CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ BULGARIA

 

 

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính

3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận

5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá

6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác

8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá

 

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

 

Vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, môi trường văn hoá được cấu thành bởi những giá trị và mục tiêu hướng đến sự tự khẳng định, sự hài hoà với văn hoá châu Âu, cởi mở đối với những ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai, khai sáng, và ở mức độ nào đó là thi đua. Các tổ chức văn hoá được xem là phương tiện để thúc đẩy sự tự tin của quốc gia và xác nhận các giá trị của văn hoá châu Âu.

Mục tiêu này thay đổi khi chế độ cộng sản lên nắm quyền vào năm 1948. Trong 45 năm dưới chế độ cộng sản, chính sách văn hoá mang những đặc điểm sau:

·         Tập trung hoàn toàn các quá tŕnh văn hoá dưới sự quản lí của nhà nước;

·         Độc quyền về hệ tư tưởng đối với sự phát triển các giá trị văn hoá;

·         Sự phát triển rộng răi của các tổ chức chuyên chế về văn hoá;

Nghệ thuật được xem là một phương tiện để giáo dục và khai sáng hơn là giải trí, và do đó trách nhiệm đối với nghệ thuật và văn hoá được tuyên bố là lĩnh vực thuộc độc quyền của nhà nước. Các tổ chức chuyên chế về văn hoá được thành lập bao trùm trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá. Hệ thống xă hội phải ủng hộ và thực thi chế độ bảo hộ văn hoá và chính trị của hệ tư tưởng cộng sản.

 

Thay đổi về chế độ đánh dấu sự kết thúc của mọi h́nh thức hoặc sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân trong việc truyền bá các giá trị văn hoá và tác phẩm nghệ thuật. Ví dụ, Luật Kinh doanh điện ảnh, được thông qua đầu năm 1948, đă loại bỏ các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực làm phim; nhập khẩu và phân phối phim trở thành lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước. Quốc hữu hoá các nhà in tư nhân bắt đầu từ năm 1947, và hầu hết các nhà in tư nhân đă bị đóng cửa vào tháng 5/ 1948. Luật in ấn được ban hành năm 1940 đă tạo ra những thay đổi tương tự như đối với lĩnh vực phim. Việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về văn hoá, khoa học và nghệ thuật vào năm 1948 để thay thế cho Pḥng Văn hoá Quốc gia là bước đi cuối cùng của việc thiết lập một hệ thống tập trung các cơ quan quản lí văn hoá. Hệ thống này áp đặt sự kiểm soát lên toàn bộ mọi mặt của đời sống văn hoá và trên thực tế đă biến văn hoá trở thành một công cụ để đạt được những mục tiêu phi văn hoá - ví dụ như chính trị, tư tưởng, xă hội và tuyên truyền.

Các liên hiệp (tvorcheski suyuzi) trở thành một công cụ tuyên truyền của chế độ độc quyền nhà nước về văn hoá và kiểm soát toàn bộ quá tŕnh sáng tạo và truyền bá các tác phẩm nghệ thuật, hoàn toàn xoá bỏ sự thể hiện của cá nhân. Các nghệ sĩ, vốn có mối liên quan chặt chẽ với nhà nước thậm chí ngay cả trước khi thiết lập chê độ toàn trị, th́ trở nên phụ thuộc hoàn toàn vào Đảng cộng sản-Nhà nước và  trên thực tế đă biến thành các viên chức.

Đầu những năm 1950, hệ thống các tổ chức văn hoá đă được thành lập và hoạt động ổn định. Mỗi yếu tố của hệ thống này phụ thuộc một cách có thứ bậc và là đối tượng chịu kiểm soát của Đảng Cộng sản và Nhà nước. Các chính sách văn hoá lúc đó theo đuổi các tư tưởng chính thống, và bất cứ h́nh thức chống đối nào đều bị trừng trị.

Măi đến sau năm 1956, lời kêu gọi cải tổ của Khrushchev đă mang lại một sự nới lỏng về môi trường tư tưởng. Chính sách đó được Đảng Cộng sản Bulgari gọi là “Chính sách tháng Tư”, nhưng rồi nhanh chóng bị lăng quên sau “Mùa xuân Prague” tháng 8/1968. Giai đoạn tŕ trệ sau đó được ca tụng như là giai đoạn “nở hoa của nghệ thuật xă hội chủ nghĩa”.

Vào đầu những năm 1970 đă diễn ra phong trào gọi là “nguyên tắc nhà nước kết hợp cùng nhân dân” trong quản lí văn hoá, theo đó việc quản lí văn hoá phải có sự tham gia của mọi cơ quan và mở rộng triệt để cho sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, trong các quá tŕnh ban hành quyết định. Văn pḥng và Ban chủ tịch của Uỷ ban Văn hoá là những cơ quan được thành lập do bầu cử, nhưng những người đứng đầu cơ quan này và thành viên của nó phải có sự thông qua của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Sự tham gia của công chúng trong các cuộc tranh luận về văn hoá nhanh chóng trở thành một nghi thức nhằm tạo ra tính hợp pháp cho những quyết định đă được ban hành. Việc đề cao phong trào này như là một thành tựu về dân chủ của chính sách văn hoá Bulgari đă chứng minh cho chiến lược tuyên truyền mị dân: mặc dù tuyên bố rằng có sự tham gia của mọi cơ quan khác vào lĩnh vực văn hoá, việc quyết định thực sự chỉ diễn ra trong Đảng cộng sản.

Tuy nhiên, các nghệ sĩ Bulgari nh́n chung đă dành được sự độc lập sáng tạo nhất định vào cuối thời ḱ toàn trị. Sự kiểm soát của nhà nước đối với các liên hiệp hoạt động sáng tạo đă được nới lỏng và chúng trở thành nơi trú ẩn an toàn cho các thành viên. Thay v́ đàn áp dă man những lời chỉ trích, các liên hiệp này bắt đầu dành những ưu tiên và bảo đảm về tài chính cho một số cá nhân nhất định. Dưới ảnh hưởng của cải tổ kinh tế Liên Xô vào giữa những năm 1980, một số liên hiệp đă chuyển thành những tổ chức đối lập bao gồm những trí thức, và đại hội năm 1989 của họ đă trở thành một diễn đàn chống lại hệ thống cộng sản.

Chính sách văn hoá của Bulgari  sau năm 1989.

Văn hoá là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế và tâm lư trong giai đoạn chuyển đổi. Vào lúc này, quá tŕnh cải tổ trong xă hội đă có một tác động đặc biệt tích cực đối với văn hoá.

Trong giai đoạn chuyển đổi, sự phát triển văn hoá ở Bulgari là việc t́m kiếm cách thức tốt nhất để phát triển, tiến lên phía trước. Các quan niệm thường xuyên bị thay đổi. Một số hoạt động của các cấp chính quyền cũng từ đó mà thay đổi theo. Có rất ít sự phối hợp giữa các cấp quản lí. Trách nhiệm chính về hỗ trợ tài chính cho văn hoá được phi tập trung, sau đó lại tái tập trung. Các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân ít quan tâm đến hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá.

Trong những năm gần đây, mọi việc đă bắt đầu được giải quyết. Các quy định mới đă xác định rơ ràng trách nhiệm của các cấp chính quyền. Có những bước tiến bộ đáng kể của xă hội công dân. Khối thứ ba (các tổ chức phi chính phủ) được củng cố và khối kinh doanh bắt đầu cho thấy những dấu hiệu tham gia vào quan hệ đối tác.

Mô h́nh chính sách văn hoá của Bulgari vẫn đang h́nh thành, tuy nhiên có thể chỉ ra những yếu tố quan trọng nhất:

·         Sự độc lập về tư tưởng của các nghệ sĩ và các tổ chức văn hoá, sự kiểm duyệt đă được băi bỏ;

·         Các tổ chức văn hoá trở thành trung gian giữa các nghệ sĩ và công chúng;

·         Các thành phố ngày càng độc lập trong việc theo đuổi các chính sách văn hoá của riêng ḿnh;

·         Những nhân tố mới đă xuất hiện: các quỹ hội, tổ chức văn hoá tư nhân, hội nghề nghiệp, v.v..;

·         Các cộng đồng thiểu số bây giờ có thể tham gia vào hoạt động văn hoá chung mà không sợ bị mất đi bản sắc.

 

 

Trở về

  2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính

  2.1 Mô tả tổng quá chung về hệ thống

Ở cấp quốc gia, trách nhiệm ban hành và thực hiện chính sách văn hoá được chia sẻ giữa Cơ quan Lập pháp (Quốc hội), và Cơ quan Hành pháp (Hội đồng Chính phủ). Ở cấp địa phương, chính sách văn hoá được thực hiện bởi các cơ quan của chính quyền tự trị tại địa phương.

Cơ quan hành pháp trung ương có thẩm quyền đề xuất việc ban hành pháp luật trong lĩnh vực văn hoá và quy định những nguyên tắc chủ đạo của chính sách văn hoá quốc gia là Bộ Văn hoá.

Đứng đầu Bộ Văn hoá là Bộ trưởng, các Thứ trưởng và Tổng thư kí. Các cơ quan thuộc Bộ trưởng bao gồm Tiếp tân, Pḥng Quan hệ đối ngoại và Thanh tra. Bộ trưởng có sự cố vấn của một Collegium và một số hội đồng chuyên gia đại diện cho các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.

Bộ bao gồm các 8 Ban (Vụ), 6 Ban chịu trách nhiệm trước hai Thứ trưởng là Văn pḥng Luật; Bản quyền và các quyền liên quan; Chính sách văn hoá quốc tế; Chính sách văn hoá vùng; Chính sách văn hoá và thông tin, phát triển, phân tích và dự báo; và Chính sách đầu tư, quản lí tài sản Nhà nước và bảo vệ các công tŕnh văn hoá.

Tổng Thư kí có trách nhiệm đối với 2 ban c̣n lại: Dịch vụ hành chính, Pháp lí và thông tin; Quản lí nguồn lực tài chính.

Bộ Văn hoá áp dụng các chính sách cụ thể cho mỗi lĩnh vực thông qua các Trung tâm quốc gia, đây là những cơ quan có quy chế pháp lí và ngân sách độc lập: Ban Điều hành “Trung tâm phim Quốc gia”, Trung tâm Quốc gia múa và âm nhạc, Trung tâm Quốc gia về bảo tàng, pḥng trưng bày và nghệ thuật thị giác, Trung tâm Quốc gia về sách và Trung tâm Quốc gia về kịch. Viện Quốc gia về các công tŕnh văn hoá là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ các thắng cảnh văn hoá.

Hoạt động của các cơ quan, trung tâm quốc gia và viện nói trên được định hướng bởi một chương tŕnh do bộ thông qua, được giám sát bởi một thứ trưởng và thực thi bởi các giám đốc của các cơ quan này.

Các cấp quản lí thấp hơn (địa phương) là những đơn vị hành chính: quận (oblast) và thành phố (obshtina). Đơn vị hành chính lănh thổ chủ yếu là thành phố (có 262 thành phố), có quyền độc lập về mặt pháp lí, và có các quyền về tài sản và tự do về thành lập hội. ở cấp thành phố, thẩm quyền về văn hoá được thực hiện theo h́nh thức địa phương tự trị, bao gổm kiểm soát về tài chính, thẩm quyền này được giao cho các Hội đồng Văn hoá của các thành phố. Thẩm quyền văn hoá của cấp quận (okoliya) chưa được quy định rơ ràng.

  2.2 Hợp tác giữa các ngành và các cấp chính quyền

Bên cạnh việc phân chia quản lí văn hoá, tồn tại các uỷ ban điều phối các hoạt động của chính quyền trung ương. Văn hoá chỉ là một phần trong thẩm quyền chung của các uỷ ban này. Các uỷ ban này c̣n được thành lập để quản lí các lĩnh vực khác như giáo dục, chính sách ngoại giao, thanh niên, du lịch, sinh thái. Có các Uỷ ban thường trực và Uỷ ban lâm thời có chức năng tư vấn và đề xuất ban hành luật. Hội đồng tư vấn về các vấn đề văn hoá chịu trách nhiệm trước Tổng Thống.

  2.3 Hợp tác văn hoá quốc tế

Trong những năm gần đây, chính sách văn hoá quốc tế của cộng hoà Bulgari đă mang tính cởi mở, đối thoại, và ưu tiên cho việc gia nhập các cơ cấu và tổ chức văn hoá quốc tế. Bulgaria đón nhận văn hoá châu Âu và thế giới, và khuyến khích việc quảng bá các giá trị văn hoá đỉnh cao của quốc gia ra nước ngoài theo nhiều cách thức khác nhau.

  Hợp tác văn hoá đa phương

 

Bulgaria đă tham gia vào Liên minh Kaleidoscope (Vạn hoa), các chương tŕnh văn hoá Ariane và Raphael. Năm 1998, 7 dự án (trong số 19 dự án ) có sự tham gia của Bulgari trong chương tŕnh Kaleidoscope đă được chấp thuận, 3 dự án (trong số 12 dự án) tham gia vào chương tŕnh Ariane đă được thông qua, và một (trong số 3) dự án có sự tham gia của Bulgari vào chương tŕnh Raphael cũng được thông qua.

Bulgari gia nhập Chương tŕnh văn hoá 2000 của EU (2000-2004) năm 2001. Ban Hội nhập thuộc Vụ Chính sách văn hoá quốc tế có trách nhiệm tuyên truyền thông tin về chương tŕnh này cũng như tư vấn cho các dự án muốn xin hỗ trợ từ chương tŕnh và điều phối các hoạt động liên quan. Trung tâm Văn hoá châu Âu-Bulgari cũng thực hiện hỗ trợ đối với những bên thực hiện dự án muốn xin nhận hỗ trợ từ chương tŕnh Văn hoá 2000.

Trong giai đoạn 2001-2004, 37 dự án có sự tham gia của Bulgari đă được chương tŕnh Văn hoá 2000 phê chuẩn; trong số đó có 10 dự án do phía Bulgari chỉ đạo, 20 dự án do Bulgari làm đồng tổ chức, 7 dự án Bulgari tham gia với tư cách là đối tác liên kết.

Bulgari gia nhập Chương tŕnh MEDIA II năm 2000, và đă được chương tŕnh này hỗ trợ cho 2 dự án. Năm 2002, Bulgari tham gia chương tŕnh MEDIA Plus, và năm 2004 Văn pḥng MEDIA quốc gia đă được thành lập. Trong giai đoạn 2002-2004, 28 dự án có sự tham gia của Bulgari tham gia đă được phê chuẩn.

Năm 2000, Bulgari trở thành quốc gia Nam Âu thứ hai ban hành Chính sách về chương tŕnh văn hoá của Quỹ Văn hoá châu Âu và Hiệp hội ECUMEST. Một cuộc tranh luận rộng răi về sự phi tập trung đă được phát động và một số dự án với sự tham gia của các chính quyền địa phương và tổ chức phi chính phủ đă được thực hiện trong khuôn khổ chương tŕnh này.

Hợp tác văn hoá quốc tế diễn ra dưới nhiều h́nh thức khác nhau. Trong nhiều trường hợp, những sự kiện văn hoá quy mô lớn – như tháng châu Âu năm 1999 - đă được phát động với sự tham gia của các khối nhà nước, tư nhân, tổ chức phi chính phủ.

Tháng 6/ 2003, Bulgari là một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Âu tham gia vào Chương tŕnh Di sản văn hoá và Dân tộc vùng Đông Nam Âu (RPSEE) của Hội đồng châu Âu và Uỷ ban châu Âu (với sự hỗ trợ của chương tŕnh Văn hoá 2000).

Văn hoá Bulgari được giới thiệu ở Brussel và các thành phố khác ở Bỉ trong bốn tháng của lễ hội Europalia – Bulgaria 2002.

  Hợp tác văn hoá song phương

Bulgari có 8 viện văn hoá ở nước ngoài, được thành lập theo các hiệp định song phương. Các viện này được đặt tại các thành phố: Berlin, Bratislava, Budapest, Prague (Pra-ha), Moscow, Warsaw (Vác-Sa-Va), Vienna (Viên) và Paris.

Viện Văn hoá nghệ thuật “Boris Christoff” của Bulgari là cơ quan thường trú trợ giúp các khoá học cao cấp cho các tài năng trẻ opera của Bulgari ở Rome.

 

Trở về

  3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

  3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

Trong quá tŕnh Bulgari chuyển đổi sang mô h́nh dân chủ và kinh tế thị trường, một loạt các cải cách văn hoá đă được thực hiện trong mười năm qua và nhằm vào các mục tiêu sau:

Phi tập trung, vốn được xem là ưu tiên hàng đầu của quá tŕnh chuyển đổi, vẫn là một vấn đề gây tranh luận cả trong phạm vi văn hoá và trong các lĩnh vực nói chung. Hiện nay, có 3 nguyên nhân dẫn đến sự tranh luận này:

§            Chính quyền trung ương và cơ quan lập pháp, một mặt thực hiện phi tập trung việc hỗ trợ tài chính và viện quản lí các tổ chức văn hoá, mặt khác lại duy tŕ sự kiểm soát một phần đối với các tổ chức văn hoá;

§            Chính quyền địa phương muốn có sự độc lập hơn, nhưng cũng muốn đẩy các trách nhiệm và việc hỗ trợ tài chính cho văn hoá sang chính quyền trung ương;

§            Các tổ chức phi chính phủ là lực lượng tích cực nhất ủng hộ việc phi tập trung này, tuy nhiên vai tṛ của nó vẫn yếu kém do không thiết lập được một mạng lưới và không gây được ảnh hưởng đối với cơ quan lập pháp và việc tạo dư luận.

 

Mô h́nh chính sách tài khoá mà Chính phủ trung ương theo đuổi là mô h́nh tập trung, với việc trợ cấp ngang bằng cho các hệ thống và các tổ chức văn hoá đang tồn tại. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và những hạn chế về ngân sách, điều này có nghĩa là số tiền dành cho các hoạt động quan trọng ngày càng ít đi và làm cho một số cơ cấu trở nên thiếu tính chuyên nghiệp. Trong vài năm qua, Bộ Văn hoá đă bắt đầu hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hoá của những tổ chức này trên cơ sở cạnh tranh, do đó không thể có sự phân biệt trong cách cho một tổ chức văn hoá cụ thể dựa trên đóng góp của tổ chức đó đối với văn hoá và nghệ thuật và dựa trên hiệu quả kinh tế của các hoạt động của tổ chức đó. Cách hỗ trợ tài chính mới này dựa trên việc chuyển giao một phần trợ cấp nhà nước cho các tổ chức văn hoá để củng cố các dự án sáng tạo trên cơ sở đối xử b́nh đẳng đối với các bên xin hỗ trợ.

Những năm gần đây, việc đồng  hỗ trợ tài chính – của trung ương và thành phố – cho các rạp kịch, opera, và giàn giao hưởng đă có những kết quả tích cực. Tuy nhiên, do những khó khăn thường trực về tài chính của các thành phố nên không phải dễ dàng để đạt được thoả thuận với Bộ Văn hoá về phần đóng góp của các thành phố, và các thành phố không phải bao giờ cũng thực hiện được điều đă thoả thuận. Đó là lí do việc phát triển các chính sách và chiến lược văn hoá ở địa phương vẫn chỉ mang tính mục tiêu (lí thuyết) hơn là thực tế. Lĩnh vực điện ảnh và văn học không có các tổ chức được nhận hỗ trợ của nhà nước – các khoản hỗ trợ của nhà nước được thực hiện bằng h́nh thức cấp tài trợ cho các dự án cụ thể trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh.

   3.2 Định nghĩa văn hoá

Luật Bảo vệ và phát triển văn hoá định nghĩa văn hoá “ là hoạt động liên quan đến sáng tạo, nghiên cứu, truyền bá và bảo vệ các giá trị văn hoá, cũng như các kết quả của hoạt động này”.

Định nghĩa này chỉ đúng với cho văn hoá theo nghĩa hẹp và có xu hướng áp dụng cho các tổ chức văn hoá, lĩnh vực nghệ thuật và các hoạt động liên quan. Văn hoá theo nghĩa rộng, liên quan đến con người và sự phát triển của con người, là một khía cạnh quan trọng của chất lượng cuộc sống. Trong thời ḱ chuyển giao hiện nay, văn hoá có thể trở thành một yếu tố chính thúc đẩy dân chủ và là ṇng cốt của xă hội dân sự.

   3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá

Bulgari đang ở đoạn đầu của con đường hướng đến dân chủ, nhưng nói chung các mục tiêu chính sách văn hoá quốc gia đáp ứng được các nguyên tắc phát triển văn hoá mà các nước thành viên EU đă đặt ra.

 

Trở về

   4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận

   4.1 Các vấn đề chính sách văn hoá quan trọng và những ưu tiên

   Các ưu tiên trong chính sách văn hoá của Bulgari bao gồm:

§       Ǵn giữ các giá trị văn hoá và di tích lịch sử;

§       Tạo điều kiện để phát triển và làm giàu mọi khía cạnh của văn hoá, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững;

§       Ban hành cơ chế hiệu quả về hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá và t́m kiếm các h́nh thức cung cấp tài chính khác, các nguồn cung cấp khác;

§       Hoàn thiện khung pháp lí trong lĩnh vực văn hoá.

Việc gia nhập EU, một mục tiêu lớn, đă đặt ra nhiều thách thức cho chính sách văn hoá quốc gia. Trong khi hướng tới các quá tŕnh văn hoá toàn châu Âu, Chính sách văn hoá của Bulgari đồng thời thúc đẩy vị trí của nền văn hoá Bulgari ở châu Âu bằng cách ǵn giữ các giá trị và bản sắc dân tộc. Chính sách văn hoá nhằm hướng đến hỗ trợ sự sáng tạo, bảo vệ và truyền bá các giá trị văn hoá, cũng như tạo môi trường để thúc đẩy và bảo vệ sự đa dạng văn hoá, tự do và sáng tạo.

Bộ Văn hoá hợp tác với các tổ chức khác của Chính phủ trong các lĩnh vực giáo dục, môi trường, du lịch, thể thao v.v.. cũng như với rất nhiều tổ chức phi chính phủ và các tổ chức nghề nghiệp để đạt được các mục tiêu chính sách văn hoá. Cân bằng lợi ích của các trung tâm nghệ thuật quốc gia, chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức nghề nghiệp về văn hoá là nguyên tắc định hướng trong chính sách văn hoá thời gian gần đây.

Trong việc h́nh thành và thực hiện chính sách văn hoá hiện nay, Bộ Văn hoá  đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc hỗ trợ. Nguyên tắc này giả định nghĩa vụ và trách nhiệm chia sẻ v́ một mục tiêu chung của các tổ chức và công và công dân không chỉ đơn giản là năng lực của họ với tư cách là người đóng thuế, mà c̣n thông qua việc đóng góp tự nguyện của họ về thời gian, công sức. Trong giai đoạn chuyển đổi, ư tưởng về hỗ trợ nhằm tạo ra một h́nh thức mới của cộng đồng hơn là sự hỗn độn khi Nhà nước đă từ bỏ vai tṛ lănh đạo của ḿnh.

  4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và các tranh luận

  4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Nghị viện đă phê chuẩn Công ước khung về bảo vệ dân tộc thiểu số (Hội đồng châu Âu) vào năm 1999.

Trong phiên thảo luận về chính sách văn hoá quốc gia, tổ chức năm 1998, cơ quan hành pháp và các tổ chức phi chính phủ đă nhấn mạnh đến văn hoá của người dân tộc thiểu số như là một phần không thể tách rời trong di sản văn hoá quốc gia.

Mặc dù có hạn chế về ngân sách, Bộ Văn hoá vẫn thực hiện hỗ trợ các dự án như Trung tâm Văn hoá Thông tin Roma, Nhà hát Roma, các lễ hội và các dự án của các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau. Bộ Văn hoá đă thành lập Hội đồng đa dạng văn hoá để thực hiện tư vấn các vấn đề liên quan đến đa dạng văn hoá.

Các tổ chức phi chính phủ như Quỹ xă hội mở, Sáng kiến nhân quyền, SEGA và Trung tâm quốc tế về nghiên cứu dân tộc thiểu số và quan hệ giữa các nền văn hoá, thực hiện hỗ trợ đối với việc xuất bản các ấn phẩm định ḱ, tổ chức các sự kiện, các buổi biểu diễn của các nhóm dân tộc thiểu số. Sự hỗ trợ này được thực hiện trên cơ sở các điều tra xă hội học. Các điều tra này cho thấy rằng văn hoá của các dân tộc thiểu số ngày càng tăng về số lượng người tiêu dùng hơn là chỉ tăng về số người sản xuất ra các sản phẩm văn hoá. Đó là một trong các lí do giải thích cho việc vào năm 2003, hai tổ chức văn hoá quốc gia đă được thành lập trong các vùng có cộng đồng rất lớn những người gốc Thổ Nhĩ Ḱ: Viện Kadrie Lyatifova ở Kurdjali và Viện Nazim Hikmet ở Razgrad. Nhiệm vụ của hai tổ chức này là tạo ra và dàn dựng  các vở kịch, múa và âm nhạc; ǵn giữ các yếu tố bản sắc của người Thổ Nhĩ Ḱ như ngôn ngữ, truyền thồng và di sản văn hoá; và thúc đẩy đối thoại và hoà giải giữa các nền văn hoá.

Một diễn biến rất quan trọng là việc thành lập Hội đồng Quốc gia về các vấn đề dân tộc và nhân khẩu học (NCEDA) trong khuôn khổ hội đồng các Bộ trưởng. NCEDA thực hiện xây dựng chính sách văn hoá quốc gia, với sự tham vấn của  cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.

Hội nhập các dân tộc thiểu số đă được xác định là một trong những ưu tiên quốc gia cùng với việc phi tập trung trong hỗ trợ giáo dục cho các dân tộc thiểu số. Hội đồng các vấn đề dân tộc và nhân khẩu học ở cấp địa phương cũng đă được thành lập tại các vùng khác nhau và những hội đồng này bao gồm các đại diện của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở địa phương.

Một yếu tố quan trọng khác là việc sửa đổi Luật Truyền thông, đă loại bỏ được nguy cơ phân vùng các nền văn hóa dân tộc thiểu số, ví dụ như tạo ra các vùng dân tộc thiểu số bằng các phương tiện phát thanh và truyền h́nh như là một bước mở đầu cho sự phân biệt về lănh thổ dựa trên yếu tố dân tộc.

Chương tŕnh Quốc gia về hội nhập b́nh đẳng của người Roma vào xă hội Bulgari được ban hành năm 1999 là một trong những biện pháp quan trọng liên quan đến các nhóm dân tộc thiểu số. Chương tŕnh này là kết quả của một thoả thuận đạt được giữa các tổ chức của người Roma và một cơ quan đại diện của chính phủ, và được ban hành bằng một nghị quyết của Hội đồng các Bộ trưởng. Chương tŕnh này xác định các ưu tiên sau:

·         Chống lại việc phân biệt đối xử, bao gồm cả sửa đổi pháp luật cho hiệu quả hơn (ban hành các quy định về chống phân biệt đối xử trong luật giáo dục, chăm sóc y tế, phát triển vùng, và thể thao; quy định trong Luật H́nh sự động cơ phân biệt chủng tộc để thực hiện tội phạm được xem là t́nh tiết tăng nặng);

·         Phát triển kinh tế: các biện pháp về việc làm, hỗ trợ xă hội và phân bổ đất đai;

·         Chăm sóc y tế: thắt chặt các chương tŕnh kiểm soát vệ sinh và giáo dục sức khoẻ;

·         Phát triển vùng có người Roma sinh sống;

·         Giáo dục: xoá bỏ t́nh trạng biệt lập các trường của người Roma ; hỗ trợ và khuyến khích các lớp học mẫu giáo cho trẻ em Roma có điều kiện khó khăn hoặc là trẻ em không muốn học tiếng Bulgari; khuyến khích bổ nhiệm giáo viên có tŕnh độ đại học; các chương tŕnh giáo dục và đào tạo cho người Roma (chỉ dành cho người lớn);

·         Bảo vệ các đặc trưng dân tộc và văn hoá của người Roma;

·         Sự hiện diện của người Roma trên các phương tiện truyền thông;

·         Tạo ra sự b́nh đẳng về văn hoá giữa những người phụ nữ Roma.

Sự tham gia tích cực của cộng đồng người Roma trong việc xây dựng và thực hiện chương tŕnh này là một yếu tố rất quan trọng.

Trong chuyến viếng thăm Sofia năm 2000, Ông Romano Prodi đă nhận xét việc ban hành Chương tŕnh này một trong những dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự tiến triển trong việc gia nhập EU của Bulgari.

  4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá là nội dung chủ yếu trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Ví dụ, Quỹ Bulgari nghiên cứu về giới là một tổ chức phi chính phủ có mục tiêu thúc đẩy công bằng xă hội, b́nh đẳng giới và nhân quyền thông qua việc nghiên cứu, giáo dục, thay đổi pháp luật và hoạt động bào chữa. Quỹ xă hội mở có một chương tŕnh đặc biệt về giới. Chương tŕnh này đă hỗ trợ tổng cộng 255 584 USD cho nhiều dự án khác nhau trong giai đoạn từ 1999-2001. Một số tổ chức phi chính phủ đặc biệt chú trọng đến sự hội nhập b́nh đẳng của phụ nữ các cộng đồng dân tộc thiểu số - đặc biệt là phụ nữ Roma – vào đời sống xă hội của Bulgari.

  4.2.3 Ngôn ngữ và các chính sách

Theo hiến pháp cộng hoà Bulgari, ngôn ngữ chính thức là tiếng Bulgari. Vấn đề “tiếng mẹ đẻ” (thuật ngữ “tiếng dân tộc thiểu số” không được sử dụng trong hiến pháp Bulgari) được quy định trong hai luật cụ thể. Luật thứ nhất liên quan đến Phát thanh và Truyền h́nh. Luật Phát thanh Truyền h́nh (Điều 12 (2)) đưa ra các trường hợp theo đó các chương tŕnh có thể phát sóng bằng ngôn ngữ không chính thức: 1) khi phát sóng dành cho mục đích giáo dục và 2) khi chương tŕnh đó dành cho các công dân Bulgari mà tiếng mẹ đẻ của họ không phải là tiếng Bulgari. Luật thứ hai quy định vị trí của “tiếng mẹ đẻ” như là một môn học trong các trường học, là Luật Giáo dục Quốc gia (tại Điều 8 (2)) và Luật Giáo dục phổ thông (tại điều 15 (3)). Theo Luật giáo dục Quốc gia, học sinh mà tiếng mẹ đẻ không phải tiếng Bulgari có quyền được học tập bằng tiếng mẹ đẻ của ḿnh tại các trường học của thành phố với sự bảo vệ và kiểm soát của nhà nước; Luật giáo dục phổ thông quy định “tiếng mẹ đẻ” là “môn giáo dục phổ thông không ép buộc” nghĩa là nếu học sinh muốn học tiếng mẹ đẻ của ḿnh th́ thành phố hoặc nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp chương tŕnh học đó.

Các cuộc tranh luận chủ yếu liên quan đến Luật giáo dục Quốc gia, và liên quan đến trách nhiệm của các thành phố trong việc cung cấp các nguồn lực cần thiết và các giáo viên đủ tŕnh độ. Ngoài ra những công dân và giới truyền thông có xu hướng theo chủ nghĩa dân tộc cũng tranh luận về sự cần thiết về việc phát các bản tin bằng tiếng Thổ Nhĩ Ḱ trên NBT, tuy nhiên các ư kiến của họ không nhận được sự ủng hộ rộng răi của công chúng.

  4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

 

Bulgari có các đài phát thanh và truyền h́nh của nhà nước cũng như tư nhân. Mạng lưới các đài này phủ sóng toàn quốc gia, một số đài phát thanh và truyền h́nh của tư nhân chỉ cung cấp tin tức trong một vùng nhất định. Các sự kiện văn hoá và các vấn đề quốc tế, quốc gia và địa phương được truyền tải đầy đủ trong các chương tŕnh phát thanh truyền h́nh. Cả đài của nhà nước và tư nhân đều có các chương tŕnh, hầu hết là hàng tuần, dành cho các cộng đồng thiểu số. Ví dụ, chương tŕnh tin tức hàng ngày bằng tiếng Thổ Nhĩ Ḱ của Đài Truyền h́nh Quốc gia Bulgari.

Theo quy định tại điều 71 luật Phát thanh Truyền h́nh, BNR (Bulgarian national radio: Đài Tiếng nói Quốc gia Bulgari) và BNT (Bulgarian national television: Đài Truyền h́nh Quốc gia Bulgari) phải hỗ trợ việc sản xuất và truyền bá các chương tŕnh nghe và nghe nh́n:

* BNR phân bổ ít nhất 5% nguồn trợ cấp nhận được từ ngân sách nhà nước và “Quỹ Phát thanh truyền h́nh” cho việc sáng tạo và tŕnh diễn các tác phẩm âm nhạc và kịch trên sóng phát thanh;

* BNT phân bổ ít nhất 10% nguồn trợ cấp nhận được từ ngân sách nhà nước và “Quỹ Phát thanh và truyền h́nh” cho sản xuất phim và truyền h́nh.

Quỹ Phát thanh và truyền h́nh được thành lập theo Điều 98 của luật Phát thanh và truyền h́nh. Nguồn tài chính của Quỹ này được huy động từ:

- Các khoản phí thu hàng tháng từ các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh;

- Lệ phí đăng kí lần đầu và phí thu hàng năm đối với dịch vụ phát thanh truyền h́nh;

- Lợi tức từ các nguồn mà quỹ có sẵn.

Nguồn tài chính được thu thông qua Quỹ này được sử dụng để hỗ trợ tài chính cho:

·         BNR và BNT (để chuẩn bị, sáng tạo và truyền bá các chương tŕnh quốc gia);

·         Hội đồng Truyền thông Điện tử;

·         Các dự án có tầm quan trọng quốc gia, liên quan đến việc giới thiệu và sử dụng các công nghệ mới trong phát thanh và truyền h́nh;

·         Các dự án có ư nghĩa quan trọng về văn hoá và giáo dục;

·         Các dự án nhằm mở rộng việc truyền bá các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh đối với mọi người dân và / hoặc trên toàn lănh thổ.

Trung tâm hoạt động xă hội (một tổ chức phi chính phủ) đang thực hiện một dự án, đă được hai năm, có tên “Nâng cao vị thế của người thiểu số thông qua truyền thông”. Dự án này bao gồm một loạt các hội thảo nhằm đào tạo cho những cộng đồng thiểu số – người gốc Thổ Nhĩ Ḱ, Roma, và người Hồi giáo Bulgari - được thực hiện tại các vùng có các cộng đồng người này chung sống. Mục đích của dự án là nâng cao vị thế của người thiểu số và thúc đẩy đối thoại thông qua các chương tŕnh truyền thông, từ đó đưa các chương tŕnh hành động của họ vào các cuộc thảo luận công khai và tác động đến những người ban hành quyết định. Dự án này thực hiện chương tŕnh đào tạo một năm cho các sinh viên người thiểu số để họ trở thành những lănh đạo, để kết hợp những người này lại - và quan trọng nhất – là để họ biết cách chuyển các thông điệp của ḿnh thông qua các phương tiện truyền thông. Mục tiêu của dự án là làm cho mọi người hiểu được các cộng đồng thiểu số; mọi người đọc được, xem và nghe các thông điệp của họ để từ đó ủng hộ cho các lí do của họ.

Chương tŕnh đào tạo bao gồm 300 giờ giảng dạy, được chia thành 11 đợt (mỗi đợt kéo dài 3 ngày). Dự án này được chương tŕnh EuroAid của EU hỗ trợ tài chính.

Báo chí hoàn toàn thuộc sở hữu của tư nhân và đă thông tin đầy đủ các tranh luận về cải tổ trong lĩnh vực văn hoá. Các vấn đề thường được đề cập gần đây là cải tổ lĩnh vực Nhà hát kịch, luật Bảo vệ và phát triển văn hoá, luật Truyền thông, việc sao chép trái phép CD, bảo vệ di sản văn hóa, v.v…

4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác

Trong vài năm gần đây các ngành kinh doanh văn hoá ở Bulgari ngày càng được thừa nhận như là một lĩnh vực có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của địa phương, vùng và quốc gia, có ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động.

Hội đồng châu Âu đă hỗ trợ cho một dự án thí điểm về “Đa dạng văn hoá và các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá”, dự án được triển khai ở Bulgari từ năm 2001. Dự án này – được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ của Trung tâm văn hoá Euro-Bulgari – nhằm phân tích tiềm năng trong lĩnh vực kinh doanh văn hoá và t́m ra các khả năng phát triển cho lĩnh vực này. Các ngành kinh doanh văn hoá bao gồm các lĩnh vực truyền thống như (phát thanh và truyền h́nh, ghi âm, sản xuất và phân phối phim), cũng như các hoạt động văn hoá nằm trong phạm vi giữa nghệ thuật truyền thống và những h́nh thức sáng tạo mới trong truyền thông, quảng cáo và thiết kế.

Giai đoạn hai của dự án này (được thực hiện năm 2002) nhằm vào truyền thông và các doanh nghiệp trong lĩnh vực truyền thông; phát triển các mô h́nh cụ thể về cung cấp tài chính, và trong dài hạn, thành lập một cơ quan phát triển các ngành kinh doanh văn hoá.

Sự phát triển các ngành kinh doanh văn hoá ở cấp vùng và địa phương cũng là một ưu tiên trong các dự án thuộc Chương tŕnh hội nhập kinh tế và xă hội PHARE (giáo dục và thành lập các trung tâm thông tin dành cho cộng đồng người Roma).

Ngành điện ảnh phụ thuộc vào trợ cấp của nhà nước và của các quỹ hội, tổ chức quốc tế và những nhà tài trợ. Hầu hết các hoạt động hợp tác là với các quốc gia châu Âu (đặc biệt là Đức, Pháp và Hi Lạp). Cơ quan điều hành Trung tâm phim Quốc gia (thuộc Bộ Văn hoá) có nhiệm vụ phân bổ trợ cấp của nhà nước trên cơ sở (đấu thầu) cạnh tranh. Trung tâm này là đối tác chính của Truyền h́nh Quốc gia Bulgari (BNT). BNT dành một phần ngân sách của ḿnh cho việc sản xuất các bộ phim Bulgari.

Có một số công ty phân phối phim của tư nhân – trong đó có Sunny Films, Alexandra Films và Duga Films – là đối tác của 7 công ty phân phối phim hàng đầu của thế giới.

Trung tâm sách Quốc gia (thuộc Bộ Văn hoá) thúc đẩy việc phát hành các tác phẩm văn học Bulgari và văn học dịch không mang tính thương mại. Chương tŕnh hỗ trợ sách (được thành lập từ năm 1991) đă hỗ trợ các nhà xuất bản trên cơ sở cạnh tranh, thuộc các lĩnh vực sau: văn học đương đại Bulgari và di sản văn học; các tác phẩm nghiên cứu con người Bulgari, tác phẩm tham khảo và bách khoa thư, văn học dịch nghiên cứu về con người. Cũng có những chương tŕnh hợp tác với các viện văn hoá của Anh, Pháp và Đức để hỗ trợ cho xuất bản các tác phẩm dịch.

Năm 1995, Viện xă hội mở (Budapest) đă thực hiện dự án hỗ trợ các tác phẩm dịch trong lĩnh vực khoa học xă hội và nghiên cứu con người. Dự án này (đang thực hiện) đă hỗ trợ cho việc dịch và xuất bản 124 tác phẩm của hơn 40 nhà xuất bản.

Các công ti ghi âm lớn của Bulgari đă kí hợp đồng với các công ty quốc tế như Sony, PolyGram, BMG và EMI, và thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt đối với bản quyền của tác giả, các nhà sản xuất và người biểu diễn.

4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

Các số liệu thống kê của quốc gia ghi chép lại số người lao động trong các ngành nghề của nền kinh tế. Vấn đề nằm ở chỗ các gọi tên đối với các ngành nghề khác nhau. Ví dụ, các cá nhân làm việc trong lĩnh vực văn hoá được đưa vào trong số liệu thống kê về việc làm của cả “Văn hoá và Thông tin” và “Thể thao và giải trí” (số lượng b́nh quân hàng năm những người lao động). Do đó, hiện tại, không thể tách ra các số liệu dưới đây.

  Bảng 1: Việc làm trong lĩnh vực văn hoá, 1998-2003

 

Văn hoá và thông tin

Thể thao và giải trí

1998

Tổng số lao động

41 286

11 145

Số lao động thuộc khối tư nhân

23 566

6 578

1999

Tổng số lao động

40 724

10 737

Số lao động thuộc khối tư nhân

23 546

6 452

2000

Tổng số lao động

33 785

11 441

Số lao động thuộc khối tư nhân

18 105

6 663

2002

Văn  hoá **

Tổng số lao động

28 777

Số lao động thuộc khối tư nhân

11 218

2003

Văn hoá**

Tổng số lao động

28 980

Số lao động thuộc khối tư nhân

11 141

  Nguồn: Niên giám thống kê, Viện Thống kê Quốc gia

* Do Viện Thống kê quốc gia đă thay đổi cách phân loại về “Văn hoá và thông tin” và “Thể thao và giải trí”, nên thiếu các số liệu của năm 2001.

** Đối với giai đoạn từ 2002-2003 Viện Thống kê Quốc gia chỉ đưa ra các số liệu về lĩnh vực “Văn hoá”.

Các vấn đề quan trọng liên quan đến việc làm trong lĩnh vực văn hoá là tiền lương thấp, và việc giảm số lượng các tổ chức văn hoá được nhận trợ cấp của nhà nước. Điều này đă làm cho rất nhiều người trẻ tuổi có tài năng đă di cư ra nước ngoài để t́m kiếm các điều kiện làm việc tốt hơn.

Năm 2003, theo các thông tin từ Viện thống kê Quốc gia, lương b́nh quân hàng tháng trong lĩnh vực văn hoá là 231.91 BGL (Lev: đơn vị tiền tệ của Bulgari, viết tắt là BGL). Tiền lương b́nh quân trong “lĩnh vực giáo dục” là 261.06 BGL, và 206.09 BGL trong lĩnh vực “dịch vụ xă hội”.

Năm 2003, chương tŕnh “Hỗ trợ việc làm cho các nhà hát Bulgari” được ban hành, đây là một dự án hợp tác của Bộ Chính sách Lao động và Xă hội với Hội Liên hiệp các nghệ sĩ Bulgari. Chương tŕnh này cung cấp các cơ hội làm việc, với các hợp đồng dài hạn, cho những người trước đó được xác định là lao động dư thừa (mất việc làm do giảm biên chế) bao gồm: các nghệ sĩ; thợ thủ công làm việc tại các nhà hát; lao động trong các công việc về phục trang, sân khấu và ánh sáng – và những người có các kĩ năng, hiểu biết và kinh nghiệm đặc biệt. Các đối tượng trên đây được các nhà hát thuê làm việc trở lại với thời hạn cố định (một năm) và được trả lương tối thiểu cố định, có cả bảo hiểm xă hội. Chương tŕnh này thực sự có ư nghĩa. Trong giai đoạn cải cách các nhà hát ở Bulgari, số lượng các nhà hát vẫn giữ nguyên, tuy nhiên số lượng việc làm đă giảm đáng kể (từ 3400 năm 1996 xuống c̣n 1850 năm 2003). Các cải tổ này đă gây ra t́nh trạng chia rẽ sâu sắc đối với các nhà hát bởi v́ có một số vị trí được sáp nhập vào với nhau (một người đảm nhận thêm nhiều công việc) và những người có năng lực phải ra đi. Năm 2004, chương tŕnh này hi vọng sẽ tạo ra 240 việc làm thông qua một khoản tài chính khoảng 451 440 BGL. Chương tŕnh này sẽ được đánh giá vào cuối năm 2004 và có thể được kéo dài cho đến năm 2005.

4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá

Bộ Văn hoá đă phối hợp với UNDP (Chương tŕnh Phát triển của Liên hợp quốc) thực hiện một dự án kéo dài 3 năm có tên “Phát triển cộng đồng và tham gia vào đời sống văn hoá thông qua mạng lưới Chitalishte” (Dự án này được thực hiện sau khi kết thúc dự án 1997-2000 về “Sự tham gia của cộng đồng và sự phát triển ở Bulgari). Dự án này được hỗ trợ bởi Chương tŕnh Matra của Chính phủ Hà Lan và USAID. Mục đích của nó là nâng cao vai tṛ của các Chitalishte (Câu lạc bộ Văn hoá Cộng đồng) thành những trung tâm giáo dục và văn hoá ở Hungary, và tạo ra các mô h́nh hiệu quả để hiện đại hoá các trung tâm này, thu hút sự tham gia vào đời sống cộng đồng ở địa phương. Có 300 câu lạc bộ văn hoá cộng đồng là đối tác thường xuyên của dự án này và 600 câu lạc bộ khác tham gia vào các hoạt động rộng răi hơn. Có 25 trung tâm Internet tại các Câu lạc bộ ở các vùng có dân số ít. Trung tâm Internet thực hiện các khoá đào tạo sử dụng máy tính và giúp khắc phục các chênh lệch về tiếp cận thông tin cho người dân Bulgari.

Bộ Văn hoá tích cực tham gia vào một trong những trọng tâm về phát triển trong Chương tŕnh Xă hội Thông tin cho mọi người – “xây dựng một xă hội dân sự và tư tưởng dân chủ thông qua văn hoá và nghệ thuật” – bằng cách thành lập một mạng lưới gồm các thư viện của 11 vùng, 16 thành phố và 40 Chitalisthe lớn. Việc truy nhập vào mạng lưới này cho phép trao đổi liên lạc với các thư viện, bảo tàng, pḥng trưng bày nghệ thuật của Bulgari. Do đó, thư viện công sẽ bổ sung hệ thống giáo dục bằng cách giúp đỡ các trẻ em và thanh niên tiếp nhận các tri thức và kĩ năng cơ bản về t́m kiếm và phân tích thông tin. Các tài nguyên đa phương tiện phong phú dành cho các hoạt động ngoài trường học sẽ giúp trẻ em khắc phục được sự thiếu công bằng trong tiếp cận các công nghệ mới. Rất nhiều các cuộc điều tra ở các nước cho thấy trẻ em hưởng được nhiều điều lợi, cả về mặt học vấn cũng như xă hội, từ việc tiếp cận dễ dàng đối với các công nghệ thông tin và truyền thông ngay từ khi c̣n nhỏ tuổi. Việc tiếp nhận sớm những kĩ năng tự học tại các thư viện sẽ giúp trẻ em có được sự giáo dục toàn diện hơn và tạo cho trẻ em các kĩ năng khác để tự học khi chúng trưởng thành.

Năm 2002, Quỹ văn hoá Quốc gia tổ chức một cuộc thi để hỗ trợ tài chính cho việc chia sẻ thông tin âm nhạc, cũng như để tạo ra và duy tŕ một cơ sở dữ liệu về thông tin và một trang web về văn hoá dân gian và âm nhạc Bulgari. Liên kết giữa tất cả các trang web và cơ sở dữ liệu được NFC hỗ trợ với trang web của Trung tâm châu Âu-Bulgari đă được thiết lập để thúc đẩy việc tiếp cận thông tin về văn hoá, âm nhạc Bulgari.

Từ năm 2002, Trung tâm Quốc gia về múa và âm nhạc đă hỗ trợ cho 6 buổi hoà nhạc với chủ đề “Khúc đồng diễn về âm nhạc điện tử – EEM). Các buổi hoà nhạc này giới thiệu các bản cải biên của những tác phẩm cổ điển và các bản nhạc điện tử đương đại cho giới trẻ. Trong khuôn khổ “Liên hoan tân nhạc Bulgari”, được tổ chức hàng năm, một buổi hoà nhạc được tổ chức, trong đó có tŕnh diễn các tác phẩm của các tác giả thuộc ḍng nhạc điện tử Bulgari.

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh

Trách nhiệm giáo dục nghệ thuật được chia sẻ giữa hai Bộ – Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm đối với các trường trung học chuyên về nghệ thuật, và Bộ Khoa học và Giáo dục chịu trách nhiệm đối với các trường học phổ thông và những chương tŕnh của các trường này trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau, cũng như đối với giáo dục nghệ thuật ở bậc đại học.

Có hai loại chương tŕnh giáo dục được thực hiện tại Bulgari: giáo dục toàn diện về nghệ thuật, bao gồm các khoá học nghệ thuật từ lớp 1 đến lớp 12 trong tất cả các trường học, và giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp. Định hướng chính của giáo dục toàn diện về nghệ thuật trong vài thập kỉ qua là hướng đến các h́nh thức nghệ thuật cổ điển. Quan điểm hiện nay về giao dục trong văn hoá nghệ thuật bắt đầu đưa vào trong các môn học chung các h́nh thức nghệ thuật hiện đại, di sản văn hoá, thiết kế, văn hoá môi trường đô thị, nhiếp ảnh và nghệ thuật thị giác. Quan điểm này phần lớn đă được thực hiện tại các trường học. Có một khoá học giới thiệu nghệ thuật đương đại nằm trong chương tŕnh học bắt buộc về âm nhạc và nghệ thuật của cho học sinh lớp 8 và 9 trong các trường giáo dục phổ thông.

Giáo dục chuyên môn về nghệ thuật bao gồm chương tŕnh đào tạo liên tục về nghệ thuật ở trường trung học (lớp 8 đến 12) và ở cấp đại học. Sinh viên ở các trường chuyên về nghệ thuật và sinh viên tại các trường đại học âm nhạc và mĩ thuật được học về thiết kế web và công nghệ máy tính.

4.2.9 Di sản văn hoá và các chính sách

 

Cơ cấu theo chiều ngang và chiều dọc các cơ quan quản lí di sản vẫn đang ở t́nh trạng không cân đối. Điều nghịch lí là nhà nước trung ương vẫn duy tŕ sự kiểm soát phần lớn, các quyền hành về lập pháp và đầu tư. Hỗ trợ của nhà nước đă giảm đi, và vẫn chưa có các nguyên tắc rơ ràng trong phối hợp giữa chính quyền trung ương và các thành phố. Việc phục hồi và bảo vệ thị trường vẫn đang c̣n thời ḱ đầu phát triển, cạnh tranh nếu có th́ cũng rất ít. Quy định về ba h́nh thức sở hữu (tư nhân, nhà nước và thành phố) đă được ban hành, nhưng không có các khích lệ về tài chính hoặc ưu đăi thuế để thúc đẩy các khối này hỗ trợ. Các chuyên gia đang soạn thảo luật về các công tŕnh văn hoá di dời được và không di dời được. Luật này được ḱ vọng là sẽ khắc phục được sự thiếu hụt về một hệ thống bảo vệ, kiểm soát và cung cấp tài chính cho hoạt động di sản. Trong quá tŕnh soạn thảo luật, một chiến lược đă được đặt ra nhằm vào việc phát triển và hướng hoạt động của các bảo tàng thành các tổ chức văn hoá. Chiến lược này đ̣i hỏi phải thành lập một hệ thống thông tin quốc gia; hệ thống kiểm soát và đánh giá; cơ quan quản lí danh mục di sản văn hoá quốc gia; xem xét lại chất lượng, mật độ và hoạt động của mạng lưới bảo tàng hiện có, và sự liên kết của hệ thống đó với các hệ thống thuộc các lĩnh vực khác như du lịch và giáo dục.

4.2.10 Các vấn đề khác

Liên quan đến Lễ hội Europalia Bulgari 2002 tổ chức ở Brussels, Trung tâm văn hoá Red House và ban tổ chức lễ hội đă tổ chức một hội nghị bàn tṛn về “Europalia – Làm cách nào để quốc gia xây dựng được h́nh ảnh của ḿnh trước thế giới”. Hội nghị bàn tṛn này thảo luận các vấn đề:

·         Khung pháp lí, cách thức hỗ trợ tài chính và chính sách của chính phủ về quảng bá văn hoá Bulgari với thế giới;

·         H́nh ảnh của đất nước Bulgari ở châu Âu;

·         Các phương thức và khả năng thay đổi;

·         Những quan hệ đối tác có thể có trong tương lai giữa các tổ chức phát triển văn hoá Bulgari ở nước ngoài.

 Các vấn đề này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đất nước gia nhập EU.

 

Trở về

5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá

5.1 Quy định chung

5.1.1 Hiến pháp

Trích các phần trong Hiến pháp Bulgari có đề cập trức tiếp đến lĩnh vực văn hoá;

Điều 3. Tiếng Bulgari là ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Bulgari;

Điều 13: (1) Việc tham gia vào bất cứ tôn giáo nào là hoàn toàn tự do;

               (2) Các tổ chức tôn giáo phải tách rời khỏi nhà nước.

 

Điều 18. (1) Nhà nước có quyền độc quyền sở hữu đối với tất cả những ǵ dưới mặt đất; vùng bờ biển; các đường quốc lộ cũng như vùng mặt nước, rừng và khuôn viên có ư nghĩa quan trọng về mặt quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên và khảo cổ theo quy định của pháp luật.

 

Điều 23. Nhà nước tạo điều kiện cho việc tự do phát triển khoa học, giáo dục và nghệ thuật, và hỗ trợ cho sự phát triển đó. Nhà nước tổ chức việc bảo tồn các công tŕnh văn hoá và lịch sử quốc gia.

 

Điều 36:(1) Việc học tập và sử dụng tiếng Bulgari là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân Bulgari.

(2) Các công dân có tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Bulgari có quyền học tập tiếng mẹ đẻ của ḿnh bên cạnh việc học tập bắt buộc tiếng Bulgari.

Điều 39: (1) Mọi người có quyền bày tỏ ư kiến hoặc công khai ư kiến đó thông qua lời nói, văn bản, âm thanh hoặc h́nh ảnh, hoặc bất cứ cách nào khác;

(2) Không được lạm dụng quyền này để gây tổn hại đến quyền và danh tính của người khác, hoặc để thúc đẩy thay đổi trật tự hiến định, gây ra tội phạm, hoặc xúi giục sự thù nghịch và bạo lực chống lại bất cứ ai.

Điều 40: (1) Báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng khác tự do hoạt động và không chịu sự kiểm duyệt.

(2) Lệnh của toà hoặc quyết định tịch thu đối với bản in hoặc phương tiện thông tin khác chỉ được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp có sự xâm hại các phép tắc công cộng hoặc có sự thúc đẩy thay đổi trật tự hiến định, gây ra tội phạm, hoặc xúi giục bạo lực chống lại người khác. Lệnh của toà sẽ mất hiệu lực nếu trong ṿng 24 giờ không ban hành quyết định tịch thu.

Điều 54: (1) Mọi người đều có quyền sử dụng các giá trị văn hoá phổ biến và các giá trị văn hoá quốc gia, và phát triển văn hoá của riêng ḿnh phù hợp với sự xác định về dân tộc. Điều đó được pháp luật thừa nhận và bảo đảm.

(2) Sáng tạo nghệ thuật, khoa học và công nghệ được pháp luật thừa nhận và bảo đảm.

(3) Nhà nước bảo vệ quyền của người sáng chế, bản quyền và các quyền liên quan.

5.1.2 Phân chia thẩm quyền

Các h́nh thực tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hoá bao gồm: tổ chức văn hoá nhà nước; tổ chức văn hoá thành phố; tổ chức văn hoá tư nhân và tổ chức văn hoá hỗn hợp. Tổ chức văn hoá được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển văn hoá là tổ chức văn hoá của nhà nước và thành phố, và có số lượng rất lớn. Các tổ chức này có quyền quyết định nhiệm vụ của ḿnh và thực hiện các hoạt động phụ khác, bao gồm cả kinh doanh. Đó là các pháp nhân được nhà nước hỗ trợ tài chính trên cơ sở hợp đồng cùng hỗ trợ hoạt động trong lĩnh vực văn hoá giữa Bộ Văn hoá và các thành phố.

Các tổ chức văn hoá vùng là một trường hợp đặc biệt: chúng được thành lập, chuyển đổi hoặc giải thể bởi Hội đồng các Bộ trưởng theo kiến nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, sau khi thoả thuận với Thống đốc Vùng của Hội đồng Thành phố nơi tổ chức này đóng trụ sở. Các tổ chức văn hoá vùng nhận tài chính từ nguồn đóng góp của ngân sách thành phố nơi tổ chức này đóng trụ sở, được nhận hỗ trợ từ ngân sách của nhà nước, và đóng góp của các thành phố lân cận mà các tổ chức này có hoạt động.

Các tổ chức văn hoá thành phố là những pháp nhân có ngân sách độc lập. Chúng được thành lập, chuyển đổi và chấm dứt hoạt động theo quyết định của hội đồng thành phố, sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Văn hoá. Chúng nhận nguồn tài chính từ ngân sách thành phố.

Các tổ chức văn hoá tư nhân được thành lập, chuyển đổi và giải thể theo đề nghị của các cá nhân/ hoặc pháp nhân tư nhân và phải tuân thủ Luật Thương mại, Luật Cá nhân và gia đ́nh, hoặc Luật Pháp nhân phi lợi nhuận có hiệu lực từ đầu năm 2001. Các tổ chức văn hoá tư nhân, cũng như tổ chức phi chính phủ, được đối xử b́nh đẳng với các tổ chức khác và với các cá nhân khi cạnh tranh hoặc đấu thầu cho dự án và chương tŕnh trong lĩnh vực văn hoá, di sản văn hoá và lĩnh vực nghệ thuật.

  5.1.3 Phân bổ ngân sách nhà nước

ở Bulgari, thành phố là đơn vị hành chính lănh thổ và có quyền tự trị. Hội đồng Thành phố là cơ quan quan trọng nhất. Các đại diện trong hội đồng được các cử tri bầu ra, với nhiệm ḱ 4 năm.

Vào cuối năm 2002, bước đi đầu tiên hướng đến b́nh thường hoá việc phi tập trung về tài chính trong các dịch vụ công được thực hiện bởi các thành phố, bao gồm cả lĩnh vực văn hoá. Mục đích chính là tăng nguồn thu của chính quyền địa phương và nâng cao tối đa sự độc lập (tự trị) của địa phương cũng như xác định đặc điểm và nội dung các dịch vụ của thành phố.

Theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng (Số 16/2003) tất cả các dịch vụ công được chia ra thành 2 nhóm:

 * Hoạt động được uỷ thác từ nhà nước trong các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc y tế, các vấn đề xă hội và một phần trong lĩnh vực văn hoá. Các tiêu chuẩn tối thiểu được ban hành liên quan đến số nhân viên, tiền lương, bảo hiểm và việc bảo dưỡng các ngôi nhà. Nhà nước thực hiện trách nhiệm hỗ trợ tài chính của ḿnh thông qua các khoản thuế, và cung cấp hỗ trợ bổ sung trong trường hợp nguồn tài chính của các thành phố không đủ đáp ứng các tiêu chuẩn;

 * Hoạt động ở địa phương bao gồm dịch vụ công ích, vệ sinh, chăm sóc trẻ em, và hầu hết các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá. Nguồn tài chính có được từ việc thu thuế và các loại phí, quản lí tài sản, v.v.. Những thành phố nếu có nguồn thu thấp sẽ nhận được trợ cấp bổ sung từ chính quyền trung ương. Hoạt động đầu tư được hỗ trợ tài chính thông qua cấp vốn đầu tư, trong phạm vi các ưu tiên và mục tiêu của chính quyền.

Năm 2003 là năm đầu tiên thực hiện sự phân công này. Đây là một bước tiến quan trọng hướng đến sự quản lí độc lập của chính quyền địa phương và để khắc phục các khó khăn của mỗi thành phố.

   5.1.4 Chương tŕnh an sinh xă hội

An sinh xă hội cho các nghệ sĩ được quy định trong Bộ luật lao động và pháp lệnh về an sinh xă hội cho những người hành nghề tự do và về công dân Bulgari làm việc ở nước ngoài (2000). Theo các luật này, nghệ sĩ hành nghề tự do được đối xử b́nh đẳng như những người làm việc cho các công ty. Các nghệ sĩ có quyền lựa chọn:

 - Đóng tiền an sinh xă hội bắt buộc cho mọi loại bảo hiểm hưu trí, bao gồm lương hưu tuổi già, tàn tật, tiền lương hưu cho chồng khi vợ chết (hoặc ngược lại), v.v.. với mức 22% thu nhập, số tiền này không thấp hơn 2 lần và không lớn hơn 8 lần mức lương tối thiểu của nhà nước;

- Đóng góp tự nguyện với mức 32% cho mọi loại bảo hiểm xă hội như hưu trí, trợ cấp ốm đau, trợ cấp hàng tháng cho con, v.v…

Nghệ sĩ (cũng giống như những người lao động khác), nếu có kí hợp đồng lao động (ví dụ như nghệ sĩ làm việc cho công ty quảng cáo) là đối tượng phải đóng tiền an sinh xă hội bắt buộc với mức 37% (người lao động chỉ đóng 2%, c̣n lại do chủ lao động đóng). Ngoài ra c̣n phải đóng góp cho Quỹ đào tạo nghề và thất nghiệp, với mức 4% (chủ lao động đóng 3%, c̣n người lao động đóng 1%).

Do tính chất đặc biệt trong công việc của các nghệ sĩ biểu diễn, một số điều khoản bổ sung đă được đưa vào trong Luật bảo vệ và phát triển văn hoá, theo đó các nghệ sĩ làm việc ít nhất 4 tháng trong 12 tháng gần nhất (mà không tham gia vào quan hệ lao động trong các tổ chức nghệ sĩ) sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

   5.1.5 Luật thuế

Để khuyến khích các cá nhân và công ty tài trợ cho phát triển nghệ thuật và văn hoá, khấu trừ thuế được áp dụng cho các thể nhân và pháp nhân trong và ngoài nước. Tiền khấu trừ lên đến 10% nếu đóng góp cho mục đích văn hoá, cũng như cho việc bảo tồn và khôi phục các di tích lịch sử và văn hoá, hoặc cho việc trao thưởng. Tỉ lệ khấu trừ này đă tăng từ 5% lên 10% theo luật sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp vào đầu năm 2002.

Tỉ suất thuế VAT được áp dụng thống nhất là 20% cho mọi thứ – kể cả hàng hoá và dịch vụ văn hoá. Theo một dự thảo luật thuế VAT, đang được Bộ Tài chính chuẩn bị, th́ thuế VAT đối với vé xem hoà nhạc và biểu diễn có thể được huỷ bỏ vào năm 2005. Dự thảo này cũng dự tính miễn thuế VAT đối với các hoạt động được thực hiện bởi đài phát thanh Quốc gia Bulgari, Truyền h́nh Quuốc gia Bulgari và Thông tấn xă Bulgari và cho các hoạt động mà những tổ chức này được nhận trợ cấp của nhà nước.

 

Trở về

   6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

   6.1 Tổng quan

Sau một giai đoạn dài chi tiêu của nhà nước cho văn hoá liên tục giảm, xuống mức thấp kỉ lục vào các năm 1996 và 1997 (trong các năm này GDP thấp kỉ lục cũng như tỉ lệ trên GDP chi tiêu cho văn hoá), từ năm 1998 trở đi đă có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, chi tiêu cho văn hoá chỉ tăng về mặt danh nghĩa, thậm chí chi tiêu năm 2002 c̣n thấp hơn cả mức chi năm 1990. Ngoài ra sự tăng trưởng tương đối và việc định hướng lại cơ cấu hỗ trợ cho các dự án sáng tạo có tầm quan trọng tối cao. Năm 1998, lần đầu tiên chi tiêu cho văn hoá tính trên tổng ngân sách nhà nước đă tăng lên, đạt mức 1.84%.

Phần trăm chi tiêu cho văn hoá trên tổng GDP là một chỉ tiêu quan trọng. Đáng tiếc là nó luôn ở mức rất thấp, cho đến nay mức 1.09% GDP của năm 1990 vẫn chưa lặp lại. Điều này cũng dễ hiểu khi xem xét đến các khó khăn kinh tế và những hạn chế khắt khe trong toàn lĩnh vực hỗ trợ tài chính của nhà nước cho văn hoá.

Tuy nhiên, tỉ lệ này gần đây đă tăng lên. Năm 1998 và 1999 có tăng đáng kể, từ 0.44% năm 1996 đến 0.78% năm 1999. Từ năm 2000 đến năm 2003, tỉ lệ chi tiêu cho văn hoá trên tổng GDP chỉ ổn định ở mức 0.7%.

Trong mười năm qua, chi tiêu trực tiếp cho văn hoá của các thành phố chỉ ở mức 1-1.2%, do nguồn thu ngân sách thấp. Các thành phố giải thích rằng v́ họ không có quyền tự phân bổ nguồn thuế và phí, và nguồn ngân sách từ cấp trên luôn luôn thiếu khiến cho họ không thể thực hiện được các hoạt động của ḿnh.

Chi tiêu của các hộ gia đ́nh cho hàng hoá và dịch vụ văn hoá được tính theo các số liệu thống kê quốc gia, trong nhóm “thời gian rỗi răi, giải trí văn hoá và giáo dục” và không thể phân tách ra được. Đầu năm 2004, Viện Thống kê Quốc gia đă thực hiện điều tra về ngân sách hộ gia đ́nh năm 2003. Kết quả, phần có liên quan đến văn hoá, được tŕnh bày tại bảng dưới đây:

Bảng 3 Chi tiêu của các hộ gia đ́nh, giải trí cho văn hoá và giáo dục, đơn vị tiền BGL

 

1999

2000

2001

2002

2003

B́nh quân mỗi hộ

119

124

124

141

162

B́nh quân mỗi người

43

45

46

53

62

% trên tổng chi tiêu

3.7

3.6

3.5

3.6

3.9

Nguồn: Viện thống kê quốc gia, 2004

  6.2 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá theo b́nh quân đầu người

Các số liệu dưới đây được tính dựa trên số liệu hàng năm của Viện Thống kê Quốc gia, theo quy mô dân số dựa trên số sinh và tử, và dữ liệu điều tra dân số thực hiện năm 2001.

Bảng 4: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá theo b́nh quân đầu người, đơn vị USD, 1995-2003

Năm

Chi tiêu trên b́nh quân đầu người

% GDP

1995

9.69

0.6

1996

5.26

0.4

1997

5.63

0.4

1998

10.54

0.7

1999

11.88

0.8

2000

15.05

0.6

2001

16.86

0.7

2002

13.94

0.75

2003

16.65

0.66

Nguồn: Số liệu năm 2000 và năm 2001 được trích trong “Chi tiêu cho nghệ thuật: giữa nhà nước và thị trường,” Báo cáo kinh tế về dự án văn hoá, Sofia, 2001 (Bulgari) của B. Tomova

   6.3 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, thống kê theo cấp chính quyền

Bảng 5: chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, theo cấp chính quyền, đơn vị BGL, 2003 (số liệu ngân sách)

 

Cấp chính quyền

Tổng

BGL

% trên tổng số

Nhà nước (Trung ương)

172 136 014

76.46

Vùng

n.a.

n.a.

Thành phố

53 000 000

23.54

Tổng

225 136 014

100%

Na: Không có số liệu (not available)

Nguồn: Bộ Tài chính, Luật Ngân sách

              Lưu ư: Số liệu trong Bảng 5 bao gồm mọi chi tiêu của Bộ Văn hoá (trợ cấp từ ngân sách nhà nước cộng với nguồn thu tự có) và trợ cấp của nhà nước cho Đài phát thanh Bulgari, Đài Truyền h́nh Bulgari, cơ quan lưu trữ.

Chi tiêu của chính quyền trung ương được phân bổ cho: các tổ chức văn hoá, Bộ Văn hoá, Đài Phát thanh Bulgari, Đài Truyền h́nh Bulgari, các cơ quan thuộc Tổng cục Lưu trữ, Hội đồng Bộ trưởng, chi đầu tư cho các chương tŕnh và dự án văn hoá của Bộ Lao động và Chính sách xă hội và trợ cấp cho Bảo tàng Giáo dục của Bộ Giáo dục và Khoa học.

Bảng 6: Chi tiêu của nhà nước, theo cấp chính quyền, đơn vị ‘000 BGL, 1997-2002 (số liệu ngân sách)

Cấp chính quyền

1997

1998

1999

2001

2002

Trung ương

49 817.2

(65.11%)

72 810.1

(47.96%)

113 838.3

63.68%)

99 300

(50.7%)

120 114.4

(56.9%)

Vùng

8.9

(0.01%)

7.2

(0.005%)

n.a.

n.a.

n.a.

Thành phố

26 691.8

(34.88%)

49 935.8

(32.89%)

58 041.4

(32.47%)

51 600

(26.3%)

n.a.

Khoản phân bổ ngoài ngân sách

n.a.

29 051.3

(19.14%)

6 891.1

(3.85%)

n.a.

n.a.

Tổng

76 517.9

151 804.4

178 770.8

196 300

211 100

* na: không có số liệu

Nguồn: Bộ Tài chính, Luật Ngân sách nhà nước (ban hành hàng năm)

Như đă chỉ ra trong bảng trên, không thể ḱ vọng vào những thay đổi đáng kể trong chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, thậm chí khi giá trị chi về danh nghĩa có tăng lên, th́ tỉ lệ chi trên tổng GDP vẫn không đổi. Chi tiêu cho văn hoá theo b́nh quân đầu người sau năm 1999 vẫn tương đối ổn định

 

Trở về

   7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác

   7.1 Phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước

 

Do ưu thế của nhà nước, các tổ chức văn hoá công (tổ chức văn hoá nhà nước) vẫn giữ vai tṛ hàng đầu và có trách nhiệm chính trong việc phát triển văn hoá Bulgari trong nhiều năm qua. Hiện nay, do liên tục cắt giảm chi tiêu hàng năm cho văn hoá, nhà nước dần dần từ bỏ trách nhiệm “toàn bộ” trước đây, và điều này gây tổn hại đến sự tồn tại của một số tổ chức văn hoá. Trong vài năm qua, nhà nước dành ưu tiên cho việc phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước cho các cấp địa phương, tuy nhiên lại không thay đổi quy chế của các tổ chức văn hoá công.

Do thiếu một khung pháp lí cụ thể và chiến lược rơ ràng về cải cách văn hoá, các doanh nghiệp tư nhân muốn thành lập các tổ chức phi chính phủ kinh doanh sinh lợi (và một phần là phi lợi nhuận) chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực văn hoá, chủ yếu là truyền thông và các ngành kinh doanh văn hoá, nơi mà mô h́nh thị trường tự do các hàng hoá và dịch vụ văn hoá đă một phần h́nh thành.

Đối với các tổ chức phi chính phủ, hỗ trợ cho văn hoá trước hết đến từ các nguồn bên ngoài hoặc các đối tác – chủ yếu là từ Quỹ xă hội Mở và một số chương tŕnh của Liên minh châu Âu như Raphael, Ariane và Kaleidoscope, và nguồn tài trợ từ một số quỹ và tổ chức của nước ngoài, cũng như kiều bào Bulgari sống ở nước ngoài.

Ngày nay có những tác nhân mới trong chính sách văn hoá, điều này làm thay đổi cách suy nghĩ của những người có trách nhiệm đối với việc phát triển văn hoá đương đại Bulgari, và nó cũng làm thay đổi việc phân cấp trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá.

  7.2 Vai tṛ và sự phát triển của các tổ chức văn hoá

Chiến lược quốc gia nhằm phi tập trung hoá được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển văn hoá đă làm thay đổi quy chế của các tổ chức văn hoá ở Bulgari. Luật này phân loại các tổ chức văn hoá thành “tổ chức có tầm quan trọng về mặt quốc gia” (được ưu tiên và hỗ trợ hoàn toàn bởi ngân sách của Bộ Văn hoá); “Tổ chức văn hoá nhà nước (được hỗ trợ tài chính của Bộ Văn hoá và các thành phố); “các tổ chức thuộc ngành” (được hỗ trợ tài chính toàn bộ hoặc một phần bởi các ngành liên quan); “tổ chức của thành phố” (được hỗ trợ tài chính từ ngân sách của các thành phố); “tổ chức văn hoá vùng” (được hỗ trợ tài chính bởi thành phố nơi tổ chức đó đóng trụ sở, và bởi các thành phố lân cận và nguồn tài chính bổ sung được quyết định hàng năm theo Luật ngân sách).

Các tổ chức phi chính phủ có rất nhiều h́nh thức khác nhau, với tên gọi khác nhau, ví dụ như liên minh, hội đoàn, hiệp hội, quĩ, liên hiệp, uỷ ban, trung tâm, lễ hội, viện, Chitalishte (câu lạc bộ văn hoá cộng đồng), quỹ tín thác, nhà hát độc lập, liên đoàn v.v… Luật về Pháp nhân Phi lợi nhuận, quy định việc thành lập và hoạt động của các tổ chức này được ban hành vào năm 2000.

   7.3 Quan hệ đối tác

Ngày nay những đối tác chính của nhà nước trong thực hiện chính sách văn hoá là các ban văn hoá của thành phố và uỷ ban văn hoá của hội đồng thành phố. Các uỷ ban văn hoá có các chương tŕnh văn hoá của riêng ḿnh; thông qua và thực hiện ngân sách văn hoá của riêng ḿnh; hỗ trợ các tổ chức văn hoá của thành phố và đóng góp cho các tổ chức văn hoá nhà nước theo thoả thuận với Bộ Văn hoá.

Có rất nhiều h́nh thức hợp tác với các tổ chức phi chính phủ: lựa chọn những người hoạt động trong các tổ chức này vào các uỷ ban thường trực và uỷ ban lâm thời của hội đồng thành phố; mời đại diện của các tổ chức này đến đóng góp ư kiến đối với các vấn đề liên quan của vùng và địa phương; giao các nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức này và cung cấp các nguồn lực cần thiết; phối hợp tổ chức các sự kiện, cùng hoạt động và cùng có trách nhiệm, v.v..

Một thoả thuận ba bên về quan hệ đối tác trong việc h́nh thành, cập nhật và thực hiện các chính sách văn hoá quốc gia đă được thực hiện từ đầu năm 2002 giữa Uỷ ban văn hoá của Quốc hội, Bộ Văn hoá, và Diễn đàn Quốc gia về văn hoá (một tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực văn hoá).

Sự quan tâm và mong muốn của các doanh nghiệp tư nhân trong việc hỗ trợ cho sự phát triển văn hoá và nghệ thuật ở Bulgari bắt đầu có sự tăng tốc. Theo một nghiên cứu thực hiện năm 2000 của Trung tâm nghệ thuật Soros,  “Doanh nghiệp Hỗ trợ cho văn hoá và nghệ thuật ở Bulgari”, trong số 100 công ty nước ngoài và công ty Bulgari kinh doanh trên thị trường Bulgari, đa số (65%) đă tham gia hỗ trợ cho việc tổ chức và các sự kiện liên quan đến văn hoá và nghệ thuật. Các doanh nghiệp tham gia tích cực nhất là ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty dịch vụ – viễn thông, hàng không v.v.., các nhà phân phối sản phẩm của nước ngoài, các công ty trong lĩnh vực công nghiệp. Các công ty chủ yếu thực hiện hỗ trợ đối với các hoạt động:

·         Âm nhạc – chiếm phần đáng kể các khoản hỗ trợ;

·         Văn học – hỗ trợ xuất bản một số sách cụ thể;

·         Nhà hát – hợp tác với một số công ty lớn và có thế lực.

Các lễ hội, do thu hút được nhiều người tham gia nên cũng nhận được sự quan tâm của các nhà tài trợ. Ngoài ra c̣n có một số công ty muốn cung cấp tài chính để “bảo vệ” các giá trị quốc gia và/ hoặc các h́nh thức nghệ thuật, các sự kiện hoặc di sản văn hoá-lịch sử. Nghiên cứu của Trung tâm Soros cho thấy rằng tài trợ ít khi nằm trong các chiến lược marketing tổng thể của các công ty lớn. Tiền dành cho tài trợ, quảng cáo và ủng hộ được phân bổ từ tổng ngân sách và đều áp dụng một phương pháp thống nhất. Kịch bản hoàn hảo nhất (điều mọi người chờ đợi) là việc thiết lập quan hệ đối tác lâu dài (giống như trường hợp hỗ trợ của một ngân hàng đối với “Liên hoan phim Sofia”). Hỗ trợ theo h́nh thức như thế ngày càng phổ biến bởi v́ chúng là một phần chiếm sự quan tâm của công chúng và của thị trường.

 

Trở về

8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá

8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ

8.1.1 Các quỹ đặc biệt dành cho nghệ sĩ

Quỹ Văn hoá Quốc gia (NCF) được thành lập theo Luật Bảo vệ và phát triển văn hoá, bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 11/ 2000. Mục đích chính của nó là hỗ trợ phát triển văn hoá phù hợp với chính sách văn hoá quốc gia đă được đề ra trong các chương tŕnh của nhà nước, phù hợp với từng giai đoạn quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển văn hoá.

Cơ quan quản lí của NCF là Hội đồng quản trị, mà chủ tịch của hội đồng này là Bộ trưởng Bộ Văn hoá. Các thành viên của hội đồng là các nhân vật nổi bật trong lĩnh vực văn hoá, đại diện của các hiệp hội nghệ sĩ và mỗi thành phố có một đại diện, một đại diện của Bộ văn hoá, một đại diện của Bộ Tài chính.

Tiền hỗ trợ cho các dự án sáng tạo được phân bổ trên cơ sở đấu thầu/ cạnh tranh công khai. Việc đấu thầu được hội đồng chuẩn bị và thông qua. Các lĩnh vực được ưu tiên hỗ trợ sẽ được xác định vào đầu mỗi năm. Tất cả các tổ chức văn hoá có thể tham gia vào các cuộc đấu thầu này, kể cả các tổ chức phi lợi nhuận, các cá nhân. Người tham gia phải gửi hồ sơ phù hợp với thủ tục đấu thầu. Hồ sơ được kiểm tra và đánh giá bởi một uỷ ban gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hội đồng Quản trị thảo luận về quyết định mà uỷ ban đưa ra, sau đó đi đến quyết định cuối cùng về cung cấp tài chính cho dự án thắng thầu. Kết quả đấu thầu sẽ được thông báo trên website của Trung tâm Văn hoá Euro-Bulgari: và người thắng cuộc được thông báo bằng thư riêng.

Những ưu tiên mới của NCF cho thấy sự phát triển của nó như là một tổ chức độc lập tham gia vào quá tŕnh h́nh thành chính sách văn hoá của Bulgari. Để đạt được mục tiêu này, NCF đă đề ra các hoạt động cần phải thực hiện:

* Tạo ra một môi trường và chuẩn bị một tŕnh tự quy chuẩn cho việc xây dựng chiến lược văn hoá quốc gia. Công việc này bao gồm những nỗ lực để thực hiện các cơ chế và thủ tục đă được quy định trong Luật Phát triển và bảo vệ văn hoá, nhằm mở rộng phạm vi hoạt động của NCF và bảo đảm cơ cấu về kinh tế và tổ chức của nó.

* Sự tham gia của NCF (Quỹ Văn hoá Quốc gia) vào các dự án, các chương tŕnh phân tích thông tin và chuyên môn của Ban Văn hoá.

* Tham gia vào các chương tŕnh của Liên minh châu Âu nhằm bảo đảm các hỗ trợ tài chính cần thiết để thực hiện cải tổ trong lĩnh vực văn hoá;

* Chi tiết các cơ chế để thu hút các nguồn lực tài chính bổ sung từ việc hiến tặng, từ các quan hệ đối tác với các tổ chức khác.

Năm 2003, một chương tŕnh giao lưu văn hoá lần đầu tiên được thực hiện. Mục tiêu của nó là thúc đẩy sự tham gia của người Bulgari trong giao lưu văn hoá quốc tế. Trong khuôn khổ chương tŕnh này, NCF đă tổ chức một cuộc thi để hỗ trợ tài chính cho các nghệ sĩ Bulgari trong các diễn đàn văn hoá quốc tế, và để mời các nhà quản lí và nhà sản xuất nước ngoài trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật đến Bulgari.

Trong năm 2003, NCF cũng đă t́m hiểu cơ hội để làm tăng nguồn lực của ḿnh thông qua những quan hệ đối tác mới với các tổ chức khác nhau. NCF cùng với Trung tâm Soros về Chính sách Văn hoá và Chương tŕnh Văn hoá Thuỵ sĩ ở Bulgari đă phối hợp với nhau để tổ chức một cuộc thi nhằm hỗ trợ cho các dự án của các nghệ sĩ trẻ trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại, bao gồm cả việc đào tạo. Mục tiêu của cuộc thi là khuyến khích phát triển những xu hướng mới trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại và văn hoá, để thúc đẩy sản xuất các sản phẩm văn hoá đa dạng, và góp phần vào việc quảng bá (đại chúng hoá) và thúc đẩy giao lưu quốc tế.

Giải thưởng nhà nước “Paisii Hilendarski” được thành lập theo quy định tại Điều 19 của Luật Bảo vệ và Phát triển Văn hoá. Từ năm 2000, mỗi năm một lần, một nghệ sĩ (tác giả hoặc người biểu diễn) xuất sắc của Bulgari sẽ được nhận giải. Tác phẩm của nghệ sĩ được trao giải phải có tầm quan trọng hoặc có liên quan đến truyền thống và lịch sử Bulgari. Giải thưởng này được Thủ tướng quyết định trao tặng dựa trên đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hoá (Bộ trưởng lại nhận được đề nghị từ các cơ quan nhà nước và các tổ chức phi chính phủ về văn hoá).

Từ năm 2003, Bộ Văn hoá trao giải thưởng danh dự “Golden Age” vào ngày 24 tháng 5 hàng năm – Ngày Giáo dục, văn hoá và ngôn ngữ Xlavơ. Giải thưởng  gồm huy chương danh dự và số tiền 3000 BGL - được Bộ trưởng Bộ Văn hoá trao cho những người đă có đóng góp vào việc phát triển và quảng bá văn hoá Bulgari. Năm 2003, giải thưởng này được trao cho 30 nghệ sĩ Bulgari trong tất cả các lĩnh vực của văn hoá. Họ được đề cử bởi các hội nghệ sĩ và trung tâm văn hoá quốc gia.

Hỗ trợ gián tiếp của nhà nước cho các nghệ sĩ và hoạt động sáng tạo được quy định trong nhiều luật, với các quy định thừa nhận tính chất đặc biệt của hoạt động sáng tạo: quan hệ lao động, sự bảo đảm của xă hội khi thất nghiệp, thuế thu nhập, việc hiến tặng cho các hoạt động văn hoá, bảo hiểm xă hội, v.v.. Đáng chú ư là tất cả các luật trên đang được xem xét sửa đổi nhằm hướng đến hài hoà.

8.1.2 Các giải thưởng, học bổng

 

Vai tṛ tích cực của các tổ chức phi chính phủ trong giai đoạn chuyển đổi đă trở nên rơ ràng trong 5 năm qua. Các số liệu gần đây cho thấy rằng hỗ trợ của khối thứ ba cho các dự án văn hoá ngày càng gia tăng.

Các quỹ trợ giúp cho các nghệ sĩ theo ba h́nh thức sau:

- T́m kiếm tài năng và tổ chức các triển lăm, chương tŕnh biểu diễn, cuộc thi và các diễn đàn dành cho những triển vọng trẻ;

- Tạo ra và cải thiện điều kiện làm việc và đào tạo (tổ chức các hội thảo, các khoá học, v.v..);

- Cấp học bổng cho đi đào tạo ở nước ngoài.

Viện xă hội mở, Hiệp hội tương lai cho Bulgari, Hiệp hội Cyril và Methodius, Quỹ Bulgari thế kỉ 13, quỹ Văn hoá Quốc gia (từ năm 2000), cùng với Chương tŕnh Phare của EU đă cấp tổng cộng 10.8 triệu USD cho các dự án văn hoá từ năm 1996 đến 2002.

Bảng 8: Đóng góp của các tổ chức phi chính phủ cho ngành văn hoá 1996-2002

 

Tổ chức

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

Tổng

Xă hội Mở

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Văn hoá

 

 

 

 

982 000

 

609 325

 

390 804

 

592 000

 

 

Truyền thông

 

 

 

 

329 000

207 111

 

130 000

 

193 000

 

 

Thư viện

 

 

 

 

 

196 871

 

228 597

 

 

Tổng

(Trong đó có cả Trung tâm nghệ thuật Soros )

1326 818

(-924989)

1050 504

(-686344)

2473 000

(-801295) 

1311 000  (-714388)

1 013 307

(-596769)

749 401

n.a.

 

8709 030

(-723785)

V́ Tương lai Bulgari

 

 

427 530

 

 

 

 

427 530

 

Chương tŕnh PHARE

 

 

1605 000

 

 

 

 

1605 000

Bulgari 13 Thế kỉ

 

49 636

 

 

 

 

 

49 636

Quỹ Văn hoá Quốc gia

 

 

 

 

19 931

216 764

562 479

799 174

Tổng

1326 818

1100 140

4505 530

1311 000

1033 238

966 165

1347 479

11590 370

Nguồn: Quỹ xă hội mở, Báo cáo hàng năm 1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002; Trung tâm Nghệ thuật Soros, Báo cáo hàng năm 1999, 2000; Quỹ Văn hoá Quốc gia, Báo cáo hàng năm 2000, 2001, 2002; Quỹ v́ tương lai Bulgari, báo cáo hàng năm 1997-1998

Rơ ràng là, tổ chức tài trợ chính cho văn hoá từ năm 1996 đến 2002 là Quỹ xă hội mở. Cũng vào giai đoạn này, Quỹ này, thông qua Trung tâm Nghệ thuật Soros đă phát triển các chương tŕnh đặc biệt (về nghệ thuật thị giác, kịch, âm nhạc, văn học, di sản), cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện để thực hiện các dịch vụ tư vấn cho các nghệ sĩ và chuyên gia của Bulgari cũng như của nước ngoài.

Tỉ lệ trợ cấp của nhà nước, được thực hiện thông qua ngân sách (464772400 USD) trên số tiền hỗ trợ của khối thứ ba (các tổ chức phi chính phủ) (11590370 USD) để hỗ trợ cho các dự án văn hoá từ năm 1996 đến 2002 tương đương với 40:1, nghĩa là 2.43% tổng số tiền đầu tư vào phát triển văn hoá là của các tổ chức phi chính phủ. Tỉ lệ này là b́nh thường đối với các quốc gia châu Âu có nền lập pháp phát triển, truyền thống lâu đời và giới kinh doanh phát triển hùng mạnh. ở các nước này tỉ lệ số tiền tài trợ trên tổng nguồn tài chính của lĩnh vực văn hoá là 6%.

8.1.3 Hỗ trợ cho các hiệp hội nghệ sĩ

Các hiệp hội nghệ sĩ hiện đang vận động hành lang tại Nghị viện để ban hành pháp luật về lao động và xă hội ưu đăi cho nghề nghiệp của các tổ chức này, cũng như vận động để thông qua luật thúc đẩy phát triển trị trường cho các tác phẩm nghệ thuật.

Các hiệp hội nghệ sĩ vẫn duy tŕ các quỹ nhằm giúp đỡ các thành viên hoặc hỗ trợ thu nhập hàng tháng đối với những người có thu nhập dưới ngưỡng nghèo. Các thành viên của hiệp hội được hưởng giảm giá đối với các hàng hoá và dịch vụ do hiệp hội cung cấp, của các doanh nghiệp hoặc tổ chức giải trí.

Một số hiệp hội đang đàm phán về mức lương tối thiểu mà người chủ lao động phải trả trong một số nghề nghiệp. Chỉ có một số ít có quỹ đặc biệt để hỗ trợ hoạt động sáng tạo. Tiền hỗ trợ này để trả một phần chi phí cho hoạt động sáng tạo và chi phí maketing.

8.2 Xu hướng tham gia và các số liệu

 

Một cuộc điều tra xă hội học “ư kiến của công chúng về đời sống văn hoá, vị trí của các nghệ sĩ và cải cách văn hoá” được thực hiện năm 1997 cho thấy rằng một tỉ lệ đáng kể dân số Bulgari (từ 0.3% đến 6%, tuỳ thuộc vào h́nh thức nghệ thuật) tham gia vào các h́nh thức truyền thống của đời sống văn hoá nhiều lần trong một tháng. Nếu chúng ta cộng thêm tỉ lệ những người tham gia vào các sự kiện nghệ thuật một lần trong ṿng vài tháng, chúng ta sẽ có một tỉ lệ khoảng từ 10 đến 15% dân số tham gia vào đời sống văn hoá. Những người chưa bao giờ đi xem phim, đến nhà hát, opera, hoà nhạc hoặc tham quan triển lăm nghệ thuật chiếm từ 70 đến 88% (tuỳ thuộc vào h́nh thức nghệ thuật) dân số. Đa số dân (56% dân số) sở hữu 100 đến 150 quyển sách, 6% đến 7% là những người tích cực sưu tầm sách, và 74% không thể nhớ được tên tác giả và tên sách lần gần đây nhất mà họ mua.

Sự tham gia vào đời sống văn hoá rơ ràng đang giảm xuống. Có hai lí do chính để giải thích cho điều này: khó khăn về kinh tế và xu hướng t́m đến các h́nh thức truyền bá văn hoá mới hơn và mang tính cá nhân: Truyền h́nh, video, cable, v.v... Xu hướng rơ ràng này có liên quan đến những thay đổi căn bản không chỉ trong sự thường xuyên, mà c̣n trong h́nh thức, tiêu chuẩn và điều kiện tham gia vào đời sống văn hoá.

Bảng 9: Tham gia vào đời sống văn hoá 1997-2003

Lĩnh vực/ Năm

1997

1998

1999

2000

2002

2003

Nhà hát

 

 

 

 

 

 

Số lượng các nhà hát

85

85

81

75

*

*

Số ghế

28 500

28 700

30 500

30 277

 

 

Chương tŕnh biểu diễn

12 700

12 600

12 500

10 465

 

 

Số lượng khách

2 100 000

1 900 000

1 600 000

 

 

 

Rạp chiếu bóng

Số lượng rạp chiếu bóng

- Ở  đô thị

- Nông thôn

 

216

 

 

205

 

 

191

 

 

179

 

 

*

149

 

 

190

 

83

168

158

 

130

26

22

23

21

 

19

Số lượng buổi chiếu

- Ở đô thị

- Ở  nông thôn

 

97 419

 

100 074

 

84 314

 

103 876

 

 

136 422

 

96 697

 

99 633

 

84 080

 

103 488

 

 

136 145

 

722

441

234

388

 

277

Số lượng người xem

- Ở  đô thị

-Ở nông thôn

 

3 186 000

 

3 204 000

 

1 923 000

 

1 860 484

 

3 530 595

 

3 165 000

 

3 189 000

 

1 909 000

 

 

 

3 508 000

 

21 000

15 000

14 000

 

 

2 595

Tiền bán vé (triệu BGL)

4 388.6

10 730.0

8 000

7 327

 

13 680

Thư viện và Câu lạc bộ văn hoá

 

Số thư viện

-Tài liệu trong thư viện (đơn vị '000)

 - Sách

 

7 675

98 516

 

 

79 645

7 483

97 536

 

 

78 571

7 283

96 701

 

 

77 756

7 091

95 737

 

 

76 615

49**

34 677

 

 

18 644

 

Số lượng các Câu lạc bộ văn hoá

-     - Ở  Đô thị

-    - Ở Nông thôn

 

 

3 646

 

 

536

3 110

3 125

 

 

514

2 611

3 056

 

 

510

2 546

2 933

 

 

508

2 485

3 000

 

 

n.a.

 

Thành viên (đơn vị '000)

-    - Ở  Đô thị

-   - Ở Nông thôn

 

 

219

 

96

123

191

 

86

105

180

 

81

99

171

 

79

92

n.a.

 

Bảo tàng và pḥng trưng bày

Tổng số người tham quan

4 268 000

5 646 000

5 053 000

3 938 000

3 554 515

 

- trong đó số người tham quan các pḥng trưng bày nghệ thuật

905 000

1 685 000

1 503 000

880 000

590 615

 

 

Từ năm 2002, NSI sẽ cập nhật dữ liệu về các nhà hát, rạp chiếu bóng, các câu lạc bộ văn hoá 5 năm một lần.

Từ năm 2002 NSI sẽ chỉ đưa vào dữ liệu những thư viện có số lượng tài liệu trên 200000.

Nguồn: Niên giám thống kê, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003

Bảng 9 và 10 cung cấp số liệu về sự tham gia trong các lĩnh vực của đời sống văn hoá không nhận được trợ cấp đáng kể của nhà nước (và của thành phố), chủ yếu trong lĩnh vực xuất bản sách và các lĩnh vực truyền thông in ấn.

Bảng 10: Xuất bản sách và brochures (sách mỏng và nhỏ nhằm mục đích thông tin, quảng cáo) , 1998-2003

Năm

Số đầu sách

Số lượng lưu thông – ngh́n

B́nh quân số lượng lưu thông mỗi quyển sách – ngh́n

1998

4 863

11 873.9

2.4

2000

5 027

9 363.2

1.9

2001

4 984

6 567.1

1.3

2002

6 018

5 616.2

0.9

2003

5 511

4 483.5

0.8

Nguồn: Viện thống kê Quốc gia, “Bulgari 2004”, Sofia, 2004.

Bảng 11.  Xuất bản báo, tạp chí và bản tin, 1998-2003

Năm

Đầu báo – số lượng bản

Báo

Đầu báo – số lượng bản

Tạp chí và bản tin

 

 

In hàng năm

 

In hàng năm

 

 

Ngh́n bản

B́nh quân đầu người – Số lượng bản

 

Ngh́n bản

B́nh quân đầu người – Số lượng bản

1998

644

428 430.3

51.9

639

14 121.3

1.7

2000

545

442 570.5

54.2

647

19 149.6

2.3

2001

465

375 244.2

47.2

678

16 999.4

2.1

2002

401

358 423.6

45.5

673

15 184.0

1.9

2003

386

297 687.7

38.1

661

17 034.3

2.2

 

Nguồn: http://www.nsi.bg

8.3 Các chương tŕnh và chính sách thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá

 

Các chương tŕnh đặc biệt hoặc sáng kiến chính sách được thực hiện chủ yếu bởi Bộ Văn hoá thông qua các trung tâm nghệ thuật quốc gia, nhằm hỗ trợ các chương tŕnh văn hoá, các dự án sáng tạo thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá. Bộ Văn hoá thực hiện hỗ trợ thường xuyên, mặc dù với lượng tài chính hạn hẹp, đối với các hoạt động có tính chất giáo dục trong các lĩnh vực như hoà nhạc, lễ hội, các cuộc thi, và nghệ thuật không chuyên. Một số tổ chức văn hoá - như nhà hát, opera, giàn giao hưởng – thực hiện giảm giá vé hoặc có các chương tŕnh biểu diễn miễn phí cho những người hưu trí, học sinh sinh viên và trẻ em.

Từ năm 2000, Trung tâm Sách Quốc gia bắt đầu hỗ trợ cho việc mua sách của những độc giả tích cực (các học sinh và sinh viên) với tổng số tiền lên đến 10 000 BGL (tương đương 6 000 USD) vào hai lần mỗi năm – tại các triển lăm sách vào mùa xuân và mùa thu ở Sofia. Mỗi độc giả tích cực có thể nhận được số tiền hỗ trợ từ 10 đến 50 UDS mỗi năm.

8.4 Các tổ chức nghệ thuật không chuyên, trung tâm cộng đồng

8.4.1 Nghệ thuật không chuyên

Lĩnh vực nghệ thuật không chuyên chủ yếu được hỗ trợ bởi các thành phố, và một phần là của Bộ Văn hoá, và các nhà tài trợ. Số lượng các lễ hội văn hoá ở địa phương ngày càng tăng lên.

Nghệ thuật không chuyên ở Bulgari, ngay từ khi mới h́nh thành, có liên quan rất nhiều đến các câu lạc bộ văn hoá. Đă có một sự sụt giảm đáng kể số lượng các tổ chức nghệ thuật không chuyên, những người biểu diễn và lượng người xem (đặc biệt là từ năm 1990). Trong ba hoặc bốn năm vừa qua, t́nh h́nh bắt đầu ổn định, điều này được thể hiện bằng sự tăng lên của các sự kiện nghệ thuật không chuyên: các lễ hội, cuộc thi, hội truyền thống. Đa số các sự kiện trên đều liên quan đến văn hoá, nghệ thuật dân gian và nghề thủ công.

8.4.2 Các nhà văn hoá và câu lạc bộ văn hoá cộng đồng

Câu lạc bộ văn hoá cộng đồng là một h́nh thức hoạt động văn hoá quan trọng. Dự án BUL/00/002 của UNDP, Phát triển cộng đồng và sự tham gia vào đời sống văn hoá thông qua mạng lưới các Câu lạc bộ văn hoá 2001-2004 là một trong những chương tŕnh quan trọng nhất nhằm phát triển cơ sở hạ tầng cho các câu lạc bộ văn hoá ở Bulgari. Bằng việc dựa trên hệ thống các nhà văn hoá hiện có, dự án này đă xác định một vai tṛ lớn hơn và ổn định hơn cho các Chitalisthe. Căn cứ vào những thế mạnh truyền thống của các Câu lạc bộ văn hoá, người ta thấy được tiềm năng của chúng để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá ở cấp cơ sở cũng như sự phát triển của địa phương. Trong số các chiến lược nhằm nâng cao năng lực cho các Câu lạc bộ văn hoá cho chiến lược ICT. Chiến lược này thực hiện hỗ trợ cho các “dự án thí điểm” và các sáng kiến nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng.

 

(Nguồn Culturalpolicies)