1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lư
3. Mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề chính sách hiện nay và các tranh luận
5. Quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. các thiết chế văn hoá và các đối tác mới
8. Hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động sáng tạo và tham gia hoạt động sáng tạo.
1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
Trước năm 1989, hoạt động văn hoá được thực hiện trong một chế độ có sự tập trung cao độ, thể chế hoá và độc quyền sở hữu nhà nước. Các quyết định về phát triển hoạt động văn hoá đều được chính sách hoá và sáng tạo nghệ thuật chịu sự kiểm duyệt về chính trị. Nguyên tắc chính sách văn hoá được ban hành bởi Bộ văn hoá Nghệ thuật và
|
|
Ban Văn hoá của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Ba Lan. Vào giai đoạn này tỉ lệ tăng trưởng chi tiêu cho văn hoá cao hơn tỉ lệ tăng trưởng GDP, điều này tạo ra tính hợp pháp cho hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá. “Quỹ phát triển Văn hoá” được thành lập năm 1982, là một công cụ để bảo đảm quan điểm này. Giữa năm 1982 và 1989, chi tiêu cho văn hoá trên tổng ngân sách nhà nước tăng từ 1.25% đến 1.81%. Tỉ lệ này cho phép sử dụng rộng răi các hàng hoá và dịch vụ văn hoá, tạo ra sự ổn định đối với điều kiện làm việc của các nghệ sĩ.
Sau năm 1989, Ba Lan trải qua quá tŕnh thay đổi về kinh tế và chính trị và nhà nước đă thiết lập lại trách nhiệm của ḿnh. Những trách nhiệm đó được thể hiện trong Hiến pháp Cộng hoà Ba Lan. Điều 73 trực tiếp đề cập đến lĩnh vực văn hoá và quy định rằng tất cả mọi người có quyền tự do sáng tạo, tự do nghiên cứu khoa học và công bố kết quả nghiên cứu đó, tự do giáo dục và sử dụng các tài sản văn hoá.
Những nguyên tắc mới về tổ chức và hỗ trợ tài chính cho hoạt động văn hoá đă được ban hành vào năm 1993, và được thể hiện trong văn bản có tên “Nguyên tắc Chính sách văn hoá của Nhà nước”. Theo văn bản này, Chính phủ Ba Lan phải:
· Khuyến khích phát triển dân chủ và thúc đẩy xă hội dân sự.
· Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ và các tổ chức thích ứng với kinh tế thị trường.
· Bảo vệ các tài sản văn hoá quí giá.
· Ban hành và khuyến khích các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của những h́nh thức hoạt động văn hoá mới.
· Do đó, chính sách văn hoá phải đạt được những mục tiêu sau:
· Phi tập trung hoá - chuyển giao thẩm quyền từ cơ quan Trung ương cho các cơ quan vùng và từ cấp vùng xuống cấp địa phương;
· Hỗ trợ tài chính của nhà nước cho một số tổ chức văn hoá quan trọng;
· Hỗ trợ phát triển của các tổ chức văn hoá tư nhân và ủng hộ các cơ chế có thể bổ sung tài chính cho lĩnh vực văn hoá;
Các mục tiêu này là sự cụ thể hoá những chính sách đă được ban hành năm 1993. Bản sắc văn hoá và bảo vệ các di sản quốc gia được xem là những ưu tiên và nên hiểu trong bối cảnh mong muốn gia nhập châu Âu và những nguy hại tiềm tàng do quá tŕnh toàn cầu hoá. Năm 2003, các nỗ lực đă được thực hiện để Ba Lan có thể nhận được hỗ trợ từ các quỹ của EU, đặc biệt là Quỹ Cơ cấu. Do đó, người ta chú ư nhiều hơn đến phát triển văn hoá ở cấp vùng.
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lư
2.2 Mô tả chung về hệ thống
Hệ thống cơ quan quản lư về văn hoá được chia theo các cấp: trung ương, vùng, tỉnh và thành phố. Các cơ quan cấp
Trung
ương đóng vai tṛ chủ yếu trong việc ban hành các mục tiêu chính sách văn hoá và
các nguyên tắc tài trợ cho văn hoá. Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm về pháp luật,
t́m kiếm các nguồn lực phi nhà nước để tài trợ cho văn hoá, quản lư việc thực
hiện các chính sách văn hoá, theo dơi những thay đổi trong hệ thống chính sách.
Nói cách khác, những nhiệm vụ chính của Bộ Văn hoá là ban hành luật, cơ sở tài
chính và các chương tŕnh nhằm thúc đẩy phát triển văn hoá. Bộ Văn hoá không
trực tiếp tham gia quản lư văn hoá, nhưng vẫn tham
gia vào việc tổ chức một vài sự kiện của các tổ chức văn hoá lớn, và hỗ trợ tài
chính cho các sự kiện văn hoá của vùng và địa phương. Chính quyền địa phương
(tại các cấp: vùng, tỉnh và thành phố) ở một mức độ nào đó là các tổ chức phi
chính phủ - đóng một vai tṛ quan trọng trong chính sách văn hoá, cho chúng hoạt
động theo các mục tiêu do nhà nước đặt ra, hay là tự xây dựng các chiến lược
phát triển của riêng ḿnh. Nếu tự xây dựng các chiến lược phát triển, cần phải
nhấn mạnh đến tính tự trị và độc lập của các chính quyền địa phương.
Bức tranh về các tổ chức văn hoá ở Ba Lan đang dần thay đổi. Những thay đổi lớn liên quan đến việc chuyển đổi từ độc quyền nhà nước đối với các tổ chức văn hoá sang sự đa dạng hoá về sở hữu (bao gồm cả thay đổi quy chế pháp lư các tổ chức tư nhân, các quỹ từ thiện và hiệp hội). ở Ba Lan thiếu các tổ chức lớn, những tổ chức này đóng một vai tṛ quan trọng trong việc bảo vệ tính độc lập của các quyết định về văn hoá. Sự thay đổi về mặt tổ chức chủ yếu liên quan đến việc chuyển đổi từ độc quyền nhà nước đối với các tổ chức văn hoá sang một mô h́nh ít tập trung hơn. Tại hai viện (Thượng viện và Hạ viện) đều thành lập các Uỷ ban Văn hoá. Các uỷ ban này chịu trách nhiệm về các vấn đề pháp lư trong lĩnh vực văn hoá. Cụ thể là:
· Đề xuất ứng cử viên giữ các chức vụ tại các cơ quan quản lư văn hoá cấp nhà nước.
· Sửa đổi, xem xét và đệ tŕnh các ư kiến pháp lư.
· Xem xét các báo cáo và thông tin của Bộ Văn hoá.
· Phân tích các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá.
· Đáp ứng các yêu cầu liên quan đến ngân sách.
Uỷ ban Văn hoá và Truyền thông Đại chúng, thuộc Hạ viện, chịu trách nhiệm với các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực sau: sáng tạo, tuyên truyền văn hoá, bảo vệ các di sản văn hoá, vấn đề báo chí, phát thanh và truyền h́nh, các nhà xuất bản, phong trào văn hoá xă hội và hợp tác văn hoá tại các diễn đàn quốc tế, hợp tác văn hoá với nước ngoài.
2.3 Hợp tác giữa các bộ và các cấp chính quyền
Hợp tác giữa các Bộ trong lĩnh vực văn hoá được thực hiện xung quanh các chương tŕnh sau:
·
Chương
tŕnh Quốc gia để Gia nhập EU.
Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm về điều hành các hoạt động đa dạng của chương
tŕnh này, trong đó có cả các nhóm làm việc gồm đại diện của khối nhà nước (cấp
Trung ương và địa phương) và khối tư nhân: phát triển kinh tế, du lịch, văn hoá,
khoa
học và giáo dục, chính trị, v.v.. Chương tŕnh này đă chấm dứt sau ngày
1/5/2004. Tài liệu này chỉ tŕnh bày các chương tŕnh tồn tại đến cuối năm 2003
và 2 chương tŕnh của năm 2003.
· Chương tŕnh khung để hỗ trợ Ba Lan gia nhập EU. Cơ quan giám sát chương tŕnh này là văn pḥng Uỷ ban Hội nhập châu Âu, uỷ ban này kết hợp với nhiều bộ ngành trong quá tŕnh hoạt động. Một trong những nhiệm vụ của nó là xây dựng h́nh ảnh tốt đẹp về Ba Lan để thu hút và tạo niềm tin cho các đối tác là những quốc gia thành viên của EU và giành được sự ủng hộ từ phía trong nước về việc gia nhập EU;
· Chương tŕnh quốc gia về Y tế: Chương tŕnh này được thực hiện với sự hợp tác giữa Bộ Y tế và các bộ ngành khác. Bộ Văn hoá cùng hỗ trợ tài chính cho 27 dự án, sự kiện được chương tŕnh này bảo trợ, ví dụ như dự án Chữa bệnh bằng Nghệ thuật cho những người khuyết tật và những người gặp rắc rối trong việc hoà nhập với xă hội.
Năm 2000, Cracow được chọn là Thủ đô Văn hoá châu Âu, bên cạnh chín thủ đô văn hoá châu Âu khác (Avignon, Bergen, Bologna, Brussels, Helsinki, Prague, Reykiavik và Sangtiago de Compostella). Một số sự kiện văn hoá đă được tổ chức để đón nhận sự kiện này, do Bộ Văn hoá và thành phố Cracow phối hợp tổ chức.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá
Có hai h́nh thức hợp tác:
1) Hợp tác song phương: H́nh thức này có cơ sở pháp lư là các hiệp định liên chính phủ với các quốc gia khác nhau. Các nguyên tắc và điều kiện để hợp tác và trao đổi văn hoá giữa các nước được quy định trong các hiệp định chính thức.
2) Hợp tác đa phương, h́nh thức này được thực hiện thông qua:
·
Các tổ
chức quốc tế, ví dụ như Hội đồng châu Âu, UNESCO, OECD, WTO, ICCROM
· Các cơ quan khu vực, ví dụ như Liên minh châu Âu
· Các hiệp định khu vực: Visegrad Group, Ars Baltica
· Mạng lưới hợp tác văn hoá: INCP
· Các tổ chức văn hoá
Năm 1994, hợp tác quốc tế về văn hoá với Chương tŕnh CEPUS đă được thiết lập giữa các trường đại học ở Trung Âu và việc trao đổi sinh viên từ các nước như Bulgaria, Cộng hoà Czech, Slovakia, Slovenia, Hungary, Croatia, áo với Ba Lan. Cho đến nay, Trường Hàn lâm Mỹ thuật Matejko ở Cracow là trường đại học mỹ thuật duy nhất của Ba Lan tham gia vào chương tŕnh này, đặc biệt là trong lĩnh vực thiết kế công nghiệp (mạng lưới H-041).
Thay đổi rơ rệt nhất trong chính sách văn hoá đối ngoại là việc Ba Lan gia nhập Liên minh châu Âu, những thay đổi này nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ với các nước trong EU và những nước phát triển ở Tây âu. Cùng lúc đó người ta nhận thấy sự mờ nhạt trong mối quan hệ với các nước Đông Âu. Trong nhiều năm qua, ư nghĩa của việc hợp tác song phương cấp nhà nước đă suy giảm và đang được thay thế bởi hoạt động của các tổ chức của châu Âu, và những cơ quan thuộc mạng lưới các tổ chức này, các tổ chức và cá nhân các nghệ sĩ theo đuổi những h́nh thức hợp tác của riêng ḿnh.
3. Mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố chính trong mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay.
Trong qúa tŕnh xây dựng một mô h́nh chính sách văn hoá cho Ba Lan, nhiều hệ thống khác nhau đă được xem xét. Thứ nhất, hệ thống dân chủ xă hội được xem xét nhưng không được lựa chọn, bởi v́ nó quá khắt khe và liên hệ quá nhiều đến thời Cộng sản. Trong ba năm đầu tiên sau khi chuyển đổi đă có rất nhiều ư kiến ủng hộ cho một hệ thống tự do mới, nhưng rồi cũng không được lựa chọn. Ngày nay “con đường thứ ba” đă trở thành một phương pháp. Nó dựa trên mô h́nh phúc lợi nhà nước và bảo vệ mối quan hệ giữa nhà nước với xă hội dân sự. Mặc dù vai tṛ tiềm năng của các tổ chức thuộc nhóm thứ ba - các quỹ hội và hiệp hội - th́ chúng vẫn không được xem là đối tác thực sự của chính quyền địa phương hoặc nhà nước trong lĩnh vực văn hoá (ví dụ như các nhà quản lư văn hoá, hoặc cơ quan văn hoá để phân bổ quỹ của nhà nước).
Tóm lại, các thay đổi quan trọng diễn ra trong lĩnh vực văn hoá bắt đầu từ năm 1989 tập trung vào sáu điểm chính:
· Phi tập trung hoá quyền lực của cơ quan nhà nước liên quan đến lĩnh vực văn hoá.
· Chuyển đổi đa số các tổ chức văn hoá từ chính quyền Trung ương thành các cơ quan tự quản ở địa phương.
· Tư nhân hoá đa số các tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước (xuất bản, điện ảnh, các pḥng trưng bày v.v..).
· Băi bỏ kiểm duyệt (băi bỏ các yêu cầu cấp phép chính thức để thực hiện các hoạt động văn hoá / nghệ thuật).
· Chấm dứt kiểm soát và điều phối chi tiết tại các cấp trong việc chi tiêu của nhà nước cho văn hoá.
· Các thay đổi chung trong quản lư và có ảnh hưởng lớn đến văn hoá.
Ngày nay, mô h́nh chính sách văn hoá Ba Lan mang đặc điểm phi tập trung, nhấn mạnh vào vị trí và vai tṛ quan trọng của chính quyền địa phương.
Quá tŕnh
phi tập trung đối với quản lư và hỗ trợ tài chính cho văn hoá liên quan đến việc
ban hành các đạo luật, chúng sẽ tạo ra
sự
thay đổi toàn bộ hệ thống chính sách quốc gia, và chuyển giao thẩm quyền trong
lĩnh vực văn hoá cho chính quyền địa phương và các cơ quan trực thuộc. Ví dụ,
Luật chính quyền địa phương năm 1990 quy định rằng trách nhiệm đối với các
thư viện và các tổ chức khác nhằm truyền bá văn hoá ở địa phương phải được trao
cho các chính quyền địa phương.
Do kết quả của cải cách hành chính toàn diện trong giai đoạn hai, hai cấp quản lư ở chính quyền địa phương đă được thiết lập: tỉnh và cấp vùng. Hai cấp này có nghĩa vụ thực hiện các hoạt động công trong lĩnh vực “văn hoá và bảo vệ các tài sản văn hoá”. Trách nhiệm đối với hoạt động văn hoá của địa phương và các tổ chức văn hoá của địa phương, trước đây thuộc trách nhiệm của các thành phố, th́ bây giờ được chia sẻ giữa các cấp vùng, tỉnh và thành phố.
Việc đảm nhiệm dần dần trách nhiệm văn hoá của chính quyền địa phương được thực hiện song song với chiến lược tài trợ mới, trong đó năm 2003 chính quyền địa phương chiếm 79.4% vốn nhà nước cho văn hoá (81.1% năm 2002).
Những thay đổi trách nhiệm chính sách văn hoá diễn ra ngay sau quá tŕnh tập trung hoá quyền lực nhà nước và các luật sửa đổi sau đó. Ví dụ, cải tổ luật toàn diện và những sửa đổi, theo đó việc giảm và miễn thuế cho những người quyên góp tài tiền tài trợ sẽ áp dụng đối với cả lĩnh vực văn hoá. Có ư kiến cho rằng cải tổ toàn diện đă mang lại lợi ích cho lĩnh vực văn hoá và do đó không tích cực trong việc định h́nh mà là thích nghi với thực tế mới của Ba Lan.
Trong nửa sau của năm 2002, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Adrzej Celinski, đă ban hành một chương tŕnh cải tổ (tŕnh bày chi tiết tại phần 4.1, phần 4.2.10, phần 5, và phần 6.1).
3.2 Định nghĩa Văn hoá
Định nghĩa chính thức về văn hoá ở Ba Lan đang có nhiều tranh căi. Hiện tại, theo định nghĩa không chính thức, văn hoá được hiểu là “một lĩnh vực của đời sống xă hội nhằm tạo ra các giá trị tinh thần” và “nghệ thuật đóng một vai tṛ chủ đạo”. Hai khía cạnh này đă được tŕnh bày trong nhiều văn bản của nhà nước, ví dụ như “Chính sách văn hoá của Nhà nước trong hoàn cảnh mới”, bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Văn hoá tại hội nghị “T́nh h́nh Văn hoá Ba Lan thời kỳ chuyển đổi 1989 -1997”.
Thực tế, vấn đề không phải là định nghĩa về văn hoá mà là phạm vi trách nhiệm của nhà nước đối với văn hoá và các mối quan tâm của Bộ Văn hoá (xem phần 2.2).
Trong quá tŕnh toàn cầu hoá và quá tŕnh hội nhập Liên minh châu Âu, các vấn đề như di sản văn hoá ngày càng được nhấn mạnh. Mặt khác, sự toàn cầu hoá cũng gây ra những mối lo ngại về cách hiểu truyền thống về văn hoá và đặt ra các vấn đề về hỗ trợ các hoạt động văn hoá đương đại.
Gần đây, có một xu hướng mới dễ nhận thấy về lĩnh vực văn hoá. Ví dụ như các nỗ lực được thực hiện nhằm nhấn mạnh giá trị kinh tế của văn hoá. Điều đó có nghĩa là chia tách giữa lĩnh vực văn hoá được trợ cấp, vốn là mục tiêu trung tập của chính sách văn hoá nhà nước và ngành kinh doanh văn hoá. Đă có nhiều ư kiến lên tiếng phản đối việc chia tách này.
3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá
Chính sách văn hoá hiện nay của Cộng hoà Ba Lan phản ánh những mục tiêu lớn trong chính sách của Hội đồng châu Âu, bao gồm: phi tập trung hoá và dân chủ hoá quá tŕnh ban hành quyết định, tuân thủ nguyên tắc minh bạch trong quá tŕnh ban hành quyết định, tuân thủ nguyên tắc đa dạng, trợ cấp và xuất phát từ ư tưởng đặt văn hoá ngoài phạm vi của quản lư nhà nước. Tuy nhiên, việc tuân thủ các nguyên tắc này bằng lời nói dễ dàng hơn là hành động trên thực tế.
Cần phải lưu ư rằng, mặc dù có thể dễ dàng chấp nhận những nguyên tắc dân chủ phổ biến và các mục tiêu chính sách văn hoá, th́ cách thức h́nh thành và thực hiện các nguyên tắc này không thể hài hoà, đồng nhất được. Đối với Ba Lan, nước này có mong muốn tạo ra một mô h́nh chính sách văn hoá cho riêng ḿnh chứ không phải đi sao chép lại các mô h́nh và các giải pháp đă có của các quốc gia Tây Âu.
4. Các vấn đề chính sách hiện nay và các tranh luận
4.1 Các vấn đề văn hoá quan trọng và những ưu tiên

Theo quan điểm của Chính phủ Ba Lan, được thể hiện trong tài liệu “Những Nguyên tắc chính sách văn hoá” do Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1993, những mục tiêu chính sách văn hoá của nhà nước bao gồm:
· Thúc đẩy phát triển dân chủ, xă hội dân sự;
· Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật thích ứng với kinh tế thị trường;
· Bảo vệ các tài sản văn hoá quư giá;
· Ban hành các giải pháp pháp lư nhằm thúc đẩy sự phát triển của các h́nh thức văn hoá mới.
Các ưu tiên chính sách văn hoá do Bộ văn hoá xác định năm 1995 hướng vào một nền dân chủ mới. Ba lĩnh vực quan trọng nhất được nhà nước hỗ trợ là: sách, bảo vệ di sản quốc gia, và giáo dục văn hoá.
Năm 1998, một mô h́nh tổng quan đă được đưa ra, trong đó xác định các xu hướng chính và các hoạt động của Bộ văn hoá và Nghệ thuật, bao gồm:
· Ban hành các biện pháp có thể kết hợp được nguồn tài chính của nhà nước và tư nhân;
· Loại bỏ sự phân tầng giữa đa dạng văn hoá và phát triển kinh tế;
· Tạo điều kiện cho sự tham gia vào lĩnh vực văn hoá, với định hướng là gia đ́nh cùng tham gia;
· Đào tạo người quản lư trong lĩnh vực văn hoá;
· Đề ra các hoạt động nhằm củng cố vai tṛ của giáo dục trong truyền thông đại chúng;
· Thúc đẩy hợp tác giữa các bộ ngành trong lĩnh vực văn hoá;
· Bảo vệ các di sản văn hoá;
· Quảng bá văn hoá Ba Lan ở nước ngoài.
· Năm 1999, tài liệu "Những định hướng chính sách văn hoá của Nhà nước / Chính phủ" đă được xuất bản, trong đó quy định trách nhiệm của nhà nước như sau:
· Đề cao và phát triển cộng đồng dân sự;
· Đề cao và truyền bá các di sản quốc gia;
· Đưa ra các nguyên tắc nhằm hỗ trợ giáo dục văn hoá và hoạt động sáng tạo;
· Truyền bá văn hoá Ba Lan ở nước ngoài.
Các ưu tiên được đưa ra trong các năm 1998 và 1999 đă được Chính phủ thực hiện với các mức độ thành công khác nhau. Có một số ư kiến bày tỏ băn khoăn về một danh sách dài các ưu tiên, và chúng lại bị vướng víu bởi các quy tắc. Mặc dù có rất nhiều ưu tiên đă được liệt kê, nhưng thực tế th́ không hề có ưu tiên nào cả.
Các năm 2001 và 2002 có thể xem là giai đoạn bước ngoặt khi chương tŕnh cải tổ của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Andrzej Celinski đă được đem ra thảo luận và đóng góp ư kiến. Chương tŕnh này đề xuất những thay đổi toàn diện về hệ thống tổ chức và tài chính của văn hoá Ba Lan. Mục tiêu chủ yếu của chương tŕnh này là tạo ra thay đổi về pháp lư liên quan đến việc tổ chức các hoạt động văn hóa và hỗ trợ của nhà nước trong lĩnh vực điện ảnh. Những nguồn tài chính mới cũng được đề xuất, ví dụ như hỗ trợ cho văn hoá từ nguồn tài chính của quỹ sổ xố nhà nước.
Năm 2003, vị Bộ trưởng mới của Bộ văn hoá, Waldemar Dabrowski đă đưa ra những ưu tiên trong chính sách văn hoá như sau:
· Củng cố những cột trụ cơ bản của ngành phim quốc gia, ví dụ như viết kịch bản, sản xuất và phân phối, tạo nhiều điều kiện cho việc hỗ trợ tài chính;
· Phát triển các loại sách, khuyến khích trẻ em đọc sách; đề cao vai tṛ của văn hoá đọc trong việc định h́nh văn hoá của xă hội; hỗ trợ cho các tạp chí định kỳ và văn học;
· Đề cao vai tṛ của truyền thông đại chúng và đóng góp của nó đối với văn hóa quốc gia;
· Hỗ trợ các hoạt động nhằm mở rộng khả năng tiếp cận văn hoá cho người tàn tật;
· Hỗ trợ các nghệ sĩ trẻ.
4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và các tranh luận
4.2.1 Quy định về văn hoá các dân tộc thiểu số
ở Ba Lan
có rất nhiều dân tộc chung sống, mỗi dân tộc thiểu số chiếm khoảng từ 3 đến 4%
dân số quốc gia, bao gồm: Đức, Ukraina (bao gồm người Lemkowie),
Belarus,
Latvia, Slovak, Roma, Do Thái và Séc. Hậu duệ của những người Kareim, Ormian và
Tatar cũng có ở Ba Lan.
Điều 35 Hiến pháp Ba Lan quy định bảo đảm quyền tự do của công dân và các dân tộc thiểu số trong việc duy tŕ phong tục tập quán truyền thống, sử dụng tiếng của dân tộc ḿnh.
Ban văn hoá Các dân tộc thiểu số, thuộc Bộ Văn hoá, chịu trách nhiệm đối với việc hỗ trợ hoạt động văn hoá của các dân tộc thiểu số. Ví dụ, Ban này có trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho một số tạp chí của một số nhóm dân tộc thiểu số: "Niva' của người Belarus; "Our word" của người Ukraina, "Schlesisches Wochenblatt" của người Đức, và "Dos Idyshe Wort" của người Do Thái. Các đài phát thanh địa phương thực hiện các chương tŕnh theo ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau. Nhiều lễ hội và cuộc thi cũng được nhà nước và chính quyền địa phương tổ chức: ví dụ như Lễ hội Văn hoá Ukraina, Bài hát Belarus, Latvia Saskrydis, Lễ hội Bialystok – Grodno, và Liên hoan Quốc tế Nhạc nhà thờ Slavonik ở Hajnowka.
Ngoài ra chính quyền địa phương c̣n hỗ trợ các hoạt động khác như: bảo vệ các công tŕnh văn hóa của các dân tộc thiểu số, ǵn giữ và phục hồi các nghĩa trang của người Do Thái, và bảo tồn các biểu tượng và sự đa dạng của các nhà thờ Chính thống ở Sanok và Komancza.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Trong lĩnh vực liên quan đến văn hoá của khối nhà nước, phụ nữ chiếm tỉ lệ khá cao. Tuy nhiên, số phụ nữ giữ vai tṛ quản lư trong những cơ quan này lại rất ít và không hề có chương tŕnh cụ thể nào nhằm thúc đẩy vai tṛ của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá.
Bảng 1: tỉ lệ phụ nữ làm việc trong lĩnh vực văn hoá khối nhà nước, 1995, 1998, 2000.
|
Năm |
Tổng số nhân viên (ngh́n) |
% phụ nữ |
|
1995 |
99.1 |
60 |
|
1998 |
103.6 |
60 |
|
2000 |
101.4 |
62 |
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê (GUS)
Số liệu cho thấy phụ nữ đang làm việc chiếm tỉ lệ cao trong lĩnh vực này, và xét về mặt số lượng, vị trí của họ khá ổn định tính từ giữa thập niên 90.
Có hai phụ nữ giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hoá tính từ năm 1989 là: Izabella Cywinska (từ ngày 12/9/1989 đến 14/12/1990) và Joanna Wnuk-Nazarowa (từ 31/10/1997 đến 25/3/1999).
4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách.
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Ba Lan. Lợi ích quốc gia trong việc bảo vệ tiếng Ba Lan được quy định trong Luật Ngôn ngữ Ba Lan, ban hành năm 1999 (xem thêm phần 5.1.9)
Về vấn đề ngôn ngữ của dân tộc thiểu số ở Ba Lan, hiện tại không có vấn đề gây tranh căi. Các dự án cụ thể tập trung vào việc bảo vệ truyền thống và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số được Bộ văn hoá hỗ trợ về tài chính, ví dụ như việc xuất bản các tạp chí định kỳ.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Trách
nhiệm của Hội đồng Phát thanh truyền h́nh quốc gia được quy định trong Luật Phát
thanh truyền h́nh và bao gồm 2
phần:
cung cấp các tần số phát sóng cho các đài phát thanh và truyền h́nh của nhà nước
và phân bổ thu nhập từ các khoản phí cấp phép cho các đài phát thanh truyền h́nh
nhà nước.
Các hăng phát thanh và truyền h́nh nhà nước nhận hỗ trợ tài chính từ hai nguồn cơ bản là quảng cáo và phí cấp phép. Các nguồn tài chính này tạo cho họ lợi thế so sánh so với các hăng phát thanh và truyền h́nh thương mại.
Có nhiều ư kiến bày tỏ sự không hài ḷng đối với các hăng phát thanh và truyền h́nh nhà nước cho rằng các hăng này đă không hoàn thành chức năng của ḿnh trong việc hỗ trợ các nhà sản suất và các tài năng sáng tạo trẻ.
Năm 2002, TVP S.A (Công ty Truyền h́nh Ba Lan) phát 2 297 giờ các chương tŕnh văn hoá và giáo dục. Các số liệu thống kê theo thể loại đối với một trong các kênh của hăng này, kênh TVP 1 (chương tŕnh phủ sóng toàn quốc) so với tổng thời gian phát sóng
Bảng 2: Phát sóng chương tŕnh, thống kê theo thể loại, 2002
|
Chương tŕnh |
% trên tổng thời gian phát sóng |
|
Phim truyện |
38 |
|
Phim tài liệu |
6.9 |
|
Giải trí |
3.8 |
|
Nhạc cổ điển |
0.1 |
|
Pop |
2.7 |
|
Biểu diễn sân khấu |
0.7 |
Nguồn: TVP S.A.
Những người tham gia vào hội nghị Văn hoá Ba Lan, được tổ chức tháng 12/ 2002, đă đưa ra đề nghị thành lập "kênh văn hoá". Tuy nhiên, kể từ năm 2003 đến nay vấn đề này chưa có tiến triển.
Các công việc nhằm hài hoà với hệ thống hạn mức theo các quy định của Hội đồng châu Âu vẫn đang được thực hiện.
4.2.5 Kinh doanh văn hoá: Phát triển, các chương tŕnh và những quan hệ đối tác
|
|
Sự can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động của lĩnh vực kinh doanh văn hoá chỉ liên quan đến viêc quy định cách thức tiếp cận thị trường của những nhà sản xuất, hỗ trợ trực tiếp cho một số hoạt động, và ban hành khuyến khích về thuế, những khoản khấu trừ nhằm thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực kinh doanh văn hoá.
Ví dụ, trong lĩnh vực xuất bản, các công cụ chủ yếu được sử dụng để hỗ trợ thị trường sách là tỉ suất thuế VAT 0% đối với xuất bản và in ấn, bán trong nước các sách, báo và các tạp chí định kỳ có đánh số ISSN và ISBN, các ấn phẩm bằng chữ nổi Braille dành cho người khiếm thị. Tỉ suất thuế VAT 7% được áp dụng đối với các ấn phẩm không có các biểu tượng này, các loại sách báo, tạp chí, sản phẩm in ấn nhập khẩu từ nước ngoài. (xem thêm phần 7.3).
Năm 2003, Bộ Văn hoá phát động "Chương tŕnh đọc sách" kéo dài 3 năm, nhằm đấu tranh chống nạn kém hiểu biết đang gia tăng ở Ba Lan. Năm đầu tiên chương tŕnh này tập trung vào thói quen đọc sách tại các gia đ́nh, đặc biệt là đối với các lớp trẻ. Các chương tŕnh hành động được đưa ra nhằm thực hiện những mục tiêu này, ví dụ như, Đọc sách trên màn ảnh nhỏ với sự tham gia của các nghệ sĩ Ba Lan nổi tiếng, hoặc Ba Lan đọc sách cho trẻ em. Năm thứ hai, chương tŕnh này tập trung nâng cao điều kiện của các thư viện và nâng ví trị của chúng lên thành các tổ chức văn hoá. Năm thứ ba, và là năm cuối cùng thực hiện, chương tŕnh tập trung vào những công nghệ mới.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Mặc dù tỉ lệ thất nghiệp ở Ba Lan đang trong t́nh trạng báo động, 19.9% năm 2003 (16.21% năm 2001), các nhà hoạch định chính sách văn hoá chưa đưa ra được một chiến lược toàn diện nhằm giải quyết vấn đề việc làm ở Ba Lan.
Tuy nhiên cũng có một số chương tŕnh đào tạo của nhà nước dành cho những nhà quản lư văn hoá, lănh đạo của các cơ quan địa phương, cá nhân các nghệ sĩ, những giáo viên nghệ thuật không chuyên nhằm thúc đẩy giáo dục văn hoá và sự tham gia vào hoạt động văn hoá. Các chương tŕnh này được thực hiện với sự hợp tác giữa Trung tâm Văn hoá Quốc gia (Trước đây là Trung tâm phát triển Văn hoá) nhằm cung cấp cho những người tham gia chương tŕnh các kiến thức về khía cạnh pháp lư và tài chính của quản lư văn hoá, các kỹ năng đàm phán, tiếp thị văn hoá và nghệ thuật, v.v.. Năm 2003 các hoạt động nằm trong chương tŕnh "Ba Lan trong không gian văn hoá châu Âu" đă được phát động, trong đó có các khoá đào tạo với nguồn tài chính của các quỹ cơ cấu EU.
Năm 2002, mức lương tháng b́nh quân trong khối nhà nước là 2 149 PLN (Zloty - dolôty: đơn vị tiền tệ của Ba Lan, viết tắt là PLN. 1$=4 PLN). Trong ngành giáo dục mức lương tháng b́nh quân là 2 073 PLN, trong lĩnh vực y tế là 1716 PLN. Hiện tại không có thông tin hoặc số liệu thống kê gần đây về mức lương của các lao động trong các tổ chức văn hoá nhà nước. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét các số liệu của những người làm việc tại một số tổ chức. Ví dụ như, theo Báo cáo về Nhà hát Ba Lan (ZASP, Warsaw, 2003) mức lương b́nh quân của những người làm việc tại các nhà hát kịch năm 2001 là 2131 PLN.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá
Các thư viện nhanh chóng nhận ra rằng công nghệ mới có thể giúp họ cắt giảm chi phí, và công chúng sẽ đến tham quan nhiều hơn. Một hệ thống phân loại tiêu chuẩn (MARC 21) đă được ban hành năm 1993 nhằm hài hoà các catalogue khác nhau của các thư viện và thúc đẩy trao đổi dữ liệu giữa các thư viện.
|
|
Ở Ba Lan, Có khoảng 100 trong số 1200 thư viện hàn lâm và khoa học cung cấp các catalogue của ḿnh trên mạng Internet. Catalogue trung tâm được điều hành bởi thư viện Đại học Warsaw, hiện có trên 500000 tài liệu, trong đó có 50000 tài liệu bằng ngôn ngữ Kaba, tương hợp với các Đề mục chủ đề của Thư viện Quốc hội Mỹ.
Nhà nước thực hiện hỗ trợ bằng cách giảm thuế VAT xuống 7% đối với việc truy cập internet của các thư viện (mức thuế thông thường là 22%) và tiến hành các chương tŕnh giáo dục ở trường học.
Tháng 12/2003, Bộ Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Thông tin hợp tác với các bộ ngành khác, đă ban hành tài liệu Chiến lược Công nghệ Thông tin ở Ba Lan 2004 - 2006 -ePolska; tài liệu này dựa trên sáng kiến eEurope (châu Âu điện tử). Một số hoạt động sẽ được thực hiện trong khuôn khổ chiến lược này, trong đó có các hoạt động nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của công dân với công nghệ thông tin và truyền thông trong lĩnh vực văn hoá. Cụ thể là:
· Lưu số hoá và công bố các bộ sưu tập trên Thư viện điện tử Ba Lan;
· Lưu số hoá các tài sản văn hoá và chuyển thành cơ sở dữ liệu trên Internet;
· Cung cấp chương tŕnh truyền h́nh số ở Ba Lan (chuẩn bị sửa đổi Luật Phát thanh truyền h́nh).
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: Các chương tŕnh và mô h́nh
Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm về giáo dục nghệ thuật ở cấp một và cấp hai. Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm về giáo dục nghệ thuật ở mức độ hàn lâm, bao gồm 8 trường chuyên về nhạc, 7 trường mỹ thuật, 3 trường chuyên về kịch và phim. Bên cạnh các trường công, các trường tư cũng đang được thành lập. Viện hàn lâm nghệ thuật châu Âu là trường nghệ thuật của tư nhân đầu tiên được thành lập vào năm 1992.
Chương tŕnh hợp tác văn hoá liên bộ là cơ quan điều phối những chương tŕnh trong lĩnh vực này. Ví dụ như chương tŕnh giáo dục có tên The Path. Các mục tiêu của chương tŕnh này là giúp sinh viên học cách giao tiếp thông qua ngôn ngữ quốc tế của nghệ thuật, và vượt qua các rào cản về ngôn ngữ và quốc gia. Chương tŕnh The Paths tập trung vào các lĩnh vực nghệ thuật đương đại, nghệ thuật thị giác, biểu diễn sân khấu, video và văn học. Một số trường học và cơ quan có tham gia vào chương tŕnh này như: 4 trường học ở Poznan, Quỹ hội Jugendwerk, Trung tâm Quốc gia về Nghệ thuật cho Trẻ em và Thanh niên ở Poznan và Kulturamt ở Hanover.
4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách
Quá tŕnh
chuyển đổi kinh tế và chính trị bắt đầu từ năm 1990, và kết thúc vào ngày
1/2/1999. Ngày nay, chính quyền các địa phương là những đối tác của Cơ quan Quốc
gia về Bảo vệ các Công tŕnh trong các dự án về bảo vệ các tài sản và di sản văn
hoá.
ở cấp vùng, việc bảo vệ các di sản văn hoá được thể hiện ở ba trong số năm mục tiêu chính của chiến lược tổng thể của vùng.
· Giữ ǵn bản sắc Ba Lan, phát triển và h́nh thành nhận thức của người dân đối với các vấn đề văn hoá và dân tộc;
· Nâng cao giá trị môi trường tự nhiên và văn hoá, đặc biệt quan tâm đến các thế hệ trong tương lai;
Năm 2000, Bộ Văn hoá thành lập Viện Di sản Quốc gia. Viện này có chức năng quảng bá các di sản của Ba Lan ở trong nước cũng như trên thế giới. Tuy nhiên năm 2002, nó được chuyển thành Trung tâm Văn hoá Quốc gia, trong đó có cơ quan Trung tâm Hỗ trợ Văn hoá.
Các chiến lược phát triển các di sản dưới dạng kỹ thuật số được đưa vào Chương tŕnh E-Polska (Ba Lan điện tử) được điều phối bởi Uỷ ban Nhà nước về Nghiên cứu khoa học, và là một phần của kế hoạch tổng thể về xă hội thông tin.
Người ta ngày càng chú ư đến mối liên hệ giữa di sản văn hoá và du lịch. Xu hướng này có mối liên quan rơ ràng với việc Ba Lan gia nhập EU, hay nói cụ thể hơn là để Ba Lan có nhiều cơ hội nhận được nguồn tài chính của các quỹ cơ cấu
4.2.10. Các vấn đề khác và những tranh luận
Cuộc hội thảo diễn ra năm 2002 là một trong những nỗ lực đầu tiên nhằm tạo ra một sự tranh luận công khai, rộng răi về những thay đổi toàn diện trong lĩnh vực văn hoá. Vào ngày 6/4, hội nghị “Cơ hội cho văn hoá” đă được tổ chức tại Warsaw Castle, với sự tham gia của Thủ tướng, Chủ tịch Nghị viện (Sejm), các đại diện của Tổng thống, Bộ trưởng Văn hoá và các thành viên của cộng đồng nghệ thuật. Vấn đề chính được đưa ra thảo luận là chương tŕnh do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, ông Andrzej Celinski đề ra liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu tổ chức và việc hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực văn hoá.
|
|
Cơ sở lư thuyết cho chương tŕnh thay đổi này là một loạt các báo cáo liên quan đến hệ thống cơ cấu tổ chức và việc hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực văn hoá ở Ba Lan. Tác giả của các bản báo cáo này là Dorota Ilczuk (Đại học Jagiellonian) và Wojciech Misiag (Viện Kinh tế Thị trường Gdansk). Nội dung của chương tŕnh bao gồm: Các nguồn tài chính mới, vai tṛ và nhiệm vụ của nhà nước, tạo các điều kiện thúc đẩy khối tư nhân hỗ trợ tài chính cho văn hoá, và các đề xuất về pháp luật liên quan đến hoạt động văn hoá.
Ông Andrzej Celinski kết thúc nhiệm ḱ Bộ trưởng Văn hoá tháng 6/ 2002. Giải pháp tài chính quan trọng được nêu ra trong báo là đề nghị sử dụng các quỹ sổ xố dành cho các mục đích văn hoá. Theo Luật về hoạt động v́ lợi ích công cộng (ustawa o dzialalnosci pozytku publicznego) - nguyên tắc một phần trăm tiền thuế dành cho các mục đích văn hoá đă được thực hiện - mặc dù nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với các tổ chức phi chính phủ. Các công việc lập pháp liên quan đến hoạt động văn hoá đă bị tŕ hoăn.
Đối với những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá, năm 2003 là một năm có ư nghĩa quan trọng do việc Ba Lan gia nhập vào EU và ảnh hưởng của sự gia nhập này đối với phát triển văn hoá Ba Lan. Lúc đó, khối tư nhân đă đi đầu trong việc đáp ứng những ḱ vọng của cộng đồng văn hoá. Liên đoàn Giới chủ Tư nhân Ba Lan, và Nhóm làm việc kinh doanh và văn hoá đă tổ chức cuộc hội thảo “Liên minh châu Âu và văn hoá: Có phải đó chỉ là vấn đề tiền bạc?”, diễn ra vào ngày 14/5/2003, tại Lâu đài Warsaw. Mục tiêu của hội thảo này là t́m ra những biện pháp trợ giúp có thể trông đợi từ EU; lĩnh vực văn hoá phải điều chỉnh như thế nào cho phù hợp với EU. Các chuyên gia từ nhiều nước EU, các đại diện của văn pḥng Tổng thống, của Bộ Văn hoá, và đại diện của cộng đồng văn hoá đă tham gia. Sau đó, Bộ trưởng Bộ Văn hoá đă thành lập một chức vụ đảm trách về vấn đề các quỹ cơ cấu EU, và chỉ định một nhóm đặc trách về các quỹ cơ cấu (nhóm này thuộc Trung tâm Văn hoá Quốc gia).
|
|
Chương tŕnh Các vùng ở Ba Lan trong không gian Văn hoá châu Âu cũng có liên quan trực tiếp đến việc Ba Lan gia nhập EU. Chương tŕnh này do Trung tâm Văn hoá Quốc gia quản lư. Mục tiêu của chương tŕnh này là: xác định các vùng có tiềm năng về văn hoá nhưng chưa được đánh giá đúng mức; hỗ trợ các sáng kiến về văn hoá vốn sẽ không thực hiện được nếu chỉ có sự hỗ trợ của địa phương. Trong phạm vi chương tŕnh, có nhiều hội thảo, hội nghị được tổ chức; báo cáo của các chuyên gia, các ấn phẩm, v.v.. được đưa ra nhằm tư vấn về các nguồn tài chính khả thi cho hoạt động văn hoá. Năm 2004, Trung tâm Văn hoá Quốc gia đă tổ chức cuộc thi “Cam kết đồng tài trợ của Bộ trưởng Bộ văn hoá” nhằm thực hiện đồng tài trợ cho các dự án văn hoá nhận nguồn tài chính từ các quỹ cơ cấu EU.
Cũng trong năm 2003, Bộ trưởng Bộ Văn hoá đă thành lập mới các viện, ví dụ như Viện Nhà hát Zbigniew Kraszewski. Chức năng của viện này là ghi chép lại các hoạt động của đời sống sân khấu kịch, thu thập thông tin, cung cấp các thông cáo báo chí, và tạo điều kiện cho việc tiếp cận các tài liệu lưu trữ của các bộ sưu tập của tư nhân, v.v... Viện đă thành lập một cơ sở dữ liệu trên Internethttp://www.zasp.pl, trong đó ghi lại sự nghiệp nghệ thuật của những người làm việc tại các nhà hát, những người biểu diễn sân khấu ở Ba Lan. Năm 2004, Viện Sách cũng đă được thành lập, đây là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm trước Bộ Văn hoá. Chức năng của nó là hỗ trợ các loại sách, thúc đẩy văn hoá đọc, và quảng bá văn học Ba Lan ở nước ngoài. Viện Sách nhận nguồn tài chính chủ yếu từ ngân sách của Bộ Văn hoá, ngoài ra c̣n có các nguồn bổ sung của những nhà tài trợ và các chương tŕnh của EU.
5. Quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá
5.1 Quy định chung
5.1.1 Hiến pháp
Điều 6 Hiến pháp quy định:
· Nhà nước Ba Lan tạo các điều kiện để truyền bá văn hoá và tạo cơ hội tiếp cận b́nh đẳng về văn hoá. Văn hoá là nền tảng của bản sắc dân tộc Ba Lan, cơ sở cho sự tồn tại và phát triển.
· Nhà nước Ba Lan hỗ trợ người Ba Lan sống ở nước ngoài trong việc duy tŕ sự gắn bó của họ đối với các di sản văn hoá quốc gia.
Điều 73 đề cập trực tiếp đến lĩnh vực văn hoá, quy định mọi người có quyền tự do sáng tạo, tiến hành nghiên cứu khoa học và công bố kết quả nghiên cứu đó, tự do giáo dục và sử dụng các tài sản văn hoá
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
Về mặt hành chính, Ba Lan được chia ra thành các cấp: trung ương, vùng, tỉnh và thành phố. Chính quyền trung ương - Bộ Văn hoá - chịu trách nhiệm chính về mặt pháp luật và tài chính trong lĩnh vực văn hoá.
Có một số
luật bắt buộc các thành phố tự trị thực hiện nhiệm vụ công nhằm thoả măn
các yêu cầu của cộng đồng địa phương. Trong số đó là các trách nhiệm văn hoá, ví
dụ như thành lập các tổ chức văn hóa địa phương.
Trách nhiệm của các tỉnh và thành phố đối với các tổ chức văn hoá cấp vùng được quy định trong các Luật sau:
· Luật Chính quyền Địa phương ngày 8/3/1999;
· Luật sửa đổi một số quy định về thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, ngày 24/6/1998.
5.1.3 Phân bổ nguồn tài chính của nhà nước
Các luật sau đây tạo cơ sở pháp lư giúp Bộ trưởng Bộ Văn hoá thực hiện việc trợ cấp cho các tổ chức văn hoá (những cơ quan được Bộ Văn hoá thành lập) và hỗ trợ đối với các dự án ngoài khối nhà nước:
· Luật về Tổ chức và Tiến hành Hoạt động Văn hoá, ngày 25/10/1991.
· Luật Tài chính Công, ngày 26/ 11/1998.
Các luật sau đây tạo cơ sở pháp lư cho chính quyền địa phương thực hiện hỗ trợ đối với nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước (hỗ trợ tài chính được thực hiện dựa trên thoả thuận giữa Bộ trưởng Bộ Văn hoá và các cơ quan chính quyền địa phương):
· Luật sửa đổi một số quy định về thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, ngày 21/2/2000.
· Luật thành lập các cơ quan trong lĩnh vực văn hoá được nhà nước bảo trợ, ngày 9/5/2000.
Đấu thầu trong lĩnh vực văn hoá không chịu sự ràng buộc của những quy định chặt chẽ trong Luật đấu thầu Công khai.
Đấu thầu có thể được thực hiện thông qua bất cứ h́nh thức nào mà không cần sự đồng ư của Giám đốc cơ quan đấu thầu công khai. Điều 71 của Luật cho phép thực hiện đấu thầu tự do đối với các hoạt động nghệ thuật và sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hoá, và đối với các vấn đề mà nếu thực hiện đúng theo luật đấu thầu có thể gây ra sự không thống nhất trong các quy định thực hiện.
Tuy nhiên, các tổ chức văn hoá lại chịu ràng buộc theo Luật Đấu thầu công khai thông qua các quy định liên quan đến những vấn đề như:
· Nghĩa vụ thông báo mở thầu.
· Thông báo kết quả đấu thầu hoặc trong trường hợp tự do chọn thầu phải thông báo thoả thuận hợp đồng.
· Nghĩa vụ đối xử b́nh đẳng đối với các bên tham gia đấu thầu.
· Có quyền loại trừ khỏi việc đấu thầu.
· Hành xử như là một đại diện của bên đấu thầu.
· Quy định mức phí đấu thầu, v.v..
5.1.4 Bảo hiểm xă hội
Tại Bộ
Văn hoá, Uỷ ban Trợ cấp hưu trí cho nghệ sĩ được thành lập để xác định ngày bắt
đầu sự nghiệp sáng tạo/ nghệ thuật của các nghệ sĩ để thực hiện việc xét trợ cấp
hưu
trí. Các
quyết định được ban hành phù hợp với các luật sau:
· Luật An sinh Xă hội, ngày 15/10/1998.
· Luật lương hưu từ Quỹ An sinh Xă hội, ngày 17/10/1998.
Những người có liên quan phải gửi đến Uỷ ban một tờ đơn kèm theo những chứng từ cần thiết trong đó xác nhận thời gian và đặc điểm công việc của ḿnh.
Theo một Quyết định của Thủ tướng ngày 7/2/1983, một số nhóm nghệ sĩ có thể nghỉ hưu sớm. Ví dụ như:
· Vũ công, người biểu diễn nhào lộn: phụ nữ ở tuổi 40, nam giới ở tuổi 45;
· Ca sĩ: Phụ nữ ở tuổi 45, nam giới ở tuổi 50;
· Nghệ sĩ nhạc: Phụ nữ ở tuổi 55, nam giới ở tuổi 60.
Các khoản tiền trợ cấp khó khăn do Bộ Văn hoá chi được trích từ Quỹ Hỗ trợ phát triển và sáng tạo. Người nhận trợ cấp là những nghệ sĩ gặp khó khăn về tài chính.
5.1.5 Luật thuế
Theo Luật năm 2003 sửa đổi Luật Thuế Thu nhập 1993, có thể khấu trừ thuế lên đến 10% đối với các khoản tiền tài trợ “v́ mục đích cộng đồng” của những pháp nhân (các tổ chức, quỹ hội, v.v..). Đối với tư nhân, luật đưa ra mức khấu trừ cao nhất là 350 PLN sẽ được khấu trừ khỏi thuế thu nhập đối với các khoản tài trợ cho văn hoá.
Từ năm 1991, các tổ chức văn hoá nhà nước được phép nhận tiền tài trợ của khối tư nhân, có thể là pháp nhân hoặc cá nhân.
Đối với các tổ chức phi chính phủ (NGO) - bao gồm cả các quỹ hội và hiệp hội - miễn trừ thuế được thực hiện như sau: thuế hàng hoá và dịch vụ (1993); thuế tăng tiền thù lao trong phạm vi các hoạt động bắt buộc (1992); thuế tài sản tồn tại trong phạm vi các hoạt động bắt buộc (1991); Các quỹ hội được miễn nộp phí thành lập khi đăng kí hoạt động.
Theo Phụ lục 2, Luật Thuế hàng hoá và dịch vụ (1993) và Luật Phí, việc cung cấp dịch vụ liên quan đến sáng tạo, văn hoá và thể thao được miễn thuế, ngoại trừ các trường hợp sau:
· Các tổ chức văn hoá không được miễn thuế VAT. Các tổ chức này buộc phải đóng thuế VAT khi bán ra hàng hoá, dịch vụ và quảng cáo (tỉ suất thuế 22%).
· Các trường hợp không có VAT hoặc VAT được giảm xuống mức 7% đối với giá bán sách, tạp chí định ḱ và ấn phẩm nhạc ở Ba Lan phù hợp với các biểu tượng ISSN và ISBN, và ấn phẩm theo chữ nổi Braille;
· Thuế suất 22% áp dụng cho giá bán đĩa CD, các ấn phẩm nghe nh́n và DVD.
5.1.6 Luật lao động
Bộ luật Lao động được thông qua năm 1974 (sửa đổi năm 2003), tạo cơ sở pháp lư đối với vấn đề lao động. Tuy nhiên không có quy định cụ thể nào liên quan đến vấn đề văn hoá được đề cập trong Bộ luật Lao động.
5.1.7 Luật bản quyền
Luật Bản quyền và các Quyền liên quan được ban hành ngày 4/2/1994, được sửa đổi ngày 9/6/2000 cho phù hợp với quy định chung của EU.
Một số lĩnh vực được sửa đổi là:
· Huỷ bỏ các chương tŕnh tái sử dụng máy tính cũ.
· Đề ra quy định cấm tháo dỡ các thiết bị an ninh kỹ thuật đă được cài đặt trong các chương tŕnh máy tính.
· Ban hành nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ rơ quyền tác giả, nghệ sĩ biểu diễn và các nhà sản xuất.
· Tăng số lượng người được quyền nhận thù lao từ quyền cho thuê.
· Đưa ra định nghĩa một số tổ chức.
· Mở rộng thời hạn bảo hộ bản quyền đến 70 năm, và cách thức mới để tính thời hạn bảo hộ.
· Các mức độ bảo hộ mới đối với các bản ghi âm và biểu diễn nghệ thuật được thực hiện trước năm 1974.
· Bảo hộ đặc biệt đối với các tác phẩm chưa được xuất bản trong thời gian bảo hộ đă xác định, được gọi là xuất bản sau khi chết hoặc xuất bản phê b́nh và khoa học, và những tấc phẩm đă xuất bản.
Luật Bản quyền và các quyền liên quan tạo cơ sở pháp lư để đánh phí đối với băng trắng và các thiết bị sao chụp. Khoản tiền phải nộp của nhà sản xuất các băng trắng, máy ghi, video và các thiết bị tương tự khác lên đến 3% giá bán. Các khoản phí này được phân bổ như sau:
5.1.8 Luật ngôn ngữ
Luật ngôn ngữ Ba Lan (ngày 7/10/1999) đưa ra một số nghĩa vụ cụ thể về việc sử dụng tiếng Ba Lan trong các giao dịch pháp lư liên quan đến các cơ quan tổ chức của Ba Lan, hoặc một trong các bên của giao dịch có quốc tịch Ba Lan. Điều này gắn liền với tên gọi một số hàng hoá và dịch vụ, bao gồm cả quảng cáo bằng tiếng nước ngoài phải có bản dịch tiếng Ba Lan kèm theo và việc sử dụng tên nước ngoài được cho phép mà không cần phiên dịch sang tiếng Ba Lan. Tuy nhiên, luật này khá chung chung và không đề cập trực tiếp đến ngành kinh doanh phim và truyền h́nh hoặc các hoạt động văn hoá khác như là kịch sân khấu.
5.2 Luật văn hoá
Cơ sở pháp lư cho các tổ chức văn hoá là Luật tổ chức và thực hiện các hoạt động văn hoá, ngày 25/10/1991 (luật này đă được sửa đổi và bổ sung về sau).
Điều đáng lưu ư là ở Ba Lan đang chuẩn bị ban hành một luật mới điều chỉnh việc tổ chức và hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hoá. Luật đang có hiệu lực hiện nay đang bị chỉ trích mạnh mẽ. Nội dung chủ yếu của Luật hiện hành được kế thừa từ hệ thống kinh tế kế hoạch, trong đó các nguyên tắc ngân sách đă hạn chế hoạt động của các tổ chức văn hoá hiện nay. Hậu quả là các tổ chức văn hoá Ba Lan không ổn định về mặt tài chính do những nhà quản lư các tổ chức này bị hạn chế về thẩm quyền. Nghịch lư của luật hiện hành là nó không khuyến khích các tổ chức văn hoá t́m kiếm các nguồn tài chính bổ sung (nếu trong một năm các tổ chức nhận được nguồn thu từ khối tư nhân th́ năm tiếp theo nguồn tài chính của nhà nước cho tổ chức này sẽ bị cắt giảm).
5.3 Quy định pháp luật trong lĩnh vực cụ thể
5.3.1 Di sản văn hoá
Các luật sau đây có quy định điều chỉnh về vấn đề di sản văn hoá:

5.3.4 Văn học và thư viện
Luật thư viện được thông qua ngày 27/6/1997.
5.3.5 Phim, Video và nhiếp ảnh
Luật điện ảnh được thông qua năm 1987. Kể từ đó các công việc đă được thực hiện để phát triển nguyên tắc thị trường, những mô h́nh hỗ trợ tài chính mới và các quy chế để sửa đổi luật này. Tuy nhiên việc sửa đổi đang trong giai đoạn chờ đợi.
Trong những năm gần đây, người ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vai tṛ của khối tư nhân (đặc biệt là các ngân hàng lớn) trong việc đầu tư phát triển ngành phim ở Ba Lan. Hầu hết đều ủng hộ việc chuyển đổi từ cơ chế bị nhà nước kiểm soát sản xuất sang cơ chế hợp tác giữa khối nhà nước và tư nhân. Tuy nhiên luật không có quy định nào khuyến khích sự hợp tác đầu tư này.
Trước đây, Uỷ ban Điện ảnh phân phối ngân sách cho hoạt động sản xuất phim và trợ cấp cho các hăng phim. Năm 2000, có khoảng 20 phim truyện và 546 phim ngắn được sản xuất. Các đối tác sản xuất chính là hăng truyền h́nh nhà nước hoặc các công ty nước ngoài. Uỷ ban này đă bị giải thể năm 2003, và Viện phim sẽ được thành lập để thay thế vai tṛ này. Việc thành lập viện phim dựa trên đề nghị sửa đổi Luật Điện ảnh. Các công việc chuẩn bị cho sửa đổi luật đă được thực hiện trong ba năm qua.
Nguồn tài chính nhà nước đă hỗ trợ cho việc sản xuất các bộ phim truyện và phim thuộc các thể loại khác trong các giai đoạn sản xuất khác nhau, bao gồm viết kịch bản (thông qua cơ quan kịch bản), giai đoạn sản xuất (thông qua cơ quan sản xuất) và lưu trữ phim (việc lưu giữ các sự kiện văn hoá, chính trị và xă hội...)
5.3.6 Quy định đối với nghệ sĩ tự doanh
Không có khung pháp lư hoàn thiện cho các nghệ sĩ tự doanh ở Ba Lan.
Nhà nước thực hiện quy định miễn thuế 50% cho các nghệ sĩ (1991), điều này cho phép các nghệ sĩ sáng tạo khấu trừ 50% thu nhập của ḿnh, trong việc tính thuế đó được xem là một khoản chi
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
6.1 Tổng quan
Khối nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ tài chính cho văn hoá và nghệ thuật, bên cạnh đó c̣n có tư nhân. Tuy nhiên, mức độ hỗ trợ hiện nay của khối tư nhân không nên xem là nguồn hỗ trợ tài chính thay thế mà chỉ là bổ sung.
Sau năm 1989, lĩnh vực văn hoá (bao gồm cả các vấn đề tài chính) không c̣n được Chính phủ ưu đăi. Tỉ lệ chi tiêu của nhà nước chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi tiêu của nhà nước. Ví dụ, năm 2003 chi tiêu cho văn hoá chỉ chiếm 0.47% tổng chi tiêu của nhà nước (năm 2002 là 0.44%).
Thay đổi về hỗ trợ tài chính cho văn hoá ở Ba Lan diễn ra trong ba vấn đề lớn sau:
|
|
* Thứ nhất, Bộ Văn hoá không c̣n trực tiếp quản lư văn hoá. Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm đối với các tổ chức văn hoá quan trọng, và những sự kiện có tính chất địa phương.
* Thứ hai, có sự chuyển giao trách nhiệm hỗ trợ tài chính từ chính quyền trung ương xuống chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá, hoạt động văn hoá từ nguồn ngân sách của ḿnh và từ nguồn trợ cấp của nhà nước. Chính quyền địa phương cũng xác định mức độ chi tiêu cho văn hoá và quy định cơ cấu tổ chức quản lư của ḿnh. Năm 1996, lần đầu tiên chi tiêu cho văn hoá của các thành phố vượt quá chi tiêu ngân sách nhà nước cho văn hoá (=51% tổng chi tiêu của nhà nước). Năm 1999, các cải cách để mở rộng sự phi tập trung hoá trong lĩnh vực văn hoá trước đây được Bộ Văn hoá và các vùng thực hiện th́ bây giờ chuyển giao sang cho chính quyền địa phương (bao gồm các tỉnh và thành phố). Do đó, mức độ chi tiêu của chính quyền địa phương cho văn hoá đă chiếm đến 79.4% tổng chi tiêu cho văn hoá của khối nhà nước (năm 2002 là 81.1%; 2001 là 77.9%).
* Thứ ba, hai mục tiêu mới để hỗ trợ tài chính cho hoạt động văn hoá đă được đưa ra: (1) kết hợp các nguồn tài chính của nhà nước và tư nhân, (2) khuyến khích thành lập các tổ chức phi chính phủ. Một loạt các quỹ đă được thành lập, biện pháp khuyến khích thuế đối với các nhà tài trợ đă được ban hành theo đó chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ có thể hưởng lợi từ các quỹ và các biện pháp khuyến khích này khi thực hiện nhiệm vụ nhà nước. Năm 2001, Bộ Văn hoá đă chi cho các tổ chức phi chính phủ 36 triệu PLN (tương đương với 3,9% tổng chi tiêu của nhà nước cho văn hoá) để thực hiện các chương tŕnh thuộc nhiệm vụ nhà nước. Các biện pháp thuế do chính phủ Ba Lan ban hành cũng phù hợp với quy định của các nước thành viên EU.
Cuối năm 2002, người ta đề nghị thực hiện phân bổ các nguồn tài chính từ sổ xố cho văn hoá. Tiền đề cho quy định này là việc chuyển giao một phần thu nhập từ sổ xố cho lĩnh vực thể thao. Hiện nay lĩnh vực thể thao nhận được nguồn tài chính từ việc tăng 20% giá bán vé xổ số (quy định tăng giá vé số được thực hiện từ năm 1994). Do đó, người ta đă đề nghị chia sẻ thu nhập này giữa lĩnh vực thể thao và văn hoá. Đề nghị này đă bị những người làm việc trong ngành thể thao phản đối v́ như thế sẽ làm giảm nguồn thu nhập của họ. Do đó, giá vé số đă được đề nghị tăng lên 5%, tổng số tiền này sẽ được chia ra theo tỉ lệ giữa ngành thể thao và văn hoá là 80:20.
Theo Điều 47 Luật quản lư đánh bạc, các khoản tiền có được do tăng giá vé của các tṛ chơi sẽ được chuyển sang tài khoản đặc biệt do Bộ Văn hoá quản lư và sử dụng. Khoản tiền này sẽ được phân bổ để hỗ trợ, thúc đẩy thực hiện các hoạt động sau:
· Sáng tạo văn học và xuất bản báo định kỳ, các hoạt động văn hoá liên quan đến ngôn ngữ Ba Lan, phát triển thói quen đọc sách, hỗ trợ các ấn phẩm văn hoá có mức lưu hành thấp.
· Bảo vệ si sản văn hoá Ba Lan.
· Hoạt động của nghệ sĩ trẻ.
· Hoạt động nhằm mở rộng sự tiếp cận các tài sản văn hoá, hàng hoá văn hoá của người tàn tật.
|
|
Do sự tŕ hoăn, măi đến tháng 6/2002 các nguồn tài chính thu từ hoạt động đánh bạc mới được chuyển đến tài khoản đặc biệt của Bộ Văn hoá. Đến cuối năm 2003, đă có 58 107 250 PNL đă được chuyển vào tài khoản (số tiền này tương đương với 12 496 182.84 euro theo tỉ giá hối đoái b́nh quân 4.65 vào tháng 12/ 2003).
Theo Điều 48 Luật Ngân sách, Bộ Văn hoá phải đóng vào ngân sách nhà nước số tiền thuế 5 750 000 PLN. Do đó, nguồn tài chính trong tài khoản nói trên của Bộ Văn hoá bị giảm xuống.
Theo báo cáo của Chính phủ tháng 12/ 2003, các hoạt động sau đây được nhận nguồn hỗ trợ từ quỹ sổ xố:
· 160 500 PLN (tương đương với 34 516.12 euro) - được dành cho những nghệ sĩ, nghệ sĩ biểu diễn, những người làm phim hoạt h́nh.
· 25 777 905.71 (tương đương với 5 543 635.63 euro) - để hỗ trợ và xúc tiến các hoạt động sau:
· Lễ hội, trưng bày, triển lăm và các sự kiện văn hoá nghệ thuật khác.
· Các tạp chí định kỳ có mức lưu thông thấp, các ấn phẩm phi lợi nhuận.
· Nghiên cứu và lưu trữ các di sản văn hoá quốc gia, phục hồi và ǵn giữ các di tích lịch sử.
· Mua các hàng hoá văn hoá, mua lại các cổ vật.
· Quản lư thư viện cho những người mù.
· Năm 2003, những lĩnh vực sau không được hỗ trợ tài chính:
· Thực hiện đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển các sự kiện nghệ thuật.
· Phát triển văn hoá đọc.
· Bảo vệ di sản quốc gia.
· Hộ trợ các nghệ sĩ trẻ và nghệ thuật hiện đại.
· Trả lăi các khoản vay và lăi suất cho các tổ chức nhà nước v́ đă thực hiện các hoạt động đầu tư nói trên.
Chi tiêu hàng năm để mua các hàng hoá văn hoá và dịch vụ văn hoá tính theo b́nh quân đầu người của các hộ gia đ́nh là 246.24 PLN (năm 2003). So với năm trước đó giá trị danh nghĩa trong chi tiêu tăng 5,1%.
6.2 Chi tiêu cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người
Năm 2003, tổng chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người là 86.18 PLN (năm 2002 là 83.43). Con số này tương ứng với 17.94 euro, và chiếm 0.47% GDP năm 2003.
Như vậy, không có thay đổi tích cực đáng kể nào về tổng nguồn tài chính cho văn hoá. Năm 2003 có sự tăng lên hoàn toàn là do nguồn tài chính bổ sung từ sổ xố (xem phần 6.1). Biến động nhẹ trong chi tiêu b́nh quân trên đầu người theo đồng euro là hệ quả của sự biến động tỉ giá hối đoái giữa đồng euro và đồng zloty của Ba Lan (PLN).
7. các thiết chế văn hoá và các đối tác mới
7.1 phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước.
Trách nhiệm của nhà nước đối với các thiết chế văn hoá đă thay đổi là do việc cải tổ lại hệ thống chính trị Quốc gia năm 1991 và năm 1999, và là kết quả của chế độ hành chính đối với các thiết chế văn hoá (được đề cập ở phần 3.1). Nhưng nhà nước vẫn dựa vào khối các thiết chế văn hoá Quốc gia và khối chính quyền địa phương (cấp tỉnh và cấp thành phố) thuộc các thiết chế văn hoá địa phương. Các thiết chế văn hoá Quốc gia được cho là có tầm quan trọng trong quá tŕnh phát triễn văn hoá Ba Lan là:
· Rạp hát Quốc gia Warsaw
· Rạp hát Quốc gia cũ Helena Modrzejewska, Cracow
· Rạp hát lớn/ ôpêra Quốc gia Warsaw
· Pḥng trưng bày nghệ thuật Zacheta nhà nước, Warsaw
· Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Warsaw
· Trung tâm Nghệ thuật Điêu khắc Ba Lan, Orosko
· Trung tâm Văn hoá Quốc tế, Warsaw
·
Viện Adam
Mickiewicz, Warsaw
· Rạp hát các tác phẩm sáng tạo, Wigry
· Rạp hát các tác phẩm sáng tạo, Radziejowice
· Viện di sản Quốc gia, Warsaw
· Thư viện Quốc gia, Warsaw
· Văn thư lưu trữ Quốc gia, Warsaw
· Bảo tàng Quốc gia Cracow
· Bảo tàng Quốc gia Pozna
· Bảo tàng Quốc gia Warsaw
· Lâu đài Wawel của Hoàng Gia, Cracow
· Bảo tàng Owicim-Brzezinka Quốc gia, Owicim
· Bảo tàng Majdanek Quốc gia, Lublin
· Bảo tàng Stutthof, Sztutowo
· Bảo tàng ngành hàng hải, Gdask
· Lâu đài Hoàng gia – công tŕnh kỷ niệm văn hoá lịch sử Quốc gia, Warsaw
· Bảo tàng lâu đài ở Malbork
· Bảo tàng mỏ muối ở Wieliczka
· Bảo tàng nghề cá và săn bắn, Warsaw
· Bảo tàng Hoàng gia azienki, Warsaw
· Bảo tàng cung điện Wilanow, Warsaw
· Trung tâm tài liệu về các đài tượng niệm, Warsaw
· Trung tâm bảo vệ Bộ sưu tập Quốc gia, Warsaw
· Trung tâm bảo vệ khu vực lịch sử, Warsaw
· Trung tâm nghiên cứu bảo vệ khảo cổ học, Warsaw
· Cơ quan bảo vệ các công tŕnh kỷ niệm, Warsaw
· Trung tâm xúc tiến văn hoá
· Viện rạp hát.
7.2 Quy chế và quá tŕnh phát triễn các thiết chế văn hoá.

Các thiết chế văn hoá đang cố gắng đáp ứng các nhu cầu mới của nền kinh tế thị trường bằng cách thuê các chuyên gia quản lư văn hoá, thiết lập các ban hối thúc và quảng cáo, giới thiệu tới công chúng và phát triển các hoạt động để thu hút các nhà tài trợ và bảo trợ. Các giám đốc văn hoá đă phân bổ lĩnh vực nào bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế hơn là các mục đích nghệ thuật để phân chia nguồn thu nhập. Bên cạnh đó c̣n giới thiệu các tiêt mục nghệ thuật phổ biến, cho thuê địa điểm biểu diễn các hoạt động nghệ thuật v.v. Mặc dầu đă nổ lực hết ḿnh, nhưng các thiết chế văn hoá vẫn không có đủ nguồn tài chính để trả tiền thù lao cho các nghệ sĩ có tài.
7.3 Các đối tác mới
Trong suốt một vài năm qua, có nhiều vốn đầu tư của khối tư nhân vào các lĩnh vực sản xuất với quy mô lớn, đặc biệt là lĩnh vực điện ảnh: ví dụ như phim Ogniem i mieczem, Pan Tadeusz và Quo Vadis. Mô h́nh hộ trợ này là kết quả của việc tăng cường hợp tác giữa các thiết chế văn hoá và các nhà tài trợ.
Các thiết chế văn hoá quốc gia trong thời kỳ quá độ cho thấy vị trí của nhà tài trợ cho lĩnh vực văn hoá Ba Lan được hưởng theo mô h́nh sau:
Tỷ lệ thu nhập của tư nhân theo các lĩnh vực: bảo tàng 15%, âm nhạc 18%, sân khấu 28%, pḥng trưng bày 29%. Năm 1999, tỷ lệ thu nhập của tư nhân trong lĩnh vực bảo tàng Quốc gia trung b́nh 15%. Bảo tàng Quốc gia ở Warsaw chiếm 46% tổng thu nhập của bảo tàng, trong đó 50% của nhà tài trợ, 30% của các tổ chức xă hội, 20% của các tổ chức thương mại khác. Hội bảo tàng thương mại được xem là trung tâm liên kết các công ty nhằm khuyên góp tiền phục vụ các hoạt động của bảo tàng.
Giải thưởng Patron (huy chương Parton có giá trị uy thế nhất trong hoạt động thúc đẩy văn hoá vùng) là giải thưởng văn hoá đựơc Bộ trưởng văn hoá trao cho công ty khối tư nhân. Giải thưởng này dựa trên nguồn đầu tư cuả công ty vào lĩnh vực văn hoá.
8. Hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động sáng tạo và tham gia hoạt động sáng tạo.
8.1 Hộ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ
Toàn bộ hệ thống hỗ trợ của nhà nước cho các thiết chế và sự kiện văn hoá cùng với nhiều hoạt động thúc đẩy hỗ trợ khối tư nhân có một vai tṛ quan trọng trong việc hỗ trợ trực tiếp tới các hoạt động sáng tạo. Mặc dầu có nhiều giải thưởng của các chính quyền nhà nước dành cho các nghệ sĩ sáng tạo, nhưng phần thưởng cũng có nhiều hạn chế. Do thiếu phương pháp cung ứng nguồn hỗ trợ tài chính cho các nghệ sĩ mới. Bên cạnh đó c̣n thiếu phương pháp thiết lập các chương tŕnh hỗ trợ việc đi lại và nhà ở cho nghệ sĩ trong quá tŕnh thúc đẩy các hoạt động sáng tạo mang tính toàn cầu. Năm 2003, có rất nhiều dự án đẩy mạnh lĩnh vực nghệ thuật được thành lập, một phần chi phí cho hoạt động này là nguồn hỗ trợ của các hoạt động mạo hiểm (như xổ số)
8.1.2 Quỹ hỗ trợ đặc biệt cho các nghệ sĩ
Quỹ hỗ trợ cho các nghệ sĩ đặc biệt được trao một năm một lần, chủ yếu cho những nghệ sĩ sáng tạo trẻ. Quỹ này là tiền bán được từ các tác phẩm đă hết hạn bản quyền.
8.1.2 Trợ cấp, giải thưởng và học bổng.
Học
bổng:
* Bộ trưởng văn hoá có thể trợ cấp học bổng cho các nghệ sĩ và nghệ sĩ biểu diễn một đợt 18 tháng. Khoản trợ cấp này được trợ cấp chia làm hai lần.
* Bộ trưởng Văn hoá có thể cấp học bổng cho các nghệ sĩ trẻ đến 35 tuổi. Tiền trợ cấp này là từ phí xổ số.
* Trợ cấp học bổng quỹ phát triễn tài năng sáng tạo- nguồn này được Bộ trưởng Văn hoá cấp cho các nghệ sĩ một năm một lần.
* Trợ cấp học bổng cho các trường cấp hai- cho những học sinh có tài năng về âm nhạc, cho những hoạt động sáng tạo của trường thông qua các cuộc thi trong nước. Hiệu trưởng của các trường là ban giám khảo cho những cuộc thi như thế này.
* Trợ cấp cho các học sinh viện nghệ thuật- cho các học sinh có thành tích ở trường. Hiệu trưởng của trường là ban giám khảo.
Giải thưởng:
- Các giải thưởng hàng năm của Bộ trưởng Văn hoá được trao cho mặt hàng hoá văn hoá mang tính bảo tồn và tuyên truyền.
- Giải Patron - giải thưởng này được trao cho nhà bảo trợ hỗ trợ các hoạt động thúc đẩy văn hoá ở cấp độ khu vực và địa phương. Giải thưởng này là tước hiệu có uy thế nhất trong lĩnh vực này.
- Giải thưởng đặc biệt- được trao cho các sự kiện văn hoá đặc biệt.
8.1.3 Hỗ trợ cho các hiệp hội và nghệ sĩ chuyên nghiệp.
Bộ Văn hoá hộ trợ cho các hiệp hội và các nghệ sĩ chuyên nghiệp. Sau đây là các nguồn trợ cấp lớn nhất mà các hiệp hội và nghệ sĩ chuyên nghiệp nhận được trong năm 2003:
- 1 481 000 PLN (4 PLN =1$) dành cho Thư viện của Hội người mù
- 300 000 PLN dành cho hiệp hội biblioteka Ksiki Mówionej i Brailowskiej
- 180 000 PLN dành cho những ai đạt giải cuộc thi đàn luưt và đàn viôlông tại cuộc thi Henryk Wieniawski quốc tế.
- 1130 000 PLN cho đại hội liên hoan âm nhạc hiện đại về chủ đề mùa thu ở Warsaw mang tầm quốc tế.
- 30 000 PLN cho hiệp hội nhà thơ viết về chủ đề mùa thu
8.2 Xu hướng tham gia và các số liệu
Trong suốt giai đoạn năm thứ nhất của quá tŕnh chuyển đổi (năm 1994) số lượng tham gia vào lĩnh vực văn hoá giảm mạnh. Sau đó số lượng tham gia vào văn hoá bắt đầu tăng trở lại, nhưng vẫn chưa đạt tới con số như trước đây.
Tỷ lệ
tham gia vào lĩnh vực văn hoá ở thời kỳ đổi mới vẫn đang c̣n giảm, v́ đ̣i hỏi
các kỹ năng trí tuệ và nhạy cảm thẩm mỹ
cao hơn. Cùng thời điểm này, giáo dục văn hoá và các chương tŕnh giáo dục thẩm
mỹ tại các trường trong nước cũng rất giảm mạnh. Theo thống kê chi tiêu văn hoá
của các hộ gia đ́nh vào thập niên 90, khoảng 80% dân cư giảm chi tiêu vào lĩnh
vực văn hoá. Điều này cho thấy lối sống của nhiều người dân Ba Lan chỉ sinh hoạt
tại nhà: xem ti vi và nghe băng video đă làm giảm sự tham gia các hoạt động văn
hoá khác.
Năm 2003, tỷ lệ chi tiêu vào văn hoá trong tổng chi tiêu của các hộ gia đ́nh là 3,2% (năm 2002 là 3,1%). Hầu hết khoản chi tiêu này chi vào các lĩnh vực sau:
- Báo và tạp chí định kỳ- chiếm 17,3% ngân sách của hộ gia đ́nh (năm 2002 là 18,96%)
- Phí cấp giấy phép phát thanh truyền h́nh - chiếm 17,3% và phí cấp phép truyền h́nh cáp là 15,6%
- Sách là 5,47%
- Rạp hát và rạp bóng 3,95%
ở các thành phố lớn, chi tiêu trung b́nh và văn hoá tính theo đầu người là cao hơn ba lần so với vùng nông thôn ( 515.16 PLN – 146.88 PLN)
8.3 Các chương tŕnh hoặc sáng kiến chính sách để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá
Luật mới trong các quy định về bảo tàng là không phải mua vé vào bảo tàng một tuần một ngày và giảm số lượng vé bán ra mà các giám đốc bảo tàng đă quy định. Gần đây các bảo tàng đă tiến hành thực hiện các chương tŕnh giáo dục văn hoá cho trẻ em và giới trẻ.
Các trung tâm văn hoá cũng đóng một vai tṛ đặc biệt trong quá tŕnh thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá. Thứ nhất họ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghệ thuật không chuyên và giúp tổ chức các sự kiện văn hoá khác. Sự hợp tác song phương giữa nhà trường và các trung tâm văn hoá cũng là một phần của chương tŕnh giáo dục văn hoá.
(Nguồn: www.culturalpolicies.net)