CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ VƯƠNG QUỐC ANH

 

1.       Khái quát lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

2.       Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ cấu hành chính

3.       Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá

4.       Những vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hoá

5.       Những quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

6.       Cung cấp tài chính cho Văn hoá

7.       Các cơ quan văn hoá và những quan hệ đối tác mới

8.       Hỗ trợ hoạt động sáng tạo

 

 

 

     1. Khái quát lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Vương quốc Anh bao gồm bốn nước thành viên: Nước Anh (England), Xứ Wales, Scotland và Bắc Ireland. Các nước Anh, Xứ Wales và Scotland hợp thành Liên hiệp Anh.

Cơ quan quốc gia đầu tiên tài trợ cho nghệ thuật là Hội đồng khuyến khích Âm nhạc và Nghệ thuật (CEMA), sử dụng  quỹ công và quỹ từ thiện để hỗ trợ cho nghệ thuật. Việc tài trợ của Hội đồng Nghệ thuật chủ yếu là khôi phục hoạt động của các tổ chức nghệ thuật, các nghệ sĩ. Dần dần cơ quan này cắt giảm sự hỗ trợ của ḿnh đối với một số hoạt động nhất định, nhưng vẫn tiếp tục hỗ trợ cho các chương tŕnh triển lăm nghệ thuật và chương tŕnh “Opera cho mọi người”, đưa nghệ thuật đến với công chúng ở những vùng dân cư thưa thớt.

Về mặt pháp lư là một thành viên của Hội đồng Nghệ thuật Anh quốc nhưng Scotland và Xứ Wales vẫn có Hội đồng Nghệ thuật  riêng. ở Bắc Ireland, Hội đồng Nghệ thuật được thành lập vào thập niên 40, và cũng là một cơ quan độc lập.

Suốt gần 20 năm sau chiến tranh, Bộ Tài chính là cơ quan nhà nước có trách nhiệm trợ cấp cho những hoạt động của Hội đồng Nghệ thuật Anh quốc, các bảo tàng quốc gia và pḥng trưng bày, thư viện Anh quốc v.v.. Tuy nhiên, vào năm 1965, trách nhiệm này được chuyển giao cho Bộ Giáo dục và Khoa học. Uỷ ban Thường trực về Bảo tàng và Pḥng trưng bày được thành lập năm 1931 và có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ về chính sách đối với bảo tàng. Năm 1963, Uỷ ban này được giao thêm trách nhiệm trợ cấp cho các Bảo tàng Quốc gia, đến năm 1987 được đổi thành Uỷ ban về các Bảo tàng và Pḥng trưng bày và có Điều lệ riêng.

 

Trước đây, Văn pḥng Thư kư Hoàng gia thực hiện việc giám sát đối với nhà hát, theo đó cơ quan này phải xét duyệt kỹ lưỡng các bản thảo của các tác phẩm mới trước khi được tŕnh diễn trước công chúng. Vào thập niên 60, sự kiểm duyệt đó đă được nới lỏng theo điều kiện thông thoáng hơn.

Vào những năm 70 có hai đặc điểm nổi bật về chính sách văn hoá ở Anh, đó là sự mở rộng phạm vi chi tiêu cho nghệ thuật và những tranh luận về các loại h́nh văn hoá nghệ thuật nào nên được hỗ trợ. Một bên là những người quản lư chủ trương phương pháp “truyền thống” là hỗ trợ các hoạt động nổi bật trong nghệ thuật cổ điển và đương đại, và bên kia là những người ủng hộ, với số lượng ngày càng tăng, cái gọi là phong trào “nghệ thuật thay thế” (phong trào này dựa trên sự phát triển của nghệ thuật cộng đồng và các trung tâm nghệ thuật, bắt nguồn từ các cộng đồng địa phương).

Các cơ quan chính quyền địa phương bắt đầu mở rộng sự hỗ trợ của ḿnh, xây dựng hoặc khôi phục các nhà hát, các bảo tàng, pḥng trưng bày và các trung tâm cộng đồng đa mục đích, cũng như điều hành các chương tŕnh và lễ hội riêng của họ. Thập niên 60 và 70 cũng là giai đoạn các Hiệp hội Nghệ thuật Vùng được thành lập một cách tự phát và không đồng nhất. Đây là hệ quả của việc đóng cửa các văn pḥng khu vực  của Hội đồng Nghệ thuật.

Trong thập niên 80, những áp lực về kinh tế và chính trị đă dẫn đến việc xem xét lại cách quản lư và tài trợ đối với văn hoá và nghệ thuật ở Anh. Trong khi vẫn giữ nguyên tắc sự hỗ trợ của nhà nước, Chính phủ cũng đă yêu cầu các tổ chức văn hoá và nghệ thuật t́m kiếm những nguồn thu mới để bổ sung cho thu nhập của họ. Điều này được thể hiện rơ bằng việc Chương tŕnh Khuyến khích Tài trợ Kinh doanh đă được thành lập (năm 1984). Đây là lần đầu tiên các khoản tài trợ của Chính phủ được kết hợp với các quỹ do khối kinh doanh tài trợ và Cơ quan Nghệ thuật & Kinh doanh quản lư để khuyến khích những quan hệ tài trợ mới.

Năm 1990, Chính phủ đă yêu cầu Hội đồng Nghệ thuật Anh quốc hợp tác với Viện phim Anh quốc, Hội đồng nghề Thủ công, các Hội đồng Nghệ thuật Scotland và Xứ Wales, và các vùng để xây dựng Chiến lược Quốc gia về Nghệ thuật và Truyền thông. Đặc điểm của thập niên 90 là sự thay đổi về chính sách  văn hoá và nghệ thuật,

đặc biệt là những thay đổi về mặt cơ cấu. Năm 1992, phe bảo thủ tái đắc cử và lần đầu tiên thành lập một Bộ phụ trách các vấn đề nghệ thuật, bảo tàng, di sản, truyền thông, thể thao và du lịch, tên là Bộ Di sản Quốc gia. Vào năm 1994, một quyết định đă được ban hành, theo đó chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Nghệ thuật Anh qu

ốc đă được chuyển giao cho 3 cơ quan mới riêng biệt: Hội đồng Nghệ thuật Anh, Hội đồng nghệ thuật Scotland, và hội đồng Nghệ thuật xứ Wales.

Bên cạnh đó,  thập niên 90 đánh dấu sự ra đời của chương tŕnh sổ xố Quốc gia, chương tŕnh này đă mang lại nguồn thu lớn cho lĩnh vực văn hoá.

Với việc chính quyền của phái Lao động trúng cử năm 1997, Bộ Di sản Quốc gia được đổi tên thành Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao. Để thực hiện việc tăng đầu tư cho văn hoá, Chính phủ đă t́m cách giảm số lượng các cơ quan văn hoá thông qua việc sát nhập. Chính phủ đă thành lập 8 Cơ quan phụ trách Văn hoá Vùng (Regional Cultural Consortium) ở ngoài phạm vi London để thúc đẩy chiến lược hội nhập văn hoá toàn nước Anh và để đảm bảo văn hoá giữ được vai tṛ trong quá tŕnh phát triển vùng. Các chính quyền địa phương cũng có nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển văn hoá của địa phương. Tháng 4.2002, Hội đồng Nghệ thuật Anh và các Uỷ ban Nghệ thuật Khu vực đă được hợp nhất thành  Hội đồng Nghệ thuật Anh.

 

 

Trở về

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ cấu hành chính

2.1 Cơ cấu tổ chức

Hiện tại không có một sơ đồ nào thể hiện cơ cấu tổ chức cho cả bốn nước thuộc Vương quốc Anh.

 

Nghị viện Vương quốc Anh và Chính phủ chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề văn hoá của nước Anh và một số vấn đề như phát thanh-truyền h́nh trên toàn Vương quốc Anh. ở Scotland, Xứ Wales và Bắc Ireland, hầu hết các vấn đề văn hoá đều thuộc thẩm quyền của các cơ quan lập pháp và hành pháp của mỗi nước này. ở Scotland có Nghị viện và Cơ quan hành pháp; Xứ Wales có Quốc hội và Hội đồng Chính phủ; Bắc Ireland có Quốc hội và Cơ quan hành pháp (theo cơ chế được uỷ thác toàn quyền quyết định”). Tuy nhiên, Nghị viện đă bị đ́nh chỉ từ ngày 15.10. 2002, và giải tán vào 28.04.2003. Đạo luật Scotland 1998, Luật của Chính phủ Wales 1998 , các lệnh được ban hành theo luật này và Đạo luật Bắc Ireland 1998 quy định rơ ràng trách nhiệm  của Chính phủ Vương quốc Anh. Cũng nên lưu ư rằng trong khi Nghị viện Scotland và Quốc hội Bắc Ireland có quyền lập pháp ban đầu đối với những vấn đề được chuyển giao, th́ Nghị viện Xứ Wales chỉ có quyền lập pháp thứ sinh. Quyền lập pháp ban đầu về Xứ Wales vẫn thuộc Chính phủ và Nghị viện Vương quốc Anh.

2.2 Mô tả tổng quát hệ thống

Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao (DCMS) thực hiện chính sách của chính phủ và quản lư các khoản trợ cấp của chính phủ đối với các bảo tàng quốc gia, pḥng trưng bày nghệ thuật ở Anh, Hội đồng Nghệ thuật Anh, Thư viện Anh quốc và những cơ quan Di sản và Văn hoá Quốc gia khác. Ngoài ra b? cung quản lư ngành phim và âm nhạc, phát thanh-truyền h́nh và báo chí, sổ xố quốc gia, đánh bạc và cấp phép xuất khẩu các vật phẩm văn hoá. Đứng đầu DCMS là một Bộ trưởng, trợ giúp cho Bộ trưởng có một Quốc Vụ Khanh và hai Thứ trưởng phụ trách.

Chính phủ và Nghị viện Vương quốc Anh vẫn duy tŕ trách nhiệm lập pháp và ban hành chính sách cho toàn bộ Vương quốc Anh trong những lĩnh vực sau:

§       Nhận các khoản thu ngoài thuế (Acceptance in Lieu of Tax);

§       Phát thanh - Truyền h́nh;

§       Kiểm soát Xuất khẩu các vật phẩm văn hoá;

§       Chương tŕnh Bảo vệ của Chính phủ (ví dụ như Bảo hiểm);

§       Sổ xố Quốc gia;

§       Bản quyền cho thuê sách.

Bên cạnh những thẩm  quyền được quy định cụ thể nói trên, Chính phủ cũng có thẩm  quyền đối với các vấn đề của EU và vấn đề quốc tế. Tuy nhiên, đối với những vấn đề này các cơ quan được trao quyền vẫn duy tŕ được lợi ích pháp lư.

Những năm gần đây các Cơ quan Nhà nước không thuộc Bộ ở Anh đă có những thay đổi đáng kể về mặt cơ cấu, ví dụ như việc thành lập cơ quan Tài nguyên, Hội đồng Bảo tàng, Lưu trữ và Thư viện (được sát nhập giữa Uỷ ban Bảo tàng và Pḥng trưng bày với Uỷ ban Thông tin và Thư viện, thành lập mới  Hội đồng Phim, và sát nhập Uỷ ban Hoàng gia về các Công tŕnh Lịch sử với Cơ quan Di sản Anh, cơ quan mới cũng lấy tên là Cơ quan Di sản Anh. Hai cơ quan khác là Uỷ ban Kiến trúc và Cơ quan Môi trường Xây dựng cũng mới được thành lập nhằm nâng cao chất lượng các công tŕnh và thiết kế đô thị. Các cơ quan nhà nước không thuộc bộ (NDPB) hoạt động ở Anh, hoặc toàn bộ Vương quốc Anh nói chung, đều nhận tài trợ trực tiếp từ DCMS. Việc này đă diễn ra được ba năm , cho phép các cơ quan này tự do hơn trong việc đề ra các kế hoạch trong tương lai.

Chính sách văn hoá ở các vùng do các cơ quan vùng thực hiện. ở 8 vùng quy hoạch ngoài phạm vi London, DCMS đă thành lập ở mỗi vùng một Cơ quan Phụ trách Văn hoá Vùng. Người ta cũng có các kế hoạch thành lập các Hội đồng Vùng và sẽ chuyển giao trách nhiệm của chính phủ trung ương cho các cơ quan này.

Quản lư các vấn đề văn hoá ở Scotland là trách nhiệm của Cơ quan Hành pháp Scotland. Bộ trưởng Du lịch, Văn hoá - Thể thao và Bộ giáo dục Scotland có trách nhiệm vạch ra các đường lối, chính sách về nghệ thuật, phim, kiến trúc, di sản văn hoá, ngôn ngữ Gaelic, du lịch, thể thao và giữ mối liên hệ (tiếp xúc) với chính phủ về Phát thanh-Truyền h́nh và Sổ xố Quốc gia.

Quốc hội Xứ Wales đă chuyển giao trách nhiệm về các vấn đề văn hoá và các vấn đề liên quan đến văn hoá. Trong phạm vi Hội đồng chính phủ Xứ Wales, Bộ trưởng Văn hoá, Ngôn ngữ và Thể thao Xứ  Wales phụ trách các vấn đề nghệ thuật, bảo tàng, ngôn ngữ, thuyền thông, phát thanh-truyền h́nh, di sản (CADV), thể thao và giải trí và sổ xố. Từ năm 1999 một số cơ quan nhà nước, như Hội đồng Nghệ thuật Wales, Uỷ ban Ngôn ngữ Wales, Hội đồng Thể thao và Cơ quan Bảo tàng và Pḥng trưng bày Wales nhận tài trợ từ Hội đồng Chính phủ cũng như chịu trách nhiệm trước Hội đồng. Uỷ ban Quy hoạch Wales, được thành lập năm 2002 để duy tŕ sự phát triển ổn định, cơ hội b́nh đẳng và bao gồm các vấn đề xă hội. Từ tháng Tư 2004, một cơ quan có tên là Cymal (“Kết hợp cùng nhau”) cũng được thành lập. Đây là một đơn vị đặc biệt thuộc Hội đồng Chính phủ Wales, có trách nhiệm xây dựng định hướng chiến lược và cố vấn trong các lĩnh vực: Bảo tàng, Lưu trữ và Thư viện.

Cơ quan Hành pháp Bắc Ireland (Chính phủ) được thành lập theo Hiệp định Good Friday (Ngày thứ sáu Tốt lành). Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Giải trí (DCAL) là một trong mười Bộ thuộc Chính phủ. Đây là cơ quan trung ương quản lư các vấn đề văn hoá và nghệ thuật, phim, bảo tàng, thư viện, thể thao và giải trí, ngôn ngữ và các vấn đề liên quan đến Sổ xố Quốc gia. DCAL cũng hỗ trợ một số cơ quan nhà nước không thuộc Bộ như: Hội đồng Nghệ thuật Bắc Ireland,  Cơ quan Quốc gia về Bảo tàng và Pḥng trưng bày Bắc Ireland, Hội đồng Bảo tàng Bắc Ireland. DCAL cũng thực hiện hỗ trợ đối với Uỷ ban Phim Bắc Ireland nay đổi tên thành Hội đồng Phim và Truyền h́nh Bắc Ireland.

2.3 Hợp tác giữa các bộ và các chính quyền

Chính phủ Anh có trách nhiệm bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan thuộc chính phủ và giữa các cấp chính quyền để đảm bảo thực hiện hiệu quả các chính sách. Điều này gồm  cả những vấn đề văn hoá và những vấn đề có liên quan đến văn hoá. Ví dụ như, chính quyền các địa phương ở Anh theo yêu cầu của chính phủ, phải chuẩn bị chiến lược phát triển văn hoá ở địa phương năm 2001 để nâng cao chất lượng đời sống. ở Bắc Ireland, DCAl phải phối hợp với các hội đồng ở địa phương, thông qua Diễn đàn Văn hoá, để xây dựng các chiến lược phát triển văn hoá ở các vùng. Hội đồng Nghệ thuật Bắc Ireland thường xuyên trao đổi với các Hội đồng địa phương, thông qua một Diễn đàn cho Chính quyền Địa phương và Nghệ thuật (FLGA), trong việc thực hiện các chức năng của cơ quan này. Theo đó, Hội đồng Nghệ thuật thành lập Quỹ Khuyến khích (Challenge Fund), có thời gian hoạt động 4 năm, để hỗ trợ các tổ chức hoặc dự án của địa phương trên cơ sở những ưu tiên đă thoả thuận với chính quyền địa phương.

2.4Hợp tác quốc tế về văn hoá

Có rất nhiều hoạt động hợp tác văn hoá quốc tế diễn ra do các tổ chức, cá nhân thực hiện. Đây là khía cạnh không thể thiếu trong hoạt động của các tổ chức và cá nhân cũng như đối với ngành kinh doanh văn hoá và sáng tạo. Ngành này hoạt động kinh doanh ở nước ngoài rất nhiều. Hội đồng Anh (được tài trợ một phần bởi Bộ Ngoại giao và Khối thịnh vượng chung) vẫn tiếp tục đóng một vai tṛ quan trọng. Cơ quan này ngày càng tập trung vào những cơ hội phát triển văn hoá, các quan hệ đối tác mới và các quan hệ văn hoá.

Sự hợp tác quốc tế được khuyến khích bởi các cơ quan như Visiting Arts (T́m hiểu Nghệ thuật), một cơ quan tương đối

 

độc lập do Hội đồng Anh quốc, Hội đồng Nghệ thuật và Văn pḥng Đối ngoại (Bộ Ngoại giao) tài trợ. ở Xứ Wales, một cơ quan đặc trách, Cơ quan Nghệ thuật Quốc tế Wales đă được thành lập để tăng cường các cơ hội song phương đối với nghệ thuật. Hội đồng Nghệ thuật Bắc Ireland kết hợp chặt chẽ với các đối tác trong nước trong quan hệ hợp tác quốc tế.

Chính phủ Vương quốc Anh (thông qua DCMS) có trách nhiệm hàng đầu trong việc hợp tác văn hoá với EU. Chính phủ Vương quốc Anh là một trong những sáng lập viên của UNESCO, sau 12 năm gian đoạn Vương quốc Anh đă tái gia nhập UNESCO vào năm 1997. Uỷ ban UNESCO Quốc gia của Vương quốc Anh đă được thành lập năm 2000, do Hội đồng Anh quốc quản lư. Tuy nhiên, Uỷ ban này, cùng với tiểu ban Văn hoá đă bị giải thể vào năm 2003. DCMS đại diện cho Vương quốc Anh tham gia vào ban quản lư Chương tŕnh Truyền thông của EU và đại diện cho Vương quốc Anh trong Hội đồng Điều hành của Cơ quan nghe-nh́n châu Âu.

 

Trở về

3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá

3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

 

Hệ thống hỗ trợ văn hoá của Vương quốc Anh được xem là mô h́nh phân chia trách nhiệm điển h́nh. Trong mô h́nh này các chính quyền kế nhiệm lựa chọn các tổ chức độc lập phi chính phủ hoặc các cơ quan Nhà nước không thuộc Bộ, làm cơ quan quản lư việc giải ngân các nguồn tài chính của chính phủ và xác định những người được nhận tài trợ từ nguồn tài chính này.

Tháng 3.2001, Hội đồng Nghệ thuật Anh đă đề xuất việc sát nhập 10 Uỷ ban Nghệ thuật Vùng thành một cơ quan tài trợ và phát triển nghệ thuật duy nhất. Phần không thể thiếu của cơ quan này là 9 văn pḥng khu vực để phù hợp với quy hoạch của 9 vùng, quy hoạch h́nh thành nên cơ sở cơ cấu vùng của chính phủ. Theo quan điểm của Hội đồng Nghệ thuật, những lợi ích chủ yếu của những thay đổi này là:

§       Hoạt động đơn giản, nhanh gọn hơn và nghệ thuật dễ tiếp cận hơn;

§       Khả năng tạo ra tiếng nói chung nhân danh nghệ thuật;

§       Quyết định tài trợ ở cấp vùng được thực hiện linh hoạt hơn;

§       Giảm chi phí hành chính và sự quan liêu;

§       Khả năng lớn hơn trong việc đáp ứng các nhu cầu nghệ thuật và hành động với các ư tưởng táo báo hơn ở toàn nước Anh;

§       Khả năng lớn hơn trong việc phát triển các quan hệ đối tác với chính quyền địa phương, hội đồng phát triển vùng và các cơ quan khác.

3.2 Định nghĩa về văn hoá

Ở Vương quốc Anh không có một định nghĩa chính thức nào về văn hoá. Văn hoá của Vương quốc Anh không được xem là một thể thống nhất do có sự khác biệt về ngôn ngữ và đa dạng đa văn hoá; do đó để đề cập một cách chính xác nhất văn hoá của Vương quốc Anh th́ phải phản ánh hết phạm vi rộng lớn của sự đa dạng đó.

3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá

Mục đích cơ bản của chính sách văn hoá Vương quốc Anh là làm cho những điều tốt nhất trong cuộc sống có thể đến với người dân được nhiều nhất. Các mục tiêu bao gồm: tăng khả năng tiếp cận, sự tham gia của mọi người dân vào đời sống văn hoá quốc gia và nâng cao chất lượng các hoạt động hiện có, làm kích thích sự thoả măn của mọi người về những điều tốt đẹp. Chúng đóng vai tṛ trọng tâm trong những mục tiêu xă hội, kinh tế và giáo dục rộng lớn hơn của chính phủ. Để đạt được những mục đích này, chính phủ đă xác định các mục tiêu hành động như sau:

I: Duy tŕ và phát triển chất lượng, sự đổi mới và khả năng sáng tạo; tạo ra một thị trường cạnh tranh và hiệu quả, bao gồm cả việc loại bỏ những quy định không cần thiết và các khó khăn cản trở để phát triển các ngành du lịch và sáng tạo; thúc đẩy sự thành công của nước Anh trong các lĩnh vực văn hoá, truyền thông và thể thao ở trong và ngoài nước.

II: Mở rộng khả năng cho mọi người trong việc tiếp cận với đời sống văn hoá và thể thao phong phú và đa dạng cũng như môi trường văn hoá đặc trưng của chúng ta.

III: Phát triển tiềm năng giáo dục của các tài nguyên văn hoá và thể thao quốc gia; nâng cao các tiêu chuẩn về giáo dục và đào tạo văn hoá; đảm bảo cung cấp đầy đủ các khả năng cho các ngành sáng tạo và du lịch.

IV: Đảm bảo cho mọi người có cơ hội phát triển tài năng và đạt được thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực văn hoá, truyền thông và thể thao.

V: Duy tŕ sự hỗ trợ của nhà nước đối với Sổ xố Quốc gia và đảm bảo những khoản tiền được huy động sẽ được dùng để hỗ trợ cho các ưu tiên của DCMS và các ưu tiên quốc gia khác.

VI: Thúc đẩy vai tṛ của các lĩnh vực quản lư thuộc DCMS trong quá tŕnh xây dựng lại đô thị và nông thôn, trong việc duy tŕ sự ổn định và hạn chế việc tách rời khỏi xă hội.

Các mục tiêu của Scotland, Xứ Wales và Bắc Ireland, xem phần 4.1

 

Trở về

4. Những vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hoá

4.1  Ưu tiên chính sách văn hoá trong 5 năm qua

 

Trong cả 4 nước thuộc Vương quốc Anh, giai đoạn từ năm 1996 có sự thay đổi về chính sách. Chính phủ mới của Vương quốc Anh năm 1997 đề ra các mục tiêu riêng và giao trách nhiệm về văn hoá cho Nghị viện Scotland, Quốc hội Xứ Wales, và thành lập Quốc hội Bắc Ireland.

Chính sách văn hoá Anh đă có nhiều điều chỉnh để phù hợp với kế hoạch chi tiêu toàn diện sửa đổi lần thứ hai của Chính phủ, công bố trong năm 2000. Tháng 3/ 2001, Bộ Văn hoá, truyền thông và thể thao đă công bố cuốn “Sách Xanh” về Văn hoá và Hoạt động sáng tạo - trong mười năm tới. Cuốn sách đưa ra định hướng cho tương lai của ngành văn hoá, một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hoá và hoạt động sáng tạo bằng các chương tŕnh giáo dục, giá trị văn hoá tinh hoa  nhằm đưa văn hoá đến với mọi người.

Chiến lược Văn hoá Quốc gia của Scotland - Tạo dựng tương lai - Không quên quá khứ - được Chính phủ Scotland công bố tháng 8/ 2000, đề ra bốn mục tiêu chính sách:

“Tương lai sáng tạo: Cymru Greadigol” - là chiến lược văn hoá mười năm do Hội đồng Chính phủ xứ Wales ban hành năm 2002. Chiến lược đă đề ra một số ưu tiên về văn hoá ở xứ Wales, bao gồm:

§        Xem văn hoá là một trong các kế hoạch của cộng đồng địa phương;

§        Tự do tham quan các bảo tàng và pḥng trưng bày Quốc gia;

§        Tăng cường sự tham gia của mọi người vào các hoạt động và cơ sở văn hoá;

§        Duy tŕ các tiêu chuẩn cao nhất trong phạm vi rộng lớn của nghệ thuật chuyên nghiệp;

§        Sử dụng nét văn hoá đặc thù và những thành tựu của xứ Wales để nâng cao vị thế quốc tế;

§        Phát triển ngôn ngữ Wales;

§        Khai thác các Quỹ Cơ cấu châu Âu cho các tổ chức văn hoá;

§        Xây dựng các chiến lược về kịch bằng ngôn ngữ Anh và xứ Wales;

§    Thay đổi việc tài trợ các lễ hội và triển lăm cũng như việc hỗ trợ hoạt động âm nhạc của chính quyền địa phương.

Ở Bắc Ireland, Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Giải trí mới được thành lập và phải đối mặt với nhiều khó khăn trong lĩnh vực văn hoá. Tháng 6/ 2001, 4 Bộ của Bắc Ireland (Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Giải trí , Bộ Giáo dục, Bộ Việc làm và Học tập, Bộ Doanh nghiệp, Thương mại và Đầu tư) đă phối hợp để đưa ra chính sách, thể hiện trong tài liệu “Hoạt động sáng tạo không hạn chế - Biến điều này thành sự thật”. Hội đồng nghệ thuật Bắc Ireland đă đưa ra Kế hoạch nghệ thuật 5 năm đề ra các mục tiêu và ưu tiên chiến lược từ năm 2001 đến 2006, bao gồm:

§         Nâng cao các cơ hội tham gia sáng tạo nghệ thuật;

§         Phát triển thêm những người thưởng thức nghệ thuật, văn hoá;

§         Mở rộng các cơ hội cho nghệ sĩ để phát triển công việc của họ;

§         Nâng cao năng lực của các tổ chức nghệ thuật và bảo đảm cho họ  về tài chính;

4.2 Những tranh luận về chính sách

4.2.1 Quy định đối với văn hoá các dân tộc thiểu số

Đạo luật Quan hệ giữa các dân tộc sửa đổi năm 2000 yêu cầu các cơ quan nhà nước, bao gồm cả 4 Hội đồng Nghệ thuật của Vương quốc Anh, phải thể hiện rằng họ đang thúc đẩy b́nh đẳng giữa các dân tộc thông qua các chính sách và hoạt động .

Cả 4 Hội đồng Nghệ thuật đang phát triển sự đa dạng văn hoá trong nghệ thuật. Sáng kiến “Decibel” - nâng cao vai tṛ của nghệ thuật đa dạng văn hoá ở liên hiệp Anh - là một sáng kiến lớn của Hội đồng Nghệ thuật Anh. Sáng kiến này nhằm nâng cao chất lượng của nghệ thuật đa dạng văn hoá và xây dựng cơ sở hạ tầng cho nghệ thuật đa dạng văn hoá.

Một báo cáo mới (Eclipse, do Hội đồng Nghệ thuật Anh phối hợp với Hiệp hội quản lư Nhà hát thực hiện) đề cập đến việc xây dựng các chiến lược của ngành hát kịch để hạn chế sự phân biệt sắc tộc của các tổ chức.

Hội đồng Bảo tàng, Thư viện và Lưu trữ đă thành lập một Mạng lưới đa dạng văn hoá Quốc gia cho lĩnh vực bảo tàng, lưu trữ và thư viện để thực hiện sự hỗ trợ, tư vấn và đào tạo thông qua các Cơ quan điều phối đa dạng văn hoá vùng. Các hăng truyền h́nh cũng thành lập mạng lưới đa dạng văn hoá. Mạng lưới này có các kế hoạch hành động với các mục tiêu và biện pháp để hội nhập các dân tộc thiểu số vào lĩnh vực truyền h́nh ở nhiều cấp (xem phần 4.2.6).

Hội đồng Cố vấn Điện ảnh Anh quốc đă thành lập một uỷ ban việc làm cho người thiểu số để t́m cách nâng cao tỉ lệ của người da đen và người dân tộc thiểu số tham gia vào ngành điện ảnh.

4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

 Mặc dù các xu hướng cho thấy rằng sự bất b́nh đẳng về giới trong một số lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật đang thay đổi, th́ phụ nữ vẫn xuất hiện ở mức thấp trong các vị trí (quản lư) cấp cao. Năm 1993, một nghiên cứu của Hội đồng Nghệ thuật Liên hiệp Anh đă đưa ra các chiến lược thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào nghệ thuật, tuy nhiên chiến lược này không kéo dài. Hiện tại Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao đang thu hút những phụ nữ có kinh nghiệm phù hợp để làm việc trong các cơ quan nhà nước mà Bộ tài trợ cũng như khuyến khích họ tham gia nhiều hơn vào đời sống văn hoá cộng đồng. Mục tiêu là đạt được sự cân bằng trước năm 2004.

Trong Chiến lược B́nh đẳng, Chính phủ Sctland đưa ra cam kết thúc đẩy hơn nữa cơ hội b́nh đẳng cho mọi người. Nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng chiến lược là phải bảo đảm rằng vấn đề b́nh đẳng là trọng tâm trong hoạch định chính sách của Chính phủ Scotland.

Uỷ ban cơ hội b́nh đẳng Vương quốc Anh là một cơ quan độc lập và được thành lập theo luật. Cơ quan này có đại diện tại tất cả bốn nước và nhiệm vụ của nó là phối hợp với các chính quyền để xoá bỏ phân biệt đối xử về giới tính.

      4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và chính sách

Vương quốc Anh đă tham gia kư kết Hiến chương của Hội đồng châu Âu về Ngôn ngữ Địa phương và Thiểu số, trong đó thừa thuận những nghĩa vụ nhất định đối với việc giữ ǵn và phát huy các ngôn ngữ thiểu số của Scotland, xứ Wales và Bắc Ireland.

Cơ quan Phát huy Ngôn ngữ Gaelic (Comunn na Gaidhlig) có vai tṛ chính trong việc cố vấn và quản lư ngôn ngữ Gaelic. Đây là ngôn ngữ được sử dụng ở các vùng cao nguyên và các hải đảo ở Scotland. Chính phủ Scotland hỗ trợ tài chính cho một số tổ chức Gaelic hoạt động trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và văn hoá. Hội đồng Nghệ thuật Scotland hỗ trợ cho Hội đồng Sách Gaelic và Dự án Nghệ thuật Gaelic Quốc gia.

Trong chiến lược dài hạn của ḿnh, Quốc hội Xứ Wales đă đưa ra cam kết “phát triển sử dụng hai ngôn ngữ ở Xứ Wales, làm nổi bật bản sắc riêng cũng như tận dụng các lợi ích của việc sử dụng hai ngôn ngữ”. Sau đó, 3/ 2003, Hội đồng Chính phủ Wales đă đề ra chương tŕnh Iaith Pawb (Ngôn ngữ cho mọi người). Vào năm 2000, Chính phủ đă bổ nhiệm một vị trí mới trong nội các là Bộ trưởng Văn hoá thể thao và ngôn ngữ Wales. Uỷ ban Ngôn ngữ Wales, được thành lập theo Đạo Luật về ngôn ngữ của Xứ Wales năm 1993, thực hiện trợ cấp và quản lư việc chuẩn bị và thực hiện các chương tŕnh ngôn ngữ Wales của các cơ quan nhà nước. Chính sách ngôn ngữ ở Bắc Ireland do Cục đa dạng ngôn ngữ của Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Giải trí chịu trách nhiệm. Sắc lệnh Hợp tác Bắc-Nam đă thành lập Cơ quan ngôn ngữ Bắc-Nam để nâng cao nhận thức và việc sử dụng tiếng Ireland và văn hoá Ulster-Scots. Năm 2002, Hội đồng Nghệ thuật Bắc Ireland đă tiến hành phân tích về ngôn ngữ Ireland và Ulster-Scots.

       4.2.4 Quan hệ giữa truyền thông và văn hoá (bản sắc và sự đa dạng)

Chính phủ Vương quốc Anh cho rằng việc lập các chương tŕnh nên thoả măn sở thích và lợi ích phù hợp với mọi người ở độ tuổi khác nhau cũng như ở các vùng văn hoá khác nhau. Điều này được phản ánh trong các thoả thuận quản lư hiện nay.

Điều lệ của BBC và thoả thuận của nó với Chính phủ bao gồm các nghĩa vụ cung cấp dịch vụ thích hợp, với nhiều chủ đề khác nhau, thoả măn các nhu cầu và sở thích của những đối tượng khán giả khác nhau.

Với sự nhất trí của Bộ trưởng Văn hoá, Truyền thông và Thể thao cũng như các cơ quan khác, các hăng truyền thông đă thành lập Mạng lưới Đa dạng Văn hoá,  đưa ra kế hoạch hành động với các mục tiêu chung - Thay đổi bộ mặt của truyền h́nh, Tuyên ngôn 2000. Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao xem mạng lưới này như là một minh chứng về sự cam kết của các hăng truyền h́nh để tăng cường sự đa dạng ở trên và sau màn ảnh truyền h́nh.

Một Báo cáo của Chính phủ về truyền thông (Communications White Paper) được công bố năm 2000 đă xác nhận lại cam kết của Chính phủ về việc bảo đảm các cơ quan phát thanh truyền h́nh sẽ tôn trọng và phản ánh cộng đồng đa dạng văn hoá.

Uỷ ban phim có những chuyên gia thực hiện tư vấn đối với chiến lược trong tương lai về sự đa dạng văn hoá. Sự tư vấn này đảm bảo rằng chiến lược sẽ đảm bảo phản ánh một Liên Hiệp Anh đa văn hoá trong quan điểm và thực hiện chiến lược. Ngoài ra nó cũng xem xét đến báo cáo của Hội đồng cố vấn màn ảnh Liên Hiệp Anh về việc làm của người thiểu số trong ngành phim.

Xem thêm phần 4.2.1 và 5.3.1.

      4.2.5 Kinh doanh văn hoá: các chương tŕnh phát triển và quan hệ đối tác

Các cơ quan phát triển vùng ở Anh và các cơ quan được trao quyền đă thừa nhận tầm quan trọng của hoạt động sáng tạo đối với kinh tế của mỗi vùng. Các cơ quan quản lư kinh tế đang phản ánh tầm quan trọng của các ngành sáng tạo này trong việc xây dựng các chính sách. Hơn nữa, những ǵ mà ngành này có thể mang lại được thừa nhận nhiều hơn ở  phạm vi Vương quốc Anh và trên thế giới.

Tầm quan trọng của các cơ quan kinh doanh sáng tạo đă làm cho khối nhà nước và tư nhân kết hợp với nhau trong quan hệ đối tác. Trọng tâm của hoạt động đối tác là lĩnh vực quan trọng của ngành kinh doanh sáng tạo, phối hợp phân tích các vấn đề và đưa ra các khuyến nghị thay đổi. Năm 1999, Chính phủ Vương quốc Anh đă thành lập Nhóm xúc tiến xuất khẩu các ngành kinh doanh sáng tạo. Nhóm này đă tiến hành sửa đổi chiến lược và đề xuất cải thiện đối với việc trao đổi thông tin, điều phối và cam kết của các quỹ công để cung cấp dịch vụ tốt hơn cho các nhà xuất khẩu trong ngành.

4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

Năm 1997, Thủ tướng đă thành lập Cơ quan đặc trách về ngành kinh doanh sáng tạo. Vai tṛ chính của cơ quan này là nâng cao nhận thức về các giá trị kinh tế của ngành , tập trung vào những khó khăn mà ngành gặp phải, đưa ra các khuyến nghị thay đổi. Cơ quan đặc trách đă thống nhất trong việc xác định những hoạt động nào có nguồn gốc từ sáng tạo, kỹ năng và tài năng cá nhân; những hoạt động nào có khả năng tạo ra việc làm và sự giàu có thông qua việc khai thác các tài sản trí tuệ (sở hữu trí tuệ). Sự nhấn mạnh tập trung vào người sáng tạo và khả năng khai thác tài năng của họ. Về mặt phạm vi, các ngành kinh doanh sáng tạo bao gồm quảng cáo, kiến trúc, thị trường nghệ thuật và cổ vật, thủ công, thiết kế thời trang, phần mềm giải trí tương tác, âm nhạc, nghệ thuật tŕnh diễn, xuất bản, phần mềm, truyền h́nh và phát thanh.

Cơ quan đặc trách trước hết xác định tầm quan trọng về mặt kinh tế của các ngành kinh doanh sáng tạo. Nghiên cứu t́nh h́nh ngành kinh doanh sáng tạo, xuất bản đầu tiên năm 1998 và được cập nhật vào năm 2001, đă cho thấy ngành này không chỉ có đóng góp lớn về mặt kinh tế, mà c̣n thể hiện tiềm năng tăng trưởng cao hơn mức trung b́nh. Nghiên cứu này cũng xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến các ngành kinh doanh sáng tạo: kỹ năng và đào tạo; tài chính; quyền tài sản trí tuệ (sở hữu trí tuệ); và xuất khẩu.

Nghiên cứu năm 2001 đă cho thấy rằng ngành kinh doanh sáng tạo ở Vương quốc Anh:

·       Tạo ra doanh thu 112.5 tỉ bảng;

·       Đạt 10.3 tỉ Bảng về xuất khẩu;

·       Tạo ra 1.3 triệu việc làm;

·       Đóng góp trên 5% GDP;

·       Năm 1998, theo số liệu lúc đó, tỷ lệ tăng trưởng của ngành này là 16% so với 6% của nền kinh tế.

Chương tŕnh New Deal for Musicians (NDfM, Cơ hội mới cho các nghệ sĩ âm nhạc), khởi đầu tháng 8 năm 1999, nhằm giúp đỡ các nghệ sĩ âm nhạc không có việc làm hoặc các nghệ sĩ trẻ  muốn gây dựng sự nghiệp trong ngành âm nhạc. Chương tŕnh này giúp đỡ các nghệ sĩ thuộc tất cả các thể loại (bao gồm nhạc công, ca sĩ, người soạn nhạc, người viết ca khúc và người làm nghề DJ) có được một sự nghiệp trong ngành kinh doanh âm nhạc, cho dù họ đang làm việc theo hợp đồng hoặc làm việc độc lập.

4.2.7 Các công nghệ mới và chính sách văn hoá

Báo cáo của Chính phủ về Cạnh tranh (1998) đă uỷ quyền cho Bộ Thương mại và Công nghiệp phối hợp với ngành kỹ thuật số. Kế hoạch hành động sau đó đă giải quyết một loại các vấn đề bao gồm: kỹ năng và sự tương tác  ngành với các tổ chức giáo dục; t́m các nguồn đầu tư phù

 hợp cho các doanh nhân trong ngành và nhu cầu đối với các cơ quan xúc tiến, tiếp thị và xuất khẩu.

Một trong những khuyến nghị của Kế hoạch hành động là thành lập Diễn đàn công nghệ số cho các cơ quan đại diện có lợi ích trong ngành truyền thông kỹ thuật số để thúc đẩy trao đổi thông tin, nâng cao nhận thức và đưa ra các khuyến nghị cho các bộ ngành của Chính phủ. Mặt khác kế hoạch cũng đă đề xuất lập một trang web để liên kết với những cơ quan, tổ chức liên quan, hướng dẫn các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, cũng là nơi đưa ra nhiều sáng kiến để nâng cao vai tṛ của công nghệ mới.

Việc thừa nhận rằng công nghệ số tạo ra các cơ hội để tiếp cận rộng răi với lĩnh vực nghệ thuật và văn hoá cũng là nguyên nhân dẫn đến việc thành lập một tổ chức Văn hoá Trên mạng. Mục tiêu chính của cơ quan này là huy động các nguồn lực của ngành văn hoá để làm phong phú nội dung giáo dục nhà trường, đặc biệt là về lịch sử, tiếng Anh và kịch, âm nhạc, nghệ thuật và thiết kế.

Bảo tàng ảo Quốc gia đầu tiên của Anh (Bảo tàng 24 giờ) đưa ra những hướng dẫn trực tuyến về hàng ngh́n bảo tàng và pḥng trưng bày của Vương quốc Anh.

Hội đồng Nghệ thuật Anh đă hỗ trợ rất nhiều các sáng kiến nhằm thúc đẩy, phát triển nghệ thuật đa phương diện (multimedia arts), và cũng cung cấp nhiều học bổng nghiên cứu sinh cho các nghệ sĩ hoạt động có ứng dụng công nghệ mới.

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh

Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thông tin đă cung cấp tài chính cho Hội đồng nghệ thuật Anh để thực hiện chương tŕnh Quan hệ đối tác về hoạt động sáng tạo. Chương tŕnh này sẽ tạo ra cơ hội cho những người trẻ tuổi được làm việc trực tiếp với các tổ chức hoạt động nghệ thuật, văn hoá và sáng tạo và để có kinh nghiệm. Artsmark là giải thưởng do Hội đồng Nghệ thuật Anh trao tặng nhằm công nhận các thành tích hoạt động giáo dục ở các trường học. Chương tŕnh giải thưởng này không những khuyến khích các trường học cung cấp cơ hội học tập nghệ thuật có chất lượng cho những người trẻ tuổi mà c̣n hỗ trợ các giáo viên trong việc giảng dạy.

Năm 2000, Uỷ ban tư vấn Quốc gia về Giáo dục Văn hoá và Sáng tạo đă được thành lập. Uỷ ban này đă đưa ra rất nhiều khuyến nghị để thúc đẩy phát triển nghệ thuật trong trường học.

Năm 2002, một chương tŕnh mới có tên Nghệ thuật và trẻ em đă được thành lập. Chương tŕnh này được Uỷ ban thiên niên kỷ tài trợ và do Hoàng tử  xứ Wales quản lư, khuyến khích các doanh nghiệp hỗ trợ cho các dự án nghệ thuật nhằm tạo cho các trẻ em ở Vương quốc Anh cơ hội tiếp xúc với các tinh hoa của nghệ thuật.

4.2.9 Phát triển di sản

Đến cuối năm 2001, Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao đă công bố chính sách về di sản - Giá trị lịch sử: một sức mạnh cho tương lai. Chính sách này  đưa ra một loạt kế hoạch hành động nhằm  đặt các giá trị di sản và lịch sử vào “trung tâm của đời sống hiện đại”.

Năm 1993, Chính phủ cho xuất bản một tài liệu tư vấn, Bảo vệ giá trị lịch sử: Làm cho hệ thống hoạt động tốt hơn. Tài liệu này đă đề xuất ra một hệ thống mới cho các di sản ở Anh (xem phần 5.5).

Tháng 10/ 2001 Cơ quan đặc trách về bảo tàng khu vực đă phát hành một báo cáo nghiên cứu, Sự phục hưng tại các vùng: Một cách nh́n mới về các bảo tàng của Anh. Báo cáo  kêu gọi thiết lập một khung hoạt động mới cho các bảo tàng ở Anh. Các khuyến nghị c̣n bao gồm cả đề xuất thành lập một hệ thống các trung tâm bảo tàng ở 9 vùng, bổ sung tài trợ trong ṿng 5 năm, phát triển một chiến lược Quốc gia về lĩnh vực bảo tàng và pḥng trưng bày. Giới bảo tàng đă bày tỏ mối quan ngại về việc Chính phủ đă không cung cấp lượng tiền bổ sung trong ṿng 5  năm theo như đề xuất trong báo cáo. Mối lo ngại này càng gia tăng khi tỉ lệ số người tham quan các bảo tàng ở ngoài London giảm đồng loạt. Một mối quan tâm khác của các Thư viện Anh quốc là việc những quy định mới của Bộ Tài chính sẽ yêu cầu các bảo tàng phải trả một khoản “phí tài sản” bằng 6% giá trị đất đai và nhà của các bảo tàng.

Từ giai đoạn 2003/2004, Bộ tài chính cũng sẽ ban hành một hệ thống ngân sách mới để bảo đảm rằng các cơ quan được Chính phủ tài trợ sẽ sử dụng hiệu quả hơn những tài sản của họ.

4.2.10 Những vấn đề khác

Việc thành lập Sổ xố Quốc gia vào giữa thập niên 90 đă có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực văn hoá ở Vương quốc Anh, đặc biệt là đối với cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên đă có mối lo ngại về việc cố ư nhấn mạnh vào các công tŕnh mà không phải những hoạt động diễn ra ở đó. Ngoài ra có dấu hiệu rơ ràng về doanh thu bán vé số đang giảm, điều này có nghĩa là nguồn đóng góp cho lĩnh vực văn hoá sẽ giảm đi so với trước đây. Những cơ quan phân phối nguồn thu từ xổ số đă bắt đầu tập trung vào các dự án vốn nhỏ và hỗ trợ cho các công việc như đặt hàng cho các tác phẩm  mới và hoạt động cộng đồng. Sự thay đổi trong chính sách này một phần là do  ư kiến cho rằng những dự án mới quá lạc quan vào dự báo số lượng khách viếng thăm. Thực tế là một số bảo tàng mới đang ở trong t́nh trạnh khó khăn về tài chính khi nguồn thu của họ thấp hơn rất nhiều so với dự đoán ban đầu.

T́nh trạng khó khăn của các bảo tàng địa phương được nhấn mạnh trong một báo cáo do Hội đồng Bảo tàng, Thư viện và Lưu trữ thực hiện. Báo cáo này cũng đă đề xuất cần có một khoản tiền 167 triệu bảng để giải quyết những khó khăn do việc thiếu đầu tư trong hai thập kỷ qua  (giai đoạn 2005-2006 Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao sẽ cấp một khoản tiền 70 triệu bảng để trợ giúp các bảo tàng địa phương.

 

Trở về

5. Những quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

5.1 Tổng quan về thẩm quyền ban hành chính sách văn hoá

Vương quốc Anh không có hiến pháp thành văn nên phụ thuộc rất nhiều vào các bộ luật chuyên ngành. Trong nhiều năm qua, mặc dù rất nhiều luật được ban hành  liên quan đến  lĩnh vực văn hoá cụ thể (ví dụ như các luật về bảo tàng và thư viện của thế kỷ 19), th́ hiện nay vẫn không có một đạo luật nào dành riêng để điều chỉnh tổng quát vấn đề văn hoá.

5.2 An sinh xă hội/ quan hệ lao động

Các nghệ sĩ thuộc phạm vi quản lư của các cơ quan án lệ trong lĩnh vực này. Hội đồng Nghệ thuật Anh đă uỷ quyền cho Viện nghiên cứu việc làm và Trung tâm phát triển giáo dục, thẩm định và nghiên cứu, thuộc trường Đại học Warwick, để thực hiện nghiên cứu về thị trường lao động của các nghệ sĩ và hệ quả của hệ thống thuế và phúc lợi.

5.2.1 Các biện pháp thuế

Cơ quan Thuế vụ quy định rằng các khoản tài trợ và giải thưởng cho các nghệ sĩ đều phải chịu thuế. Những người hoạt động sáng tạo, như nhà văn, người soạn nhạc, người viết kịch v.v.. có thể được hưởng miễn thuế trong một thời gian nhất định nếu họ chứng minh được với cơ quan thuế vụ rằng thu nhập của họ biến động rất lớn. Ví dụ như trong một số năm nhất định chi phí họ bỏ ra lớn hơn rất nhiều so với thu nhập mà họ có được. Tuy nhiên cơ quan thuế chỉ cho miễn thuế đối với “khoảng thời gian có chi phí bỏ ra”.

5.3 Ngành kinh doanh văn hoá

Ngành truyền h́nh ở Vương quốc Anh được xem là một trong những ngành năng động nhất châu Âu. Lượng khán giả xem truyền h́nh qua vệ tinh và cáp tiếp tục tăng. Hoạt động phát thanh v́ mục đích thương mại được dự báo tăng trưởng gấp hai lần so với tỉ lệ tăng trưởng của lĩnh vực truyền thông khác năm 2000 (12%). Công nghệ số, Internet và những tiến bộ trong ngành viễn thông cho phép ngành truyền h́nh và phát thanh đổi mới phương pháp cung cấp dịch vụ. Bản Sách Trắng, Tương lai mới của ngành truyền thông, đă đề cập đến những khó khăn mà ngành  gặp phải. Bên cạnh đó, sự kết hợp các công nghệ sẽ tạo ra nhiều thách thức hơn đối với các hăng phát thanh truyền h́nh truyền thống.

5.3.1 Các giới hạn đối với truyền h́nh

 

Các Đạo luật về Phát thanh Truyền h́nh năm 1990 và 1996 đă thực hiện Điều 4 Chỉ thị về Phát thanh Truyền h́nh của Uỷ ban châu Âu, Truyền h́nh không biên giới. Theo Điều 4 của chỉ thị này các nước thành viên ( EU) phải đảm bảo rằng, ở những nơi có thể thực hiện được và bằng biện pháp phù hợp, các hăng truyền h́nh trong phạm vi thẩm quyền của ḿnh phải dành một tỷ lệ phát sóng đối với các tác phẩm của châu Âu. Bên cạnh đó, theo Điều 5, ít nhất 10% thời gian phát sóng phải dành cho các tác phẩm độc lập của châu Âu, bao gồm một tỷ lệ “phù hợp” dành cho các tác phẩm mới hoàn thành. Các giới hạn về nội dung chương tŕnh được ấn định đối với các hăng dịch vụ phát thanh,truyền h́nh nhà nước và truyền h́nh-phát thanh trên mặt đất.

Chính phủ Vương quốc Anh, thông qua Bộ văn hoá, Truyền thông và Thể thao, thực hiện kiểm tra và giám  sát đối với tất cả các kênh truyền h́nh cáp và qua vệ tinh. Uỷ ban Truyền h́nh độc lập (ITC) giám sát hoạt động truyền h́nh số trên mặt đất. Luật Phát thanh-Truyền h́nh năm 1990 yêu cầu các hăng BBC, ITV, Channel 4 và Channel 5 dành ít nhất 25% thời lượng chương tŕnh để phát sóng sản phẩm độc lập. Trong khi khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo, các nghĩa vụ này đă tạo ra sự đầu tư liên tục trong lĩnh vực kinh doanh nghe nh́n ở châu Âu.

5.3.2 Luật quy định về ngôn ngữ

Các quy định pháp luật về sử dụng ngôn ngữ trong nước và nước ngoài thuộc ngành kinh doanh văn hoá chỉ có ở Scotland và xứ Wales. ở Scotland, Quỹ Truyền h́nh tiếng Gaelic được thành lập để tài trợ cho việc sản xuất chương tŕnh truyền h́nh tiếng Gaelic, theo Luật Phát thanh Truyền h́nh năm 1990. Đài Truyền h́nh Xứ Wales  phát trên kênh 4 được thành lập theo Luật phát thanh –truyền h́nh năm 1980 để thực hiện các chương tŕnh truyền h́nh bằng ngôn ngữ xứ Wales.

Luật truyền thông năm 2003 đă quy định thành lập một cơ quan phát thanh truyền h́nh tiếng Gaelic, với quyền hạn lớn hơn, nhằm đảm bảo cung cấp các chương tŕnh phát thanh truyền h́nh tiếng Gaelic đa dạng và chất lượng cao. Luật này cũng đưa ra sửa đổi đối với hoạt động của Đài Truyền h́nh xứ Wales phát trên kênh 4 là một đơn vị dịch vụ công. Tuy nhiên việc cung cấp chương tŕnh phát sóng bằng tiếng Wales của cơ quan này vẫn được xem là trọng tâm.

5.3.3 Luật phim

Luật Phim năm 1985 đă quy định giảm thuế đối với chi phí sản xuất  phim của Liên hiệp Anh. Luật đưa ra các điều kiện để được xem là phim của “Anh”, bao gồm cả việc tuân thủ các quy định của các điều ước Hợp tác sản xuất của Vương quốc Anh với các quốc gia sản xuất phim khác, hoặc Công ước châu Âu về Hợp tác Điện ảnh mà Vương quốc Anh đă kư kết.

Các phim của Anh cũng có thể sử dụng các thoả thuận “bán và cho thuê lại”, theo đó một công ty sản xuất hoặc nhà sản xuất có thể giảm tiền thuê đến 12% bằng cách bán đi các quyền đối với phim của ḿnh cho một người mua ở Vương quốc Anh, người này có thể xin giảm thuế trên giá mua khi cho công ty sản xuất thuê lại các quyền đó.

5.4 Luật sửa đổi về bản quyền

5.4.1 Hệ thống quyền tác giả

Bản gốc của tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hoặc nghệ thuật (bao gồm chương tŕnh máy tính và cơ sở dữ liệu), phim, ghi âm, chương tŕnh cáp, chương tŕnh phát sóng và sự sắp xếp bản in của các ấn phẩm đă xuất bản, đương nhiên được Luật bản quyền của Vương quốc Anh bảo hộ khi chúng đáp ứng được các yêu cầu hợp pháp. Nói chung, bảo hộ bản quyền thường dành cho tác phẩm được công bố lần đầu tiên ( trong trường hợp phát sóng hoặc chương tŕnh cáp, th́ các chương tŕnh đó được thực hiện và phát đi) tại các nước thành viên EU hay các nước thành viên của Công ước quốc tế về bản quyền, Tổ chức Thương mại Thế giới, hoặc các thoả thuận song phương. Chủ sở hữu được bảo hộ có quyền chống lại việc sao chép, tŕnh diễn công khai, phát sóng, cho thuê và đi thuê, phát hành ra công chúng và chuyển thể một cách bất hợp pháp tác phẩm của ḿnh; chống lại việc nhập khẩu, chiếm hữu, buôn bán hoặc mua các bản sao bất hợp pháp. Trong hầu hết các trường hợp, tác giả là chủ sở hữu đầu tiên của quyền

bản quyền, thời hạn bản quyền các tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc và nghệ thuật được tính theo thời gian tác giả c̣n sống cộng với 70 năm kể từ năm tác giả qua đời. Đối với phim thời gian là 70 năm, các bản ghi âm và phát sóng được bảo vệ 50 năm.

Chỉ thị của EU thống nhất về Droit de Suite (quyền bán lại của tác giả) sẽ được thực hiện ở Vương quốc Anh năm 2006. Trong khi đó, Hội đồng Nghệ thuật Anh đă tiến hành nghiên cứu về các biện pháp phù hợp nhất để quản lư vấn đề này và đă công bố một báo cáo vào năm 2002, trong đó có nêu ra các mô h́nh có thể sử dụng

5.4.2 Thuế đối với băng trắng

Thuế đối với băng trắng không áp dụng ở Vương quốc Anh.

5.4.3 Bản quyền cho thuê sách

Chương tŕnh Bản quyền cho thuê sách thực hiện trả tiền bản quyền đối với tác giả khi sách của họ được cho thuê tại các thư viện của Nhà nước (chỉ tính riêng trong năm 2000-2001 tổng tiền bản quyền của mỗi tác giả đạt trên 5 triệu bảng ). Việc thanh toán thực hiện theo số lần mà sách của tác giả được mượn. Tổng số tối đa tiền bản quyền cho thuê sách của một tác giả trong một năm không  quá 6000 bảng.

5.5 Các tài sản và Di sản văn hoá

 Luật pháp thực hiện bảo vệ đối với các toà nhà hoặc công tŕnh tưởng niệm có tính lịch sử khi chúng được coi là thuộc về lợi ích cộng đồng. Các toà nhà có ư nghĩa kiến trúc đặc biệt hoặc ư nghĩa lịch sử đặc biệt (bao gồm các vật dụng trong nhà) được đưa vào các danh sách bảo vệ. Việc liệt kê vào danh sách do các bộ ngành liên quan hoặc các cơ quan được bộ ngành chỉ định thực hiện. Các bộ ngành cũng chịu trách nhiệm lập danh sách các công tŕnh tưởng niệm, và đưa ra đề xuất bảo vệ tương tự như việc bảo vệ các toà nhà đă được liệt kê. Năm 1998 ở Vương quốc Anh có khoảng 29 000 công tŕnh như vậy và 10 000 khu vực bảo tồn. Chính quyền địa phương ở Anh và Bắc Ireland có trách nhiệm thành lập “các khu bảo tồn” tại địa điểm có các công tŕnh đó.

 Tháng 7/2003, Chính phủ công bố một tài liệu tư vấn, Bảo vệ các giá trị lịch sử: Làm cho hệ thống làm việc tốt hơn. Tài liệu này xem xét lại hệ thống bảo vệ các giá trị lịch sử hiện có ở Anh và đề xuất thành lập một hệ thứ bậc  thống nhất thay cho rất nhiều các chương tŕnh bảo vệ có tính bắt buộc  hoặc không mang tính bắt buộc hiện nay.

Các cơ quan thực hiện hoạt động của chính quyền trung ương trong việc bảo vệ các di sản bao gồm Cơ quan Di sản Anh, Cơ quan Di sản Scotland, CADW: Cơ quan Công tŕnh Lịch sử xứ Wales, và Cơ quan môi trường và Di sản ở Bắc Ireland. Các cơ quan này có trách nhiệm liên quan đến việc ǵn giữ, bảo vệ và tu bổ các công tŕnh cổ, toà nhà có tính lịch sử và các khu vực bảo tồn.

Quỹ Di sản Tưởng niệm Quốc gia hỗ trợ tài chính cho việc mua, tu bổ và ǵn giữ các toà nhà, đất đai, các tác phẩm nghệ thuật và những vật phẩm khác có ư nghĩa quan trọng đối với di sản Quốc gia. Một cơ quan độc lập, National Trust, có trách nhiệm quản lư hơn 240 toà nhà lịch sử ở Anh để mở cửa cho công chúng tham quan. Cơ quan này có ngân sách hoạt động từ lệ phí của thành viên và thu nhập từ việc bán các sản phẩm, quà lưu niệm v.v.. Hiện ở Anh có rất nhiều các toà nhà lịch sử và công tŕnh kiến trúc thuộc sở hữu tư nhân.

5.6 Khuyến khích khối tư nhân đầu tư vào văn hoá

Trong hơn 20 năm qua đă có rất nhiều các chương tŕnh khuyến khích khối kinh doanh tài trợ cho nghệ. Hầu hết các chương tŕnh này do Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao tài trợ và do Cơ quan nghệ thuật & kinh doanh quản lư. Những chương tŕnh này được gọi là BSIS (Business Sponsorship Incentive Scheme: Chương tŕnh khuyến khích khối kinh doanh tài trợ), chương tŕnh Pairing Sheme, và gần đây nhất là New Partners (Những đối tác mới). Các chương tŕnh này đều nhằm khuyến khích các mối quan hệ ổn định giữa kinh doanh và nghệ thuật.

Có một số chương tŕnh nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân bằng cách sử dụng các ưu đăi về thuế quan.

Việc áp dụng thuế trực thu (thuế công ty) và thuế gián thu (VAT) đối với doanh nghiệp có hỗ trợ cho nghệ thuật phụ thuộc vào bản chất của việc hỗ trợ, tổ chức cho tiền và quy chế của bên nhận tiền, đặc biệt nếu tổ chức nghệ thuật là hội từ thiện có đăng kư. Có thể t́m thêm thông tin trên các trang web sau: Thuế vụ (www.inlandrevenue.gov.uk), Hải quan và Thuế (www.hmce.gv.uk) và Tổ chức Nghệ thuật & Kinh doanh (www.aandb.org.uk). Xem thêm ở phần 5.2.2.

 

Trở về

6. Cung cấp tài chính cho Văn hoá

6.1 Tóm tắt

 Ở Anh, chi tiêu của Chính phủ trung ương thực hiện thông qua Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao theo năm tài chính (từ 31/4 đến 1/3 của năm sau) 2002/2003 là 1000 triệu Bảng, trong đó:

§                    379 triệu bảng cho các bảo tàng, pḥng trưng bày và thư viện Quốc gia;

§                    296 triệu bảng cho nghệ thuật;

§                    113 triệu bảng cho phát thanh - truyền h́nh và truyền thông (bao gồm cả điện ảnh).

§                    153 triệu bảng cho các toà nhà, công tŕnh và địa điểm có giá trị lịch sử

§             50 triệu bảng để dự pḥng cho các hoạt động thể thao và nghệ thuật  

§                    8 triệu bảng cho văn hoá trực tuyến

(Xem chi tiết tại phần 6.2)

Trong năm tài chính 2002/2003, Hội đồng Nghệ thuật Anh chi  290 triệu bảng, xứ Wales là 21 triệu bảng, Scotland là 36 triệu bảng, và Bắc Ireland là 8.7 triệu bảng. Chính phủ Scotland đă cung cấp 65 triệu bảng cho các Cơ quan Quốc gia (bao gồm các Bảo tàng Quốc gia, Pḥng trưng bày Quốc gia và Thư viện Quốc gia của Scotland). Trong cùng giai đoạn này, Quốc hội Wales đă chi 24.4 triệu bảng cho các bảo tàng và pḥng trưng bày Quốc gia, 13.5 triệu bảng cho Thư viện Quốc gia, và 28.5 triệu bảng chi cho nghệ thuật. Trong khi đó Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Giải trí Bắc Ireland chi 11.6 triệu bảng cho các bảo tàng.

Sổ xố Quốc gia được thành lập năm 1994. Lợi nhuận ṛng được chia ra cho 5 lĩnh vực sau đây: nghệ thuật, thể thao, di sản, hội từ thiện (Quỹ Cộng đồng), và Quỹ các Cơ hội Mới (bao gồm các vấn đề y tế, giáo dục và môi trường). Trách nhiệm phân phối các quỹ cho nghệ thuật được giao cho các Hội đồng Nghệ thuật ở Vương quốc Anh. Đến đầu năm 2000, số tiền thu được từ sổ xố để chi cho các dự án nghệ thuật là trên 1.4 tỉ bảng. Từ tháng 6/1995 đến tháng 12/2003, số tiền của Quỹ Sổ xố để mua các tác phẩm nghệ thuật cho các bảo tàng, pḥng trưng bày là 2.8 tỉ bảng.

Các chính quyền địa phương vẫn duy tŕ tài trợ cho khoảng 1000 bảo tàng và pḥng trưng bày nghệ thuật địa phương, và một hệ thống các thư viện công. Chính quyền cũng hỗ trợ các dàn nhạc chuyên nghiệp và không chuyên, các nhà hát, các công ty múa và nhạc kịch, lễ hội, trung tâm nghệ thuật, địa điểm văn hoá, v.v.. Năm tài chính 2000/2001, chi tiêu của chính quyền địa phương ở Vương quốc Anh cho văn hoá khoảng 1.269 tỉ bảng.

Tổng đầu tư kinh doanh cho nghệ thuật năm 2001/2002 ước tính khoảng 111 tỉ bảng; giảm 3% so với năm 2000/2001 và thấp hơn con số được ghi nhận vào năm 1999/2000 là 150 tỷ bảng.

6.2 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo b́nh quân/mỗi người

Bảng 1: Các hội đồng nghệ thuật ở Vương quốc Anh đă chi tiêu trong năm 2001/2002 và 2002/2003

 

Hội đồng nghệ thuật

Năm

Dân số năm 2001

Chi tiêu

(bảng Anh)

B́nh quân

(bảng Anh)

Anh

2002/03

49 138 831

290400 000

5.91

2001/02

49 138 831

249044 000

5.07

Wales

2002/03

2 903 085

21 759 000

7.50

2001/02

2 903 085

15 171 000

5.23

Scotland

2002/03

5 060 211

36 812 000

7.27

2001/02

5 060 211

33 706 000

6.66

Bắc Ireland

2002/03

1 685 267

8 770 551

3.41

2001/02

1 685 267

7 564 659

4.49

 

Nguồn: Các Hội đồng Nghệ thuật, 2003

(Lưu ư: Các số liệu này chỉ bao gồm chi tiêu trực tiếp cho nghệ thuật, các chi phí cho tiền lương và quản lư hành chính không được tính đến.)

6.3 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, thống kê theo cấp chính quyền

Bảng 2a: Chi tiêu cho nghệ thuật: theo cấp chính quyền: nhà nước, tính theo % và theo giá trị bảng Anh (của năm tài chính 2002/2003).

 

Cấp chính quyền

Chi tiêu

(bảng Anh)

Tính theo % trên tổng số

Nước

Anh

1 002 183 000

79.26

Scotland

118 400 000

9.36

Wales

90 100 000

7.13

Bắc Ireland

53 700 000

4.25

Tổng

1 246 383 000

100

 

Nguồn: DCMS, Chính phủ Scotland, Chính phủ Wales, DCLA

Bảng 2b: Chi tiêu của nhà nước: theo cấp chính quyền: Chính quyền địa phương, tính theo giá trị bảng Anh và theo % của năm tài chính 2000/2001

 

Cấp chính quyền

Chi tiêu

(Bảng Anh)

% trên tổng số

I.      Chính quyền địa phương

ở Anh

1 088 897 965

85.76

ở Scotland

134 174 000

10.57

ở Wales

23 464 000

1.85

ở Bắc Ireland

23 097 000

1.82

Tổng

1 269 332 965

100

Nguồn: Resource, Chính quyền địa phương Scotland, Chính phủ Wales, và (Cục) Văn pḥng thống kê Quốc gia.

6.4 Thống kê theo lĩnh vực

Bảng 3: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá của Anh (England), đơn vị triệu bảng, và theo % của năm 2002/2003.

 

Lĩnh vực

Tổng

(triệu bảng)

% Trên tổng số

Bảo tàng, pḥng trưng bày và thư viện (bao gồm cả lưu trữ)

379.8

37.90

Nghệ thuật

296.4

29.58

Các toà nhà, công tŕnh, địa điểm có giá trị lịch sử

153.7

15.34

Phát thanh-truyền h́nh và truyền thông (Vương quốc Anh)

113.1

11.29

Uỷ ban xổ số Quốc gia

50.4

5.04

Văn hoá trực tuyến

8.1

0.81

Nguồn chưa phân bổ

0.3

0.04

Tổng

1002.2

100.00

Nguồn: DCMS, 2003

Lưu ư: tỉ lệ phần trăm đă được làm tṛn số

Bảng 4: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá ở Scotland, tính theo lĩnh vực, triệu bảng, và theo %, năm 2002/2003

 

Lĩnh vực

Tổng

(triệu bảng)

% Trên tổng số

Các cơ quan quốc gia (bao gồm bảo tàng, pḥng trưng bày, thư viện quốc gia của Scotland)

65.00

54.90

 Hội đồng Nghệ thuật Scotland

37.20

31.42

 Các lĩnh vực nghệ thuật khác

16.20

13.68

Tổng

118.40

100.00

Nguồn: Chính phủ Scotland, 2003

Lưu ư: tỉ lệ phần trăm đă được làm tṛn số

Bảng 5: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá của xứ Wales, theo từng lĩnh vực, triệu bảng, và theo % của năm 2002/2003

 

Lĩnh vực

Tổng

(triệu bảng)

% trên tổng số

Bảo tàng và pḥng trưng bày Quốc gia

24.40

27.08

Thư viện Quốc gia Xứ Wales

13.50

14.98

Hội đồng Nghệ thuật xứ Wales

21.60

23.97

Cơ quan Ngôn ngữ Wales

7.50

8.32

Các lĩnh vực nghệ thuật và các thư viện khác

6.90

7.66

Uỷ ban Hoàng gia về các công tŕnh cổ có giá trị lịch sử

1.80

2.00

 Trung tâm thiên niên kỷ

14.40

15.98

Tổng

90.10

100.00

Nguồn: Chính phủ Wales, 2003

Lưu ư: Tỉ lệ phần trăm đă được làm tṛn số

Bảng 6: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá ở Bắc Ireland, theo từng lĩnh vực, triệu bảng, và theo % của năm tài chính 2002/2003

 

Lĩnh vực

Triệu bảng

% Trên tổng số

Uỷ ban Giáo dục và Thư viện

8.27

11.23

Thư viện và các lĩnh vực khác

0.29

1.13

Hội đồng Nghệ thuật Bắc Ireland

10.80

42.25

Bảo tàng

11.60

45.39

Tổng

25.56

100.00

Nguồn: DCAL, 2003

Lưu ư: tỷ lệ phần trăm đă được làm tṛn số

 

Trở về

7. Các cơ quan văn hoá và những quan hệ đối tác mới

7.1 Phân chia lại trách nhiệm của nhà nước

 

Trước tổng tuyển cử năm 1992, Vương quốc Anh không có Bộ Văn hoá. Sau tổng tuyển cử, Chính phủ mới đă thành lập Bộ Di sản Quốc gia (DHN) và một trong các chức năng của bộ là quản lư hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá.

Năm 1997, Bộ Di sản Quốc gia được đổi tên thành Bộ Văn hoá, Truyền thông và Thể thao (DCMS). Sau tổng tuyển cử năm 2001, Bộ văn hoá có thêm trách nhiệm quản lư các vấn đề sau: đua ngựa, cá độ, đồ uống có cồn và chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm ngày Nữ Hoàng lên ngôi được tổ chức vào năm 2002.

Năm 2002, 10 Uỷ ban Nghệ thuật Vùng độc lập đă sáp nhập vào Hội đồng Nghệ thuật Anh để trở thành một cơ quan duy nhất tài trợ và phát triển nghệ thuật. Cơ quan mới cũng lấy tên là Hội đồng Nghệ thuật Anh (xem thêm phần 1 và 2.2)

 Xem phần 1 để biết thêm chi tiết về sự thay đổi cơ cấu ở Scotland, Wales và Bắc Ireland.

7.2 Vị trí/ vai tṛ và sự phát triển của các cơ quan văn hoá chủ yếu

 Trong những năm gần đây không có sự thay đổi đáng kể nào về vị trí của các tổ chức văn hoá (mặc dù có những thay đổi lớn về cơ quan nhà nước thực hiện tài trợ cho các tổ chức này). Tuy nhiên chính phủ và các cơ quan tài trợ đă tăng cường các chỉ tiêu hoạt động và các mục đích đối với các cơ quan nhận tài trợ.

7.3 Các quan hệ đối tác và cộng tác nổi bật

Ở cấp vùng có rất nhiều các cơ quan nhà nước và tư nhân đang hợp tác với nhau để phát triển kinh tế của vùng, hướng vào đầu tư và mở rộng các chương tŕnh văn hoá xă hội.  Các tổ chức văn hoá và các tổ chức kinh doanh trong ngành sáng tạo có thể hợp tác với các cơ quan trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp thông qua các quan hệ với pḥng thương mại. Các pḥng thương mại thường tổ chức các chuyến tham quan nước ngoài, gọi là liên kết thương mại, điều này rất có ích đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành văn hoá.

Yêu cầu của Chính phủ về các Tổ chức văn hoá Vùng và chính quyền địa phương phải tạo ra cơ chế phù hợp trong các chiến lược văn hoá vùng và địa phương để đáp ứng được các chương tŕnh văn hoá của chính phủ. Trước đây, các ưu tiên quốc gia được thực hiện thông qua các cơ quan quốc gia và vùng cũng như các cấp chính quyền. Những cơ quan này cũng có các chương tŕnh và ưu tiên riêng mà đáp ứng được các mục tiêu của chính phủ.

Tổ chức Kinh doanh & Nghệ thuật tiến hành một số chương tŕnh nhằm phát triển quan hệ đối tác giữa văn hoá và thương mại.

 

Trở về

8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo

8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ

Bên cạnh bản quyền cho thuê sách, những người hoạt động sáng tạo không bị đối xử khác biệt so với người làm việc trong ngành nghề khác. Sự hỗ trợ chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống Hội đồng Nghệ thuật hoặc các cơ quan như Hội đồng Nghề thủ công, hoặc một số hội bảo trợ như Quỹ Gulbenkian, hoặc dưới dạng các suất tài trợ. Tuy nhiên, một số sản phẩm của các nghệ sĩ được hưởng thuế suất VAT 0%, ví dụ như sách.

8.1.1 Một số chương tŕnh hỗ trợ nghệ sĩ

 

Chính phủ quản lư một chương Bản quyền cho thuê Sách, theo đó tác giả sẽ được nhận thù lao đối với số lượng sách của họ được thuê tại các thư viện nhà nước. Số tiền tối đa hàng năm mà tác giả nhận được có thể lên đến 6 000 bảng.

Năm 1980, ở Anh và xứ Wales đă h́nh thành một chương tŕnh có tên Exhibition Payment Right (EPR: quyền nhận thù lao từ việc trưng bày), theo đó các nghệ sĩ sẽ được trả thù lao khi họ cho trưng bày các tác phẩm của ḿnh tại pḥng trưng bày quốc gia. Tuy nhiên, trách nhiệm thanh toán sau đó đă được chuyển sang cho các Hiệp hội Nghệ thuật Vùng. Vào đầu thập niên 90 khi các Uỷ ban Nghệ thuật Vùng được thành lập để thay thế các Hiệp hội, có năm vùng đă huỷ bỏ chương tŕnh EPR. Đến năm 1997 chỉ c̣n hai vùng ở Anh và một ở xứ Wales c̣n duy tŕ được chương tŕnh này. Quyết định của Hội đồng châu Âu về chế độ đăi ngộ mới cho nghệ sĩ sẽ có hiệu lực ở Vương quốc Anh năm 2006 và điều này sẽ đảm bảo các nghệ sĩ được hưởng theo phần trăm trên giá bán lại các tác phẩm của họ.

Các Hội đồng Nghệ thuật ở Scotland, Wales và Bắc Ireland quản lư rất nhiều chương tŕnh như tài trợ, học bổng, công việc và đào tạo nâng cao cho các hoạ sĩ và những người hoạt động nghệ thuật trong các lĩnh vực múa, kịch, văn học, dịch thuật, âm nhạc, nhạc kịch, nghệ thuật thị giác, nhiếp ảnh, video, v.v.. Các chương tŕnh này có phạm vi rất rộng, bao gồm cả các đơn đặt hàng, học bổng nghiên cứu sinh, hội quán nghệ sĩ, trợ giúp đi lại để thúc đẩy thành lập hệ thống hoặc tham gia vào các sự kiện diễn ra ở nước ngoài, hỗ trợ cho các nghệ sĩ đang làm việc trong lĩnh vực giáo dục hoặc làm việc tại cộng đồng. ở Anh, Hội đồng Nghệ thuật đă giao phó hầu hết việc tài trợ cho các Uỷ ban Nghệ thuật Vùng. Cơ quan phát triển nghệ thuật mới được thành lập đang cố gắng làm đơn giản hoá vô số các chương tŕnh tài trợ khác nhau. Hội đồng Nghề thủ công thực hiện hỗ trợ đối với những thợ thủ công và Viện Phim Anh quốc thực hiện hỗ trợ đối với các nhà làm phim.

Hội đồng Nghệ thuật Anh đă chọn năm 2000/2001 là “Năm Nghệ sĩ”, trong đó tập trung vào các đối tượng  là những người hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Đây là điểm nhấn trong chương tŕnh kéo dài 10 năm nhằm thúc đẩy phát triển các h́nh thức nghệ thuật như múa và văn học. Tổng ngân sách dành cho chương tŕnh “Năm Nghệ sĩ” là khoảng 3.5 triệu bảng.

Năm 2000, báo cáo “Nhu cầu Sáng tạo” do Hội đồng Nghệ thuật Bắc Ireland và Hội đồng Nghệ thuật thực hiện nhằm đưa ra các thông tin chính xác về ảnh hưởng của các chương tŕnh hỗ trợ nghệ sĩ của hai Hội đồng Nghệ thuật này và đưa ra khuyến nghị về việc hỗ trợ trong tương lai cho cá nhân các nghệ sĩ. Một số các khuyến nghị đáng chú ư là xem xét các khoản trợ cấp hàng năm; đào tạo kỹ năng kinh doanh, tài chính và tiếp thị, và đề xuất việc giám sát thường xuyên về ảnh hưởng của các khoản tiền hỗ trợ và xem xét thay đổi theo giai đoạn.

8.1.2.        Hỗ trợ cho các hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp

 

Các hiệp hội nghệ thuật không được chính phủ và các cơ quan tài trợ nghệ thuật hỗ trợ trực tiếp. Tuy nhiên, Hội đồng Nghệ thuật Anh có hỗ trợ một số hiệp hội và ngành nghệ thuật nghe nh́n. Các tổ chức này bao gồm: AXIS ,cung cấp thông tin về các nghệ sĩ của loại h́nh nghệ thuật hiện đại; AN (Công ty Thông tin dành cho Nghệ sĩ) cung cấp thông tin cho các nghệ sĩ để họ có thể trau dồi hoạt động và t́m việc làm; INIVA (Viện Quốc tế về Nghệ thuật Thị giác) hỗ trợ công việc của các nghệ sĩ từ các nước khác mà công việc của họ không thuộc phạm vi của giới phê b́nh và giáo dục nghệ thuật; Hội nghệ thuật Hiện đại, trong nhiều năm qua cơ quan này đă mua các tác phẩm nghệ trường phái thuật hiện của các nghệ sĩ và thợ thủ công để tặng cho các bảo tàng. Trong lĩnh vực văn học, sự hỗ trợ cũng thực hiện đối với các cơ quan như Liên đoàn các nhà văn, Hiệp hội Quốc gia các nhà văn trong ngành giáo dục và Hội đoàn Arvon dành cho các nhà văn và các hội quán nghệ sĩ.

Nhu cầu sáng tạo: Báo cáo về hỗ trợ cho các nghệ sĩ ở Ireland đă đưa ra khuyến nghị rằng sự hỗ trợ tài chính cho Hiệp hội nghệ sĩ cần phải nhiều hơn nữa, ở Bắc Ireland và Cộng hoà Ireland, để họ có thể đóng một vai tṛ xứng đáng.

      8.1.3 Trợ cấp và các chương tŕnh khác cho các nghệ sỹ

NESTA là tên viết tắt của The National Endowent for Science, Technology and the Arts (Cơ quan quốc gia tài trợ cho Khoa học, Kỹ thuật và Nghệ thuật). Cơ quan này đầu tư vào hoạt động đổi mới và sáng tạo ở Vương quốc Anh và cũng hỗ trợ các nghệ sĩ.

8.2 Xu hướng tham gia và các số liệu

Bảng 7: Tham gia các sự kiện văn hoá Liên hiệp Anh, tính theo % dân số từ 15 tuổi trở lên

Lĩnh vực

1986/87

1996/97

1998/99

2000/01

2001/02

2002/03

Phim

31

54

57

55

57

61

Kịch

23

24

22

23

24

24

Trưng bày/ triển lăm nghệ thuật

21

22

21

21

22

24

 Nhạc cổ điển

12

12

11

12

12

13

 Vũ kịch (Ballet)

6

7

6

6

6

7

 Nhạc kịch (Opera)

5

7

6

6

6

7

  Múa hiện đại

4

4

4

4

5

5

 

Nguồn: Chỉ số Nhóm Mục tiêu, BMRB International; Hiệp hội Quảng cáo Điện ảnh

Lưu ư:   Số liệu trên dựa vào dữ liệu Dân số do Cục Thống kê Quốc gia thực hiện và số liệu trên thể hiện % trên tổng dân số của Anh

Bảng 8: Phần trăm số người tham gia vào các sự kiện và các hoạt động văn hoá khác nhau ở Anh (England) trong khoảng thời gian 12 tháng và 4 tuần

 

Các sự kiện và hoạt động văn hoá

12 tháng gần đây

4 tuần gần đây

%

%

Phim tại các rạp và những trung tâm khác

55

19

Kịch

27

5

Âm nhạc

24

4

Đến thư viện

23

-

Lễ hội, nghệ thuật đường phố hoặc xiếc

23

4

Triển lăm nghệ thuật, nhiếp ảnh hoặc kiến trúc

19

6

Nhạc Pop hoặc Rock

18

4

Tham quan bảo tàng

13

-

Kịch câm

13

-

Các thể loại tŕnh diễn múa trực tiếp

12

-

Lễ hội văn hoá

10

2

Nhạc cổ điển

10

3

Loại nhạc khác

9

-

Các sự kiện liên quan đến sách

8

2

Sự kiện video và nghệ thuật điện tử

8

2

Opera

6

1

Hoà nhạc Jazz

5

2

Nhạc dân gian hoặc Đồng quê và Phương tây

3

-

Nguồn:   Dựa trên các thông tin khác nhau trong tài liệu Nghệ thuật ở Anh: Sự quan tâm và tham gia vào các hoạt động và sự kiện văn hoá năm 2001, Hội đồng Nghệ thuật Anh, 2002.

Lưu ư:     Số liệu tính theo % số người được hỏi. Tổng các tỷ lệ trên có thể quá 100% bởi v́ những người trả lời có thể đề cập đến nhiều hơn một sự kiện.

Bảng 9: Số người tham gia vào các sự kiện nghệ thuật ở Anh 2003 (theo %)

 

Sự kiện nghệ thuật

Người tham gia

Da trắng

Châu á

Da đen

Người lai

Trung Quốc và các dân tộc thiểu số khác

Tất cả

Một bộ phim tại rạp hoặc các trung tâm khác

56

66

63

82

60

58

 Kịch

28

16

24

36

21

26

 Lễ hội đường phố, nghệ  thuật đường phố và xiếc (không bao gồm xiếc thú)

23

20

28

43

28

23

Các triển lăm nghệ thuật, nhiếp ảnh hoặc kiến trúc

19

12

18

27

22

19

Triển lăm đồ thủ công

18

7

8

11

8

15

Kịch câm

14

4

10

15

5

12

Sự kiện liên quan đến sách

8

7

13

22

7

8

Sự kiện bao gồm nghệ thuật video và điện tử

7

7

9

12

10

7

Nguồn: “Đa dạng văn hoá - Xu hướng thay đổi trong việc tham gia các sự kiện nghệ thuật ở Anh” Do các cơ quan Resource, Hội đồng Nghệ thuật Anh và Hội đồng Phim Vương quốc Anh thực hiện tháng 12 năm 2003.

Lưu ư:  Các con số trên là tỉ lệ phần trăm của số người được điều tra, và dựa trên các điều tra được thực hiện vào các năm 2001, 2002, 2003

 

Bảng 10: Mức độ tham gia các sự kiện nghệ thuật ở Scotland, 2000

 

Lĩnh vực

Sự tham gia

 

Tỷ lệ tham gia

Một lần hoặc ít hơn một lần trong năm

2 hoặc trên 2 lần một năm

Điện ảnh

65

9

56

Trưng bày / Bảo tàng   nghệ thuật

52

7

44

 Bảo tàng

48

22

26

Pḥng trưng bày nghệ thuật

42

18

24

Kịch

38

19

19

Âm nhạc

29

15

13

Nhạc truyền thống Scotland

20

9

11

Liên hoan nghệ thuật

19

11

8

Lễ hội đường phố/ xiếc

18

14

4

Múa truyền thống Scotland

15

7

8

Hoà nhạc

15

7

8

Nhạc dân gian Scotland

14

7

7

Hội hoạ Hiện đại (painting)

14

6

7

Nhạc kịch (Opera)

13

7

5

Nghề thủ công Hiện đại

13

6

8

Múa

12

5

6

Nhạc đồng quê và Phương tây

12

5

6

Vũ kịch (Ballet)

10

7

3

Thuật vẽ Hiện đại (drawing)

9

4

4

Nhiếp ảnh Hiện đại

9

4

4

Nhạc dân gian

8

4

4

Múa hiện đại

7

5

2

Sự kiện văn học hoặc thơ

7

3

2

Kiến trúc hiện đại

7

3

2

Nghệ thuật video hoặc đa phương diện (multi-media)

6

3

3

Nghệ thuật minh hoạ Hiện đại

4

2

2

In khắc hiện đại

4

2

2

video/ đa phương diện hiện đại

4

2

2

Nghệ thuật xắp đặt

3

1

2

Nguồn: Báo cáo Do NFO System Three thực hiện tháng 7-2002 cho Hội đồng Nghệ thuật Scotland “Sự tham gia, và thái độ đối với Nghệ thuật ở Scotland”.

Lưu ư:  Các con số là tỷ lệ phần trăm của người trả lời khảo sát

Bảng 11: Tỷ lệ người lớn ở Xứ Wales tham gia các sự kiện giải trí/nghệ thuật ít nhất một lần trong năm, năm 1998

 

Lĩnh vực

%

Âm nhạc

23.2

Opera

7.1

Ballet

3.3

Múa hiện đại

5.4

Kịch

25.5

Nhạc cổ điển

8.7

Các loại nhạc khác

34.1

triển lăm nghệ thuật

19.6

Sự kiện văn học

4.3

Điện ảnh

50.8

Nguồn: Beaufort Omnibus Research, Tháng 11-1998.

Lưu ư:   Số liệu trên là % trên số người được nghiên cứu.

Bảng 12. Xem phim ở Anh (Britain) (trên 1 lần /tháng), tỷ lệ phân chia theo nhóm tuổi

 

Năm

Nhóm tuổi

 

7-14

15-24

25-34

Trên 35

1984

10

16

4

1

1985

16

22

7

2

1986

14

25

8

2

1987

12

26

7

1

1988

12

27

10

2

1989

17

30

11

2

1990

18

34

15

3

1991

14

33

15

3

1992

16

45

14

4

1993

22

35

18

5

1994

26

50

25

5

1995

30

38

19

8

1996

25

38

19

6

1997