mỗi cuộc thi này có số lượng giải thưởng từ 20 đến 30, trong đó có một số giải thưởng tiền mặt lên đến 25 000 CHF (Frăng Thụy Sĩ). Từ năm 2002, cuộc thi thiết kế Liên bang đă có sự thay đổi. Người đoạt giải sẽ có quyền lựa chọn hoặc là nhận giải thưởng bằng tiền mặt, hoặc là tham gia thực tập tại một công ty thiết kế tầm cỡ quốc tế. Các tác phẩm đoạt giải được trưng bày tại một triển lăm được tổ chức luân phiên tại Zurich và Lausanne. Những người đoạt các giải thưởng từ các cuộc thi này có thể có được nhiều cơ hội để phát triển sự nghiệp của ḿnh.
Hội đồng Nghệ thuật thường đặt hàng các tác phẩm trong lĩnh vực văn chương và nghệ thuật (xem phần 2.2) và hỗ trợ cho các tổ chức văn hoá. Ví dụ, năm 2000, Hội đồng đă đặt dịch các tác phẩm của 35 tác giả với số tiền lên đến 800 000 CHF, và đặt hàng sáng tác của 40 nhạc sĩ với tổng số tiền 250 000 CHF (Frăng Thụy Sĩ).
Các tổ chức văn hoá của tư nhân hàng năm thường đặt hàng các tác phẩm trong nhiều lĩnh vực khác nhau, và tạo nơi làm việc (studio) ở nước ngoài cho các nghệ sĩ.
8.1.3 Hỗ trợ cho các hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp

Các tổ chức văn hoá lớn đóng một vai tṛ rất quan trọng trong sự phát triển văn hoá ở Thụy Sĩ. Có hơn 40 tổ chức như thế, trong các lĩnh vực như âm nhạc, văn học, kịch, điện ảnh, múa, nghệ thuật ứng dụng, nhận được hỗ trợ tài chính từ Pḥng Văn hoá Liên bang. Năm 2004, các tổ chức này nhận được gần 3.7 triệu CHF từ chính quyền liên bang. Tài chính được phân bổ cho các tổ chức:
Có một số hiệp hội, bao gồm các tổ chức thu phí bản quyền tác giả, đă tập hợp lại với nhau dưới tổ chức “Suisseculture”. Các nhiệm vụ chủ yếu của các tổ chức văn hoá là:
8.2 Xu hướng tham gia vào đời sống văn hoá và các số liệu
Bảng 6: Số liệu về sự tham gia vào các hoạt động văn hoá, 1993, 1995, 2000 và 2003
|
|
1993 |
1995 |
2000 |
2003 |
|
Thư viện (1)
|
0.640 |
0.622 |
- |
0.5 |
|
Bảo tàng (2) |
10.6 |
- |
- |
- |
|
Kịch (3) |
1.81 |
1.72 |
1.63 |
1.57 |
|
Điện ảnh (4) |
15.9 |
15.2 |
15.6 |
16.5 |
|
Báo chí (5) |
248 |
257 |
232 |
216 |
|
Truyền h́nh (6) GR FR IR
|
125 144 153 |
128 149 157 |
137 159 171 |
141 168 175 |
|
Phát thanh (7) GR FR IR |
202 134 165 |
199 129 171 |
193 142 148 |
111 105 106 |
|
Đọc sách (8) GR FR IR |
31 26 28 |
33 26 26 |
35 31 34 |
31 29 29 |
Chữ viết tắt: GR: Vùng nói tiếng Đức/ FR: Vùng nói tiếng Pháp/ IR: vùng nói tiếng ư
(1) Số lượng người mượn tài liệu, triệu người (Cục thống kê liên bang)
(2) Số lượng khách tham quan, triệu người (Số liệu về tài sản văn hoá, và Cục thống kê liên bang)
(3) Số lượng khán giả, triệu người, tại các nhà hát được trợ cấp thường xuyên (Cục thống kê liên bang)
(4) Số lượng khán giả, triệu (Nguồn: Suisa/Procinema)
(5) Số đầu báo, tạp chí xuất bản ít nhất mỗi tuần một lần (Cục thống kê liên bang)
(6) Thời lượng xem hàng ngày, theo phút, của mỗi người dân (NGuồn: Telecontrol, Radiocontrol)
(7) Thời lượng nghe hàng ngày vào ngày làm việc, theo phút, của mỗi người dân (Nguồn: Telecontrol, Radiocontrol)
(8) Những người 15 tuổi trở lên, số phút mỗi ngày (Nguồn: Telecontrol, Radiocontrol)
Bảng 7: Hoạt động giải trí, tham gia ít nhất mỗi tuần một lần, theo % dân số tuổi từ 15 trở lên, năm 2000.
|
|
Tổng theo % |
%nam giới |
% nữ giới |
Công dân Thụy Sĩ |
Người nước goài |
|
Đọc sách báo |
88.7 |
91.4 |
85.9 |
82.1 |
90.3 |
|
Làm thủ công, làm vườn |
50.7 |
46.7 |
54.4 |
36.6 |
54.0 |
|
Chơi nhạc, hát |
23.5
|
22.7 |
24.5 |
17.7 |
24.9 |
|
Tham gia các khoá học (như ngoại ngữ, nấu ăn, làm thủ công) |
11.7
|
9.8 |
13.5 |
9.3 |
12.2 |
|
Xem phim |
2.8 |
3.0 |
2.7 |
4.0 |
2.5 |
|
Xem kịch, opera hoặc triển lăm nghệ thuật |
2.1
|
1.7 |
2.3 |
1.6 |
2.1 |
8.3 Các sáng kiến hoặc chương tŕnh nhằm thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá
Đời sống
văn hoá ở Thụy Sĩ phong phú và đa dạng. Tại các vùng nông thôn, các tổ chức văn
hoá của địa phương đóng vai tṛ quan trọng, và việc tham gia vào đời sống văn
hoá có liên quan đến các hoạt động truyền thống (xem phần 8.4). Tại những thành
phố, có nhiều sự ki
ện
văn hoá (hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả các lễ hội đường phố, lễ hội
dân tộc, v.v..) đă đảm nhận chức năng này. Tuy nhiên, cũng có nhiều sáng kiến
nhằm thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá hiểu theo nghĩa hẹp. Ví dụ như
chương tŕnh “Museum Night”, theo đó, có một buổi tối mà tất cả các bảo tàng tại
thành phố Zurich cho phép vào cửa miễn phí. Một chương tŕnh áp dụng trên toàn
Thụy Sĩ là “museumpassport” cung cấp vé vào cửa tại của hơn 250 bảo tàng trên
toàn quốc. Thụy Sĩ rất tích cực tham gia vào các chương tŕnh của quốc tế, ví dụ
như chương tŕnh “Ngày Di sản Châu âu”.
Hầu hết các hoạt động này – cho dù là của nhà nước hay tư nhân - đều được lập kế hoạch và thực hiện ở cấp bang và thành phố mà thôi. Nhưng cũng có những chương tŕnh của liên bang nhằm thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá. ví dụ:
8.4 Các tổ chức văn hoá và nghệ thuật không chuyên, trung tâm văn hoá cộng đồng
8.1.4 Nghệ thuật không chuyên
Các tổ chức văn hoá và nghệ thuật không chuyên đóng một vai tṛ rất quan trọng ở Thụy Sĩ. Hơn 10% dân số t́nh nguyện tham gia hoạt động tại các tổ chức văn hoá; số thành viên của các tổ chức nghệ thuật không chuyên cũng không thể đếm hết. Trên internet liệt kê một danh sách gần 1000 các hiệp hội âm nhạc không chuyên.Tại địa chỉ:
Trong khi các tổ chức văn hoá lớn chủ yếu được Pḥng Văn hoá Liên bang hỗ trợ, th́ một lượng lớn các tổ chức nghệ thuật không chuyên và nhà văn hoá lại được hỗ trợ bởi khối tư nhân, hoặc bởi các thành phố và cộng đồng; thông thường là tiền lấy từ các quỹ sổ xố.
8.4.2 Nhà văn hoá và câu lạc bộ văn hoá cộng đồng

Các tổ chức nghệ thuật không chuyên đóng vai tṛ rất quan trọng. Có hơn 10% dân số t́nh nguyện tham gia vào các hiệp hội văn hoá (xem phần 8.2, bảng 8 để biết số liệu). Điều này phản tính đa dạng của các trung tâm và các hoạt động vốn chủ yếu được hỗ trợ bởi cấp thành phố. Ngoài ra cũng có các quan hệ hợp tác nhà nước – tư nhân, ví dụ như Dada House tại thành phố Zurich. Đây là nơi có ư nghĩa v́ đă khởi sinh phong trào Dada. Công tŕnh này có một thời gian đă bị bỏ quên, sau đó được khôi phục và chuyển thành Cabaret Voltaire, một trung tâm văn hoá chuyên phát triển các lĩnh vực tiên phong của thế kỉ 21.
Thu Hiền (CULTURALPOLICIES)