1.       Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

2.       Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lư

3.       Mục tiêu và chính sách văn hoá

4.       Các vấn đề chính sách văn hoá hiện nay và những tranh luận

5.       Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

6.       Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

7.       Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác.

8.       Hỗ trợ và tham gia các hoạt động sáng tạo

9.       Các vấn đề văn hoá và thương mại

 

1.                Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Từ trước đến nay chính quyền Canada ở các cấp Liên bang, tỉnh, vùng lănh thổ, thành phố thường tham gia vào lĩnh vực văn hoá ở một hoặc vài khía cạnh. Chính sách văn hoá Canada dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm nhận thức về tài sản nhà nước, lợi ích quốc gia và vùng, tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xă hội. Canada có hai ngôn ngữ chính thức, đa dạng xă hội, ngoại thương và cơ hội đầu tư.

Mô h́nh văn hoá Canada được h́nh thành từ những cộng đồng dân cư nhỏ lẻ và phân tán, quy mô kinh tế hạn chế và chi phí sản xuất cao, sự tương đồng với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (quốc gia lớn nhất thế giới và có ảnh hưởng mạnh nhất về văn hoá), sự pha trộn độc đáo trong văn hoá dân tộc, hệ thống hai ngôn ngữ chính thức (tiếng Pháp và tiếng Anh), và văn hoá dân tộc Bản địa đa dạng. Những diễn biến đang diễn ra về chính sách văn hoá Canada do Chính phủ liên bang thực hiện chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và ǵn giữ chủ quyền Canada, tăng cường đoàn kết dân tộc và bảo vệ bản sắc văn hoá.

Việc thành lập các thiết chế văn hoá quốc gia Canada vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 xuất phát từ việc Chính phủ Liên bang thừa nhận trách nhiệm của ḿnh đối với việc ǵn giữ các tài sản văn hoá quốc gia v́ lợi ích của công dân và những thế hệ sau này. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của Chính phủ Liên bang là xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá (ví dụ như thành lập hăng phát thanh trong những năm 20 và 30 của thế kỷ 20), thành lập cơ quan đại diện sở hữu, quản lư các di sản quốc gia (ví dụ như Uỷ ban Quản lư Di tích và Công tŕnh lịch sử, thành lập năm 1919). Sự tham gia trực tiếp, tuy c̣n hạn chế, trong một thời gian dài làm cho nhiều tổ chức đến ngày nay vẫn c̣n hoạt động, ví dụ như Pḥng trưng bày Quốc gia Canada (được thành lập năm 1880 và hợp nhất năm 1913), Cơ quan Lưu trữ Quốc gia (thành lập năm 1872) và Uỷ ban Phim Quốc gia (1939). Công ty phát thanh và truyền h́nh Canada được thành lập năm 1936 căn cứ vào Báo cáo của Uỷ ban Hoàng gia về Phát thanh truyền h́nh (1929), uỷ ban này c̣n có tên Uỷ ban Aird. Uỷ ban Aird đă nhấn mạnh Công ty phát thanh truyền h́nh là “một phương tiện để giáo dục ... giải trí và ... thông tin cho công chúng về các vấn đề thuộc lợi ích quốc gia.”

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, khi các công nghệ mới xuất hiện và nền kinh tế Canada đă đa dạng hoá, vai tṛ của chính quyền Liên bang trong lĩnh vực văn hoá đă được mở rộng. Chính phủ Liên bang không chỉ quản lư và hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá quốc gia mà c̣n phát triển các tổ chức hỗ trợ văn hoá dựa trên các chương tŕnh cụ thể. Giai đoạn từ sau thế chiến thứ hai bắt đầu bằng việc xuất bản Báo cáo của Uỷ ban Hoàng gia về Phát triển Nghệ thuật, Văn học và khoa học. Uỷ ban này do Vincent Massey và Georges-Henri Levesque làm đồng chủ tịch. Để xác định chi tiết phạm vi tham gia của Liên bang vào vấn đề văn hoá, đặc biệt là đối với nghệ thuật và di sản, Massey-Levesque, như Uỷ ban Aird trước đây, đă lập luận về khả năng “chống lại việc văn hoá Canada bị ảnh hưởng bởi mô h́nh văn hoá Mỹ” vốn là một trong những mục tiêu chính của hệ thống phát thanh truyền h́nh Canada. Nguyên tắc này nhanh chóng được áp dụng rỗng răi trong lĩnh vực văn hoá vào giai đoạn này, mà bắt đầu là việc thành lập thêm nhiều các tổ chức văn hoá quốc gia, bao gồm Thư viện Quốc gia Canada (1953), Hội đồng Canada (1957), Công ty Phát triển Phim Canada (1968), và quan trọng nhất là Bộ Truyền thông (1969) và Uỷ ban Phát thanh và truyền h́nh Canada (1969). Đây là cơ quan ban hành cơ sở chính sách và quy định cho sự phát triển sau này của hệ thống phát thanh truyền h́nh ở Canada trong thời đại truyền h́nh. Giai đoạn phát triển này của các tổ chức được đánh dấu bằng việc vào năm 1967 quốc gia này lần đầu tiên tổ chức các lễ kỷ niệm 100 năm. Điều này cho thấy sự đổi mới trong mối quan tâm về văn hoá của người dân và việc phát triển mạnh mẽ hạ tầng văn hoá, đặc biệt là ở cấp cộng đồng, thông qua các tổ chức và việc hỗ trợ tài chính cho các hoạt động nghệ thuật và di sản.

Ba thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 đă ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ về văn hoá của Canada, chủ yếu là do việc ban hành hàng loạt chính sách quốc gia và các chương tŕnh hỗ trợ nhằm phát triển hơn nữa các lĩnh vực nghệ thuật, di sản và phát thanh truyền h́nh, và bắt đầu hỗ trợ các ngành kinh doanh văn hoá (bao gồm phim/video, ghi âm, xuất bản, truyền thông mới) và sửa đổi các luật như Luật Phát thanh Truyền h́nh (1991) và Luật Bản quyền (1988, và 1997 và 2002). Năm 1980 Bộ Truyền thông đă tiếp nhận các chương tŕnh văn hoá và nghệ thuật sau đó chuyển giao cho Bộ Ngoại giao. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển vai tṛ văn hoá quốc tế của Canada bằng việc gia nhập các công ước của Liên hợp quốc, các tài năng Canada tŕnh diễn tại các sự kiện có quy mô quốc tế như Expo 67 tổ chức tại Montreal.

Giai đoạn này cũng đánh dấu sự mở rộng chính sách văn hoá Liên bang ở Canada và đề cao việc phân chia chức năng trong Bộ Di sản Canada (được thành lập năm 1993, bằng việc ban hành Luật Di sản Canada, sau đó là sự đồng thuận chính thức năm 1995) bao gồm các cơ quan có chức năng về văn hoá, quy chế công dân và bản sắc, thể thao và gần đây là Cơ quan quản lư Vườn quốc gia. Chính sách văn hoá Liên bang cũng tiếp tục phản ánh hệ thống hai ngôn ngữ chính thức, và có tính đến sự thay đổi bản chất đa văn hoá của cộng động dân tộc Canada cũng như các quyền và nhu cầu của cộng đồng người bản địa. Những thảo luận hiện nay giữa chính quyền các cấp cho thấy rằng chính sách văn hoá giữa các cấp chính quyền ngày càng có sự phối hợp hơn, và trên thực tế đang theo xu hướng Liên bang.

 

Trở về

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lư

2.1 Cơ cấu tổ chức

2.2 Mô tả hệ thống tổ chức

Mặc dù có sự chia sẻ thẩm quyền trong lĩnh vực văn hoá giữa các cấp - Liên bang, tỉnh và thành phố - Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm về các chính sách văn hoá quốc gia có ảnh hưởng đến toàn đất nước. Thẩm quyền của Liên bang về văn hoá không được quy định trong Hiến pháp, tuy nhiên các vụ việc tại toà án về những vấn đề liên quan đến nhiều tỉnh hoặc vấn đề có tính chất quốc tế đều ủng hộ quan điểm rằng chính quyền Liên bang phải có trách nhiệm đối với những vấn đề mang tính chất quốc gia nói chung. Những chính sách văn hoá này của Liên bang không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các chương tŕnh, chính sách văn hóa của các cấp địa phương trong phạm vi lănh thổ của các cấp này. Hệ thống quản lư văn hoá Canada cho phép tồn tại h́nh thức thẩm quyền thực tế (de facto: không theo quy định của luật) giữa ba cấp chính quyền.

Canada có mười tỉnh và ba vùng tự trị. Ngoài ra các thành phố và đô thị, theo quy định hiến pháp , chịu sự bảo hộ của chính quyền các tỉnh và vùng lănh thổ. ở một số tỉnh lớn, đặc biệt là Quebec, các chương tŕnh hỗ trợ được thực hiện ở trên hầu hết các lĩnh vực th́ tại các tỉnh và vùng lănh thổ khác chi tiêu cho văn hoá thường chú trọng đến lĩnh vực bảo tàng. Vai tṛ của ngôn ngữ trong xă hội và sự thừa nhận tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức duy nhất ở Quebec là những lư do quan trọng để chính quyền Quebec hỗ trợ rất nhiều cho hầu hết các lĩnh vực văn hoá ở tỉnh này. Vai tṛ văn hoá của Quebec đă vượt qua ranh giới tỉnh, nó c̣n tham gia vào hợp tác văn hoá trong cộng đồng Pháp ngữ (francophone) với các chính quyền khác trên thế giới. Điều này thể hiện rơ ràng qua việc Quebec tham gia vào các chương tŕnh biểu diễn nghệ thuật quốc tế - là tỉnh duy nhất có chiến lược hỗ trợ biểu diễn nghệ thuật quốc tế một cách lâu dài (một số tỉnh khác chỉ thực hiện hỗ trợ một cách gián đoạn). Chi tiêu của các thành phố chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thư viện, ngoài ra c̣n có các lĩnh vực khác như phim truyện, chương tŕnh truyền h́nh, hỗ trợ việc tổ chức các liên hoan nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật thị giác tại các trung tâm đô thị lớn như Montreal, Toronto và Vancouver.

Bộ Di sản Canada, đứng đầu là Bộ trưởng, duy tŕ mối quan hệ làm việc chặt chẽ với Nội các và Nghị viện, ngoài ra c̣n có các mối quan hệ gián tiếp với những cơ quan văn hoá chịu trách nhiệm trước Nghị viện thông qua Bộ trưởng Bộ di sản (xem thêm phần 6.4). Quốc vụ khanh về các vấn đề Văn hoá và Quốc vụ khanh về Thể thao có nhiệm vụ trợ gúp Bộ Trưởng Bộ di sản và Bộ trưởng phụ trách về vấn đề phụ nữ.

Theo hệ thống Nghị viện Canada, các thành viên nội các cũng là thành viên Nghị viện. Nghị viện ban hành luật và thông qua ngân sách của Liên bang dành cho văn hoá. Uỷ ban thường trực về Di sản chịu trách nhiệm xem xét việc thực hiện các vấn đề văn hoá quan trọng của quốc gia như phát thanh truyền h́nh, xuất bản sách, nghe giải tŕnh các dự thảo luật về văn hoá, sửa đổi các đạo luật này trước khi được đem ra bàn thảo trước Hạ viện.

Các mối quan hệ gián tiếp nghĩa là việc tách biệt các hoạt động văn hoá hàng ngày của cơ quan văn hoá Liên bang và các tổ chức văn hoá nhà nước khỏi sự kiểm soát trực tiếp của bộ trong khi vẫn duy tŕ trách nhiệm của Bộ trưởng trước Nội các và Nghị viện. Quy định này thường có trong các luật về chuyển giao thẩm quyền và những thực tiễn trong hoạt động, mặc dù cũng có vài ngoại lệ, ví dụ như theo Luật Phát thanh truyền h́nh, Nội các có quyền trả lại để xem xét thêm hoặc huỷ bỏ các quyết định điều chỉnh việc phát thanh truyền h́nh thay v́ thông qua các quyết định đó.

Các cơ quan quản lư Di sản chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Di sản Canada, cơ quan này bao gồm 19 tổ chức: Bộ Di sản (bao gồm Viện Bảo tồn và Mạng lưới Thông tin Di sản Canada, 5 cơ quan ngang bộ (Uỷ ban Truyền thông và phát thanh truyền h́nh Canada- một cơ quan nhà nước độc lập, Uỷ ban Chiến trường, Uỷ ban Phim Canada, Thư viện và Lưu trữ, và Cơ quan phụ trách các vấn đề Phụ nữ), 10 Tổ chức Văn hoá (Hội đồng nghệ thuật Canada, 4 bảo tàng quốc gia (bao gồm Bảo tàng Tự nhiên Canada, Bảo tàng Văn minh Canada, Bảo tàng khoa học kỹ thuật và Pḥng trưng bày Quốc gia Canada), Công ty phát thanh truyền h́nh Canada, Telefilm Canada, Hiệp hội quan hệ giữa các sắc tộc, Trung tâm nghệ thuật Quốc gia, và Uỷ ban tài sản Quốc gia. Ngoài ra c̣n có các cơ quan như Uỷ ban dịch vụ công cộng và Uỷ ban quan hệ nhân viên phục vụ cộng đồng, hai cơ quan này cũng chịu trách nhiệm trước Nghị viện thông qua Bộ trưởng Bộ Di sản. Theo cải tổ năm 2003, Cơ quan quản lư Vườn quốc gia được sáp nhập vào Cơ quan quản lư Môi trường. Cơ quan cuối cùng thuộc hệ thống các cơ quan quản lư di sản là Uỷ ban xem xét xuất khẩu tài sản văn hoá, đóng vai tṛ là ṭa án hành chính mà người đứng đầu (Ban thư kư) do Bộ Di sản thành lập. Các tổ chức kể trên đây đều nhận nguồn tài chính hoạt động từ Nghị viện, và sử dụng các thiết chế, công cụ cần thiết để thực hiện chính sách văn hoá Liên bang. Các lĩnh vực hoạt động chính của các tổ chức này bao gồm cả việc lưu số hoá các di sản văn hoá đang có, thúc đẩy văn hoá quốc gia và quốc tế, tham gia vào chính phủ điện tử, thúc đẩy giới trẻ tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thể thao, nghệ thuật và di sản.

2.3 Hợp tác giữa các ngành và các cấp chính quyền

Bộ Di sản Canada tham gia hợp tác liên ngành với các Bộ khác như Bộ Ngoại giao Canada (FAC), Cơ quan Thương mại Quốc tế (ITCan) (trước đây là Bộ ngoại giao và thương mại quốc tế), Bộ Tư pháp, Bộ Phát triển nguồn nhân lực, Kho bạc, Bộ Công tác Cộng đồng, Bộ Công nghiệp, Bộ Giao thông, Bộ quốc pḥng, Bộ Tài chính về những vấn đề liên quan đến các bộ này. Ví dụ:

     * Bộ Công nghiệp thành thập Hội đồng tư vấn xa lộ thông tin vào cuối những năm 1990, nhưng có những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Di sản.

     *Tập trung sở hữu và cạnh tranh trong lĩnh vực văn hoá liên quan đến cả Bộ Văn hoá và Bộ Công nghiệp.

      * Luật bản quyền cũng có sự liên quan giữa Bộ Di sản và Bộ công nghiệp.

      * Phát triển hoạt động văn hoá quốc tế bao gồm cả thương mại và văn hoá, nên nó liên quan đến chức năng của Bộ Ngoại giao, Cơ quan thương mại quốc tế và Bộ Di sản.

     * Thoả thuận phát triển nghệ thuật và văn hoá của những người Canada nói tiếng pháp. Thoả thuận này nhằm thúc đẩy văn hoá và nghệ thuật của cộng đồng nói tiếng Pháp ở Canada. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa Liên đoàn văn hoá Pháp ngữ Canada, Bộ Di sản Canada, Hội đồng Nghệ thuật Canada, Công ty Phát thanh truyền h́nh Canada, Uỷ ban Phim Quốc gia và Trung tâm Nghệ thuật Quốc gia.

       * Bộ Di sản hợp tác với Bộ Các vấn đề người Indian và Miền Bắc về các vấn đề văn hoá của người Bản địa.

Các tổ chức văn hoá Liên bang tham gia vào các nhóm hoạt động và nhóm đặc trách để giải quyết các vấn đề của Chính phủ. Bộ Di sản cũng tham gia cùng các cơ quan văn hoá của các tỉnh và vùng lănh thổ tại các Uỷ ban các Bộ trưởng và Viên chức nhà nước. Hiện nay Bộ văn hoá đang phối hợp với các cơ quan văn hoá của tỉnh và vùng lănh thổ trong các vấn đề như phát triển du lịch văn hoá, di sản, cải thiện thống kê văn hoá, đầu tư cho văn hoá (đứng đầu là Quebec), nghệ thuật và học tập (đứng đầu là Ontario), di tích lịch sử, Chương tŕnh ngày mai bắt đầu từ hôm nay, diễn đàn quốc gia về y tế và văn hoá (đứng đầu là British Columbia), vị trí của ngành phim Canada và các cơ hội để tham gia vào Olimpic Mùa đông 2010 tổ chức tại Vancouver. Tuy nhiên, cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu về việc các cấp chính quyền đă phối hợp với nhau như thế nào đối với các vấn đề văn hoá tại những cộng đồng cụ thể.

2.4 Hợp tác văn hoá quốc tế

Canada tham gia tích cực vào các hoạt động văn hoá quốc tế thông qua các hiệp định song phương và đa phương. Ba cơ quan tham gia nhiều nhất vào văn hoá quốc tế là Bộ Ngoại giao, Cơ quan Thương mại Quốc tế và Bộ Di sản. Vấn đề văn hoá đóng vai tṛ quan trọng thứ ba trong việc quảng bá văn hoá và các giá trị Canada ra nước ngoài. Hoạt động văn hoá quốc tế được thể hiện dưới rất nhiều h́nh thức như Chương tŕnh con đường di sản Canada, chương tŕnh này thành lập 5 văn pḥng văn hoá- thương mại ở nước ngoài, tham gia vào các sự kiện văn hoá thể thao quốc tế, các triển lăm quốc tế, tham gia các diễn đàn đa phương. Ví dụ, trong lĩnh vực hợp tác về phim và nghệ thuật nghe- nh́n, Canada đă kư kết 17 thoả thuận song phương, 14 thoả thuận ba bên, và 2 thoả thuận bốn bên. Từ năm 1997 đến 2003, Canada đă tham gia vào 587 chương tŕnh hợp tác sản xuất với tổng số tiền lên đến 1.4 tỉ đô la Canada (CAN), trong đó 2.3 tỉ do Canada bỏ ra. Năm 2003, hai nước đứng đầu trong việc chi tiêu cho các chương tŕnh này là Vương quốc Anh (404 triệu CAN) và Pháp (217 triệu CAN).

ở cấp đa phương, Canada đóng vai tṛ quan trọng nhất trong các cuộc đối thoại quốc tế về đa dạng văn hoá và hợp tác văn hoá quốc tế. Ví dụ các tuyên bố về đa dạng văn hoá đă đạt được ở UNESCO, tổ chức các nước châu Mỹ (OAS), nhóm G8, Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie), Hội đồng châu Âu, và Mạng lưới quốc tế về chính sách văn hoá (INCP). Đây là một mạng lưới không chính thức được thành lập giữa các Bộ trưởng Văn hoá. Là một thành viên sáng lập của NICP, Canada đă làm cho mạng lưới này là nơi để thảo luận các vấn đề chính sách văn hoá và để thành lập Cơ quan Quốc tế về đa dạng văn hoá (IICD). Canada cũng đóng vai tṛ quan trọng ở UNESCO trong việc phát triển Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hoá (UNESCO 2001).

Tại hội nghị toàn thể của UNESCO tháng 10/2003, các nước thành viên đă đề nghị Tổng Giám đốc đưa ra Báo cáo sơ bộ, cùng với Dự thảo công ước quốc tế về Bảo vệ đa dạng nội dung văn hoá và thể hiện nghệ thuật, trong phiên họp tiếp theo vào tháng 10/2005. Dự thảo đầu tiên, được thực hiện bởi các chuyên gia độc lập do Tổng giám đốc chỉ định, đă được gửi đến các nước thành viên vào mùa hè năm 2004.

Gần đây, Chính phủ Canada đă tư vấn cho các đối tác cấp tỉnh và vùng lănh thổ, các tổ chức dân sự để thể hiện được vị thế của Canada trong Dự thảo Công ước của UNESCO. Trong nhận xét của ḿnh được đưa ra vào tháng 11/ 2004, chính phủ Canada đă nhắc lại tầm quan trọng của việc Công ước thừa nhận bản chất hai mặt của các tài sản văn hoá và dịch vụ (nghĩa là chúng mang cả các giá trị văn hoá và kinh tế), và tái khẳng định quyền của chính phủ để ban hành chính sách văn hoá. Canada cũng nhấn mạnh vào việc bảo đảm rằng Công ước hoàn toàn tập trung vào các nội dung văn hoá và biểu hiện nghệ thuật, phù hợp với trách nhiệm mà các nước thành viên đă uỷ nhiệm cho Tổng giám Đốc tại phiên họp toàn thể lần thứ 32, tháng 10/ 2003.

Canada tin rằng công ước này sẽ là chuẩn mực cho các vấn đề văn hoá cấp quốc tế và sẽ thúc đẩy các tổ chức tôn trọng các nguyên tắc đa dạng văn hoá và hoàn thành trách nhiệm của ḿnh. Canada hy vọng công ước này sẽ mang lại cho vấn đề văn hoá một vị trí phù hợp trong thực tiễn pháp luật quốc tế mà không cần các tiền lệ thoả thuận khác.

Canada cũng là thành viên của các điều ước đa phương trong lĩnh vực văn hoá. Ví dụ như, Canada là thành viên của các Công ước sau đây của UNESCO, Công ước bảo vệ di sản tự nhiên và văn hoá, Công ước về các biện pháp cấm và ngăn ngừa việc xuất- khẩu và chuyển nhượng trái phép các tài sản văn hoá, và Công ước bảo vệ tài sản văn hoá trong trường hợp có xung đột vũ trang.

 

Trở về

3. Mục tiêu và chính sách văn hoá

3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

Mô h́nh chính sách văn hoá liên bang của Canada không chỉ có một quy định chính sách chung, mà bao gồm rất nhiều các tuyên bố, hạ tầng chính sách, quy định pháp luật, chương tŕnh chính sách, dịch vụ và những công cụ chính sách khác trong từng lĩnh vực văn hoá cụ thể. Mô h́nh chính sách văn hoá quốc gia được truyền lại từ các chính quyền kế tiếp nhau ở Canada. Đây là một trong những “sự khẳng định về văn hoá” thông qua việc tham gia liên tục, các mối quan hệ gián tiếp với khối nhà nước, hợp tác và tham vấn giữa các cấp chính quyền, và quan hệ đối tác nhà nước tư nhân. Một chính sách và chương tŕnh văn hoá quốc gia về phi tập trung hoá được thực hiện thông qua các cơ quan của vùng và địa phương. Sáng tạo và thể hiện văn hoá được hỗ trợ thông qua việc trợ cấp cho các nghệ sĩ, các tổ chức cộng đồng và các lễ hội. Năng lực kinh tế của các ngành kinh doanh văn hoá được nâng cao thông qua các chương tŕnh hỗ trợ liên bang, các quy định khuyến khích thuế. Việc bảo tồn, tiếp cận và tham gia vào vấn đề di sản là những trách nhiệm quan trọng của khối nhà nước ở mỗi cấp chính quyền, và điều này được bảo đảm thực hiện bởi các cơ quan như bảo tàng, lưu trữ và thư viện.

Các tư tưởng về sáng tạo đă dẫn đến việc thành lập Bộ Truyền thông (DOC) năm 1969. Bên cạnh trách nhiệm trực tiếp của Bộ đối với chính sách phát thanh truyền h́nh và việc phủ sóng, DOC là cơ quan theo dơi những vấn đề kinh tế xă hội mới nổi lên và khả năng kỹ thuật của hệ thống phát thanh truyền h́nh và truyền thông của Canada. Năm 1969, Nhóm Cố vấn Truyền thông đă thực hiện đă thực hiện những nghiên cứu trên diện rộng về những vấn đề liên quan đến truyền thông và những yếu tố dẫn đến việc phải thành lập DOC. Năm 1970, DOC đă thể hiện vai tṛ tiên phong......

Năm 1993 Bộ Di sản được thành lập để thay thế DOC (Bộ truyền thông). Cũng trong giai đoạn này có sự chuyển giao từ Bộ Truyền thông sang Bộ Công nghiệp một số trách nhiệm về quản lư, chính sách và chương tŕnh. Tuy nhiên trong quá tŕnh này việc thực hiện các trách nhiệm về quản lư, chính sách và chương tŕnh được chuyển giao có sự vi phạm, đ́nh trễ ở một mức độ nhất định. Bộ Di sản được thành lập trên cơ sở kết hợp lại với nhau các cơ quan văn hoá (nghệ thuật, di sản, ngành kinh doanh phát thanh và truyền h́nh) Cơ quan quản lư Vườn quốc gia, thể thao không chuyên và vấn đề công dân, các chương tŕnh (Ngôn ngữ chính thức, Đa văn hoá, Chương tŕnh văn hoá cho người bản địa, biểu tượng quốc gia, chống phân biệt sắc tộc). Sự sáp nhập này cho thấy việc mở rộng khái niệm văn hoá đến những vấn đề như các mối liên hệ tiềm tàng giữa văn hoá và các vấn đề công dân, ví dụ như sự gắn kết xă hội, đa dạng xă hội, bản sắc, v.v..

Quyết định thành lập một cơ quan liên bang duy nhất quản lư về cả vấn đề văn hoá và công dân cho thấy bắt đầu một sự đổi mới trong chính sách văn hoá bằng cách thừa nhận ảnh hưởng phức tạp đến kinh tế, xă hội và chính trị của văn hoá và khẳng định cam kết của Chính phủ liên bang trong việc tham gia hỗ trợ cho lĩnh vực văn hoá nói chung. Có nhiều chính sách và quy định về văn hoá của Canada theo đuổi cùng một lúc hai mục tiêu: chống lại sự ảnh hưởng thái quá của Hoa Kỳ trong quá tŕnh hội nhập toàn cầu, và bảo đảm ǵn giữ được sự đa dạng độc đáo về văn hoá của Canada. Điều đó được phản ánh ở các tổ chức văn hoá trong nước, các giá trị Canada và những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá.

3.2 Định nghĩa về văn hoá

Uỷ ban Thường trực về Văn hoá của Nghị viện được thành lập năm 1999. Sau hai năm cân nhắc và xem xét, cơ quan này chưa đạt đến sự thống nhất cho định nghĩa về văn hoá. Khái niệm hẹp nhất và cổ nhất chỉ bao gồm nghệ thuật chuyên nghiệp và những môn học cổ điển. Định nghĩa hiện đại về văn hoá ở Canada bao gồm cả nghệ thuật và di sản, phát thanh truyền h́nh, kinh doanh văn hoá và truyền thông mới, và gần đây là các khía cạnh của “lối sống” do UNESCO đề xuất. Định nghĩa mới về văn hoá c̣n chứa một số yếu tố phù hợp với bốn nguyên tắc văn hoá của Hội đồng châu Âu: thúc đẩy sự thống nhất và sự đa dạng, hỗ trợ sự sáng tạo và tham gia vào đời sống văn hoá. Cũng nên lưu ư rằng các chính quyền kế cận nhau ở Quebec cũng ủng hộ cái họ gọi là “chính sách văn hoá quốc gia” để nói đến các chương tŕnh và chính sách hỗ trợ toàn diện cho văn hoá của tỉnh này

3.3 Mục tiêu của chính sách văn hoá

Mặc dù không có một tuyên bố chung về mục tiêu chính sách văn hoá ở Canada, nhưng chính phủ liên bang cũng hỗ trợ hai mục tiêu chiến lược. Nhờ đó Canada thể hiện và chia sẻ kinh nghiệm về đa dạng văn hoá với các nước khác trên thế giới. Người dân Canada sống trong môi trường xă hội đa văn hoá có, hiểu biết lẫn nhau và có sự tham gia của mọi công dân. Các chương tŕnh và chính sách văn hoá nhằm đạt được mục đích này thông qua việc xây dựng các giá trị Canada, ǵn giữ các di sản của Canada, tiếp cận và tham gia vào đời sống văn hoá Canada. Các hoạt động của công dân (bao gồm cả thể thao không chuyên), trong đó có một số hoạt động liên quan đến các chương tŕnh văn hoá, bao gồm thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hoá, phát triển cộng đồng, tham gia vào đời sống cộng đồng và đời sống dân sự (Mô h́nh chương tŕnh hoạt động di sản văn hoá Canada 2004).

Nhiệm vụ của Bộ Di sản Canada là “xây dựng một nước Canada gắn kết về xă hội và có tinh thần sáng tạo.” thông qua:

·                Thúc đẩy sáng tạo, phổ biến và ǵn giữ sự đa dạng trong các công tŕnh văn hoá, các câu chuyện và những biểu tượng văn hoá phản ánh được quá khứ của dân tộc, thể hiện được các giá trị và khát vọng của đất nước.

·                Thúc đẩy việc tiếp cận và tham gia vào đời sống văn hoá.

·                Thúc đẩy mối quan hệ giữa những người dân và tăng cường sự hiểu biết giữa các cộng đồng khác nhau.

·                Nâng cao hiểu biết về các quyền và nghĩa vụ của công dân, tạo thêm nhiều cơ hội để mọi người tham gia vào đời sống văn hoá Canada (Kế hoạch và những ưu tiên 2003 - 2004).

Mục tiêu dài hạn nhất của chính sách văn hoá từ trước đến nay là h́nh thành và ǵn giữ các giá trị Canada. Một số tổ chức văn hoá nhà nước, ví dụ như Công ty Phát thanh truyền h́nh Canada và Uỷ ban Phim Quốc gia, đă tự xây dựng cho ḿnh các chương tŕnh riêng. Các cơ quan tài trợ, ví dụ như Hội đồng Nghệ thuật Canada và Hăng phim truyền h́nh Canada, và các chương tŕnh tài trợ như Chương tŕnh phát triển ngành xuất bản sách và Chương tŕnh Văn hoá trực tuyến của Bộ Di sản, đều khuyến khích khối tư nhân phát triển các giá trị văn hoá.

Mục tiêu quan trọng thứ hai trong chính sách văn hoá là thúc đẩy sự tham gia vào hoạt động văn hoá trong đó: người tiêu dùng và khán giả tiếp cận với những giá trị văn hoá; người sáng tạo, nhà chung cấp cũng như người tiêu dùng và khán giả sử dụng các phương tiện truyền thông, biểu diễn và triển lăm, v.v... Sự tham gia vào văn hoá có thể diễn ra dưới nhiều h́nh thức như tiêu dùng, tham quan, hoạt động không chuyên, gây quỹ, thành lập các hiệp hội, đào tạo chuyên nghiệp và không chuyên. Mục tiêu này nhận được ngày càng nhiều sự hỗ trợ trong chính sách và các chương tŕnh của liên bang nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong lĩnh vực văn hoá. Các công cụ chính sách và chương tŕnh như tiếp thị và phân phối các khoản trợ cấp, phân phối sự hỗ trợ, quy định về việc phát sóng, quy định về sở hữu của người nước ngoài đều được thực hiện nhằm hướng tới những mục tiêu này. Dịch vụ internet và truyền sóng qua vệ tinh làm cho việc tiếp cận văn hoá Canada có thể diễn ra trên toàn cầu, mặc dù cần phải đặt ra vấn đề giá cả trước khi có thể đạt được những mục tiêu này.

Song song với hai mục tiêu trên là những mục tiêu và kết quả chiến lược chủ yếu liên quan đến những vấn đề công dân nhưng cũng có liên quan đến các thiết chế và mục tiêu văn hoá. Tháng 11 năm 2003, Bộ Di sản phối hợp với Mạng lưới Nghiên cứu Văn hoá Canada và Đại học Ottawa tổ chức cuộc hội thảo chuyên đề quốc tế nhằm t́m cơ sở khoa học cho “mối liên hệ giữa văn hoá và quyền công dân”. Có thể xác định được những mối liên hệ này trong các lĩnh vực như thể thao và văn hoá kết hợp với nhau để nâng cao sức khoẻ và và lối sống linh hoạt, và hiện nay đang tiếp tục thúc đẩy mối liên hệ giữa văn hoá và du lịch.

Mục tiêu thứ ba - những mối liên kết - điều này được hiện thực bằng các sáng kiến nhằm liên kết  công dân thuộc các cộng đồng ngôn ngữ, dân tộc, văn hoá và vùng. Mục tiêu này đă được đưa vào Tuyên bố 2002, và đă được tŕnh lên Chính phủ Canada, nhằm “bỏ qua mọi khác biệt để kết nối cộng đồng Canada lại với nhau, mỗi cộng đồng nhỏ sẽ có tiếng nói riêng của ḿnh để tham gia lựa chọn phát triển một đất nước Canada mà họ mong muốn.” (Báo cáo về Kế hoạch và Những ưu tiên 2003 -2004). Mục tiêu này nhằm thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc hơn giữa các cộng đồng khác nhau ở Canada.

Mục tiêu cuối cùng - sự tham gia của dân chúng - là xây dựng một khung chính sách về sự chia sẻ giữa các công dân và sự gắn kết xă hội để định hướng đổi mới các chính sách và chương tŕnh, cải cách pháp luật. Mục tiêu này được thực hiện qua các sáng kiến như là thúc đẩy các hoạt động không chuyên, thúc đẩy sự tham gia của người bản địa và sự hội nhập của người mới nhập cư. Trong quá tŕnh thực hiện để đạt đến mục tiêu này, có thể kế ra một số thiết chế (công cụ) đóng vai tṛ thiết yếu như Chương tŕnh Ngôn ngữ Chính thức (OLP) được sửa đổi năm 2003, và Chương tŕnh Dân tộc Bản địa (APP). Cụ thể, OLP sẽ có trách nhiệm thực hiện theo Báo cáo mới được công bố gần đây của Giám đốc Chương tŕnh Ngôn ngữ Chính thức về thúc đẩy việc sử dụng tiếng Pháp trên Internet, và APP sẽ được bổ sung thêm một chiến lược liên bang về văn hoá và ngôn ngữ của Người bản địa, dự kiến sẽ xây dựng vào giai đoạn 2004- 2005. (Báo cáo về Kế  hoạch và Những ưu tiên 2004- 2005Báo cáo Hoạt động của Bộ 2003- 2004).

Trong khi thực hiện được những nguyên tắc này đă có một số nguyên tắc được đặt ra như quyền tự do lựa chọn, mở cửa thị trường trong nước ra với thế giới, đa dạng về nội dung và thành phần sáng tạo, bảo đảm sự tồn tại của các giá trị Canada, các nghệ sĩ, nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng được tiếp cận khoa học công nghệ mới, quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân, thúc đẩy các hoạt động giao lưu trao đổi và hoạt động không chuyên. Ngoài ra c̣n có nguyên tắc đa dạng trong việc thực hiện các chính sách văn hoá. Các mục tiêu và nguyên tắc văn hoá quốc gia của Canada thừa nhận các nguyên tắc và thiết chế nhằm đảm bảo chủ quyền văn hoá của Canada

 

Trở về

4. Các vấn đề chính sách văn hoá hiện nay và những tranh luận

4.1 Các vấn đề chính sách văn hoá quan trọng và những ưu tiên

Bộ Di sản đă xác định bốn ưu tiên chính văn hoá cho nửa đầu của thế kỷ 21 (Báo cáo về Kế hoạch và các Ưu tiên 2003-2004):

Các mô h́nh chính sách: năm 2002, Bộ Di sản cho biết đang xây dựng mô h́nh về “chia sẻ giữa các công dân và sự gắn kết xă hội” và “một mô h́nh chính sách văn hoá toàn diện kết hợp được các vấn đề phát triển, tiếp cận và giữ ǵn.” Trước mắt, Bộ Di sản kêu gọi các tổ chức hoạt động về di sản tham gia vào phát triển một “viễn cảnh về sự gắn kết và hội nhập” trong lĩnh vực văn hoá nghe nh́n, nghệ thuật, di sản/ lịch sử. Năm 2003, Bộ Di sản đă h́nh thành một cơ cấu mới nhằm thực hiện các nhiệm vụ văn hoá liên bang trên toàn quốc và đẩy mạnh quan hệ hợp tác trong nước và hợp tác quốc tế. Bộ Di sản đă đưa ra ba ưu tiên chiến lược năm 2003-2004: các cộng đồng sáng tạo, chia sẻ giữa các công dân, và vị thế cạnh tranh ở trong nước và ngoài nước. Đặc biệt là văn hoá và chính sách văn hoá được thể hiện một cách rơ ràng trong mỗi mục tiêu chiến lược này (Báo cáo về Kế hoạch và các Ưu tiên 2004 -2005).

Đổi mới pháp lư: năm 2004, luật mới đă được ban hành - Luật Thư viện và Lưu trữ Canada - và nó đă sáp nhập Cơ quan Lưu trữ Quốc gia và Thư viện Quốc gia thành Cơ quan Thư viện và Lưu trữ Quốc gia. Bộ Di sản cũng đă phối hợp với  Bộ Công nghiệp ban hành luật bản quyền nhằm đảm bảo rằng các quyền lợi về kinh tế và đạo đức của người sáng tạo và những người nắm giữ quyền khác được thừa nhận và bảo vệ cũng như đáp ứng các nhu cầu của người sử dụng và giải quyết vấn đề bản quyền trong lĩnh vực kỹ thuật số, điều này cho phép Canada phê chuẩn Hiệp ước của WIPO năm 1996 về Internet. Luật Phát thanh Truyền h́nh - một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về văn hoá - cũng đă được Uỷ ban Thường trực về Di sản đặt vấn đề xem xét sửa đổi khi cơ quan này nghiên cứu về thực trạng và những định hướng tương lai của lĩnh vực phát thanh truyền h́nh của Canada. Nghiên cứu này, c̣n được gọi là Báo cáo Lincoln - đặt theo tên của chủ tịch Uỷ ban Thường trực về Di sản Clifford Lincoln, đă đề cập đến những thay đổi diễn ra do cuộc cách mạng kỹ thuật số toàn cầu, sự gia tăng về số lượng và sự đa dạng về nội dung các giá trị Canada, những thay đổi có thể xảy ra trong quy định về quyền sở hữu, vai tṛ ngày càng tăng và sự tương tác giữa khối nhà nước và tư nhân trong việc tạo ra và tuyên truyền các chương tŕnh. Những định hướng tương lai đ̣i hỏi rằng cần phải xem xét những giả định quan trọng và cả thực tiễn hiện nay, không phải để xoá bỏ hệ thống phát thanh truyền h́nh hiện có mà là để đánh giá hiệu quả của các chính sách hiện hành và các thiết chế, trong bối cảnh thay đổi mạnh mẽ. Mặc dù trong Phúc đáp lần thứ nhất của ḿnh Chính phủ không kêu gọi sửa đổi theo những ǵ mà báo cáo nêu ra, Chính phủ vẫn đang xem và trả lời chi tiết trong Phúc đáp lần thứ hai vào năm 2005.

Đổi mới các chương tŕnh: Bao gồm việc bảo đảm sự nguyên vẹn của các chương tŕnh hiện có, và đánh giá các chương tŕnh của Bộ trong bối cảnh có những thay đổi về ưu tiên và xác định lại các mục tiêu văn hoá. Tháng 5 - 2001, Chính phủ thông báo một khoản đầu tư 500 triệu đô la Canada (CAD) trong ṿng ba năm để hỗ trợ cho một chương tŕnh văn hoá và nghệ thuật có tên “Ngày mai bắt đầu từ hôm nay”. Khoản đầu tư này sẽ tiếp tục thúc đẩy sự sáng tạo của các nghệ sĩ, quảng bá nghệ thuật và di sản cho công chúng, và giúp đỡ phát triển ngành kinh doanh văn hoá. Theo sửa đổi năm 2005-06, một số lĩnh vực trong các chương tŕnh nói trên được bổ sung thêm tài chính với tổng số tiền là 192 triệu CAD (tất cả các chương tŕnh do liên bang tài trợ phải thay đổi các điều kiện và quy định vào cuối năm tài chính trước đó), cụ thể là các lĩnh vực nghệ thuật, xuất bản, ghi âm, xuất khẩu sản phẩm văn hoá và tăng cường sự hiện diện của văn hoá Canada trên internet (Thông cáo báo chí ngày 15/12/ 2004 của Bộ Di sản).

Hoạt động tại cộng đồng: Bộ Di sản Canada hợp tác với nhóm chính sách hoạt động cộng đồng để t́m ra các biện pháp cần thiết để xây dựng các mối quan hệ giữa những người dân Canada thông qua các cuộc đối thoại và t́m hiểu lẫn nhau giữa các nền văn hoá. Một trong những ưu tiên của Bộ Di sản là mở rộng các hoạt động này thông qua mạng Cultura.ca - Cổng giao tiếp điện tử về văn hoá của Canada được lập vào năm 2003, và Cơ quan quan sát văn hoá Canada thành lập tháng 11/ 2003 (xem thêm phần 4.2.9). Bắt đầu từ năm 2004 trở đi, người ta thực hiện kế hoạch 5 năm để tổ chức kỷ niệm 400 năm về khám phá và đối thoại. (khám phá ra châu Mỹ và đối thoại giữa các nền văn hoá).

4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và các tranh luận

4.2.1 Văn hoá dân tộc thiểu số

Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Canada rất đa dạng. Họ có thể bao gồm những nhóm người mà theo cách thông thường không thể xem là dân tộc thiểu số, đáng chú ư là những người bản địa. Điều này sẽ được giải thích dưới đây. ở Canada, khái niệm văn hoá dân tộc thiểu số chỉ áp dụng cho văn hoá của các dân tộc và những thay đổi về nhân khẩu, bao gồm cả ḍng người nhập cư, các yếu tố chính tạo nên sự đa dạng của Canada. Năm 1950, khi Uỷ ban Massey-Levesque liên hệ đa dạng văn hoá với vấn đề bản sắc Canada, tăng trưởng dân số do tỉ lệ sinh đẻ chiếm 92%. Ngày nay, ḍng người nhập cư đă tăng rất mạnh, và chiếm 53% tổng mức tăng dân số. Do đó, nếu không có tỉ lệ người nhập cư liên tục tăng, Canada sẽ không thể đạt mức tăng trưởng tự nhiên về dân số để phát triển dân cư và lực lượng lao động. Theo thống kê dân số năm 2001, có 31 triệu người Canada là hậu duệ của người Anh hoặc Pháp, 47% dân số Canada là người lai hoặc ít nhất không có cha hoặc mẹ là người Anh hoặc Pháp hoặc Canada, và Canada có hơn 200 dân tộc khác nhau. Năm 2002, Bộ Di sản Canada cho biết, “Ưu tiên hàng đầu của Bộ là thúc đẩy một xă hội đa dạng và cảm giác chia sẻ giữa các công dân được xây dựng trên xă hội đó, và các giá trị, hệ thống hai ngôn ngữ và đa dạng văn hoá, có tính đến đặc điểm riêng biệt của văn hoá Quebec và nhu cầu sử dụng ngôn ngữ chính thức của các cộng đồng dân tộc thiểu số trên toàn Canada” (Bộ Di sản Canada, Kế hoạch và những ưu tiên 2002).

Có thể kể ra một số luật quan trọng như Luật ngôn ngữ chính thức (1969), Luật nhân quyền Canada (1997), Luật đa văn hoá (1998), Luật b́nh đẳng việc làm (1995). Luật b́nh đẳng việc làm áp dụng cho lao động trong khối tư nhân cũng như hầu hết các lĩnh vực của khối công cộng. Những vấn đề mà luật này đề cập không thuộc phạm vi trách nhiệm của Bộ Di sản. Luật B́nh đẳng Lao động được ban hành nhằm khắc phục các điều kiện khó khăn trong việc làm của phụ nữ, người dân tộc bản địa, người khuyết tật và thành viên của những cộng đồng thiểu số bằng các biện pháp đặc biệt và việc điều chỉnh những sự cách biệt”. Các công ước quốc tế như Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xă hội và văn hoá (Canada phê chuẩn năm 1976) và Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự (Canada phê chuẩn năm 1976) là những công cụ quan trọng để thúc đẩy sự đa dạng, các quyền và cơ hội b́nh đẳng.

Mặc dù Canada không chính thức thừa nhận các cộng đồng văn hoá dân tộc cụ thể, các nguyên tắc đa dạng văn hoá được thực hiện trong phạm vi toàn chính phủ, trong đó có cả những tổ chức văn hoá liên bang, nhằm hướng đến những mục tiêu sau:

  Từ những năm 1980, Hội đồng Nghệ thuật Canada đă ban hành các chương tŕnh và quy định để bảo đảm phản ánh đúng đắn sự đa dạng văn hoá của Canada. Ví dụ, Văn pḥng B́nh đẳng đưa ra các mục tiêu chiến lược về cơ hội b́nh đẳng cho những tổ chức và nghệ sĩ của các dân tộc thiểu số. Nghệ sĩ của các dân tộc thiểu số được hiểu là những nghệ sĩ người gốc châu á, châu Phi, Mỹ La tinh, Arab, v.v..

Mặc dù Bộ Các vấn đề của người Indian và phát triển miền Bắc chịu trách nhiệm về các chương tŕnh và vấn đề pháp lư liên quan đến người Bản địa ở Canada, th́ Bộ Di sản thực hiện các chương tŕnh hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho người Bản địa ở cấp quốc gia, vùng và địa phương cho người Inuit, Métis. Các chương tŕnh này cho phép người bản địa giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hoá và xă hội ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Trong lĩnh vực phát thanh truyền h́nh, một trong những công cụ quan trong nhằm giải quyết vấn đề văn hoá của người bản địa là Hệ thống truyền h́nh dành cho người Bản địa, trong khi Quỹ Truyền h́nh Canada, một công cụ văn hoá khác, duy tŕ một quỹ đặc biệt để hỗ trợ việc sản xuất các tác phẩm dành cho người bản địa. Hội nghị Quốc gia về Nghệ thuật của người bản địa, phối hợp cùng với Cơ quan nghiên cứu đa dạng văn hoá của Hội đồng châu Âu, được tổ chức vào năm 2002,và Hội nghị Quốc gia về Văn hoá và Du lịch của Người bản địa được tổ chức năm 2003.

Bộ Di sản Canada cũng xem thế hệ trẻ là một đối tượng ưu tiên trong các chương tŕnh và chính sách của ḿnh. Cụ thể như Bộ Di sản tạo các điều kiện để thế hệ trẻ có thể tham gia vào đời sống cộng đồng, và từ đó để hiểu biết nhiều hơn về đa dạng văn hoá của Canada.

Các chương tŕnh giao lưu cho phép thế hệ trẻ cả nước tham gia vào các diễn đàn quốc gia và sự trao đổi hai chiều. Trong các năm 2003- 2004, có hơn 17000 thanh niên Canada đă tham gia vào chương tŕnh này. Những chương tŕnh này cũng nhắm vào việc tạo ra một tỉ lệ đại diện hợp lư của các tỉnh và vùng lănh thổ, và bảo đảm rằng những người tham gia đó thể hiện được sự đa dạng của thế hệ trẻ Canada. Năm 2003-2004, chương tŕnh này đă vượt mục tiêu của ḿnh về tỉ lệ đại diện của các nhóm, bao gồm cả thanh niên người bản địa, thanh niên từ những hộ gia đ́nh có thu nhập thấp, thanh niên bị khuyết tật và thanh niên ở vùng nông thôn, vùng xâu vùng xa.

Sáng kiến hoạt động thanh niên Canada hàng năm đă giúp cho 2500 thanh niên có được việc làm vào mùa hè, và tham gia thực tập tại các bảo tàng, thư viện, pḥng lưu trữ, trung tâm thanh niên Bản địa đô thị và các tổ chức ngôn ngữ. Sau cùng, Chương tŕnh Nghiên cứu, thông qua việc hỗ trợ các tài liệu học tập và những hoạt động, đă thúc đẩy thanh niên t́m hiểu về lịch sử Canada, dân số đa dạng và hệ thống chính quyền.Ví dụ tài liệu “Người Canada và Chính quyền của ḿnh” được viết ra để phục vụ cho các nhà giáo dục và thanh niên ở độ tuổi từ 12 đến 16. Từ năm 2003, tài liệu này đă được phân phối cho hơn 10 000 người Canada.

* Quy định đối với Dân tộc Bản địa

Cộng đồng người bản địa có một vị trí đặc biệt trong xă hội Canada. Điều này đă được ghi nhận trong Hiến pháp, thể hiện trong các lễ hội, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, và di sản, trong chính sách của chính quyền và trong dân chúng nói chung. Để cho vai tṛ của người bản địa không chỉ là “điều được xă hội thừa nhận”, để cho người bản địa tham gia nhiều hơn và đóng góp nhiều hơn vào đời sống dân sự, cần thiết phải thiết lập một quan hệ đối tác với các cộng đồng bản địa. Quan hệ đối tác được thiết lập dựa trên mục tiêu chung về ǵn giữ và phát triển văn hoá người bản địa, cộng đồng người bản địa phát triển và sung túc, nâng cao hiểu biết giữa các cộng đồng với nhau và làm giàu đời sống Canada nói chung.

Năm 2001, những người tự cho ḿnh là người bản địa chỉ chiếm không dưới 1 triệu người, khoảng 3.3% tổng dân số cả nước. Đa số người bản địa, 608850 người hay 62%, là người Indian miền Bắc. 292310 là người Métis, chiếm khoảng 30% tổng số người Bản địa, và 5% hay 45070 là người Inuit. Từ năm 1996 đến năm 2001, tổng dân số người bản địa tăng 22%. Trong số này một nửa tăng dân số là do yếu tố nhân khẩu học, ví dụ như tỉ lệ sinh cao. Nửa c̣n lại là do họ khám phá về nguồn gốc Bản địa của ḿnh. (Điều tra dân số 2001, Cơ quan thống kê Canada).

Hội đồng Nghệ thuật Canada cũng hỗ trợ cho phát triển đa dạng văn hoá thông qua cam kết của ḿnh với các nghệ sĩ Bản địa. Ban thư kư Nghệ thuật Bản địa đă xây dựng các chính sách, các chương tŕnh, các sáng kiến chiến lược và ngân sách để hỗ trợ cho hoạt động nghệ thuật của người Bản địa trong mọi lĩnh vực nghệ thuật. Chương tŕnh hợp tác và trao đổi giữa người Bản địa thực hiện hỗ trợ tài chính cho các cá nhân hoặc nhóm người bản địa đối với các dự án liên quan đến chia sẻ, thưởng thức, t́m hiểu và nhận biết các tri thức về truyền thống và hiện đại. Vấn đề đa dạng văn hoá và sự tham gia của người Bản địa c̣n bao gồm:

·         Khái niệm mới về “nghệ sĩ chuyên nghiệp” bao gồm một loạt các tập quán và truyền thống văn hoá;

·         Tăng cường sự hiện diện của các nghệ sĩ người thiểu số và người bản địa.

·         Các chương tŕnh mới về âm nhạc, múa, nghệ thuật media và nghệ thuật thị giác cho người Bản địa.

·         Số lượng các nhân công người bản địa và cộng đồng thiểu số chiếm tỉ lệ cao trong các ngành nghề văn hoá.

·         Tăng cường các hoạt động của cộng đồng thiểu số tại địa phương bên cạnh việc dịch các thông tin chương tŕnh ra nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau.

Xem phần 5.3.10 để biết thêm các quy định cho người bản địa

4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

Status of Women Canada (SWC: Cơ quan phụ trách về t́nh trạng của phụ nữ) là cơ quan liên bang có nhiệm vụ thúc đẩy b́nh đẳng giới ở Canada và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào đời sống kinh tế, xă hội và chính trị của đất nước. SWC là thành viên của hệ thống các cơ quan hoạt động về di sản, và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Di sản. Nhiệm vụ của nó c̣n bao gồm phân tích pháp lư, chính trị và chương tŕnh của chính phủ liên bang liên quan đến vấn đề giới. SWC quản lư Quỹ Nghiên cứu Chính sách, quỹ này hỗ trợ nghiên cứu các vấn đề về giới. Sau đây là một số ưu tiên được SWC xác định trong hoạt động của ḿnh:

·         Thúc đẩy phụ nữ tham gia vào sự phát triển văn hoá và di sản ở Canada;

·         Tôn vinh những người phụ nữ trong lịch sử Canada;

·         Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong việc xây dựng các chương tŕnh di sản;

·         Thúc đẩy phụ nữ tham gia vào nghệ thuật;

·         Thúc đẩy phụ nữ tham gia vào các ngành kinh doanh văn hoá và phát thanh truyền h́nh;

·         Nâng cao vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực thể thao;

·         Giúp xoá bỏ các rào cản về việc làm và những khó khăn khác gây cản trở cho những người Canada thế hệ thứ nhất và những người thuộc các dân tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ, trong lĩnh vực nghệ thuật.

·         Giúp đỡ phụ nữ người bản địa duy tŕ bản sắc văn hoá của họ và các vấn đề văn hoá khác;

·         Tăng cường sự đóng góp của phụ nữ bản sắc của canada;

·         Đưa vai tṛ của phụ nữ trong các cộng đồng nói ngôn ngữ chính thức vào quy định pháp luật, chính sách và các chương tŕnh (Kế hoạch B́nh đẳng Giới, 1995 - 2000).

Năm 1992, Uỷ ban Truyền thông và Phát thanh Truyền h́nh (CRTC) đă xây dựng chính sách b́nh đẳng giới trong các chương tŕnh phát sóng và quảng cáo. Mặc dù đối với vấn đề giới các ngành nghề đều có quy định riêng của ḿnh, nhưng các hăng phát thanh truyền h́nh đều bắt buộc phải tuân thủ Luật B́nh đẳng giới trong lĩnh vực phát thanh truyền h́nh, được giám sát thực hiện bởi Hội đồng tiêu chuẩn Phát thanh Truyền h́nh.

Cho đến ngày nay, không có một nghiên cứu đầy đủ nào về những tiến bộ đạt được về b́nh đẳng giới trong toàn lĩnh vực văn hoá. Tuy nhiên, Điều tra dân số 2001 đă chỉ ra rằng phụ nữ chiếm 54% trong tổng số 130 695 nghệ sĩ đại diện cho chín lĩnh vực nghề nghiệp ở Canada. Phụ nữ chiếm số lượng đặc biệt nhiều so với nam giới trong các lĩnh vực như múa (85%), nghề thủ công (62%). Ngoài ra tỉ lệ nữ c̣n cao hơn nam giới trong các lĩnh vực như âm nhạc (56), văn (54%) và hội hoạ, kiến trúc, các loại h́nh nghệ thuật thị giác khác (54%). Ngược lại, số lượng nam giới lại chiếm gấp đôi phụ nữ trong các vai tṛ như quản lư, sáng tác nhạc và cải biên (68%), nhà sản xuất, đạo diễn, biên đạo múa, và những nghề liên quan (61%), diễn viên (55%). Nam giới tiếp tục chiếm tỉ lệ cao trong những nghề nghiệp được trả lương cao, trong khi nữ giới chiếm tỉ lệ cao trong nghề nghiệp được trả lương thấp. (Chiến lược Hill: Phân tích số liệu các Nghệ sĩ ở Canada 2004). Trong các nghề nghiệp như nghệ thuật, văn chương và giải trí tỉ lệ phụ nữ tham gia vẫn có xu hướng tăng. Ví dụ năm 1987 là 50.4%, và năm 2002 là 53.5%.

Những sáng kiến khác của SWC c̣n bao gồm nghiên cứu về vấn đề giới tính ở Canada và vai tṛ của Canada trong việc thực hiện tuyên bố Bắc Kinh. Điều này sẽ tạo ra cơ hội thúc đẩy trao đổi giữa các đại diện quốc tế về việc làm thế nào để đạt được sự b́nh đẳng giới.

4.2.3 Ngôn ngữ và chính sách

Canada sử dụng hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh và tiếng Pháp. Căn cứ các khuyến nghị trong Báo cáo của Uỷ ban Hoàng gia về hệ thống hai ngôn ngữ và hai nền văn hoá, nghị viện lần đầu tiên ban hành Luật ngôn ngữ chính thức 1969. Chính sách ngôn ngữ  hiện nay được phản ánh trong:

·    Hiến chương Canada về quyền và tự do (1982): Theo Điều 16, tiếng Anh và tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của Canada và của New Brunswick. Hai ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các tranh luận về pháp lư, xét xử, đạo luật, các hồ sơ và ghi chép tại các toà án liên bang và New Brunswick và việc cung cấp dịch vụ, các vấn đề truyền thông cho công chúng. Quebec sử dụng chủ yếu là tiếng Pháp và tất cả các tỉnh khác chủ yếu sử dụng tiếng Anh. Trẻ em dân tộc thiểu số được quyền học tập ở cấp một và cấp hai theo ngôn ngữ chính thức của cộng đồng thiểu số, điều này cũng được Hiến chương bảo đảm.

·    Luật Ngôn ngữ Chính thức (1998): thúc đẩy hệ thống song ngữ ở Canada và hỗ trợ phát triển ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số. Điều 41 và 42 của Luật quy định chính phủ liên bang phải bảo đảm sự tồn tại ngôn ngữ chính thức của dân tộc thiểu số; thúc đẩy sự thừa nhận đầy đủ của hai ngôn ngữ chính thức, và thúc đẩy việc hợp tác tiếp cận giữa các tổ chức văn hoá liên bang.

Chính phủ Canada đưa ra hàng loạt các chương tŕnh để quảng bá và phát triển các giá trị văn hoá trong mỗi ngôn ngữ chính thức. Năm 2000, có khoảng 25% của 2.8 tỉ đô la Canada (CND) đă được chi tiêu cho các vấn đề văn hoá liên quan đến tiếng Pháp. Hăng CBC/Tiếng nói Canada, Hăng phát thanh truyền h́nh Nhà nước, đóng vai tṛ chính trong việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ văn hoá, ngoài ra nó c̣n phát sóng bằng 8 thứ ngôn ngữ của người Bản địa tại các vùng miền Bắc Canada. Năm 2003-2004, tổng ngân sách của hăng CBC là 1.65 tỉ CAD, chương tŕnh truyền h́nh tiếng Pháp chiếm 23% khoản chi ngân sách trên, và chương tŕnh phát thanh tiếng Pháp chiếm 8%. Hăng CBC cũng quản lư một số kênh truyền h́nh Tiếng Pháp phát qua hệ thống cáp (Cable) và qua vệ tinh.

Hội đồng nghệ thuật Canada, Hăng phim truyền h́nh, Uỷ ban phim Quốc gia và Bộ Di sản quản lư các chương tŕnh hỗ trợ tài chính cho những nhà văn, nhà xuất bản, nhạc sĩ, và nghệ sĩ biểu diễn khác, bảo tàng và pḥng trưng bày, nhà làm phim, v.v.. trong những vấn đề liên quan đến sử dụng ngôn ngữ của người thiểu số. Có khoảng một phần ba số tiền của Quỹ Truyền h́nh Canada được dành để sản xuất các chương tŕnh tiếng Pháp, hai phần ba c̣n lại được sử dụng để sản xuất các chương tŕnh tiếng Anh. Trung tâm nghệ thuật Quốc gia cũng điều hành ba chương tŕnh kịch sân khấu bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Năm 2003- 2004, Bộ Di sản Canada đă sửa đổi Chương tŕnh phát triển ngôn ngữ. Theo chương tŕnh trước đây, Bộ Di sản hỗ trợ cho việc học tập ngôn ngữ thứ hai tại các tỉnh và vùng lănh thổ và có 2.5 triệu người Canada hưởng lợi từ chương tŕnh này. Chính phủ cũng hợp tác chặt chẽ với trên 150 tổ chức phi chính phủ (NGO) để thúc đẩy hệ thống hai ngôn ngữ chính thức của Canada.

Các vấn đề tranh luận xung quanh việc sử dụng hai ngôn ngữ ở Canada là do tiếng Pháp chiếm quá thấp trên internet và thiếu sự hỗ trợ cho các ngôn ngữ “thứ ba” hay ngôn ngữ “di sản”. Vấn đề ngôn ngữ cũng được quy định trong Luật Đa văn hoá Canada. Luật này quy định chính sách của Canada là “ǵn giữ và phát triển việc sử dụng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh và tiếng Pháp, trong khi vẫn duy tŕ việc sử dụng hai ngôn ngữ chính thức” và “thúc đẩy việc hiểu biết, sử dụng tất cả các ngôn ngữ góp phần vào di sản đa văn hoá của Canada.” Một điều có thể nhận thấy rằng, thậm chí trong Luật đa văn hoá các ngôn ngữ không phải là tiếng Anh và Pháp cũng bị bỏ qua khi nói đến phát triển các mục tiêu ngôn ngữ chính thức.

Theo điều tra 2001, Canada sử dụng trên 100 ngôn ngữ. Tiếng mẹ đẻ của 58.5% người Canada là tiếng Anh, 22.6% là tiếng Pháp, c̣n 18.5% là các ngôn ngữ khác. Không kể Quebec, Cộng đồng Pháp ngữ chiếm 4.4% tổng dân số. ở Quebec cộng đồng Anh ngữ chiếm 8.3% vào năm 2001, trong khi năm 1991 là 9.2%. Cộng đồng đa ngôn ngữ (những người sử dụng hai thứ tiếng trở lên), chủ yếu là người nhập cư, chiếm gần 1/4 dân số các tỉnh Ontario và British Comlumbia. Hầu hết mọi người sống ở Toronto và Vancouver, hai thành phố  lớn thứ nhất và thứ ba ở Canada. Năm ngôn ngữ không chính thức được sử dụng nhiều nhất tại các gia đ́nh, theo thứ tự là Trung Quốc, Italia, Đức, Tây Ban Nha và Punjabi (Cục thống kê Canada, Điều tra dân số 2001). Sau tiếng Trung Quốc (tiếng Quan Thoại và tiếng Quảng Đông), th́ các ngôn ngữ phát triển mạnh nhất những năm gần đây ở Canada là Punjabi, Arabic và Tagalog (Philippin).

4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

Trước đây chính sách văn hoá Canada thường phân biệt giữa truyền thông (hay phát thanh - truyền h́nh), “nghệ thuật đỉnh cao” và di sản mà Chính phủ có sự tham gia tích cực trong rất nhiều năm, với những lĩnh vực khác của văn hoá, đặc biệt là các ngành kinh doanh văn hoá (ngoại trừ phát thanh - truyền h́nh) mà những lĩnh vực này trước giai đoạn thập niên 70 không nhận được nhiều nguồn tài chính của chính quyền Liên bang. Với sự tăng trưởng của các ngành kinh doanh văn hoá, đặc biệt dễ nhận thấy trong ba thập kỷ qua, sự tham gia của chính quyền Liên bang trong lĩnh vực văn hoá được mở rộng đáng kể. Mỗi lĩnh vực đều nhận được sự hỗ trợ tuỳ thuộc vào mức độ lĩnh vực đó đóng góp vào việc tạo ra các giá trị văn hoá cho Canada. Mặc dù bản chất của các chương tŕnh hỗ trợ cho văn hoá và các cơ chế có sự thay đổi khác nhau, th́ xu hướng chung trong chính sách văn hoá Canada là hướng đến việc sáng tạo thông qua hoạt động tiêu dùng. Giới truyền thông, đặc biệt là truyền thông kỹ thuật số, trở thành những phương tiện quan trọng để phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hoá ở Canada.

Mối quan hệ về vai tṛ của ngành truyền thông và văn hoá cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa bản sắc và sự đa dạng. Một số người cho rằng bản sắc giúp định h́nh nên h́nh thức và tính thường xuyên của sự tham gia vào đời sống văn hoá. Một số người khác lại cho rằng văn hoá tạo nên bản sắc, và do đó tạo ra khả năng rằng một khi văn hoá thế giới chiếm ưu thế sẽ dẫn đến giảm tính đa dạng trong bản sắc. Bộ Di sản đang thực hiện một chương tŕnh nghiên cứu để t́m hiểu sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau giữa văn hoá và bản sắc, giữa văn hoá và quyền công dân. Bộ Di sản cũng đang nghiên cứu về những ảnh hưởng của văn hoá đối với xă hội. Nghiên cứu này xuất phát từ một hội thảo chuyên đề được tổ chức tại Montreal tháng 8/ 2004, với sự phối hợp giữa Bộ Di sản, Đại học Ottawa và Mạng lưới nghiên cứu văn hoá Canada (CCRN).

Trong các tuyên bố công khai của ḿnh, Chính phủ Canada sử dụng các thuật ngữ như đa dạng tích cực, sự khẳng định về mặt quốc gi