1. Bối
cảnh lịch sử: Các chính sách và thiết chế văn hóa
Ai-
len
là
nước
đảo,
nằm
trong
biển
Bắc
Băng
Dương,
ở
cực
Tây-
Bắc
châu
Âu,
phía
đông
giáp
biển
nằm
giữa
AiLen
và
nước
Anh,
phía
Tây
Bắc
Băng
Dương.
Diện tích 70,280 km2, dân số 3,969,558 người, thủ đô Dublin, ngôn ngữ Tiếng Anh, Quốc khánh vào ngày 06/12, tín ngưỡng đạo Cơ đốc giáo, đơn vị tiền tệ đồng Euro.
Cộng ḥa Ai – len ra đời năm 1922 sau khi 26 tỉnh của đảo Ai-len tách khỏi Vương Quốc Anh. Sáu tỉnh c̣n lại vẫn thuộc Anh, thường gọi là Vùng Bắc Ai-len. Trước đó, Ai len nằm dưới quyền cai trị của Vương Quốc Anh trong nhiều thế kỷ.
Từ cuối thế kỷ 19 (1874), người Ai-len đă đấu tranh xây dựng một hệ thống luật pháp riêng nhằm dành quyền tự trị mà không buộc đảo này phải tách hẳn khỏi Anh quốc. Tuy nhiên từ đó đă nảy sinh ra mâu thuẫn trong nội bộ Ai-len giữa một bên là những người Tin lành theo chủ nghĩa liên minh (unionism), muốn Ai – len tiếp tục nằm trong nước Anh và một bên là những người Thiên chúa giáo theo phe Sinn Fein, muốn Ai len tách hoàn toàn khỏi Anh thành quốc gia độc lập. Chủ nghĩa Liên minh đặc biệt phát triển mạnh ở khu vực Ulster phía bắc, nơi công nghiệp hóa phát triển mạnh so với phần c̣n lại của Ai-len chủ yếu làm nông nghiệp. Năm 1914, để tránh một cuộc nội chiến ở Ulster, Thủ tướng Anh lúc bây giờ là Asquith, với sự đồng thuận của lănh đảo đảng Quốc hội Ai-len đă trao quyền tự trị cho 26 trong số 32 tỉnh của Ai –len, 6 tỉnh phía Bắc nằm ngoài thỏa thuận này. Tuy nhiên do thế chiến thứ nhất nổ ra năm 1914, thỏa thuận này chưa được áp dụng.
Năm 1919, sau cuộc bầu cử Quốc hội, 73 trong số 106 nghị sỹ quốc hội thuộc đảng Sinn Fein từ chối không tham gia Hạ nghị viện Anh mà thay vào đó lập Quốc hội riêng của Ai –len (Dail Eireann). Quốc hội Ai-len tháng 1/1919 đơn phương ra bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố thành lập Cộng ḥa Ai-len. Tuy nhiên Cộng ḥa Ai-len, không được quốc tế công nhận (trừ Liên bang Xô Viết). Sau cuộc chiến dành độc lập, Anh và Ai-len đàm phán Hiệp định Anh – Ailen năm 1921, cho ra đời nước Ai-len-Tự do. Ai – len - Tự do bao gồm 26 tỉnh, 6 tỉnh phía bắc c̣n lại được quyền chọn hoặc gia nhập quốc gia mới, hoặc vẫn giữ thuộc về Anh và họ đă chọn ở lại Vương quốc Anh. Đứng đầu của nước Ai len độc lập là nhà vua Ai –len.
Cuộc nội chiến Ai –len là hệ quả của Hiệp định này. Cuộc nội chiến đă chia rẽ quân đội Cộng ḥa Ai – len (IRA) thành hai phe: phe chống và phe ủng hộ Hiệp định. Các lực lượng chống Hiệp muốn chấm dứt hoàn toàn ảnh hưởng của Anh và muốn Ai len từ bỏ khối Th́nh vượng chung của Anh. Chiến tranh liên miên đă làm kiệt quệ nền kinh tế Ai –len trong nhiều năm. Ngày 29/12/1937, Hiến pháp mới của Ai-len ra đời thay tên nước Ai-len-Tự-do bằng tên mới Ai-len, và quy định người đứng đầu nhà nước Ai-len là Tổng thống thay v́ Nhà vua. Ai –len đă ra khỏi Khối thịnh vượng chung của Anh năm 1949, gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1955, Khối Thị trường chung Châu Âu, tiền thân của Liên minh Châu Âu năm 1973 (cùng với Anh).
Các chính phủ Ai-len đă hợp tác với chính phủ Anh t́m kiếm những giải pháp ḥa b́nh nhằm thống nhất Ai –len. Tiến tŕnh ḥa b́nh mang tên Thỏa thuận Belfast được thông qua năm 1998 đang được thực thi nhằm giải quyết cuộc nội chiến kéo dài hơn 1 thế kỷ nay.
Trong hầu hết thời gian kể từ khi thành lập nhà nước, lịch sử và đặc điểm của hệ thống chính sách phát tiển và hỗ trợ cho nghệ thuật của Ai-Len được thể hiện qua các yếu tố:
§ Nguyên lư cơ bản của mô h́nh nhà nước phúc lợi và mô h́nh Keynes đă được thực hiện ở nước Anh;
§ Nhấn mạnh đến các yếu tố nghệ thuật và truyền thống của một nhà nước Ai-Len mới;
§ Khía cạnh bất lợi của cách tiếp cận văn hoá qua vốn hỗ trợ cho sự kiểm duyệt, hoặc hạn chế theo cách khác, được xem là không tương hợp với khái niệm hẹp về chất Ai-Len.
§ Thâm hụt trong chính sách và kế hoạch;
§ Việc quản lư tập trung ở trung ương góp phần làm cho địa phương đóng vai tṛ kém đi trong việc hỗ trợ tài chính cho văn hóa nghệ thuật.
Trong ṿng 30 năm kể từ khi nhà nước thành lập, Ai-Len không thành lập một tổ chức chính thức nào nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển chính sách văn hóa. ở một quốc gia vốn không có truyền thống về bảo trợ cho văn hóa, các tổ chức nghệ thuật hoặc tương đương được xem là cái ǵ đó xa xỉ mà một nhà nước mới không thể đảm đương.
Luật Nghệ thuật năm 1951 và sau đó là việc thành lập An Chomhairle Ealaion, Hội đồng Nghệ thuật, là một cơ quan chính sách độc lập, và chịu trách nhiệm trước Department of the Taoiseach (Thủ tướng) là dấu hiệu đầu tiên về ư thức phát triển văn hóa.
Trong giai đoạn những năm 1950 và 1960 mặc dù chính phủ cũng có một vài biện pháp nhất định (đáng kể nhất là ban hành quy định miễn thuế đối với các tác phẩm của nghệ sĩ sáng tạo), th́ chính phủ không làm ǵ khác để thay đổi hiện trạng chính sách văn hóa nói chung. T́nh h́nh những năm 1960 cho thấy nhu cầu phải phát triển lĩnh vực văn hóa. Thay đổi về thể chế diễn ra bằng việc ban hành Luật Nghệ thuật năm 1973. Luật mới yêu cầu phải cải tổ Hội đồng Nghệ thuật và quy định chính quyền địa phương được lựa chọn trong việc hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật.
Năm 1975 trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho các tổ chức hoạt động nghệ thuật được chuyển giao cho Hội đồng Nghệ thuật làm cho cơ quan này đóng vai tṛ rất quan trọng trong việc phát triển chính sách văn hóa quốc gia. Năm 1978 chương tŕnh hợp tác với Hội đồng nghệ thuật Bắc Ai Len được thiết lập. Khủng hoảng tài chính vẫn kéo dài trong khi nhu cầu tài chính để phát triển văn hóa nghệ thuật lại tăng lên, một phần là để thực hiện các chương tŕnh, sáng kiến của Hội đồng Nghệ thuật.
Năm 1983, việc ra đời giải thưởng danh dự Aosdana, với sự công nhận về tổ chức và hỗ trợ của nhà nước cho các nghệ sĩ xuất sắc, được xem là điểm nổi trội trong loạt chính sách của Hội đồng Nghệ thuật nhằm hỗ trợ cho cá nhân các nghệ sĩ. Sách trắng của Chính phủ phát hành năm 1987, với tựa Tiếp cận và Cơ hội, đă một lần nữa khẳng định vai tṛ của Hội đồng Nghệ thuật, và tuy nhiên cam kết hỗ trợ tài chính sẽ tăng lên gấp đôi từ năm 1990, thông qua Sổ xố Quốc gia, đă không thực hiện được. Trong những năm đầu, nguồn tài chính từ sổ xố quốc gia cũng đă giảm bớt một phần gánh nặng cho hội đồng nghệ thuật.
Măi cho đến năm 1993, với việc thành lập Bộ Nghệ thuật, Văn hóa và Gaeltacht th́ cơ chế chính sách phát triển cho lĩnh vực nghệ thuật ở Ai-Len mới có bước tiến triển. Việc thành lập Bộ Văn hóa được xem là nỗ lực đáng kể đầu tiên của chính phủ nhằm quản lư văn hóa bởi một cơ quan nhà nước cấp bộ. V́ một số chính sách của Bộ Văn hóa bao gồm cả các lĩnh vực truyền h́nh, di sản, điện ảnh và ngôn ngữ ai Len, nên Hội đồng Nghệ thuật cũng được mời tham gia vào việc soạn thảo dự luật nghệ thuật. Điều này dẫn đến ngân sách dành cho Hội đồng Nghệ thuật được tăng gấp đôi. Ngoài ra, một chương tŕnh đầu tư lớn cho phát triển hạ tầng trong lĩnh vực nghệ thuật trên toàn quốc đă được chính phủ áp dụng (sử dụng nguồn kinh phí từ Quỹ Cơ cấu Châu âu). Từ những năm 1990, việc chính quyền địa phương có quyền chỉ định nhân sự chuyên có chuyên môn trong lĩnh vực nghệ thuật cũng được thúc đẩy.
Từ sau năm 1995, ngân sách của nhà nước cấp cho nghệ thuật được thực hiện dựa trên kế hoạch hàng năm do Hội đồng nghệ thuật đệ tŕnh và phù hợp với sự phát triển kinh tế AiLen trong thời gian gần đây, và nguồn ngân sách đă tăng lên sau khi có sự cắt giảm 8% vào năm 2003.
Ở chính quyền địa phương, việc phát triển lĩnh vực nghệ thuật cũng có những bước tiến triển. Bộ nghệ thuật, thể thao và du lịch có nhiệm vụ quản lư lĩnh vực nghệ thuật, nghệ thuật Ai Len ở nước ngoài, nghệ thuật công cộng, ngành điện ảnh và các tổ chức văn hóa quốc gia. Nó có nhiệm vụ xây dựng, đánh giá chính sách trong các lĩnh vực trên cũng như việc phát triển các tổ chức văn hóa quốc gia. Các chức năng khác về văn hóa c̣n được phân bổ cho các bộ ngành khác (xem phần 7.1). Bộ Nghệ thuật, thể thao và du lịch thi hành Luật Nghệ thuật 2003, với các nội dung chủ yếu sau:
· Hủy bỏ các đạo luật nghệ thuật trước đó;
· Đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn về nghệ thuật;
· Lần đầu tiên, quy định về Bộ trưởng với trọng trách chung về phát triển nghệ thuật trong và ngoài nước;
· Đưa ra một số thay đổi về cơ cấu hội đồng nghệ thuật trong khi vẫn duy tŕ sự độc lập của cơ quan này trong vấn đề phân bổ tài chính;
· Trao quyền cho Bộ trưởng trong việc ra văn bản yêu cầu Hội đồng Nghệ thuật chấp hành các chính sách của Bộ trưởng và của Chính phủ;
· Yêu cầu chính quyền địa phương chuẩn bị và thực hiện các kế hoạch phát triển nghệ thuật trong phạm vi chức năng của ḿnh, và phải tuân thủ các chính sách của trung ương về nghệ thuật;
2.
Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lư hành
chính
2.1 Cơ cấu tổ chức
2.2 Mô tả chung về hệ thống

Nhiệm vụ quản lư văn hóa ở AiLen chủ yếu thuộc về Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du Lịch, được thành lập tháng 6 năm 2002. Nếu hiểu văn hóa theo nghĩa rộng nhất, th́ nhiệm vụ quản lư c̣n mở rộng ra với nhiều cơ quan bộ ngành (xem thêm phần 2.3 và 7.1). Là cơ quan chủ quản, Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm thiết lập khung pháp lư phù hợp cho việc phát triển lĩnh vực văn hóa, và bao gồm các trách nhiệm:
§ Cung cấp tài chính cho Hội đồng Nghệ thuật;
§ Cải thiện cơ sở hạ tầng cho văn hóa thông qua việc thực hiện các dự án văn hóa trên toàn quốc;
§ Phát triển ngành âm nhạc và điện ảnh;
§ Ǵn giữ, bảo tồn và trưng bày các di sản văn hóa di dời được của quốc gia thông qua các tổ chức văn hóa.
Bộ nghệ thuật, thể thao và du lịch đă đề ra các mục tiêu, chiến lược, và các chỉ số đánh giá việc thực hiện các mục tiêu trên, được thể hiện trong tuyên bố chiến lược 3 năm (có thể t́m thấy tuyên bố này trên trang web chính thức của bộ, xem thêm phần 9.2). Trong khuôn khổ các mục tiêu chiến lược này, Hội đồng nghệ thuật hoạt động như là một cơ quan độc lập, tự chủ trong phát triển nghệ thuật.
Sự tham gia của chính quyền địa phương trong lĩnh vực nghệ thuật rất ít ỏi nếu so sánh với các quốc gia châu Âu khác. Xuất phát từ thực tế rằng AiLen là một trong các quốc gia có thể chế tập trung nhất ở châu âu, vai tṛ của chính quyền địa phương trong phát triển nghệ thuật bị hạn chế rất nhiều không chỉ v́ nguồn tài chính rất ít mà các cơ quan địa phương dành cho lĩnh vực nghệ thuật. Chương tŕnh chính sách nghệ thuật của chính quyền địa phương chủ yếu phụ thuộc vào hội đồng nghệ thuật. Biện pháp phối hợp dựa trên quan hệ đối tác do Hội đồng Nghệ thuật ban hành cho phép địa phương chỉ định nhân sự quản lư trong lĩnh vực nghệ thuật, cải thiện việc lập kế hoạch và cung ứng vốn tại địa phương.
Những tổng kết gần đây của địa phương cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của nghệ thuật trong chương tŕnh chính sách, hoạt động của địa phương, theo đó văn hóa hiện được xem là khía cạnh không thể thiếu trong tiến tŕnh phát triển toàn diện của địa phương. Hội đồng nghệ thuật cũng đă áp dụng các biện pháp tương tự với các chính quyền địa phương khác, phối hợp với các ủy ban y tế để xây dựng chính sách về nghệ thuật và y tế, phối hợp với một số Udaras na Daeltachta để cải thiện điều kiện cho những vùng sử dụng tiếng Ai Len. Hiện tại, Hội đồng nghệ thuật đang hỗ trợ cho các chương tŕnh phát triển nghệ thuật của 33 đại phương, và cùng chịu trách nhiệm trong việc trả lương cho nhân viên ở 18 cơ quan quản lư nghệ thuật.
Liên minh châu Âu đóng góp một phần quan trọng vào quá tŕnh phát triển văn hóa Ai Len. Một nguồn tài chính bổ sung đáng kể để phát triển hạ tầng nghệ thuật ở Dublin trong giai đoạn 1991 đến 1996, được thực hiện thông qua Dự án Thí điểm Đô thị của EU nhằm thiết lập một khu phố văn hóa tại khu vực Temple Bar. Dự án đă giúp thành lập 6 tổ chức văn hóa mới cho thành phố Dublin, trong đó có những tổ chức mang tầm cỡ quốc gia, và giúp tạo ra sự phát triển mạnh mẽ đối với lĩnh vực nghệ thuật Ai Len. Các quỹ cơ cấu EU cũng giúp đỡ rất nhiều cho sự phát triển của các tổ chức văn hóa quốc gia như Bảo tàng Quốc gia, Pḥng trưng bày Quốc gia, Nhà hát Giao hưởng Quốc gia, Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Ai Len, Thư viện Quốc gia, Thư viện Chester Beatty. Nh́n chung việc EU hỗ trợ tài chính, dưới h́nh thức cung cấp vốn, thực hiện dự án hoặc thông qua các chương tŕnh đào tạo có vai tṛ quan trọng trong việc phá triển các dự án về văn hóa và nghệ thuật trong những năm 1990, và là một yếu tố chủ chốt trong việc xây dựng đội ngũ nhân viên cho nhiều tổ chức văn hóa và nghệ thuật trên toàn quốc.
2.3 Hợp tác giữa các bộ ngành và các cấp
Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch thừa nhận sự cần thiết phải phối hợp về chính sách để đồng bộ với các bộ ngành khác đối với những vấn đề thuộc quản của nhiều ngành, trong việc tạo ra một khung pháp lư và thể chế phù hợp cho sự phát triển nghệ thuật. Mặc dù sự cần thiết này đă được thừa nhận từ lâu, nhưng hiện vẫn có rất ít các cơ chế chính thức về sự hợp tác giữa các bộ. Sự phát triển văn hóa có các ảnh hưởng không thể tránh khỏi trong hoạt động của nhiều bộ ngành – Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Khoa Học, Bộ Môi trường và Bộ quản lư Chính quyền Địa phương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại và Lao động, v.v… Hiện tại chỉ có một nhóm hoạt động liên bộ và một số h́nh thức liên kết với Bộ Ngoại giao (xem thêm phần 2.4). Quy định hướng dẫn đă được ban hành để thực hiện chương tŕnh Tỉ lệ Phần trăm cho Nghệ thuật, theo đó các dự án đầu tư cơ bản phải trích 1% để đầu tư cho khía cạnh nghệ thuật của dự án. Năm 2003, một nhóm chuyên gia cố vấn, bao gồm đại diện của Bộ Giáo dục và Khoa học cùng với Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch giám sát việc tiến hành nghiên cứu khả thi về việc thành lập Hệ thống Quốc gia các cơ quan quản lư và giáo dục Âm nhạc tại địa phương.
Chương tŕnh Hỗ trợ Phát triển Văn hóa và Nghệ thuật (ACCESS), hoạt động trong giai đoạn từ 2001 đến 2004, đă thiết lập mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch với các chính quyền địa phương, qua đó Bộ đă hỗ trợ một phần tài chính đáng kể trong việc xây dựng các cơ sở văn hóa nghệ thuật tại các địa phương (khoảng 58.4 triệu euro đă được chi ra trong ṿng 4 năm). Qua 4 năm thực hiện, có 44 dự án được hỗ trợ và hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất cho phát triển văn hóa đă được thiết lập trên toàn quốc. Những dự án này bao gồm cả việc xây mới và / hoặc khôi phục lại các trung tâm nghệ thuật, các nhà hát, pḥng trưng bày và các cơ sở khác.
Yêu cầu trong Luật nghệ thuật 2003 đối với chính quyền địa phương trong việc xây dựng kế hoạch, chiến lược về nghệ thuật cũng góp phần cải thiện quan hệ phối hợp giữa cấp địa phương và trung ương.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hóa

Mục đích ban đầu của chính phủ trong việc can thiệp vào vấn đề văn hóa đă dẫn đến việc thành lập ủy ban phát triển quan hệ hợp tác văn hóa quốc tế vào năm 1949. Một dự án nghiên cứu về sự phát triển của chính sách văn hóa quốc tế đă đề xuất việc thành lập Culture Ai Len (Văn hóa Ai Len), cơ quan quốc gia có chức năng phát triển nghệ thuật Ai Len và nghệ sĩ Ai Len ở nước ngoài. Với ngân sách 2 triệu euro vào năm 2005, cơ quan này đă hỗ trợ cho các hoạt động ở nước ngoài của các nghệ sĩ và tổ chức nghệ thuật Ai Len, thúc đẩy sự tham gia của Ai Len vào các sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế và quản lư các sự kiện văn hóa có tính điển h́nh cả ở trong và ngoài nước.
Các thỏa thuận, văn bản ghi nhớ về văn hóa đă được kư kết giữa Ai Len với 16 quốc gia, ngoài ra c̣n có 5 thỏa thuận khác đang được xem xét kư kết. Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch tham gia vào EU (theo điều 151) và Hội đồng châu Âu các cấp về các vấn đề liên quan đến văn hóa, bao gồm sản xuất phim, truyền h́nh, và đă thành lập các ban chỉ đạo để giám sát các hoạt động như chương tŕnh trao đổi văn hóa với Trung Quốc, bao gồm lễ hội Ai Len 2003-04.
Ban Văn hóa của Bộ Ngoại giao hoạt động chủ yếu thông qua các đại sứ quán, các cơ quan bộ ngành và các cá nhân. Nó có nhiệm vụ thúc đẩy trao đổi văn hóa quốc tế, hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu Ai Len tại các trường đại học nước ngoài, và hợp tác với ủy ban Fulbright nhằm phát triển trao đổi học thuật với Hoa Kỳ. Ban Văn hóa đă thành lập Trung tâm Văn hóa Ai Len tại Paris, và đă tổ chức triển lăm “International Joyce” vào năm 2004.
Hội đồng nghệ thuật đă đi đầu trong việc thúc đẩy giao lưu quốc tế kể từ giữa những năm 1990 bằng việc thành lập quan hệ hợp tác với Hội đồng nghệ thuật của Bắc Ai Len và Hội đồng Anh của Bắc Ai Len, Cơ quan này cũng giữ vai tṛ trung tâm liên lạc về văn hóa châu Âu tại Ai Len và chương tŕnh Văn hóa 2000 của Liên minh châu Âu. Các cơ quan, các nhóm hoạt động nghệ thuật của Ai Len đă tham gia tích cực vào việc t́m nguồn tài chính từ Châu âu đầu tư vào các dự án văn hóa, bao gồm cả dự án khôi phục Temple Bar, cũng như việc tham gia vào các mạng lưới, các quan hệ hợp tác và bổ sung các yếu tố mang tính quốc tế vào trong chương tŕnh hoạt động của ḿnh.
3. Các
mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hóa
3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hóa hiện nay

Như đă nêu trong Luật nghệ thuật năm 2003, nhiệm vụ xây dựng chính sách cho lĩnh vực văn hóa thuộc về Bộ Nghệ thuật, thể thao và du lịch. Vụ quản lư các tổ chức văn hóa có nhiệm vụ xây dựng khung chính sách và pháp lư đối với các tổ chức văn hóa và các di sản văn hóa di dời được của Ai Len. Khung chính sách được quy định tại Luật Tổ chức Văn hóa Quốc gia. Luật này quy định chính phủ có quyền hạn trong việc quy định tác phẩm nghệ thuật nào được bảo vệ ở cấp nhà nước, và quy định đối với việc đăng kư các tài sản văn hóa, cấp giấy phép xuất khẩu, và các quy định khác.
Hội đồng Nghệ thuật là cơ quan phát triển văn hóa, tính chất độc lập của cơ quan này được tŕnh bày tại phần 1. Từ năm 1995 đến nay, các ưu tiên chính sách được hội đồng quy định trong các bản kế hoạch từ 3 đến 5 năm. Những bản kế hoạch này sẽ là căn cứ để chính phủ cấp ngân sách cho lĩnh vực nghệ thuật, với điều kiện ngân sách sẵn có. Hội đồng nghệ thuật đă ban hành chiến lược “Quan hệ đối tác trong lĩnh vực nghệ thuật”. Chiến lược này quy định khuôn khổ và đề ra các ưu tiên trong hoạt động của hội đồng nghệ thuật.
Từ trước đến nay, vai tṛ của chính quyền địa phương trong phát triển văn hóa ở Ai Len thường được gọi là một kênh bị bỏ lỡ, chỉ chiếm 15% trong tổng kinh phí quốc gia dành cho nghệ thuật – trong khi ở một số quốc gia châu Âu khác tỉ lệ này là 50%. Đây là hệ quả của chính sách tập trung hóa ở Ai Len, vai tṛ hạn chế của chính quyền địa phương (so với các quốc gia châu âu khác) và nguồn cung tài chính thấp. Việc cải tổ chính quyền địa phương trong thập niên vừa qua đă tạo cho địa phương vai tṛ trung tâm trong hoạch định về văn hóa và nghệ thuật, và t́nh h́nh đă cải thiện đáng kể tại mỗi địa phương ở Ai Len. Theo yêu cầu của chính phủ, mỗi địa phương đều có nhiệm vụ lập kế hoạch cho lĩnh vực nghệ thuật.
Vài tṛ mới này của chính quyền địa phương chủ yếu có được từ việc Hội đồng Nghệ thuật hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc chung về hợp tác và trợ cấp. Khi chính quyền địa phương càng tham gia tích cực vào việc lên kế hoạch, th́ đóng góp của họ đối với việc ban hành chính sách văn hóa càng trở nên quan trọng hơn. Điều này báo trước một quá tŕnh phi tập trung hóa mặc dù hiện nay nguồn chi tài chính và việc ban hành quyết định vẫn chủ yếu nằm ở trung ương.
3.2 Định nghĩa văn hóa
Mặc dù không có một định nghĩa cụ thể nào về văn hóa, th́ tại Luật Nghệ thuật 2003 nghệ thuật được định nghĩa là:
“bất cứ bất cứ h́nh thức biểu đạt nào có tính sáng tạo hoặc giải thích (cho dù là theo cách truyền thống hoặc hiện đại) và bao gồm, cụ thể, nghệ thuật thị giác, kịch, văn chương, âm nhạc, múa, vũ kịch (opera), điện ảnh, xiếc và kiến trúc, và bao gồm cả những phương tiện được sử dụng vào các mục đích trên”.
3.3 Các mục tiêu chính sách văn hóa
Mục đích của Bộ Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật là thúc đẩy hoạt động nghệ thuật và tạo điều kiện cho các tổ chức văn hóa quốc gia sưu tầm, ǵn giữ, bảo vệ và giới thiệu các di sản văn hóa di dời được, các tài sản văn hóa, thông qua việc ban hành cơ chế chính sách, pháp lư phù hợp, và cung cấp nguồn tài chính. Bộ có trách nhiệm chung về việc h́nh thành, phát triển, và đánh giá chính sách và đối với các tổ chức nghệ thuật. Bộ thường đề cập đến khía cạnh kinh tế và việc làm của nghệ thuật, ví dụ như khi nói về ngành kinh doanh phim. Bộ đă xác định một số mục tiêu:
§ Thi hành Luật các tổ chức văn hóa quốc gia, 1997;
§ Xem xét sửa đổi Luật lưu trữ quốc gia, 1986;
§ Thúc đẩy hoạt động sản xuất phim ở Ai Len;
§ Hỗ trợ hơn nữa việc phát triển cơ sở hạ tầng cho văn hóa và nghệ thuật.
§ Các mục tiêu của Hội đồng nghệ thuật được nêu trong các văn bản về chính sách, chiến lược của cơ quan này như sau:
§ Hỗ trợ các nghệ sĩ để họ đạt được những tham vọng về nghệ thuật;
§ Phát triển các tổ chức nghệ thuật trên toàn quốc;
§ Tạo điều kiện để mọi người có thể nâng cao hiểu biết và trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực nghệ thuật;
§ Quảng bá các giá trị nghệ thuật đến toàn xă hội;
§ Bảo đảm hoạt động hiệu quả của hội đồng nghệ thuật.
Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật và sự tham gia vào đời sống văn hóa là cơ sở, nền tảng cho chính sách văn hóa của cả Bộ nghệ thuật, thể thao và du lịch cũng như Hội đồng nghệ thuật, trong khi việc bảo vệ và phát triển bản sắc dân tộc được phản án trong những sáng kiến nhằm quảng bá ngôn ngữ và văn hóa Ai Len (xem thêm phần 4.2.3).
4
Những vấn đề trong việc phát triển chính sách văn hóa hiện nay
4.1 Những vấn đề chính và các ưu tiên

Trong hơn 5 năm qua, chính sách văn hóa ở cấp quốc gia tập trung vào:
§ Xây dựng các văn bản pháp luật mới về nghệ thuật – luật nghệ thuật 2003 – để thay thế luật nghệ thuật năm 1951 và 1973 và để phản ánh những định nghĩa mới về nghệ thuật, cũng như những sắp xếp về cấu trúc đối với việc phát triển và thực hiện chính sách văn;
§ Thực hiện các luật về tổ chức văn hóa quốc gia;
§ Soạn thảo luật Quỹ Di sản, bắt đầu từ năm 2001;
§ Xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất cho lĩnh vực nghệ thuậ trên toàn quốc thông qua chương tŕnh ACCESS;
§ Phổ biến các kế hoạch về nghệ thuật tới các cấp chính quyền địa phương.
Cơ chế cung cấp tài chính cho nghệ thuật thông qua các kế hoạch, đă thành công trong một thời gian, gần đây lại trở thành chủ đề gây tranh căi: Thứ nhất, những nghi ngờ về việc tài trợ hàng năm của chính phủ đă cản trở việc xây dựng, và việc bác bỏ Kế hoạch Nghệ thuật thứ ba (2002-2006) đă gây lo ngại cho giới hoạt động nghệ thuật. Hội đồng Nghệ thuật đă đề xuất một chiến lược mới, văn bản này sẽ tạo cơ sở cho hoạt động trong tương lai. Dựa trên các ư kiến tham khảo sâu rộng, Chiến lược Nghệ thuật được kèm theo bằng một loạt các tuyên bố chính sách nghệ thuật.
Nội dung tranh luận c̣n tập trung vào nghệ thuật truyền thống, lĩnh vực này từ tháng Mười hai 2003 một ủy ban đặc biệt đă được thành lập theo Mục 21 Luật Nghệ thuật 2003. ủy ban này có nhiệm vụ tổng kết về các tổ chức, việc hỗ trợ và các chính sách đối với hoạt động nghệ thuật truyền thống trên toàn quốc. Báo cáo của ủy ban được hội đồng nghệ thuật thông qua, và đă đưa ra Sáng kiến về Nghệ thuật truyền thống 2005-2008, có tựa đề Deis và có một khoản ngân sách dành riêng để thực hiện.
Chương tŕnh miễn trừ thuế cho nghệ sĩ (xem thêm phần 4.2.5), là một phần trong quy định tại Luật Tài chính 1969, cũng gây ra một số tranh luận trên báo chí, truyền h́nh bởi v́ có ư kiến cho rằng quy định này chỉ mang lợi cho những người vốn đă giàu có, và nó có thể ảnh hưởng đến quá tŕnh xây dựng ngân sách của chính phủ. Lập luận này đă bị Hội đồng nghệ thuật bác bỏ.
Trong lĩnh vực di sản, những năm gần đây cũng đă diễn ra các tranh luận căng thẳng liên quan đến những xung đột trong hoạt động phát triển và bảo vệ di sản, và liên quan đến các quyết định của nhà nước (xem thêm phần 4.2.9). Hội đồng Di sản, một cơ quan độc lập được Bộ Môi trường cung cấp tài chính đă vận độc để có được quyền lợi, trách nhiệm lớn hơn ở địa phương, cả tổ cơ cấu ở cấp địa phương và để tiếp cận thông tin tốt hơn.
4.2.1 Quy định đối với văn hóa của người thiểu số
Những người nhập cư và sự hiện diện của các nền văn hóa khác là một đặc điểm đáng chú ư trong xă hội Ai Len hiện đại; điều đă được thừa nhận trong Chiến lược Nghệ thuật (2005). Hướng đến một khuôn khổ mới về nghệ thuật (một tài liệu nghiên cứu và tổng kết các quy định pháp luật về nghệ thuật, thực hiện năm 2000) đă thừa nhận rằng, như hầu hết các quốc gia châu âu, sự hiện diện ngày càng tăng của các nền văn hóa khác, các dân tộc khác hiện nay đang trở thành một thực tế trong đời sống Ai Len, và điều này sẽ trở thành một thách thức trong việc xây dựng chính sách văn hóa. Cuối cùng, chính sách văn hóa Ai Len cũng phải tính nhiều hơn đến sự phong phú, giàu có của các nền văn hóa khác. Khía cạnh quốc tế này đang trở thành một đặc điểm trong việc lên chương tŕnh cho các hoạt động nghệ thuật và các lễ hội, Lễ hội Văn hóa thế giới, tổ chức hàng năm, tại Dun Laoghaire là một ví dụ đáng chú ư.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hóa
Không có một chiến lược cụ thể nào áp dụng trong thị trường lao động nhằm hỗ trợ nghề nghiệp cho phụ nữ. Kế hoạch phát triển quốc gia 2000-2006 phản ánh đường lối về lao động của Liên minh châu âu bằng cách xác định cơ hội b́nh đẳng là một trong những yếu tố chính trong hành động và cũng phân bổ ngân sách bổ sung theo chương tŕnh Phát triển xă hội tại vùng khó khăn nhằm giúp đỡ các trẻ em và giúp phụ nữ tại đó có điều kiện được học tập, đào tạo và t́m kiếm việc làm. Chính phủ đă quyết định rằng tại các ủy ban Nhà nước mỗi giới phải có đại diện ít nhất là 40%. Các tổ chức văn hóa có 36% đại diện của nữ nằm trong ban điều hành.
4.2.3 Ngôn ngữ và các chính sách
Tiếng Ai - len là ngôn ngữ chính thức thứ nhất của quốc gia (Tiếng anh cũng là ngôn ngữ chính thức). Tiếng Ai - len có 100000 người sử dụng trong đời sống hàng ngày, và có gần một triệu người cho biết họ hiểu ngôn ngữ Ai - len. Nhà nước thừa nhận vị trí đặc biệt của ngôn ngữ Ai Len và thực hiện một số biện pháp nhằm phát triển vào bảo vệ ngôn ngữ này. Luật Ngôn ngữ Chính thức 2003 có các biện pháp làm cho tiếng Ai Len có thể phổ biến rộng răi hơn trong các dịch vụ công cộng. Luật quy định áp dụng trong lĩnh vực văn hóa cũng như trong các cơ quan nhà nước khác. Theo luật quy định, chương tŕnh của các cơ quan phát thanh truyền h́nh quốc gia (RTE) phải phản ánh được sự đa dạng văn hóa của quốc đảo Ai Len và phải đáp ứng được nguyện vọng của cộng đồng nói chung cũng như các thành viên trong cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến cộng đồng người thiểu số.
ở khía cạnh truyền bá ngôn ngữ Ai Len, có một số cơ quan đảm nhiệm vai tṛ này. Foras Teanga, một cơ quan được thành lập theo Thỏa thuận Belfast, thực hiện cung cấp tài chính và hỗ trợ rộng răi cho các dịch vụ liên quan đến ngôn ngữ Ai Len. Udaras na Gaeltachta thực hiện hỗ trợ cho nhiều dự án và các sáng kiến thuộc quản lư của Gaeltacht, đặc biệt là các dự án liên quan đến bảo tồn ngôn ngữ. Quan hệ đối tác với Hội đồng Nghệ thuật kể từ năm 1997 cho phép chỉ định viên chức quản lư nghệ thuật tại mỗi vùng Gaeltacht. Bord na Leabhar Gaeilge, hay ủy ban Sách bằng Ngôn ngữ Ai Len, cung ứng tài chính cho các nhà xuất bản để làm sách, trong khi Cơ quan Trao đổi Văn học Ai Len cấp tiền cho các nhà xuất bản thực hiện công tác dịch thuật. Hội đồng nghệ thuật c̣n hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các nhà xuất bản văn học để dịch các tác phẩm nước ngoài về tiếng Ai Len hoặc tiếng Anh. Các chính phủ kế nhiệm nhau đă từng bước áp dụng các biện pháp để hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ Ai Len trong truyền thông, bao gồm cả thành lập kênh truyền h́nh và đài phát thanh tiếng Ai Len, trong đó có TG4 (thành lập năm 1996) và Radio na Gaeltachta, cũng như báo viết bằng tiếng Ai Len.
Sau khi công bố báo cáo của ủy ban Gaeltacht vào tháng Năm 2002 về Ngôn ngữ Ai Len ở Gaeltacht, một ủy ban Cố vấn đă được thành lập để giám sát các một số hoạt động, bao gồm cả việc đặt hàng (thuê) nghiên cứu toàn diện về việc sử dụng ngôn ngữ Ai Len ở Gaeltacht cũng như đệ tŕnh các vấn đề thiết yếu về giáo dục.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Ai Len có ba kênh truyền h́nh quốc gia, mà nguồn kinh phí hoạt động thông qua mức phí truyền h́nh thu của các chủ sở hữu các máy thu truyền h́nh. Các cơ quan truyền h́nh c̣n có doanh thu từ quảng cáo. Có một kênh truyền h́nh độc lập (TV3), bốn đài phát thanh và một kênh phát thanh thương mại (độc lập). Kênh phát thanh độc lập cũng được phép hoạt động ở cấp địa phương. Việc thành lập kênh Lyric FM, một kênh phát về âm nhạc và nghệ thuật hoạt động 24h đă góp một phần lớn vào đời sống văn hóa quốc gia cũng như làm gia tăng đáng kể hoạt động truyền phát âm nhạc.
ở Ai Len lĩnh vực báo viết thuộc thống trị của Independent Newspapers, tập đoàn này chiếm đến 80% lượng báo viết được bán ra ở Ai Len vào năm 2001. Ngoài ra trong lĩnh vực truyền thôn nghe nh́n có tồn tại h́nh thức sở hữu hỗn hợp.
Một diễn đàn về Phát thanh truyền h́nh đă được thành lập năm 2002, diễn đàn này có nhiệm vụ đưa ra các đề xuất, khuyến nghị đối với dịch vụ phát thanh truyền h́nh của Ai Len trong tương lai. Chính phủ cũng đang xem xét ban hành một số quy định liên quan đến vai tṛ của nhà nước, sự hỗ trợ và quản lư (điều tiết) của nhà nước và trách nhiệm của RTE, và một dự luật đang được soạn thảo theo đó sẽ thành lập một cơ quan có nhiệm vụ quản lư tất cả các cơ sở phát thanh truyền h́nh ở Ai Len.
Một vấn đề quan trọng cũng cần được xem xét ở thời điểm hiện nay đó là ảnh hưởng của sự phát triển truyền h́nh xuyên biên giới đối với khả năng của một quốc gia nhỏ như Ai Len trong việc ǵn giữ bản sắc văn hóa của ḿnh. Luật của Liên minh châu âu quy định rằng mỗi hàng phát thanh truyền h́nh chỉ chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của quốc gia thành viên nơi hăng đặt trụ sở. Điều này có nghĩa là ở những quốc gia càng nhỏ th́ càng có ít dịch vụ truyền h́nh chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia. Điều này ít có khả năng xảy ra với các quốc gia lớn, nơi mà các hăng truyền h́nh có một lượng khán giả rất lớn
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hóa: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Trong khi sự tách biệt của kinh tế đối với hoạt động văn hóa từ lâu đă trở thành một lư do để nhà nước tham gia vào việc phát triển nghệ thuật, th́ tầm quan trọng về mặt kinh tế của các ngành kinh doanh văn hóa đă được thừa nhận từ giữa những năm 1990. Một số tổ chức kinh tế như Liên đoàn Nghe nh́n thuộc IBEC (Liên đoàn Giới chủ và Doanh nghiệp Ai Len) đă bày tỏ quan tâm đến các ngành kinh doanh thuộc lĩnh vực sáng tạo.
Một số đặc điểm trong môi trường nghệ thuật Ai Len đă hỗ trợ cho các ngành kinh doanh văn hóa nghệ thuật nói chung, ví dụ chế độ thuế áp dụng cho các nghệ sĩ sống tại Ai Len (được quy định tại Luật tài chính 1969), theo đó nghệ sĩ được miễn giảm thuế đối với thu nhập từ các sản phẩm sáng tạo của ḿnh.
Có một số sáng kiến được thực hiện nhằm hỗ trợ cho một số ngành kinh doanh văn hóa cụ thể. Bộ nghệ thuật, thể thao, và Du lịch hỗ trợ tài chính và phối hợp chặt với ủy ban Điện ảnh Ai Len, cơ quan chịu trách nhiệm về phát triển ngành kinh doanh điện ảnh Ai Len. Các quỹ dịch thuật thuộc quản lư của Cơ quan Trao đổi Văn học Ai Len nhằm cung cấp tài chính cho lĩnh vực xuất bản. Một loạt các báo cáo đă được công bố trong thập niên vừa qua đề cập đến những nhu cầu của các ngành kinh doanh sáng tạo trong quá tŕnh phát triển và đóng góp của những ngành này đối với nền kinh tế Ai Len. Những báo cáo này là cơ sở thông tin để chính phủ ban hành chính sách phù hợp hơn và để các cơ quan xem xét đầu tư vào lĩnh vự nào.
4.2.6 Chính sách lao động trong lĩnh vực văn hóa
Nghiên cứu Lao động và ư nghĩa kinh tế của các ngành kinh doanh văn hóa ở Ai Len, thực hiện năm 1994 đă cho thấy rằng 33800 người (khoảng 21500 người làm việc toàn thời gian) làm việc trong các lĩnh vực khác nhau thuộc các ngành kinh doanh văn hóa, với tổng giá trị hàng năm khoảng 560 triệu euro, trong đó 88% thuộc hoạt động buôn bán trực tiếp.
Định nghĩa về văn hóa được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm, nghệ thuật biểu diễn, truyền thông, nghệ thuật thị giác và thiết kế, di sản và thư viện. Trong tổng số người nói ở trên, khoảng 48% làm việc trong các tổ chức văn hóa và nghệ thuật.
Mặc dù c̣n có một số nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nhỏ hơn, th́ kể từ năm 1994 đến nay không có số liệu đầy đủ nào được công bố cũng như không có một chiến lược cụ thể nào nhằm làm tăng trưởng việc làm trong các lĩnh vực văn hóa được nhà nước hỗ trợ. Doanh thu ước tính cho lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn vào năm 2003 là 82 triệu euro (Diễn đàn Sân khấu), trong đó hỗ trợ của nhà nước chiếm 38%. Số việc làm trong lịch vực sân khấu là 2700. Đối với lĩnh vực điện ảnh, đang có một chương tŕnh đào tạo do nhà nước tài trợ thông qua FAS/Cơ quan Đào tạo về Điện ảnh, được thành lập năm 1995 nhằm đào tạo và cung cấp các cơ hội phát triển nghề nghiệp cho những người làm việc trong các lĩnh vực điện ảnh và truyền h́nh. Tuy nhiên các chương tŕnh đào tạo thường chắp vá và tạm thời, và hiện nay cũng chưa có một chương tŕnh nào đáng kể nhằm phát triển các cơ hội, chẳng hạn như cơ hội làm việc của lĩnh vực văn hóa trong thời đại kỹ thuật số.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hóa
Chính sách của chính phủ Ai - len đặc biệt nhấn mạnh đến thành công trong tương lai của quốc gia này trong việc chuyển đổi từ một nền kinh tế định hướng đầu tư sang một xă hội tri thức. Điều này có ảnh hưởng sâu rộng đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên hiện nay không có tranh luận nào hoặc là rất ít về ảnh hưởng của nó đối với lĩnh vực nghệ thuật. (xem phần 5.1.7 về Bản quyền và Các quyền liên quan.)
Ủy ban điện ảnh Ai Len đă ban hành một báo cáo – Điện ảnh Ai Len: Tương lai kĩ thuật số - xem xét những cách thức thực tiễn mà ngành kinh doanh điện ảnh và truyền h́nh của Ai Len sẽ được hỗ trợ và phát triển.
Chiến lược quốc gia về số hóa đối với các thư viện công đă được thực hiện từ năm 2004 và hiện đang ở giai đoạn 2. Cho đến nay, chương tŕnh (chiến lược) đă thành công trong việc thiết lập các thông tin thư viện trực tuyến tại các trang web của địa phương. Hơn nữa, chương tŕnh số hóa đă được thực hiện theo giai đoạn hai, theo đó các thư viện sẽ chuyển các tư liệu mới thu thập theo định dạng số.
Dự án di sản văn hóa được thành lập năm 2002, tập trung vào việc số hóa và trang bị các phương tiện mới cho phép tiếp cận các giá trị di sản văn hóa trong các bảo tàng, thư viện và tổ chức lưu trữ, và bao gồm cả một số tổ chức văn hóa quốc gia quan trọng như Bảo tàng Quốc gia. Năm 2005, để thực hiện giai đoạn ba của chương tŕnh, cổng giao tiếp này (trang web của dự án di sản văn hóa) đă được mở rộng thêm các chủ đề.
Cơ quan Euro Focus on The Cultural Heritage, bao gồm một số đại diện của các tổ chức văn hóa quốc gia quan trọng của Ai Len, như Bảo tàng Quốc gia, Pḥng trưng bày Quốc gia, Lưu trữ Quốc gia, Trường Trinity, U.C.D (Đại học Dubin) và An Chomahairle LeabharLenna (Hội đồng Thư viện), đă đề xuất xây dựng cổng giao tiếp văn hóa quốc gia vào năm 2004. Hiện nay cổng giao tiếp này đang trong quá tŕnh cập nhật nội dung và đang ở hoàn thiện thiết kế. Đây là kênh chính thức giới thiệu văn hóa Ai Len trên mạng, cung cấp các tài nguyên liên quan đến văn hóa.
Media Lab Europe, một chương tŕnh hợp tác giữa Chính phủ Ai - len với Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), bắt đầu từ năm 2000 và kết thúc năm 2005, được xem là chương tŕnh nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực công nghệ số.
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh
Từ lâu hội đồng nghệ thuật đă tham gia vào công việc giáo dục nghệ thuật, xét ở khía cạnh xây dựng chính sách cũng như các chương tŕnh có liên quan trực tiếp đến trường học. Việc thiếu hỗ trợ giáo dục nghệ thuật ở Ai Len đă được đề cập nhiều. Mặc dù gần đây đă có một số sáng kiến nhằm làm cho giáo dục nghệ thuật có vai tṛ quan trọng hơn trong hệ thống các môn học trong trường, th́ hỗ trợ cho giáo dục nghệ thuật vẫn c̣n thấp trong hệ thống giáo dục. Việc công bố Nghiên cứu Khả thi về Xây dựng một Hệ thống Quốc gia về Giáo dục Âm nhạc tại Địa phương (2003) là nỗ lực gần đây nhất nhằm giải quyết sự thiếu quan tâm giáo dục âm nhạc trong hệ thống giáo dục Ai Len, bằng cách đề xuất một hệ thống giáo dục âm nhạc có trợ cấp trong và ngoài phạm vi trường học cho tương xứng với việc giáo dục nghề nghiệp ở Ai Len.
Một báo cáo do Hội đồng Nghệ thuật công bố gần đây (báo cáo về Hỗ trợ nghệ thuật trong giáo dục) đă liệt kê và nêu chi tiết các chương tŕnh của 104 tổ chức được nhận hỗ trợ, 33 chính quyền địa phương và 10 tổ chức văn hóa quốc gia tham gia vào gáo dục nghệ thuật cũng như giải thưởng và các cơ hội mà Hội đồng Nghệ thuật dành cho những người làm công tác giáo dục nghệ thuật.
Dưới dự bảo trợ của Hội đồng Thư viện, có một dự án di sản văn hóa với mục tiêu tại ra và cung cấp các nội dung đă số hóa về các chương tŕnh, chính sách về di sản văn hóa đang được thực hiện. Dự án này có sự hợp tác giữa các thư viện, bảo tàng, cơ quan lưu trữ và Hội đồng Quốc gia về Giáo dục nhằm đảm bảo nó sẽ bổ sung cho chương tŕnh giảng dạy của một số môn học (xem thêm phần 4.2.8).
Một số cơ quan giáo dục đại học (Trường đại học, Viện Công nghệ, Trường Nghệ thuật và Thiết kế) đă xây dựng được các chương tŕnh và khóa học dựa trên truyền thông đa phương tiện, các chương tŕnh này hiện thu hút rất nhiều sinh viên quan tâm.
4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách
Hội đồng Di sản được thành lập năm 1995 dưới dự bảo trợ của Bộ nghệ thuật, văn hóa và the Gaeltacht. Cơ quan này hoạt động độc lập, nó có nhiệm vụ đề xuất các chính sách và ưu tiên trong việc xác định, bảo vệ, bảo tồn và phát triển các di sản quốc gia (các di sản tự nhiên và công tŕnh xây dựng). Tháng sáu 2002, sau khi chính phủ mới được thành lập, chức năng của Bộ Nghệ thuật đă thay đổi dẫn đến một số trách nhiệm quản lư di sản trước đây thuộc về hội đồng, nay chuyển sang cho Bộ Môi trường, chính quyền địa phương; Bộ nghệ thuật, thể thao và Du lịch vẫn giữ trách nhiệm quản lư các tổ chức văn hóa quốc gia. Năm 2003, Cơ quan Quản lư Di sản (Duchas) được tách ra bằng một quyết định, theo đó các vấn đề về chính sách và chức năng quản lư liên quan đến các di sản tự nhiên và xây dựng, bao gồm cả kiến trúc, vẫn thuộc Bộ Môi trường, trong khi các công tŕnh thuộc sở hữu nhà nước và các tài sản có giá trị lịch sử được chuyển giao cho Cơ quan Quản lư các Công tŕnh Công cộng. Ngoài ra c̣n có một cam kết về tăng cường trách nhiệm về di sản cho chính quyền các địa phương.
Việc chia tách chức năng quản lư di sản tự nhiên và di sản xây dựng cũng như sự phân tán việc quản di sản xây dựng đi ngược lai xu hướng chung của Châu Âu, xu hướng kết hợp chức năng quản lư và chức năng chính sách về di sản. Người ta cho rằng cần phải có một biện pháp tổng hợp (lồng ghép) và phải có sự phối hợp hơn nữa tại cấp trung ương, và giữa trung ương với địa phương, để phát huy năng lực của chính quyền địa phương và để nâng cao nhận thức về di sản nói chung.
4.2.10 Các vấn đề khác
Trong khi tồn tại sự thừa nhận chung rằng việc hỗ trợ cho nghệ thuật ở Ai Len đă có nhiều cải thiện đáng kể trong thập niên vừa qua, th́ cũng phải thừa nhận rằng việc cung cấp tài chính khởi điểm từ rất thấp. Hơn nữa, phát triển vốn và cơ sở hạ tầng khác đă dẫn đến tăng nhu cầu, cộng với những khó khăn gây ra bởi một số lần cắt giảm tài chính gần đây. Khung pháp lư được cải thiện và một số thành công có thể che mờ những khiếm khuyết về nội dung nghệ thuật, quản lư văn hóa, sự giàn trải trong quy hoạch và việc thiếu hỗ trợ trong một số lĩnh vực nhất định.
Khó khăn xảy ra hầu như đối với mọi lĩnh vực nghệ thuật. Mặc dù hạ tầng vật chất cho nghệ thuật đă được cải thiện, nhiều cơ quan, tổ chức hoạt động nghệ thuật vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các sản phẩm nghệ thuật để đem đến cho khán giả các chương tŕnh văn hóa hấp dẫn. Trong lĩnh vực sân khấu đang diễn ra sự khủng hoảng xét ở khía cạnh tạo ra việc làm mới và việc các công ty phải đấu tranh để tồn tại. Những người nghiên cứu văn hóa thường đề cập đến việc thiếu hỗ trợ cho lĩnh vực âm nhạc, điều thể hiện rơ ràng trong chính sách của Nhà hát Quốc gia và RTE, và đặc biệt là trong giáo dục âm nhạc (xem thêm phần 4.2.8). Nhiều nhà văn Ai Len thường t́m đến các đại lư và nhà xuất bản của Anh. Lĩnh vực điện ảnh và truyền h́nh vẫn không được hỗ trợ theo đúng như cam kết từ đầu những năm 1990. Lĩnh vực múa cũng gặp nhiều khó khăn mặc dù những năm gần đây cũng có những sáng kiến rất hứa hẹn.
Hàng loạt cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực văn hóa trong những năm vừa qua cho thấy sự quản lư yếu kém nói chung, và cho đến nay có rất ít hoặc hầu như không có nỗ lực nào để cải thiện t́nh h́nh này. Các nguồn tài chính từ quỹ cơ cấu châu âu và trợ cấp của nhà nước trong thập niên vừa qua không thể bù đắp đầy đủ cho việc bị thiếu quan tâm trong thời gian dài.
5. Quy
định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa
5.1 Quy định chung

Mục đích của việc thêm vào phần 5 về quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa là nhằm cung cấp thông tin sâu hơn về các công cụ pháp lư được sử dụng để hỗ trợ cho văn hóa tại mỗi quốc gia.
Phần 5.1 cung cấp thông tin pháp luật chung có ảnh hưởng đến văn hóa, ví dụ như các điều khoản trong hiến pháp của mỗi quốc gia, hoặc các luật được sử dụng để điều chỉnh việc phân bổ nguồn tài chính công.
Phần 5.2 cung cấp danh mục tổng kết các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hóa. Một số nước có thể có đến hàng trăm đạo luật trong khi một số nước khác chỉ có một “Đạo luật văn hóa”
Phần 5.3 nhằm cung cấp các thông tin trong các lĩnh vực pháp lư cụ thể sau: nghệ thuật thị giác và nghệ thuật ứng dụng; nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc; di sản văn hóa; văn học và thư viện; kiến trúc và môi trường, điện ảnh, video và nhiếp ảnh; các ngành kinh doanh văn hóa; truyền thông đại chúng.
5.1.1 Hiến pháp
Hiến pháp Ai Len không có đề cập cụ thể nào đến văn hóa.
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
Xem phần 2.2 để biết về phân chia thẩm quyền trong lĩnh vực văn hóa và vai tṛ tương ứng của Bộ nghệ thuật, thể thao và du lịch, hội đồng nghệ thuật và các chính quyền địa phương.
5.1.3 Phân bổ nguồn tài chính công
Luật nghệ thuật năm 2003, mục 24 lần đầu tiên quy định về nguyên tắc độc lập. các hoạt động chi tài chính công khác đều thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy tŕnh thông thường.
5.1.4 Chương tŕnh an sinh xă hội
Không có một khung pháp lư về an sinh xă hội cho nghệ sĩ ở Ai Len được đặt ra ngoài chế độ an sinh xă hội nói chung. Các nghệ sĩ được xem là những người tự doanh và có thể xin trợ cấp thất nghiệp (theo mức của năm 2005: 148,80 euro mỗi tuần cho mỗi người) nếu thu nhập của họ thấp hơn mức được xác định để hưởng phúc lợi xă hội.
5.1.5 Luật thuế
Mặc dù Ai Len không có quy định chung nhằm thúc đẩy hoạt động tài trợ cho nghệ thuật hoặc đầu tư vào nghệ thuật, th́ vẫn có mức ưu đăi thuế để khuyến khích các hoạt động này. Điều 1003 của Luật thuế 1997 cho phép cá nhân khi tặng các tài sản có giá trị quan trọng quốc gia cho những Bộ sưu tập Quốc gia Ai Len, sẽ được khấu trừ giá trị tặng cho này trong khi tính thuế.
Ngoài ra, ưu đăi thuế c̣n áp dụng:
§ Tài trợ của doanh nghiệp cho các nghệ sĩ hoặc tổ chức để quảng bá hoạt động kinh doanh;
§ Tặng cho tài sản cho một số tổ chức nhất định;
§ Chi phí cho các công tŕnh xây dựng và vườn..??
§ Tặng tài sản cho Bộ tài chính;
§ Cung cấp hàng hóa và dịch vụ như in chương tŕnh hoặc vé, tặng vé hàng không, v.v..
5.1.6 Luật lao động
Nghệ sĩ ở Ai -len chịu điều chính pháp luật về lao động giống như mọi công dân khác.
5.1.7 Luật bản quyền
Luật bản quyền và các quyền liên quan năm 2000, có hiệu lực từ tháng Giêng 2001, quy định bảo vệ một loạt các tác phẩm nghệ thuật – văn học, kịch, âm nhạc và các loại h́nh có liên quan – có tính đến yếu tố xă hội thông tin và thời đại công nghệ số. Các quyền liên quan đến bản quyền có thể là “quyền lân cận”, “quyền của nghệ sĩ biểu diễn” và “quyền đạo đức”, quyền đạo đức lần đầu tiên được quy định trong luật bản quyền Ai Len. Luật quy định tác giả có quyền độc quyền trong việc trong việc có cho phép hay không việc “sao chép”, “phân phối” và “phổ biến ra công chúng” các tác phẩm nghệ thuật trong thời gian 70 năm.
Luật quy định về việc bảo vệ bản quyền và các quyền liên quan; làm cho pháp luật của Ai Len đáp ứng được chỉ thị của Liên minh Châu âu và luật quốc tế trong lĩnh vực này; lần đầu tiên quy định quyền của nghệ sĩ biểu diễn trong luật Ai Len. Dựa trên Hiệp ước Quốc tế v&