1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác
8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
Vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, môi trường văn hoá được cấu thành bởi những giá trị và mục tiêu hướng đến sự tự khẳng định, sự hài hoà với văn hoá châu Âu, cởi mở đối với những ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai, khai sáng, và ở mức độ nào đó là thi đua. Các tổ chức văn hoá được xem là phương tiện để thúc đẩy sự tự tin của quốc gia và xác nhận các giá trị của văn hoá châu Âu.
Mục tiêu này thay đổi khi chế độ cộng sản lên nắm quyền vào năm 1948. Trong 45 năm dưới chế độ cộng sản, chính sách văn hoá mang những đặc điểm sau:
· Tập trung hoàn toàn các quá tŕnh văn hoá dưới sự quản lí của nhà nước;
· Độc quyền về hệ tư tưởng đối với sự phát triển các giá trị văn hoá;
· Sự phát triển rộng răi của các tổ chức chuyên chế về văn hoá;
Nghệ thuật được xem là một phương tiện để giáo dục và khai sáng hơn là giải trí, và do đó trách nhiệm đối với nghệ thuật và văn hoá được tuyên bố là lĩnh vực thuộc độc quyền của nhà nước. Các tổ chức chuyên chế về văn hoá được thành lập bao trùm trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá. Hệ thống xă hội phải ủng hộ và thực thi chế độ bảo hộ văn hoá và chính trị của hệ tư tưởng cộng sản.

Thay đổi về chế độ đánh dấu sự kết thúc của mọi h́nh thức hoặc sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân trong việc truyền bá các giá trị văn hoá và tác phẩm nghệ thuật. Ví dụ, Luật Kinh doanh điện ảnh, được thông qua đầu năm 1948, đă loại bỏ các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực làm phim; nhập khẩu và phân phối phim trở thành lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước. Quốc hữu hoá các nhà in tư nhân bắt đầu từ năm 1947, và hầu hết các nhà in tư nhân đă bị đóng cửa vào tháng 5/ 1948. Luật in ấn được ban hành năm 1940 đă tạo ra những thay đổi tương tự như đối với lĩnh vực phim. Việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về văn hoá, khoa học và nghệ thuật vào năm 1948 để thay thế cho Pḥng Văn hoá Quốc gia là bước đi cuối cùng của việc thiết lập một hệ thống tập trung các cơ quan quản lí văn hoá. Hệ thống này áp đặt sự kiểm soát lên toàn bộ mọi mặt của đời sống văn hoá và trên thực tế đă biến văn hoá trở thành một công cụ để đạt được những mục tiêu phi văn hoá - ví dụ như chính trị, tư tưởng, xă hội và tuyên truyền.
Các liên hiệp (tvorcheski suyuzi) trở thành một công cụ tuyên truyền của chế độ độc quyền nhà nước về văn hoá và kiểm soát toàn bộ quá tŕnh sáng tạo và truyền bá các tác phẩm nghệ thuật, hoàn toàn xoá bỏ sự thể hiện của cá nhân. Các nghệ sĩ, vốn có mối liên quan chặt chẽ với nhà nước thậm chí ngay cả trước khi thiết lập chê độ toàn trị, th́ trở nên phụ thuộc hoàn toàn vào Đảng cộng sản-Nhà nước và trên thực tế đă biến thành các viên chức.
Đầu những năm 1950, hệ thống các tổ chức văn hoá đă được thành lập và hoạt động ổn định. Mỗi yếu tố của hệ thống này phụ thuộc một cách có thứ bậc và là đối tượng chịu kiểm soát của Đảng Cộng sản và Nhà nước. Các chính sách văn hoá lúc đó theo đuổi các tư tưởng chính thống, và bất cứ h́nh thức chống đối nào đều bị trừng trị.
Măi đến sau năm 1956, lời kêu gọi cải tổ của Khrushchev đă mang lại một sự nới lỏng về môi trường tư tưởng. Chính sách đó được Đảng Cộng sản Bulgari gọi là “Chính sách tháng Tư”, nhưng rồi nhanh chóng bị lăng quên sau “Mùa xuân Prague” tháng 8/1968. Giai đoạn tŕ trệ sau đó được ca tụng như là giai đoạn “nở hoa của nghệ thuật xă hội chủ nghĩa”.
Vào đầu những năm 1970 đă diễn ra phong trào gọi là “nguyên tắc nhà nước kết hợp cùng nhân dân” trong quản lí văn hoá, theo đó việc quản lí văn hoá phải có sự tham gia của mọi cơ quan và mở rộng triệt để cho sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, trong các quá tŕnh ban hành quyết định. Văn pḥng và Ban chủ tịch của Uỷ ban Văn hoá là những cơ quan được thành lập do bầu cử, nhưng những người đứng đầu cơ quan này và thành viên của nó phải có sự thông qua của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Sự tham gia của công chúng trong các cuộc tranh luận về văn hoá nhanh chóng trở thành một nghi thức nhằm tạo ra tính hợp pháp cho những quyết định đă được ban hành. Việc đề cao phong trào này như là một thành tựu về dân chủ của chính sách văn hoá Bulgari đă chứng minh cho chiến lược tuyên truyền mị dân: mặc dù tuyên bố rằng có sự tham gia của mọi cơ quan khác vào lĩnh vực văn hoá, việc quyết định thực sự chỉ diễn ra trong Đảng cộng sản.
Tuy nhiên, các nghệ sĩ Bulgari nh́n chung đă dành được sự độc lập sáng tạo nhất định vào cuối thời ḱ toàn trị. Sự kiểm soát của nhà nước đối với các liên hiệp hoạt động sáng tạo đă được nới lỏng và chúng trở thành nơi trú ẩn an toàn cho các thành viên. Thay v́ đàn áp dă man những lời chỉ trích, các liên hiệp này bắt đầu dành những ưu tiên và bảo đảm về tài chính cho một số cá nhân nhất định. Dưới ảnh hưởng của cải tổ kinh tế Liên Xô vào giữa những năm 1980, một số liên hiệp đă chuyển thành những tổ chức đối lập bao gồm những trí thức, và đại hội năm 1989 của họ đă trở thành một diễn đàn chống lại hệ thống cộng sản.
Chính sách văn hoá của Bulgari sau năm 1989.
Văn hoá là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế và tâm lư trong giai đoạn chuyển đổi. Vào lúc này, quá tŕnh cải tổ trong xă hội đă có một tác động đặc biệt tích cực đối với văn hoá.
Trong giai đoạn chuyển đổi, sự phát triển văn hoá ở Bulgari là việc t́m kiếm cách thức tốt nhất để phát triển, tiến lên phía trước. Các quan niệm thường xuyên bị thay đổi. Một số hoạt động của các cấp chính quyền cũng từ đó mà thay đổi theo. Có rất ít sự phối hợp giữa các cấp quản lí. Trách nhiệm chính về hỗ trợ tài chính cho văn hoá được phi tập trung, sau đó lại tái tập trung. Các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân ít quan tâm đến hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá.
Trong những năm gần đây, mọi việc đă bắt đầu được giải quyết. Các quy định mới đă xác định rơ ràng trách nhiệm của các cấp chính quyền. Có những bước tiến bộ đáng kể của xă hội công dân. Khối thứ ba (các tổ chức phi chính phủ) được củng cố và khối kinh doanh bắt đầu cho thấy những dấu hiệu tham gia vào quan hệ đối tác.
Mô h́nh chính sách văn hoá của Bulgari vẫn đang h́nh thành, tuy nhiên có thể chỉ ra những yếu tố quan trọng nhất:
· Sự độc lập về tư tưởng của các nghệ sĩ và các tổ chức văn hoá, sự kiểm duyệt đă được băi bỏ;
· Các tổ chức văn hoá trở thành trung gian giữa các nghệ sĩ và công chúng;
· Các thành phố ngày càng độc lập trong việc theo đuổi các chính sách văn hoá của riêng ḿnh;
· Những nhân tố mới đă xuất hiện: các quỹ hội, tổ chức văn hoá tư nhân, hội nghề nghiệp, v.v..;
· Các cộng đồng thiểu số bây giờ có thể tham gia vào hoạt động văn hoá chung mà không sợ bị mất đi bản sắc.
2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
2.1 Mô tả tổng quá chung về hệ thống

Ở cấp quốc gia, trách nhiệm ban hành và thực hiện chính sách văn hoá được chia sẻ giữa Cơ quan Lập pháp (Quốc hội), và Cơ quan Hành pháp (Hội đồng Chính phủ). Ở cấp địa phương, chính sách văn hoá được thực hiện bởi các cơ quan của chính quyền tự trị tại địa phương.
Cơ quan hành pháp trung ương có thẩm quyền đề xuất việc ban hành pháp luật trong lĩnh vực văn hoá và quy định những nguyên tắc chủ đạo của chính sách văn hoá quốc gia là Bộ Văn hoá.
Đứng đầu Bộ Văn hoá là Bộ trưởng, các Thứ trưởng và Tổng thư kí. Các cơ quan thuộc Bộ trưởng bao gồm Tiếp tân, Pḥng Quan hệ đối ngoại và Thanh tra. Bộ trưởng có sự cố vấn của một Collegium và một số hội đồng chuyên gia đại diện cho các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.
Bộ bao gồm các 8 Ban (Vụ), 6 Ban chịu trách nhiệm trước hai Thứ trưởng là Văn pḥng Luật; Bản quyền và các quyền liên quan; Chính sách văn hoá quốc tế; Chính sách văn hoá vùng; Chính sách văn hoá và thông tin, phát triển, phân tích và dự báo; và Chính sách đầu tư, quản lí tài sản Nhà nước và bảo vệ các công tŕnh văn hoá.
Tổng Thư kí có trách nhiệm đối với 2 ban c̣n lại: Dịch vụ hành chính, Pháp lí và thông tin; Quản lí nguồn lực tài chính.
Bộ Văn hoá áp dụng các chính sách cụ thể cho mỗi lĩnh vực thông qua các Trung tâm quốc gia, đây là những cơ quan có quy chế pháp lí và ngân sách độc lập: Ban Điều hành “Trung tâm phim Quốc gia”, Trung tâm Quốc gia múa và âm nhạc, Trung tâm Quốc gia về bảo tàng, pḥng trưng bày và nghệ thuật thị giác, Trung tâm Quốc gia về sách và Trung tâm Quốc gia về kịch. Viện Quốc gia về các công tŕnh văn hoá là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ các thắng cảnh văn hoá.
Hoạt động của các cơ quan, trung tâm quốc gia và viện nói trên được định hướng bởi một chương tŕnh do bộ thông qua, được giám sát bởi một thứ trưởng và thực thi bởi các giám đốc của các cơ quan này.
Các cấp quản lí thấp hơn (địa phương) là những đơn vị hành chính: quận (oblast) và thành phố (obshtina). Đơn vị hành chính lănh thổ chủ yếu là thành phố (có 262 thành phố), có quyền độc lập về mặt pháp lí, và có các quyền về tài sản và tự do về thành lập hội. ở cấp thành phố, thẩm quyền về văn hoá được thực hiện theo h́nh thức địa phương tự trị, bao gổm kiểm soát về tài chính, thẩm quyền này được giao cho các Hội đồng Văn hoá của các thành phố. Thẩm quyền văn hoá của cấp quận (okoliya) chưa được quy định rơ ràng.
2.2 Hợp tác giữa các ngành và các cấp chính quyền
Bên cạnh việc phân chia quản lí văn hoá, tồn tại các uỷ ban điều phối các hoạt động của chính quyền trung ương. Văn hoá chỉ là một phần trong thẩm quyền chung của các uỷ ban này. Các uỷ ban này c̣n được thành lập để quản lí các lĩnh vực khác như giáo dục, chính sách ngoại giao, thanh niên, du lịch, sinh thái. Có các Uỷ ban thường trực và Uỷ ban lâm thời có chức năng tư vấn và đề xuất ban hành luật. Hội đồng tư vấn về các vấn đề văn hoá chịu trách nhiệm trước Tổng Thống.
2.3 Hợp tác văn hoá quốc tế
Trong những năm gần đây, chính sách văn hoá quốc tế của cộng hoà Bulgari đă mang tính cởi mở, đối thoại, và ưu tiên cho việc gia nhập các cơ cấu và tổ chức văn hoá quốc tế. Bulgaria đón nhận văn hoá châu Âu và thế giới, và khuyến khích việc quảng bá các giá trị văn hoá đỉnh cao của quốc gia ra nước ngoài theo nhiều cách thức khác nhau.
Hợp tác văn hoá đa phương

Bulgaria đă tham gia vào Liên minh Kaleidoscope (Vạn hoa), các chương tŕnh văn hoá Ariane và Raphael. Năm 1998, 7 dự án (trong số 19 dự án ) có sự tham gia của Bulgari trong chương tŕnh Kaleidoscope đă được chấp thuận, 3 dự án (trong số 12 dự án) tham gia vào chương tŕnh Ariane đă được thông qua, và một (trong số 3) dự án có sự tham gia của Bulgari vào chương tŕnh Raphael cũng được thông qua.
Bulgari gia nhập Chương tŕnh văn hoá 2000 của EU (2000-2004) năm 2001. Ban Hội nhập thuộc Vụ Chính sách văn hoá quốc tế có trách nhiệm tuyên truyền thông tin về chương tŕnh này cũng như tư vấn cho các dự án muốn xin hỗ trợ từ chương tŕnh và điều phối các hoạt động liên quan. Trung tâm Văn hoá châu Âu-Bulgari cũng thực hiện hỗ trợ đối với những bên thực hiện dự án muốn xin nhận hỗ trợ từ chương tŕnh Văn hoá 2000.
Trong giai đoạn 2001-2004, 37 dự án có sự tham gia của Bulgari đă được chương tŕnh Văn hoá 2000 phê chuẩn; trong số đó có 10 dự án do phía Bulgari chỉ đạo, 20 dự án do Bulgari làm đồng tổ chức, 7 dự án Bulgari tham gia với tư cách là đối tác liên kết.
Bulgari gia nhập Chương tŕnh MEDIA II năm 2000, và đă được chương tŕnh này hỗ trợ cho 2 dự án. Năm 2002, Bulgari tham gia chương tŕnh MEDIA Plus, và năm 2004 Văn pḥng MEDIA quốc gia đă được thành lập. Trong giai đoạn 2002-2004, 28 dự án có sự tham gia của Bulgari tham gia đă được phê chuẩn.
Năm 2000, Bulgari trở thành quốc gia Nam Âu thứ hai ban hành Chính sách về chương tŕnh văn hoá của Quỹ Văn hoá châu Âu và Hiệp hội ECUMEST. Một cuộc tranh luận rộng răi về sự phi tập trung đă được phát động và một số dự án với sự tham gia của các chính quyền địa phương và tổ chức phi chính phủ đă được thực hiện trong khuôn khổ chương tŕnh này.
Hợp tác văn hoá quốc tế diễn ra dưới nhiều h́nh thức khác nhau. Trong nhiều trường hợp, những sự kiện văn hoá quy mô lớn – như tháng châu Âu năm 1999 - đă được phát động với sự tham gia của các khối nhà nước, tư nhân, tổ chức phi chính phủ.
Tháng 6/ 2003, Bulgari là một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Âu tham gia vào Chương tŕnh Di sản văn hoá và Dân tộc vùng Đông Nam Âu (RPSEE) của Hội đồng châu Âu và Uỷ ban châu Âu (với sự hỗ trợ của chương tŕnh Văn hoá 2000).
Văn hoá Bulgari được giới thiệu ở Brussel và các thành phố khác ở Bỉ trong bốn tháng của lễ hội Europalia – Bulgaria 2002.
Hợp tác văn hoá song phương
Bulgari có 8 viện văn hoá ở nước ngoài, được thành lập theo các hiệp định song phương. Các viện này được đặt tại các thành phố: Berlin, Bratislava, Budapest, Prague (Pra-ha), Moscow, Warsaw (Vác-Sa-Va), Vienna (Viên) và Paris.
Viện Văn hoá nghệ thuật “Boris Christoff” của Bulgari là cơ quan thường trú trợ giúp các khoá học cao cấp cho các tài năng trẻ opera của Bulgari ở Rome.
3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay
Trong quá tŕnh Bulgari chuyển đổi sang mô h́nh dân chủ và kinh tế thị trường, một loạt các cải cách văn hoá đă được thực hiện trong mười năm qua và nhằm vào các mục tiêu sau:
Phi tập trung, vốn được xem là ưu tiên hàng đầu của quá tŕnh chuyển đổi, vẫn là một vấn đề gây tranh luận cả trong phạm vi văn hoá và trong các lĩnh vực nói chung. Hiện nay, có 3 nguyên nhân dẫn đến sự tranh luận này:
§ Chính quyền trung ương và cơ quan lập pháp, một mặt thực hiện phi tập trung việc hỗ trợ tài chính và viện quản lí các tổ chức văn hoá, mặt khác lại duy tŕ sự kiểm soát một phần đối với các tổ chức văn hoá;
§ Chính quyền địa phương muốn có sự độc lập hơn, nhưng cũng muốn đẩy các trách nhiệm và việc hỗ trợ tài chính cho văn hoá sang chính quyền trung ương;
§ Các tổ chức phi chính phủ là lực lượng tích cực nhất ủng hộ việc phi tập trung này, tuy nhiên vai tṛ của nó vẫn yếu kém do không thiết lập được một mạng lưới và không gây được ảnh hưởng đối với cơ quan lập pháp và việc tạo dư luận.
Mô h́nh chính sách tài khoá mà Chính phủ trung ương theo đuổi là mô h́nh tập trung, với việc trợ cấp ngang bằng cho các hệ thống và các tổ chức văn hoá đang tồn tại. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và những hạn chế về ngân sách, điều này có nghĩa là số tiền dành cho các hoạt động quan trọng ngày càng ít đi và làm cho một số cơ cấu trở nên thiếu tính chuyên nghiệp. Trong vài năm qua, Bộ Văn hoá đă bắt đầu hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hoá của những tổ chức này trên cơ sở cạnh tranh, do đó không thể có sự phân biệt trong cách cho một tổ chức văn hoá cụ thể dựa trên đóng góp của tổ chức đó đối với văn hoá và nghệ thuật và dựa trên hiệu quả kinh tế của các hoạt động của tổ chức đó. Cách hỗ trợ tài chính mới này dựa trên việc chuyển giao một phần trợ cấp nhà nước cho các tổ chức văn hoá để củng cố các dự án sáng tạo trên cơ sở đối xử b́nh đẳng đối với các bên xin hỗ trợ.

Những năm gần đây, việc đồng hỗ trợ tài chính – của trung ương và thành phố – cho các rạp kịch, opera, và giàn giao hưởng đă có những kết quả tích cực. Tuy nhiên, do những khó khăn thường trực về tài chính của các thành phố nên không phải dễ dàng để đạt được thoả thuận với Bộ Văn hoá về phần đóng góp của các thành phố, và các thành phố không phải bao giờ cũng thực hiện được điều đă thoả thuận. Đó là lí do việc phát triển các chính sách và chiến lược văn hoá ở địa phương vẫn chỉ mang tính mục tiêu (lí thuyết) hơn là thực tế. Lĩnh vực điện ảnh và văn học không có các tổ chức được nhận hỗ trợ của nhà nước – các khoản hỗ trợ của nhà nước được thực hiện bằng h́nh thức cấp tài trợ cho các dự án cụ thể trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh.
3.2 Định nghĩa văn hoá
Luật Bảo vệ và phát triển văn hoá định nghĩa văn hoá “ là hoạt động liên quan đến sáng tạo, nghiên cứu, truyền bá và bảo vệ các giá trị văn hoá, cũng như các kết quả của hoạt động này”.
Định nghĩa này chỉ đúng với cho văn hoá theo nghĩa hẹp và có xu hướng áp dụng cho các tổ chức văn hoá, lĩnh vực nghệ thuật và các hoạt động liên quan. Văn hoá theo nghĩa rộng, liên quan đến con người và sự phát triển của con người, là một khía cạnh quan trọng của chất lượng cuộc sống. Trong thời ḱ chuyển giao hiện nay, văn hoá có thể trở thành một yếu tố chính thúc đẩy dân chủ và là ṇng cốt của xă hội dân sự.
3.3 Mục tiêu chính sách văn hoá
Bulgari đang ở đoạn đầu của con đường hướng đến dân chủ, nhưng nói chung các mục tiêu chính sách văn hoá quốc gia đáp ứng được các nguyên tắc phát triển văn hoá mà các nước thành viên EU đă đặt ra.
4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận
4.1 Các vấn đề chính sách văn hoá quan trọng và những ưu tiên
Các ưu tiên trong chính sách văn hoá của Bulgari bao gồm:
§ Ǵn giữ các giá trị văn hoá và di tích lịch sử;
§ Tạo điều kiện để phát triển và làm giàu mọi khía cạnh của văn hoá, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững;
§ Ban hành cơ chế hiệu quả về hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá và t́m kiếm các h́nh thức cung cấp tài chính khác, các nguồn cung cấp khác;
§ Hoàn thiện khung pháp lí trong lĩnh vực văn hoá.
Việc gia nhập EU, một mục tiêu lớn, đă đặt ra nhiều thách thức cho chính sách văn hoá quốc gia. Trong khi hướng tới các quá tŕnh văn hoá toàn châu Âu, Chính sách văn hoá của Bulgari đồng thời thúc đẩy vị trí của nền văn hoá Bulgari ở châu Âu bằng cách ǵn giữ các giá trị và bản sắc dân tộc. Chính sách văn hoá nhằm hướng đến hỗ trợ sự sáng tạo, bảo vệ và truyền bá các giá trị văn hoá, cũng như tạo môi trường để thúc đẩy và bảo vệ sự đa dạng văn hoá, tự do và sáng tạo.
Bộ Văn hoá hợp tác với các tổ chức khác của Chính phủ trong các lĩnh vực giáo dục, môi trường, du lịch, thể thao v.v.. cũng như với rất nhiều tổ chức phi chính phủ và các tổ chức nghề nghiệp để đạt được các mục tiêu chính sách văn hoá. Cân bằng lợi ích của các trung tâm nghệ thuật quốc gia, chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức nghề nghiệp về văn hoá là nguyên tắc định hướng trong chính sách văn hoá thời gian gần đây.
Trong việc h́nh thành và thực hiện chính sách văn hoá hiện nay, Bộ Văn hoá đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc hỗ trợ. Nguyên tắc này giả định nghĩa vụ và trách nhiệm chia sẻ v́ một mục tiêu chung của các tổ chức và công và công dân không chỉ đơn giản là năng lực của họ với tư cách là người đóng thuế, mà c̣n thông qua việc đóng góp tự nguyện của họ về thời gian, công sức. Trong giai đoạn chuyển đổi, ư tưởng về hỗ trợ nhằm tạo ra một h́nh thức mới của cộng đồng hơn là sự hỗn độn khi Nhà nước đă từ bỏ vai tṛ lănh đạo của ḿnh.
4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và các tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số
Nghị viện đă phê chuẩn Công ước khung về bảo vệ dân tộc thiểu số (Hội đồng châu Âu) vào năm 1999.
Trong phiên thảo luận về chính sách văn hoá quốc gia, tổ chức năm 1998, cơ quan hành pháp và các tổ chức phi chính phủ đă nhấn mạnh đến văn hoá của người dân tộc thiểu số như là một phần không thể tách rời trong di sản văn hoá quốc gia.

Mặc dù có hạn chế về ngân sách, Bộ Văn hoá vẫn thực hiện hỗ trợ các dự án như Trung tâm Văn hoá Thông tin Roma, Nhà hát Roma, các lễ hội và các dự án của các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau. Bộ Văn hoá đă thành lập Hội đồng đa dạng văn hoá để thực hiện tư vấn các vấn đề liên quan đến đa dạng văn hoá.
Các tổ chức phi chính phủ như Quỹ xă hội mở, Sáng kiến nhân quyền, SEGA và Trung tâm quốc tế về nghiên cứu dân tộc thiểu số và quan hệ giữa các nền văn hoá, thực hiện hỗ trợ đối với việc xuất bản các ấn phẩm định ḱ, tổ chức các sự kiện, các buổi biểu diễn của các nhóm dân tộc thiểu số. Sự hỗ trợ này được thực hiện trên cơ sở các điều tra xă hội học. Các điều tra này cho thấy rằng văn hoá của các dân tộc thiểu số ngày càng tăng về số lượng người tiêu dùng hơn là chỉ tăng về số người sản xuất ra các sản phẩm văn hoá. Đó là một trong các lí do giải thích cho việc vào năm 2003, hai tổ chức văn hoá quốc gia đă được thành lập trong các vùng có cộng đồng rất lớn những người gốc Thổ Nhĩ Ḱ: Viện Kadrie Lyatifova ở Kurdjali và Viện Nazim Hikmet ở Razgrad. Nhiệm vụ của hai tổ chức này là tạo ra và dàn dựng các vở kịch, múa và âm nhạc; ǵn giữ các yếu tố bản sắc của người Thổ Nhĩ Ḱ như ngôn ngữ, truyền thồng và di sản văn hoá; và thúc đẩy đối thoại và hoà giải giữa các nền văn hoá.
Một diễn biến rất quan trọng là việc thành lập Hội đồng Quốc gia về các vấn đề dân tộc và nhân khẩu học (NCEDA) trong khuôn khổ hội đồng các Bộ trưởng. NCEDA thực hiện xây dựng chính sách văn hoá quốc gia, với sự tham vấn của cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.
Hội nhập các dân tộc thiểu số đă được xác định là một trong những ưu tiên quốc gia cùng với việc phi tập trung trong hỗ trợ giáo dục cho các dân tộc thiểu số. Hội đồng các vấn đề dân tộc và nhân khẩu học ở cấp địa phương cũng đă được thành lập tại các vùng khác nhau và những hội đồng này bao gồm các đại diện của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở địa phương.
Một yếu tố quan trọng khác là việc sửa đổi Luật Truyền thông, đă loại bỏ được nguy cơ phân vùng các nền văn hóa dân tộc thiểu số, ví dụ như tạo ra các vùng dân tộc thiểu số bằng các phương tiện phát thanh và truyền h́nh như là một bước mở đầu cho sự phân biệt về lănh thổ dựa trên yếu tố dân tộc.
Chương tŕnh Quốc gia về hội nhập b́nh đẳng của người Roma vào xă hội Bulgari được ban hành năm 1999 là một trong những biện pháp quan trọng liên quan đến các nhóm dân tộc thiểu số. Chương tŕnh này là kết quả của một thoả thuận đạt được giữa các tổ chức của người Roma và một cơ quan đại diện của chính phủ, và được ban hành bằng một nghị quyết của Hội đồng các Bộ trưởng. Chương tŕnh này xác định các ưu tiên sau:
· Chống lại việc phân biệt đối xử, bao gồm cả sửa đổi pháp luật cho hiệu quả hơn (ban hành các quy định về chống phân biệt đối xử trong luật giáo dục, chăm sóc y tế, phát triển vùng, và thể thao; quy định trong Luật H́nh sự động cơ phân biệt chủng tộc để thực hiện tội phạm được xem là t́nh tiết tăng nặng);
· Phát triển kinh tế: các biện pháp về việc làm, hỗ trợ xă hội và phân bổ đất đai;
· Chăm sóc y tế: thắt chặt các chương tŕnh kiểm soát vệ sinh và giáo dục sức khoẻ;
· Phát triển vùng có người Roma sinh sống;
· Giáo dục: xoá bỏ t́nh trạng biệt lập các trường của người Roma ; hỗ trợ và khuyến khích các lớp học mẫu giáo cho trẻ em Roma có điều kiện khó khăn hoặc là trẻ em không muốn học tiếng Bulgari; khuyến khích bổ nhiệm giáo viên có tŕnh độ đại học; các chương tŕnh giáo dục và đào tạo cho người Roma (chỉ dành cho người lớn);
· Bảo vệ các đặc trưng dân tộc và văn hoá của người Roma;
· Sự hiện diện của người Roma trên các phương tiện truyền thông;
· Tạo ra sự b́nh đẳng về văn hoá giữa những người phụ nữ Roma.
Sự tham gia tích cực của cộng đồng người Roma trong việc xây dựng và thực hiện chương tŕnh này là một yếu tố rất quan trọng.
Trong chuyến viếng thăm Sofia năm 2000, Ông Romano Prodi đă nhận xét việc ban hành Chương tŕnh này một trong những dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự tiến triển trong việc gia nhập EU của Bulgari.
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá là nội dung chủ yếu trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Ví dụ, Quỹ Bulgari nghiên cứu về giới là một tổ chức phi chính phủ có mục tiêu thúc đẩy công bằng xă hội, b́nh đẳng giới và nhân quyền thông qua việc nghiên cứu, giáo dục, thay đổi pháp luật và hoạt động bào chữa. Quỹ xă hội mở có một chương tŕnh đặc biệt về giới. Chương tŕnh này đă hỗ trợ tổng cộng 255 584 USD cho nhiều dự án khác nhau trong giai đoạn từ 1999-2001. Một số tổ chức phi chính phủ đặc biệt chú trọng đến sự hội nhập b́nh đẳng của phụ nữ các cộng đồng dân tộc thiểu số - đặc biệt là phụ nữ Roma – vào đời sống xă hội của Bulgari.
4.2.3 Ngôn ngữ và các chính sách
Theo hiến pháp cộng hoà Bulgari, ngôn ngữ chính thức là tiếng Bulgari. Vấn đề “tiếng mẹ đẻ” (thuật ngữ “tiếng dân tộc thiểu số” không được sử dụng trong hiến pháp Bulgari) được quy định trong hai luật cụ thể. Luật thứ nhất liên quan đến Phát thanh và Truyền h́nh. Luật Phát thanh Truyền h́nh (Điều 12 (2)) đưa ra các trường hợp theo đó các chương tŕnh có thể phát sóng bằng ngôn ngữ không chính thức: 1) khi phát sóng dành cho mục đích giáo dục và 2) khi chương tŕnh đó dành cho các công dân Bulgari mà tiếng mẹ đẻ của họ không phải là tiếng Bulgari. Luật thứ hai quy định vị trí của “tiếng mẹ đẻ” như là một môn học trong các trường học, là Luật Giáo dục Quốc gia (tại Điều 8 (2)) và Luật Giáo dục phổ thông (tại điều 15 (3)). Theo Luật giáo dục Quốc gia, học sinh mà tiếng mẹ đẻ không phải tiếng Bulgari có quyền được học tập bằng tiếng mẹ đẻ của ḿnh tại các trường học của thành phố với sự bảo vệ và kiểm soát của nhà nước; Luật giáo dục phổ thông quy định “tiếng mẹ đẻ” là “môn giáo dục phổ thông không ép buộc” nghĩa là nếu học sinh muốn học tiếng mẹ đẻ của ḿnh th́ thành phố hoặc nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp chương tŕnh học đó.
Các cuộc tranh luận chủ yếu liên quan đến Luật giáo dục Quốc gia, và liên quan đến trách nhiệm của các thành phố trong việc cung cấp các nguồn lực cần thiết và các giáo viên đủ tŕnh độ. Ngoài ra những công dân và giới truyền thông có xu hướng theo chủ nghĩa dân tộc cũng tranh luận về sự cần thiết về việc phát các bản tin bằng tiếng Thổ Nhĩ Ḱ trên NBT, tuy nhiên các ư kiến của họ không nhận được sự ủng hộ rộng răi của công chúng.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

Bulgari có các đài phát thanh và truyền h́nh của nhà nước cũng như tư nhân. Mạng lưới các đài này phủ sóng toàn quốc gia, một số đài phát thanh và truyền h́nh của tư nhân chỉ cung cấp tin tức trong một vùng nhất định. Các sự kiện văn hoá và các vấn đề quốc tế, quốc gia và địa phương được truyền tải đầy đủ trong các chương tŕnh phát thanh truyền h́nh. Cả đài của nhà nước và tư nhân đều có các chương tŕnh, hầu hết là hàng tuần, dành cho các cộng đồng thiểu số. Ví dụ, chương tŕnh tin tức hàng ngày bằng tiếng Thổ Nhĩ Ḱ của Đài Truyền h́nh Quốc gia Bulgari.
Theo quy định tại điều 71 luật Phát thanh Truyền h́nh, BNR (Bulgarian national radio: Đài Tiếng nói Quốc gia Bulgari) và BNT (Bulgarian national television: Đài Truyền h́nh Quốc gia Bulgari) phải hỗ trợ việc sản xuất và truyền bá các chương tŕnh nghe và nghe nh́n:
* BNR phân bổ ít nhất 5% nguồn trợ cấp nhận được từ ngân sách nhà nước và “Quỹ Phát thanh truyền h́nh” cho việc sáng tạo và tŕnh diễn các tác phẩm âm nhạc và kịch trên sóng phát thanh;
* BNT phân bổ ít nhất 10% nguồn trợ cấp nhận được từ ngân sách nhà nước và “Quỹ Phát thanh và truyền h́nh” cho sản xuất phim và truyền h́nh.
Quỹ Phát thanh và truyền h́nh được thành lập theo Điều 98 của luật Phát thanh và truyền h́nh. Nguồn tài chính của Quỹ này được huy động từ:
- Các khoản phí thu hàng tháng từ các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh;
- Lệ phí đăng kí lần đầu và phí thu hàng năm đối với dịch vụ phát thanh truyền h́nh;
- Lợi tức từ các nguồn mà quỹ có sẵn.
Nguồn tài chính được thu thông qua Quỹ này được sử dụng để hỗ trợ tài chính cho:
· BNR và BNT (để chuẩn bị, sáng tạo và truyền bá các chương tŕnh quốc gia);
· Hội đồng Truyền thông Điện tử;
· Các dự án có tầm quan trọng quốc gia, liên quan đến việc giới thiệu và sử dụng các công nghệ mới trong phát thanh và truyền h́nh;
· Các dự án có ư nghĩa quan trọng về văn hoá và giáo dục;
· Các dự án nhằm mở rộng việc truyền bá các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh đối với mọi người dân và / hoặc trên toàn lănh thổ.
Trung tâm hoạt động xă hội (một tổ chức phi chính phủ) đang thực hiện một dự án, đă được hai năm, có tên “Nâng cao vị thế của người thiểu số thông qua truyền thông”. Dự án này bao gồm một loạt các hội thảo nhằm đào tạo cho những cộng đồng thiểu số – người gốc Thổ Nhĩ Ḱ, Roma, và người Hồi giáo Bulgari - được thực hiện tại các vùng có các cộng đồng người này chung sống. Mục đích của dự án là nâng cao vị thế của người thiểu số và thúc đẩy đối thoại thông qua các chương tŕnh truyền thông, từ đó đưa các chương tŕnh hành động của họ vào các cuộc thảo luận công khai và tác động đến những người ban hành quyết định. Dự án này thực hiện chương tŕnh đào tạo một năm cho các sinh viên người thiểu số để họ trở thành những lănh đạo, để kết hợp những người này lại - và quan trọng nhất – là để họ biết cách chuyển các thông điệp của ḿnh thông qua các phương tiện truyền thông. Mục tiêu của dự án là làm cho mọi người hiểu được các cộng đồng thiểu số; mọi người đọc được, xem và nghe các thông điệp của họ để từ đó ủng hộ cho các lí do của họ.
Chương tŕnh đào tạo bao gồm 300 giờ giảng dạy, được chia thành 11 đợt (mỗi đợt kéo dài 3 ngày). Dự án này được chương tŕnh EuroAid của EU hỗ trợ tài chính.
Báo chí hoàn toàn thuộc sở hữu của tư nhân và đă thông tin đầy đủ các tranh luận về cải tổ trong lĩnh vực văn hoá. Các vấn đề thường được đề cập gần đây là cải tổ lĩnh vực Nhà hát kịch, luật Bảo vệ và phát triển văn hoá, luật Truyền thông, việc sao chép trái phép CD, bảo vệ di sản văn hóa, v.v…
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Trong vài năm gần đây các ngành kinh doanh văn hoá ở Bulgari ngày càng được thừa nhận như là một lĩnh vực có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của địa phương, vùng và quốc gia, có ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động.
Hội đồng châu Âu đă hỗ trợ cho một dự án thí điểm về “Đa dạng văn hoá và các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá”, dự án được triển khai ở Bulgari từ năm 2001. Dự án này – được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ của Trung tâm văn hoá Euro-Bulgari – nhằm phân tích tiềm năng trong lĩnh vực kinh doanh văn hoá và t́m ra các khả năng phát triển cho lĩnh vực này. Các ngành kinh doanh văn hoá bao gồm các lĩnh vực truyền thống như (phát thanh và truyền h́nh, ghi âm, sản xuất và phân phối phim), cũng như các hoạt động văn hoá nằm trong phạm vi giữa nghệ thuật truyền thống và những h́nh thức sáng tạo mới trong truyền thông, quảng cáo và thiết kế.
Giai đoạn hai của dự án này (được thực hiện năm 2002) nhằm vào truyền thông và các doanh nghiệp trong lĩnh vực truyền thông; phát triển các mô h́nh cụ thể về cung cấp tài chính, và trong dài hạn, thành lập một cơ quan phát triển các ngành kinh doanh văn hoá.
Sự phát triển các ngành kinh doanh văn hoá ở cấp vùng và địa phương cũng là một ưu tiên trong các dự án thuộc Chương tŕnh hội nhập kinh tế và xă hội PHARE (giáo dục và thành lập các trung tâm thông tin dành cho cộng đồng người Roma).
Ngành điện ảnh phụ thuộc vào trợ cấp của nhà nước và của các quỹ hội, tổ chức quốc tế và những nhà tài trợ. Hầu hết các hoạt động hợp tác là với các quốc gia châu Âu (đặc biệt là Đức, Pháp và Hi Lạp). Cơ quan điều hành Trung tâm phim Quốc gia (thuộc Bộ Văn hoá) có nhiệm vụ phân bổ trợ cấp của nhà nước trên cơ sở (đấu thầu) cạnh tranh. Trung tâm này là đối tác chính của Truyền h́nh Quốc gia Bulgari (BNT). BNT dành một phần ngân sách của ḿnh cho việc sản xuất các bộ phim Bulgari.
Có một số công ty phân phối phim của tư nhân – trong đó có Sunny Films, Alexandra Films và Duga Films – là đối tác của 7 công ty phân phối phim hàng đầu của thế giới.
Trung tâm sách Quốc gia (thuộc Bộ Văn hoá) thúc đẩy việc phát hành các tác phẩm văn học Bulgari và văn học dịch không mang tính thương mại. Chương tŕnh hỗ trợ sách (được thành lập từ năm 1991) đă hỗ trợ các nhà xuất bản trên cơ sở cạnh tranh, thuộc các lĩnh vực sau: văn học đương đại Bulgari và di sản văn học; các tác phẩm nghiên cứu con người Bulgari, tác phẩm tham khảo và bách khoa thư, văn học dịch nghiên cứu về con người. Cũng có những chương tŕnh hợp tác với các viện văn hoá của Anh, Pháp và Đức để hỗ trợ cho xuất bản các tác phẩm dịch.
Năm 1995, Viện xă hội mở (Budapest) đă thực hiện dự án hỗ trợ các tác phẩm dịch trong lĩnh vực khoa học xă hội và nghiên cứu con người. Dự án này (đang thực hiện) đă hỗ trợ cho việc dịch và xuất bản 124 tác phẩm của hơn 40 nhà xuất bản.
Các công ti ghi âm lớn của Bulgari đă kí hợp đồng với các công ty quốc tế như Sony, PolyGram, BMG và EMI, và thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt đối với bản quyền của tác giả, các nhà sản xuất và người biểu diễn.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Các số liệu thống kê của quốc gia ghi chép lại số người lao động trong các ngành nghề của nền kinh tế. Vấn đề nằm ở chỗ các gọi tên đối với các ngành nghề khác nhau. Ví dụ, các cá nhân làm việc trong lĩnh vực văn hoá được đưa vào trong số liệu thống kê về việc làm của cả “Văn hoá và Thông tin” và “Thể thao và giải trí” (số lượng b́nh quân hàng năm những người lao động). Do đó, hiện tại, không thể tách ra các số liệu dưới đây.
Bảng 1: Việc làm trong lĩnh vực văn hoá, 1998-2003
|
Văn hoá và thông tin |
Thể thao và giải trí |
|
|
1998 |
||
|
Tổng số lao động |
41 286 |
11 145 |
|
Số lao động thuộc khối tư nhân |
23 566 |
6 578 |
|
1999 |
||
|
Tổng số lao động |
40 724 |
10 737 |
|
Số lao động thuộc khối tư nhân |
23 546 |
6 452 |
|
2000 |
||
|
Tổng số lao động |
33 785 |
11 441 |
|
Số lao động thuộc khối tư nhân |
18 105 |
6 663 |
|
2002 |
Văn hoá ** |
|
|
Tổng số lao động |
28 777 |
|
|
Số lao động thuộc khối tư nhân |
11 218 |
|
|
2003 |
Văn hoá** |
|
|
Tổng số lao động |
28 980 |
|
|
Số lao động thuộc khối tư nhân |
11 141 |
|
Nguồn: Niên giám thống kê, Viện Thống kê Quốc gia
* Do Viện Thống kê quốc gia đă thay đổi cách phân loại về “Văn hoá và thông tin” và “Thể thao và giải trí”, nên thiếu các số liệu của năm 2001.
** Đối với giai đoạn từ 2002-2003 Viện Thống kê Quốc gia chỉ đưa ra các số liệu về lĩnh vực “Văn hoá”.
Các vấn đề quan trọng liên quan đến việc làm trong lĩnh vực văn hoá là tiền lương thấp, và việc giảm số lượng các tổ chức văn hoá được nhận trợ cấp của nhà nước. Điều này đă làm cho rất nhiều người trẻ tuổi có tài năng đă di cư ra nước ngoài để t́m kiếm các điều kiện làm việc tốt hơn.
Năm 2003, theo các thông tin từ Viện thống kê Quốc gia, lương b́nh quân hàng tháng trong lĩnh vực văn hoá là 231.91 BGL (Lev: đơn vị tiền tệ của Bulgari, viết tắt là BGL). Tiền lương b́nh quân trong “lĩnh vực giáo dục” là 261.06 BGL, và 206.09 BGL trong lĩnh vực “dịch vụ xă hội”.
Năm 2003, chương tŕnh “Hỗ trợ việc làm cho các nhà hát Bulgari” được ban hành, đây là một dự án hợp tác của Bộ Chính sách Lao động và Xă hội với Hội Liên hiệp các nghệ sĩ Bulgari. Chương tŕnh này cung cấp các cơ hội làm việc, với các hợp đồng dài hạn, cho những người trước đó được xác định là lao động dư thừa (mất việc làm do giảm biên chế) bao gồm: các nghệ sĩ; thợ thủ công làm việc tại các nhà hát; lao động trong các công việc về phục trang, sân khấu và ánh sáng – và những người có các kĩ năng, hiểu biết và kinh nghiệm đặc biệt. Các đối tượng trên đây được các nhà hát thuê làm việc trở lại với thời hạn cố định (một năm) và được trả lương tối thiểu cố định, có cả bảo hiểm xă hội. Chương tŕnh này thực sự có ư nghĩa. Trong giai đoạn cải cách các nhà hát ở Bulgari, số lượng các nhà hát vẫn giữ nguyên, tuy nhiên số lượng việc làm đă giảm đáng kể (từ 3400 năm 1996 xuống c̣n 1850 năm 2003). Các cải tổ này đă gây ra t́nh trạng chia rẽ sâu sắc đối với các nhà hát bởi v́ có một số vị trí được sáp nhập vào với nhau (một người đảm nhận thêm nhiều công việc) và những người có năng lực phải ra đi. Năm 2004, chương tŕnh này hi vọng sẽ tạo ra 240 việc làm thông qua một khoản tài chính khoảng 451 440 BGL. Chương tŕnh này sẽ được đánh giá vào cuối năm 2004 và có thể được kéo dài cho đến năm 2005.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá

Bộ Văn hoá đă phối hợp với UNDP (Chương tŕnh Phát triển của Liên hợp quốc) thực hiện một dự án kéo dài 3 năm có tên “Phát triển cộng đồng và tham gia vào đời sống văn hoá thông qua mạng lưới Chitalishte” (Dự án này được thực hiện sau khi kết thúc dự án 1997-2000 về “Sự tham gia của c