CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ BA LAN

 

 

 

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lư

3. Mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá

4. Các vấn đề chính sách hiện nay và các tranh luận

5. Quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

7. các thiết chế văn hoá và các đối tác mới

8. Hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động sáng tạo và tham gia hoạt động sáng tạo.

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Trước năm 1989, hoạt động văn hoá được thực hiện trong một chế độ có sự tập trung cao độ, thể chế hoá và độc quyền sở hữu nhà nước. Các quyết định về phát triển hoạt động văn hoá đều được chính sách hoá và sáng tạo nghệ thuật chịu sự kiểm duyệt về chính trị. Nguyên tắc chính sách văn hoá được ban hành bởi Bộ văn hoá Nghệ thuật và

Ban Văn hoá của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Ba Lan. Vào giai đoạn này tỉ lệ tăng trưởng chi tiêu cho văn hoá cao hơn tỉ lệ tăng trưởng GDP, điều này tạo ra tính hợp pháp cho hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá. “Quỹ phát triển Văn hoá” được thành lập năm 1982, là một công cụ để bảo đảm quan điểm này. Giữa năm 1982 và 1989, chi tiêu cho văn hoá trên tổng ngân sách nhà nước tăng từ 1.25% đến 1.81%. Tỉ lệ này cho phép sử dụng rộng răi các hàng hoá và dịch vụ văn hoá, tạo ra sự ổn định đối với điều kiện làm việc của các nghệ sĩ.

Sau năm 1989, Ba Lan trải qua quá tŕnh thay đổi về kinh tế và chính trị và nhà nước đă thiết lập lại trách nhiệm của ḿnh. Những trách nhiệm đó được thể hiện trong Hiến pháp Cộng hoà Ba Lan. Điều 73 trực tiếp đề cập đến lĩnh vực văn hoá và quy định rằng tất cả mọi người có quyền tự do sáng tạo, tự do nghiên cứu khoa học và công bố kết quả nghiên cứu đó, tự do giáo dục và sử dụng các tài sản văn hoá.

Những nguyên tắc mới về tổ chức và hỗ trợ tài chính cho hoạt động văn hoá đă được ban hành vào năm 1993, và được thể hiện trong văn bản có tên “Nguyên tắc Chính sách văn hoá của Nhà nước”. Theo văn bản này, Chính phủ Ba Lan phải:

·         Khuyến khích phát triển dân chủ và thúc đẩy xă hội dân sự.

·         Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ và các tổ chức thích ứng với kinh tế thị trường.

·         Bảo vệ các tài sản văn hoá quí giá.

·         Ban hành và khuyến khích các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của những h́nh thức hoạt động văn hoá mới.

·         Do đó, chính sách văn hoá phải đạt được những mục tiêu sau:

·         Phi tập trung hoá - chuyển giao thẩm quyền từ cơ quan Trung ương cho các cơ quan vùng và từ cấp vùng xuống cấp địa phương;

·         Hỗ trợ tài chính của nhà nước cho một số tổ chức văn hoá quan trọng;

·         Hỗ trợ phát triển của các tổ chức văn hoá tư nhân và ủng hộ các cơ chế có thể bổ sung tài chính cho lĩnh vực văn hoá;

Các mục tiêu này là sự cụ thể hoá những chính sách đă được ban hành năm 1993. Bản sắc văn hoá và bảo vệ các di sản quốc gia được xem là những ưu tiên và nên hiểu trong bối cảnh mong muốn gia nhập châu Âu và những nguy hại tiềm tàng do quá tŕnh toàn cầu hoá. Năm 2003, các nỗ lực đă được thực hiện để Ba Lan có thể nhận được hỗ trợ từ các quỹ của EU, đặc biệt là Quỹ Cơ cấu. Do đó,  người ta chú ư nhiều hơn đến phát triển văn hoá ở cấp vùng.

 

Trở về

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lư

2.2 Mô tả chung về hệ thống

Hệ thống cơ quan quản lư về văn hoá được chia theo các cấp: trung ương, vùng, tỉnh  và thành phố. Các cơ quan cấp

Trung ương đóng vai tṛ chủ yếu trong việc ban hành các mục tiêu chính sách văn hoá và các nguyên tắc tài trợ cho văn hoá. Bộ Văn hoá  chịu trách nhiệm về pháp luật, t́m kiếm các nguồn lực phi nhà nước để tài trợ cho văn hoá, quản lư việc thực hiện các chính sách văn hoá, theo dơi những thay đổi trong hệ thống chính sách. Nói cách khác, những nhiệm vụ chính của Bộ Văn hoá là ban hành luật, cơ sở tài chính và các chương tŕnh nhằm thúc đẩy phát triển văn hoá. Bộ Văn hoá không trực tiếp tham gia quản lư văn hoá, nhưng vẫn tham gia vào việc tổ chức một vài sự kiện của các tổ chức văn hoá lớn, và hỗ trợ tài chính cho các sự kiện văn hoá của vùng và địa phương. Chính quyền địa phương (tại các cấp: vùng, tỉnh và thành phố) ở một mức độ nào đó là các tổ chức phi chính phủ - đóng một vai tṛ quan trọng trong chính sách văn hoá, cho chúng hoạt động theo các mục tiêu do nhà nước đặt ra, hay là tự xây dựng các chiến lược phát triển của riêng ḿnh. Nếu tự xây dựng các chiến lược phát triển, cần phải nhấn mạnh đến tính tự trị và độc lập của các chính quyền địa phương.

Bức tranh về các tổ chức văn hoá ở Ba Lan đang dần thay đổi. Những thay đổi lớn liên quan đến việc chuyển đổi từ độc quyền nhà nước đối với các tổ chức văn hoá sang sự đa dạng hoá về sở hữu (bao gồm cả thay đổi quy chế pháp lư các tổ chức tư nhân, các quỹ từ thiện và hiệp hội). ở Ba Lan thiếu các tổ chức lớn, những tổ chức này đóng một vai tṛ quan trọng trong việc bảo vệ tính độc lập của các quyết định về văn hoá. Sự thay đổi về mặt tổ chức chủ yếu liên quan đến việc chuyển đổi từ độc quyền nhà nước đối với các tổ chức văn hoá sang một mô h́nh ít tập trung hơn. Tại hai viện (Thượng viện và Hạ viện) đều thành lập các Uỷ ban Văn hoá. Các uỷ ban này chịu trách nhiệm về các vấn đề pháp lư trong lĩnh vực văn hoá. Cụ thể là:

·         Đề xuất ứng cử viên giữ các chức vụ tại các cơ quan quản lư văn hoá cấp nhà nước.

·         Sửa đổi, xem xét và đệ tŕnh các ư kiến pháp lư.

·         Xem xét các báo cáo và thông tin của Bộ Văn hoá.

·         Phân tích các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá.

·         Đáp ứng các yêu cầu liên quan đến ngân sách.

Uỷ ban Văn hoá và Truyền thông Đại chúng, thuộc Hạ viện, chịu trách nhiệm với các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực sau: sáng tạo, tuyên truyền văn hoá, bảo vệ các di sản văn hoá, vấn đề báo chí, phát thanh và truyền h́nh, các nhà xuất bản, phong trào văn hoá xă hội và hợp tác văn hoá tại các diễn đàn quốc tế, hợp tác văn hoá với nước ngoài.

2.3 Hợp tác giữa các bộ và các cấp chính quyền

Hợp tác giữa các Bộ trong lĩnh vực văn hoá được thực hiện xung quanh các chương tŕnh sau:

·         Chương tŕnh Quốc gia để Gia nhập EU. Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm về điều hành các hoạt động đa dạng của chương tŕnh này, trong đó có cả các nhóm làm việc gồm đại diện của khối nhà nước (cấp Trung ương và địa phương) và khối tư nhân: phát triển kinh tế, du lịch, văn hoá, khoa học và giáo dục, chính trị, v.v.. Chương tŕnh này đă chấm dứt sau ngày 1/5/2004.  Tài liệu này chỉ tŕnh bày các chương tŕnh tồn tại đến cuối năm 2003 và 2 chương tŕnh của năm 2003.

·         Chương tŕnh khung để hỗ trợ Ba Lan gia nhập EU. Cơ quan giám sát chương tŕnh này là văn pḥng Uỷ ban Hội nhập châu Âu, uỷ ban này kết hợp với nhiều bộ ngành trong quá tŕnh hoạt động. Một trong những nhiệm vụ của nó là xây dựng h́nh ảnh tốt đẹp về Ba Lan để thu hút và tạo niềm tin cho các đối tác là những quốc gia thành viên của EU và giành được sự ủng hộ từ phía trong nước về việc gia nhập EU;

·         Chương tŕnh quốc gia về Y tế: Chương tŕnh này được thực hiện với sự hợp tác giữa Bộ Y tế và các bộ ngành khác. Bộ Văn hoá cùng hỗ trợ tài chính cho 27 dự án, sự kiện được chương tŕnh này bảo trợ, ví dụ như dự án Chữa bệnh bằng Nghệ thuật cho những người khuyết tật và những người gặp rắc rối trong việc hoà nhập với xă hội.

Năm 2000, Cracow được chọn là Thủ đô Văn hoá châu Âu, bên cạnh chín thủ đô văn hoá châu Âu khác (Avignon, Bergen, Bologna, Brussels, Helsinki, Prague, Reykiavik và Sangtiago de Compostella). Một số sự kiện văn hoá đă được tổ chức để đón nhận sự kiện này, do Bộ Văn hoá và thành phố Cracow phối hợp tổ chức.

2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá

Có hai h́nh thức hợp tác:

1) Hợp tác song phương: H́nh thức này có cơ sở pháp lư là các hiệp định liên chính phủ với các quốc gia khác nhau. Các nguyên tắc và điều kiện để hợp tác và trao đổi văn hoá giữa các nước được quy định trong các hiệp định chính thức.

2) Hợp tác đa phương, h́nh thức này được thực hiện thông qua:

·         Các tổ chức quốc tế, ví dụ như Hội đồng châu Âu, UNESCO, OECD, WTO, ICCROM

·         Các cơ quan khu vực, ví dụ như Liên minh châu Âu

·         Các hiệp định khu vực: Visegrad Group, Ars Baltica

·         Mạng lưới hợp tác văn hoá: INCP

·         Các tổ chức văn hoá

Năm 1994, hợp tác quốc tế về văn hoá với Chương tŕnh CEPUS đă được thiết lập giữa các trường đại học ở Trung Âu và việc trao đổi sinh viên từ các nước như Bulgaria, Cộng hoà Czech, Slovakia, Slovenia, Hungary, Croatia, áo với Ba Lan. Cho đến nay, Trường Hàn lâm Mỹ thuật Matejko ở Cracow là trường đại học mỹ thuật duy nhất của Ba Lan tham gia vào chương tŕnh này, đặc biệt là trong lĩnh vực thiết kế công nghiệp (mạng lưới H-041).

 Thay đổi rơ rệt nhất trong chính sách văn hoá đối ngoại là việc Ba Lan gia nhập Liên minh châu Âu, những thay đổi này nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ với các nước trong EU và những nước phát triển ở Tây âu. Cùng lúc đó người ta nhận thấy sự mờ nhạt trong mối quan hệ với các nước Đông Âu. Trong nhiều năm qua, ư nghĩa của việc hợp tác song phương cấp nhà nước đă suy giảm và đang được thay thế bởi hoạt động của các tổ chức của châu Âu, và những cơ quan thuộc mạng lưới các tổ chức này, các tổ chức và cá nhân các nghệ sĩ theo đuổi những h́nh thức hợp tác của riêng ḿnh.

 

Trở về

3. Mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá

3.1 Các yếu tố chính trong mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay.

Trong qúa tŕnh xây dựng một mô h́nh chính sách văn hoá cho Ba Lan, nhiều hệ thống khác nhau đă được xem xét. Thứ nhất, hệ thống dân chủ xă hội được xem xét nhưng không được lựa chọn, bởi v́ nó quá khắt khe và liên hệ quá nhiều đến thời Cộng sản. Trong ba năm đầu tiên sau khi chuyển đổi đă có rất nhiều ư kiến ủng hộ cho một hệ thống tự do mới, nhưng rồi cũng không được lựa chọn. Ngày nay “con đường thứ ba” đă trở thành một phương pháp. Nó dựa trên mô h́nh phúc lợi nhà nước và bảo vệ mối quan hệ giữa nhà nước với xă hội dân sự. Mặc dù vai tṛ tiềm năng của các tổ chức thuộc nhóm thứ ba - các quỹ hội và hiệp hội - th́ chúng vẫn không được xem là đối tác thực sự của chính quyền địa phương hoặc nhà nước trong lĩnh vực văn hoá (ví dụ như các nhà quản lư văn hoá, hoặc cơ quan văn hoá để phân bổ quỹ của nhà nước).

Tóm lại, các thay đổi quan trọng diễn ra trong lĩnh vực văn hoá bắt đầu từ năm 1989 tập trung vào sáu điểm chính:

·         Phi tập trung hoá quyền lực của cơ quan nhà nước liên quan đến lĩnh vực văn hoá.

·         Chuyển đổi đa số các tổ chức văn hoá từ chính quyền Trung ương thành các cơ quan tự quản ở địa phương.

·         Tư nhân hoá đa số các tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước (xuất bản, điện ảnh, các pḥng trưng bày v.v..).

·         Băi bỏ kiểm duyệt (băi bỏ các yêu cầu cấp phép chính thức để thực hiện các hoạt động văn hoá / nghệ thuật).

·         Chấm dứt kiểm soát và điều phối chi tiết tại các cấp trong việc chi tiêu của nhà nước cho văn hoá.

·         Các thay đổi chung trong quản lư và có ảnh hưởng lớn đến văn hoá.

Ngày nay, mô h́nh chính sách văn hoá Ba Lan mang đặc điểm phi tập trung, nhấn mạnh vào vị trí và vai tṛ quan trọng của chính quyền địa phương.

Quá tŕnh phi tập trung đối với quản lư và hỗ trợ tài chính cho văn hoá liên quan đến việc ban hành các đạo luật, chúng sẽ tạo ra sự thay đổi toàn bộ hệ thống chính sách quốc gia, và chuyển giao thẩm quyền trong lĩnh vực văn hoá cho chính quyền địa phương và các cơ quan trực thuộc. Ví dụ, Luật chính quyền địa phương năm 1990 quy định rằng trách nhiệm đối với các thư viện và các tổ chức khác nhằm truyền bá văn hoá ở địa phương phải được trao cho các chính quyền địa phương.

Do kết quả của cải cách hành chính toàn diện trong giai đoạn hai, hai cấp quản lư ở chính quyền địa phương đă được thiết lập: tỉnh và cấp vùng. Hai cấp này có nghĩa vụ thực hiện các hoạt động công trong lĩnh vực “văn hoá và bảo vệ các tài sản văn hoá”. Trách nhiệm đối với hoạt động văn hoá của địa phương và các tổ chức văn hoá của địa phương, trước đây thuộc trách nhiệm của các thành phố, th́ bây giờ được chia sẻ giữa các cấp vùng, tỉnh và thành phố.

Việc đảm nhiệm dần dần trách nhiệm văn hoá của chính quyền địa phương được thực hiện song song với chiến lược tài trợ mới, trong đó năm 2003 chính quyền địa phương chiếm 79.4% vốn nhà nước cho văn hoá (81.1% năm 2002).

Những thay đổi trách nhiệm chính sách văn hoá diễn ra ngay sau quá tŕnh tập trung hoá quyền lực nhà nước và các luật sửa đổi sau đó. Ví dụ, cải tổ luật toàn diện và những sửa đổi, theo đó việc giảm và miễn thuế cho những người quyên góp tài tiền tài trợ sẽ áp dụng đối với cả lĩnh vực văn hoá. Có ư kiến cho rằng cải tổ toàn diện đă mang lại lợi ích cho lĩnh vực văn hoá và do  đó không tích cực trong việc định h́nh mà là thích nghi với thực tế mới của Ba Lan.

Trong nửa sau của năm 2002, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Adrzej Celinski, đă ban hành một chương tŕnh cải tổ (tŕnh bày chi tiết tại phần 4.1, phần 4.2.10, phần 5, và phần 6.1).

3.2 Định nghĩa Văn hoá

Định nghĩa chính thức về văn hoá ở Ba Lan  đang có nhiều tranh căi. Hiện tại, theo định nghĩa không chính thức, văn hoá được hiểu là “một lĩnh vực của đời sống xă hội nhằm tạo ra các giá trị tinh thần” và “nghệ thuật đóng một vai tṛ chủ đạo”. Hai khía cạnh này đă được tŕnh bày trong nhiều  văn bản của nhà nước, ví dụ như “Chính sách văn hoá của Nhà nước trong hoàn cảnh mới”, bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Văn hoá tại hội nghị “T́nh h́nh Văn hoá Ba Lan thời kỳ chuyển đổi 1989 -1997”.

Thực tế, vấn đề không phải là định nghĩa về văn hoá mà là phạm vi trách nhiệm của nhà nước đối với văn hoá và các mối quan tâm của Bộ Văn hoá (xem phần 2.2).

Trong quá tŕnh toàn cầu hoá và quá tŕnh hội nhập Liên minh châu Âu, các vấn đề như di sản văn hoá ngày càng được nhấn mạnh. Mặt khác, sự toàn cầu hoá cũng gây ra những mối lo ngại về cách hiểu truyền thống về văn hoá và đặt ra các vấn đề về hỗ trợ các hoạt động văn hoá đương đại.

Gần đây, có một xu hướng mới dễ nhận thấy về lĩnh vực văn hoá. Ví dụ như các nỗ lực được thực hiện nhằm nhấn mạnh giá trị kinh tế của văn hoá. Điều đó có nghĩa là chia tách giữa lĩnh vực văn hoá được trợ cấp, vốn là mục tiêu trung tập của chính sách văn hoá nhà nước và ngành kinh doanh văn hoá. Đă có nhiều ư kiến lên tiếng phản đối việc chia tách này.

3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá

Chính sách văn hoá hiện nay của Cộng hoà Ba Lan phản ánh những mục tiêu lớn trong chính sách của Hội đồng châu Âu, bao gồm: phi tập trung hoá và dân chủ hoá quá tŕnh ban hành quyết định, tuân thủ nguyên tắc minh bạch trong quá tŕnh ban hành quyết định, tuân thủ nguyên tắc đa dạng, trợ cấp và xuất phát từ ư tưởng đặt văn hoá ngoài phạm vi của quản lư nhà nước. Tuy nhiên, việc tuân thủ các nguyên tắc này bằng lời nói dễ dàng hơn là hành động trên thực tế.

Cần phải lưu ư rằng, mặc dù có thể dễ dàng chấp nhận những nguyên tắc dân chủ phổ biến và các mục tiêu chính sách văn hoá, th́ cách thức h́nh thành và thực hiện các nguyên tắc này không thể hài hoà, đồng nhất được. Đối với Ba Lan, nước này có mong muốn tạo ra một mô h́nh chính sách văn hoá cho riêng ḿnh chứ không phải đi sao chép lại các mô h́nh và các giải pháp đă có của các quốc gia Tây Âu.

 

Trở về

4. Các vấn đề chính sách hiện nay và các tranh luận

4.1 Các vấn đề văn hoá quan trọng và những ưu tiên

Theo quan điểm của Chính phủ Ba Lan, được thể hiện trong tài liệu “Những Nguyên tắc chính sách văn hoá” do Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1993, những mục tiêu chính sách văn hoá của nhà nước bao gồm:

·         Thúc đẩy phát triển dân chủ, xă hội dân sự;

·         Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật thích ứng với kinh tế thị trường;

·         Bảo vệ các tài sản văn hoá quư giá;

·         Ban hành các giải pháp pháp lư nhằm thúc đẩy sự phát triển của các h́nh thức văn hoá mới.

Các ưu tiên chính sách văn hoá do Bộ văn hoá xác định năm 1995 hướng vào một nền dân chủ mới. Ba lĩnh vực quan trọng nhất được nhà nước hỗ trợ là: sách, bảo vệ di sản quốc gia, và giáo dục văn hoá.

Năm 1998, một mô h́nh tổng quan đă được đưa ra, trong đó xác định các xu hướng chính và các hoạt động của Bộ văn hoá và Nghệ thuật, bao gồm:

·         Ban hành các biện pháp có thể kết hợp được nguồn tài chính của nhà nước và tư nhân;

·         Loại bỏ sự phân tầng giữa đa dạng văn hoá và phát triển kinh tế;

·         Tạo điều kiện cho sự tham gia vào lĩnh vực văn hoá, với định hướng là gia đ́nh cùng tham gia;

·         Đào tạo người quản lư trong lĩnh vực văn hoá;

·         Đề ra các hoạt động nhằm củng cố vai tṛ của giáo dục trong truyền thông đại chúng;

·         Thúc đẩy hợp tác giữa các bộ ngành trong lĩnh vực văn hoá;

·         Bảo vệ các di sản văn hoá;

·         Quảng bá văn hoá Ba Lan ở nước ngoài.

·         Năm 1999, tài liệu "Những định hướng chính sách văn hoá của Nhà nước / Chính phủ" đă được xuất bản, trong đó quy định trách nhiệm của nhà nước như sau:

·         Đề cao và phát triển cộng đồng dân sự;

·         Đề cao và truyền bá các di sản quốc gia;

·         Đưa ra các nguyên tắc nhằm hỗ trợ giáo dục văn hoá và hoạt động sáng tạo;

·         Truyền bá văn hoá Ba Lan ở nước ngoài.

Các ưu tiên được đưa ra trong các năm 1998 và 1999 đă được Chính phủ thực hiện với các mức độ thành công khác nhau. Có một số ư kiến bày tỏ băn khoăn về một danh sách dài các ưu tiên, và chúng lại bị vướng víu bởi các quy tắc. Mặc dù có rất nhiều ưu tiên đă được liệt kê, nhưng thực tế th́ không hề có ưu tiên nào cả.

Các năm 2001 và 2002 có thể xem là giai đoạn bước ngoặt khi chương tŕnh cải tổ của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Andrzej Celinski đă được đem ra thảo luận và đóng góp ư kiến. Chương tŕnh này đề xuất những thay đổi toàn diện về hệ thống tổ chức và tài chính của văn hoá Ba Lan. Mục tiêu chủ yếu của chương tŕnh này là tạo ra thay đổi về pháp lư liên quan đến việc tổ chức các hoạt động văn hóa và hỗ trợ của nhà nước trong lĩnh vực điện ảnh. Những nguồn tài chính mới cũng được đề xuất, ví dụ như hỗ trợ cho văn hoá từ nguồn tài chính của quỹ sổ xố nhà nước.

Năm 2003, vị Bộ trưởng mới của Bộ văn hoá, Waldemar Dabrowski đă đưa ra những ưu tiên trong chính sách văn hoá như sau:

·         Củng cố những cột trụ cơ bản của ngành phim quốc gia, ví dụ như viết kịch bản, sản xuất và phân phối, tạo nhiều điều kiện cho việc hỗ trợ tài chính;

·         Phát triển các loại sách, khuyến khích trẻ em đọc sách; đề cao vai tṛ của văn hoá đọc trong việc định h́nh văn hoá của xă hội; hỗ trợ cho các tạp chí định kỳ và văn học;

·         Đề cao vai tṛ của truyền thông đại chúng và đóng góp của nó đối với văn hóa quốc gia;

·         Hỗ trợ các hoạt động nhằm  mở rộng khả năng tiếp cận văn hoá cho người tàn tật;

·         Hỗ trợ các nghệ sĩ trẻ.

4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và các tranh luận

4.2.1 Quy định về văn hoá các dân tộc thiểu số

ở Ba Lan có rất nhiều dân tộc chung sống, mỗi dân tộc thiểu số chiếm khoảng từ 3 đến 4% dân số quốc gia, bao gồm: Đức, Ukraina (bao gồm người Lemkowie), Belarus, Latvia, Slovak, Roma, Do Thái và Séc. Hậu duệ của những người Kareim, Ormian và Tatar cũng có ở Ba Lan.

Điều 35 Hiến pháp Ba Lan quy định bảo đảm quyền tự do của công dân và các dân tộc thiểu số trong việc duy tŕ phong tục tập quán truyền thống, sử dụng tiếng của dân tộc ḿnh.

Ban văn hoá Các dân tộc thiểu số, thuộc Bộ Văn hoá, chịu trách nhiệm đối với việc hỗ trợ hoạt động văn hoá của các dân tộc thiểu số. Ví dụ, Ban này có trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho một số tạp chí của một số nhóm dân tộc thiểu số: "Niva' của người Belarus; "Our word" của người Ukraina, "Schlesisches Wochenblatt" của người Đức, và "Dos Idyshe Wort" của người Do Thái. Các đài phát thanh địa phương thực hiện các chương tŕnh theo ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau. Nhiều lễ hội và cuộc thi cũng được nhà nước và chính quyền địa phương tổ chức: ví dụ như Lễ hội Văn hoá Ukraina, Bài hát Belarus, Latvia Saskrydis, Lễ hội Bialystok – Grodno, và Liên hoan Quốc tế Nhạc nhà thờ Slavonik ở Hajnowka.

Ngoài ra chính quyền địa phương c̣n hỗ trợ các hoạt động khác như: bảo vệ các công tŕnh văn hóa của các dân tộc thiểu số, ǵn giữ và phục hồi các nghĩa trang của người Do Thái, và bảo tồn các biểu tượng và sự đa dạng của các nhà thờ Chính thống ở Sanok và Komancza.

4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

Trong lĩnh vực liên quan đến văn hoá của khối nhà nước, phụ nữ chiếm tỉ lệ khá cao. Tuy nhiên, số phụ nữ giữ vai tṛ quản lư trong những cơ quan này lại rất ít và không hề có chương tŕnh cụ thể nào nhằm thúc đẩy vai tṛ của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá.

Bảng 1: tỉ lệ phụ nữ làm việc trong lĩnh vực văn hoá khối nhà nước, 1995, 1998, 2000.

Năm

Tổng số nhân viên (ngh́n)

% phụ nữ

1995

99.1

60

1998

103.6

60

2000

101.4

62

Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê (GUS)

Số liệu cho thấy phụ nữ đang làm việc chiếm tỉ lệ cao trong lĩnh vực này, và xét về mặt số lượng, vị trí của họ khá ổn định tính từ giữa thập niên 90.

Có hai phụ nữ giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hoá tính từ năm 1989 là: Izabella Cywinska (từ ngày 12/9/1989 đến 14/12/1990) và Joanna Wnuk-Nazarowa (từ 31/10/1997 đến 25/3/1999).

4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách.

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Ba Lan. Lợi ích quốc gia trong việc bảo vệ tiếng Ba Lan được quy định trong Luật Ngôn ngữ Ba Lan, ban hành năm 1999 (xem thêm phần 5.1.9)

Về vấn đề ngôn ngữ của dân tộc thiểu số ở Ba Lan, hiện tại không có vấn đề  gây tranh căi. Các dự án cụ thể tập trung vào việc bảo vệ truyền thống và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số được Bộ văn hoá hỗ trợ về tài chính, ví dụ như việc xuất bản các tạp chí định kỳ.

4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung 

Trách nhiệm của Hội đồng Phát thanh truyền h́nh quốc gia được quy định trong Luật Phát thanh truyền h́nh và bao gồm 2 phần: cung cấp các tần số phát sóng cho các đài phát thanh và truyền h́nh của nhà nước và phân bổ thu nhập từ các khoản phí cấp phép cho các đài phát thanh truyền h́nh nhà nước.

Các hăng phát thanh và truyền h́nh nhà nước nhận hỗ trợ tài chính từ hai nguồn cơ bản là quảng cáo và phí cấp phép. Các nguồn tài chính này tạo cho họ lợi thế so sánh so với các hăng phát thanh và truyền h́nh thương mại.

Có nhiều ư kiến bày tỏ sự không hài ḷng đối với các hăng phát thanh và truyền h́nh nhà nước cho rằng các hăng này đă không hoàn thành chức năng của ḿnh trong việc hỗ trợ các nhà sản suất và các tài năng sáng tạo trẻ.

Năm 2002, TVP S.A (Công ty Truyền h́nh Ba Lan) phát 2 297 giờ các chương tŕnh văn hoá và giáo dục. Các số liệu thống kê theo thể loại đối với một trong các kênh của hăng này, kênh TVP 1 (chương tŕnh phủ sóng toàn quốc) so với tổng thời gian phát sóng

Bảng 2: Phát sóng chương tŕnh, thống kê theo thể loại, 2002 

Chương tŕnh

% trên tổng thời gian phát sóng

Phim truyện

38

Phim tài liệu

6.9

Giải trí

3.8

Nhạc cổ điển

0.1

Pop

2.7

Biểu diễn sân khấu

0.7

Nguồn: TVP S.A.

Những người tham gia vào hội nghị Văn hoá Ba Lan, được tổ chức tháng 12/ 2002, đă đưa ra đề nghị thành lập "kênh văn hoá". Tuy nhiên, kể từ năm 2003 đến nay vấn đề này chưa có tiến triển.

Các công việc nhằm hài hoà với hệ thống hạn mức theo các quy định của Hội đồng châu Âu vẫn đang được thực hiện.

4.2.5 Kinh doanh văn hoá: Phát triển, các chương tŕnh và những quan hệ đối tác

Sự can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động của lĩnh vực kinh doanh văn hoá chỉ liên quan đến viêc quy định cách thức tiếp cận thị trường của những nhà sản xuất, hỗ trợ trực tiếp cho một số hoạt động, và ban hành khuyến khích về thuế, những khoản khấu trừ nhằm thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực kinh doanh văn hoá.

Ví dụ, trong lĩnh vực xuất bản, các công cụ chủ yếu được sử dụng để hỗ trợ thị trường sách là tỉ suất thuế VAT 0% đối với xuất bản và in ấn, bán trong nước các sách, báo và các tạp chí định kỳ có đánh số ISSN và ISBN, các ấn phẩm bằng chữ nổi Braille dành cho người khiếm thị. Tỉ suất thuế VAT 7% được áp dụng đối với các ấn phẩm không có các biểu tượng này, các loại sách báo, tạp chí, sản phẩm in ấn nhập khẩu từ nước ngoài. (xem thêm phần 7.3).

Năm 2003, Bộ Văn hoá phát động "Chương tŕnh đọc sách" kéo dài 3 năm, nhằm đấu tranh chống nạn kém hiểu biết đang gia tăng ở Ba Lan. Năm đầu tiên chương tŕnh này tập trung vào thói quen đọc sách tại các gia đ́nh, đặc biệt là đối với các lớp trẻ. Các chương tŕnh hành động được đưa ra nhằm thực hiện những mục tiêu này, ví dụ như, Đọc sách trên màn ảnh nhỏ với sự tham gia của các nghệ sĩ Ba Lan nổi tiếng, hoặc Ba Lan đọc sách cho trẻ em. Năm thứ hai, chương tŕnh này tập trung nâng cao điều kiện của các thư viện và nâng ví trị của chúng lên thành các tổ chức văn hoá. Năm thứ ba, và là năm cuối cùng thực hiện, chương tŕnh tập trung vào những công nghệ mới.

4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

Mặc dù tỉ lệ thất nghiệp ở Ba Lan đang trong t́nh trạng báo động, 19.9% năm 2003 (16.21% năm 2001), các nhà hoạch định chính sách văn hoá chưa đưa ra được một chiến lược toàn diện nhằm giải quyết vấn đề việc làm ở Ba Lan.

Tuy nhiên cũng có một số chương tŕnh đào tạo của nhà nước dành cho những nhà quản lư văn hoá, lănh đạo của các cơ quan địa phương, cá nhân các nghệ sĩ, những giáo viên nghệ thuật không chuyên nhằm thúc đẩy giáo dục văn hoá và sự tham gia vào hoạt động văn hoá. Các chương tŕnh này được thực hiện với sự hợp tác giữa Trung tâm Văn hoá Quốc gia (Trước đây là Trung tâm phát triển Văn hoá) nhằm cung cấp cho những người tham gia chương tŕnh các kiến thức về khía cạnh pháp lư và tài chính của quản lư văn hoá, các kỹ năng đàm phán, tiếp thị văn hoá và nghệ thuật, v.v.. Năm 2003 các hoạt động nằm trong chương tŕnh "Ba Lan trong không gian văn hoá châu Âu" đă được phát động, trong đó có các khoá đào tạo với nguồn tài chính của các quỹ cơ cấu EU.

Năm 2002, mức lương tháng b́nh quân trong khối nhà nước là 2 149 PLN (Zloty - dolôty: đơn vị tiền tệ của Ba Lan, viết tắt là PLN. 1$=4 PLN). Trong ngành giáo dục mức lương tháng b́nh quân là 2 073 PLN, trong lĩnh vực y tế là 1716 PLN. Hiện tại không có thông tin hoặc số liệu thống kê gần đây về mức lương của các lao động trong các tổ chức văn hoá nhà nước. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét các số liệu của những người làm việc tại một số tổ chức. Ví dụ như, theo Báo cáo về Nhà hát Ba Lan (ZASP, Warsaw, 2003) mức lương b́nh quân của những người làm việc tại các nhà hát kịch năm 2001 là 2131 PLN.

4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá

Các thư viện nhanh chóng nhận ra rằng công nghệ mới có thể giúp họ cắt giảm chi phí, và công chúng sẽ đến tham quan nhiều hơn. Một hệ thống phân loại tiêu chuẩn (MARC 21) đă được ban hành năm 1993 nhằm hài hoà các catalogue khác nhau của các thư viện và thúc đẩy trao đổi dữ liệu giữa các thư viện.

Ở Ba Lan, Có khoảng 100 trong số 1200 thư viện hàn lâm và khoa học cung cấp các catalogue của ḿnh trên mạng Internet. Catalogue trung tâm được điều hành bởi thư viện Đại học Warsaw, hiện có trên 500000 tài liệu, trong đó có 50000 tài liệu bằng ngôn ngữ Kaba, tương hợp với các Đề mục chủ đề của Thư viện Quốc hội Mỹ.

Nhà nước thực hiện hỗ trợ bằng cách giảm thuế VAT xuống 7% đối với việc truy cập internet của các thư viện (mức thuế thông thường là 22%) và tiến hành các chương tŕnh giáo dục ở trường học.

Tháng 12/2003, Bộ Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Thông tin hợp tác với các bộ ngành khác, đă ban hành tài liệu Chiến lược Công nghệ Thông tin ở Ba Lan 2004 - 2006 -ePolska; tài liệu này dựa trên sáng kiến eEurope (châu Âu điện tử). Một số hoạt động sẽ được thực hiện trong khuôn khổ chiến lược này, trong đó có các hoạt động nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của công dân với công nghệ thông tin và truyền thông trong lĩnh vực văn hoá. Cụ thể là:

·         Lưu số hoá và công bố các bộ sưu tập trên Thư viện điện tử Ba Lan;

·         Lưu số hoá các tài sản văn hoá và chuyển thành cơ sở dữ liệu trên Internet;

·         Cung cấp chương tŕnh truyền h́nh số ở Ba Lan (chuẩn bị sửa đổi Luật Phát thanh truyền h́nh).

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: Các chương tŕnh và mô h́nh

Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm về giáo dục nghệ thuật ở cấp một và cấp hai. Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm về giáo dục nghệ thuật ở mức độ hàn lâm, bao gồm 8 trường chuyên về nhạc, 7 trường mỹ thuật, 3 trường chuyên về kịch và phim. Bên cạnh các trường công, các trường tư cũng đang được thành lập. Viện hàn lâm nghệ thuật châu Âu là trường nghệ thuật của tư nhân đầu tiên được thành lập vào năm 1992.

Chương tŕnh hợp tác văn hoá liên bộ là cơ quan điều phối những chương tŕnh trong lĩnh vực này. Ví dụ như chương tŕnh giáo dục có tên The Path. Các mục tiêu của chương tŕnh này là giúp sinh viên học cách giao tiếp thông qua ngôn ngữ quốc tế của nghệ thuật, và vượt qua các rào cản về ngôn ngữ và quốc gia. Chương tŕnh The Paths tập trung vào các lĩnh vực nghệ thuật đương đại, nghệ thuật thị giác, biểu diễn sân khấu, video và văn học. Một số trường học và cơ quan có tham gia vào chương tŕnh này như: 4 trường học ở Poznan, Quỹ hội Jugendwerk, Trung tâm Quốc gia về Nghệ thuật cho Trẻ em và Thanh niên ở Poznan và Kulturamt ở Hanover.

4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách

Quá tŕnh chuyển đổi kinh tế và chính trị bắt đầu từ năm 1990, và kết thúc vào ngày 1/2/1999. Ngày nay, chính quyền các địa phương là những đối tác của Cơ quan Quốc gia về Bảo vệ các Công tŕnh trong các dự án về bảo vệ các tài sản và di sản văn hoá.

ở cấp vùng, việc bảo vệ các di sản văn hoá được thể hiện ở ba trong số năm mục tiêu chính của chiến lược tổng thể của vùng.

·         Giữ ǵn bản sắc Ba Lan, phát triển và h́nh thành nhận thức của người dân đối với các vấn đề văn hoá và dân tộc;

·         Nâng cao giá trị môi trường tự nhiên và văn hoá, đặc biệt quan tâm đến các thế hệ trong tương lai;

Năm 2000, Bộ Văn hoá thành lập Viện Di sản Quốc gia. Viện này có chức năng quảng bá các di sản của Ba Lan ở trong nước cũng như trên thế giới. Tuy nhiên năm 2002, nó được chuyển thành Trung tâm Văn hoá Quốc gia, trong đó có cơ quan Trung tâm Hỗ trợ Văn hoá.

Các chiến lược phát triển các di sản dưới dạng kỹ thuật số được đưa vào Chương tŕnh E-Polska (Ba Lan điện tử) được điều phối bởi Uỷ ban Nhà nước về Nghiên cứu khoa học, và là một phần của kế hoạch tổng thể về xă hội thông tin.

Người ta ngày càng chú ư đến mối liên hệ giữa di sản văn hoá và du lịch. Xu hướng này có mối liên quan rơ ràng với việc Ba Lan gia nhập EU, hay nói cụ thể hơn là để Ba Lan có nhiều cơ hội nhận được nguồn tài chính của các quỹ cơ cấu

4.2.10. Các vấn đề khác và những tranh luận

Cuộc hội thảo diễn ra năm 2002 là một trong những nỗ lực đầu tiên nhằm tạo ra một sự tranh luận công khai, rộng răi về những thay đổi toàn diện trong lĩnh vực văn hoá. Vào ngày 6/4, hội nghị “Cơ hội cho văn hoá” đă được tổ chức tại Warsaw Castle, với sự tham gia của Thủ tướng, Chủ tịch Nghị viện (Sejm), các đại diện của Tổng thống, Bộ trưởng Văn hoá và các thành viên của cộng đồng nghệ thuật. Vấn đề chính được đưa ra thảo luận là chương tŕnh do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, ông Andrzej Celinski đề ra liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu tổ chức và việc hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực văn hoá.

Cơ sở lư thuyết cho chương tŕnh thay đổi này là một loạt các báo cáo liên quan đến hệ thống cơ cấu tổ chức và việc hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực văn hoá ở Ba Lan. Tác giả của các bản báo cáo này là Dorota Ilczuk (Đại học Jagiellonian) và Wojciech Misiag (Viện Kinh tế Thị trường Gdansk). Nội dung của chương tŕnh bao gồm: Các nguồn tài chính mới, vai tṛ và nhiệm vụ của nhà nước, tạo các điều kiện thúc đẩy khối tư nhân hỗ trợ tài chính cho văn hoá, và các đề xuất về pháp luật liên quan đến hoạt động văn hoá.

Ông Andrzej Celinski kết thúc nhiệm ḱ Bộ trưởng Văn hoá tháng 6/ 2002. Giải pháp tài chính quan trọng được nêu ra trong báo là đề nghị sử dụng các quỹ sổ xố dành cho các mục đích văn hoá. Theo Luật về hoạt động v́ lợi ích công cộng (ustawa o dzialalnosci pozytku publicznego) - nguyên tắc một phần trăm tiền thuế dành cho các mục đích văn hoá đă được thực hiện - mặc dù nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với các tổ chức phi chính phủ. Các công việc lập pháp liên quan đến hoạt động văn hoá đă bị tŕ hoăn.

Đối với những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá, năm 2003 là một năm có ư nghĩa quan trọng do việc Ba Lan gia nhập vào EU và ảnh hưởng của sự gia nhập này đối với phát triển văn hoá Ba Lan. Lúc đó, khối tư nhân đă đi đầu trong việc đáp ứng những ḱ vọng của cộng đồng văn hoá. Liên đoàn Giới chủ Tư nhân Ba Lan, và Nhóm làm việc kinh doanh và văn hoá đă tổ chức cuộc hội thảo “Liên minh châu Âu và văn hoá: Có phải đó chỉ là vấn đề tiền bạc?”, diễn ra vào ngày 14/5/2003, tại Lâu đài Warsaw. Mục tiêu của hội thảo này là t́m ra những biện pháp trợ giúp có thể trông đợi từ EU; lĩnh vực văn hoá phải điều chỉnh như thế nào cho phù hợp với EU. Các chuyên gia từ nhiều nước EU, các đại diện của văn pḥng Tổng thống, của Bộ Văn hoá, và đại diện của cộng đồng văn hoá đă tham gia. Sau đó, Bộ trưởng Bộ Văn hoá đă thành lập một chức vụ đảm trách về vấn đề các quỹ cơ cấu EU, và chỉ định một nhóm đặc trách về các quỹ cơ cấu (nhóm này thuộc Trung tâm Văn hoá Quốc gia).