CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ HÀ LAN

 

 

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

2. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính

3. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

4. Các vấn đề hiện nay về phát triển chính sách văn hoá và những tranh luận

5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá

6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác

8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá

 

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

 

Chính sách văn hoá Hà Lan dựa trên giả thuyết nhà nước cho rằng không dính líu đến giá trị nghệ thuật và khoa học. Do đó, sự phát triển của nghệ thuật là kết quả hoạt động của công dân và các tổ chức liên quan đến văn hoá. Trong một vài năm trở lại đây, Chính phủ đă dần dần thừa nhận vai tṛ là cơ quan điều tiết các hoạt động văn hoá, chủ yếu đóng vai tṛ là nhà bảo trợ cho văn hoá nghệ thuật công cộng.  Bộ Văn hoá nghệ thuật được thiết lập từ năm 1945. Năm 1994, trách nhiệm chính trị đối với lĩnh vực nghệ thuật và văn hoá được trao cho Bộ trưởng Bộ ngoại giao, c̣n mười năm trước đó trách nhiệm này được giao cho Bộ trưởng văn hoá.

Đến tận những năm 1950, xă hội Hà Lan được đánh dấu bởi một điểm khác với các nhóm xă hội khác như xă hội tư do, xă hội chủ nghĩa, nhóm xă hội theo Thiên chúa, theo đạo Tin lành. Xă hội Hà Lan lúc này thể hiện hệ tư tưởng qua phương tiện truyền tải riêng của họ gồm báo chí hoặc các kênh truyền h́nh và các tổ chức nghệ thuật nghiệp dư. Tuy nhiên, quá tŕnh phát triển này không có ảnh hưởng nhiều đến đời sống nghệ thuật chuyên nghiệp.

Vào những năm 1960, điểm nổi bật của hệ tư tưởng Hà Lan đă dần dần ít quan trọng trong xă hội. Để hỗ trợ cho những sáng tạo văn hoá mang tính chất cá nhân có hiệu quả, chính phủ bước đầu đă hỗ trợ cho các sáng kiến dựa trên chất lượng tiêu chuẩn mới. Định nghĩa về chất lượng tiêu chuẩn mới thuộc về uỷ ban cố vấn. Mục tiêu của tiêu chuẩn này là đạt được một hệ thống nhất về văn hoá khắp cả nước cho quá tŕnh hỗ trợ văn hoá đạt tới mức tiêu chuẩn hoá cao hơn. Cuối giai đoạn này, chính phủ đă thay đổi hộ trợ tài chính cho văn hoá nghệ thuật từ tạm thời sang lâu dài.  

 Những năm 1970, chính sách văn hoá càng ngày càng trở thành một phần quan trọng trong hệ thống chính sách của Chính phủ.  Lợi ích văn hoá đối với xă hội rất cao, trở nên ưu thế, đặc biệt là trong điều khoản tham gia vào văn hoá. Vai tṛ của văn hoá đối với xă hội được nhận biết trên hai cấp độ: tầng lớp xă hội và vùng miền.

Giai đoạn đầu những năm 1980 nền kinh tế nước nhà tŕ trệ, do đó Chính phủ phải xem xét lại nhiệm vụ trong tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả văn hoá. Hai xu hướng chính trong lĩnh vực văn hoá đó là: một mặt, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ các cơ quan văn hoá nhằm đảm bảo chất lượng và tŕnh độ nghiệp vụ nghệ thuật cao. Mặt khác , nhà nước cũng duy tŕ hỗ trợ cho việc chi tiêu công cộng nằm trong vùng ranh giới đặc biệt. Một câu hỏi được đặt ra đối với các cơ quan văn hoá phụ thuộc vào tài trợ từ cộng đồng là  khi nguồn hỗ trợ từ ngân sách được thay thế bằng tiền trợ cấp mở rộng th́ các cơ quan này sẽ ra sao. Hiện các cơ quan này đang nỗ lực để kiếm thêm thu nhập và giảm lệ thuộc vào nguồn hỗ trợ của nhà nước.  Vào cuối của giai đoạn này, Chính phủ đă đảm nhận chuẩn bị dự án chính sách văn hoá cho 4 năm tiếp theo.

Những năm 1990 trải qua sự thay đổi về quan điểm của Bộ Văn hoá và Y tế, tiếp đó là Bộ Văn hoá, giáo dục và khoa học năm 1994, th́ thay v́ hỗ trợ toàn diện cho các tổ chức văn hoá, Chính phủ đă chuyển sang hỗ trợ tài chính mang tính khuyến khích.

Do t́nh trạng kinh tế suy thoái, nên ngân sách nhà nước dành cho văn hoá và truyền thông cũng chậm trễ trong một thời gian dài cho đến tận cuối năm 2004. Việc tăng hay giảm ngân sách trong những năm tới cho lĩnh vực này sẽ đồng thời được thông báo: Ngân sách hỗ trợ cho việc bảo vệ di sản văn hoá và giáo dục văn hoá sẽ tăng không đáng kể cho đến tận năm 2008; ngân sách cho nghệ thuật biểu diễn vẫn giữ nguyên mức như hiện tại.  Ngân sách cho các “tổ chức hộ trợ” (lưu trữ tài liệu, nghiên cứu…) trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật sẽ giảm 10% (eg. 5-6 triệu euro). Hỗ trợ cho phát thanh truyền h́nh công cộng cũng sẽ giảm bắt đầu từ năm 2006 khoảng 60-80 triệu euro.

 

Trở về

2.Tổng quan về hệ thống văn hóa Hà Lan

Chính quyền công ở Hà Lan tổ chức theo hệ thống 3 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và thành phố địa phương. Có thể thấy ở mọi nơi trên đất nước này đều tồn tại hệ thống trách nhiệm sóng đôi, đó là quốc hội, hội đồng tỉnh và địa phương có quyền sửa đổi bổ sung các quy định về tài chính và quản lư mà Nội các, lănh đạo tỉnh, Thị trưởng và ủy viên hội đồng thành phố địa phương đưa ra. Trong hầu hết mọi trường hợp, những đề xuất trong chính sách văn hóa đời sống thường nhật đều do các cơ quan cai trị khởi xướng sau khi đă tham vấn ban cố vấn chính thức. Quốc hội và các hội đồng sẽ nhất trí (hoặc không nhất trí) với những đề xuất đó sau khi tiến hành trưng cầu dân ư. Thời điểm quan trọng nhất cho việc ra quyết định là tất cả các cấp cùng thảo luận và điều chỉnh ngân sách năm cho năm tiếp theo.

 

Nói về việc chuẩn bị và chỉnh sửa quy định, luật pháp và các chương tŕnh chính sách văn hóa th́ chính quyền trung ương luôn nắm vai tṛ chủ đạo mặc dù cấp trung ương chỉ phụ trách 1/3 trong tổng kinh phí cho các họat động liên quan đến nghệ thuật và văn hóa. Các viện văn hóa chính như Thư viện Hoàng gia, Trung tâm lưu trữ quốc gia, Viện di sản Hà Lan, nhiều viện bảo tàng quốc gia, và gần như toàn bộ các cơ sở giáo dục như nhạc viện và viện giáo dục bậc cao hơn, đều nằm dưới sự quản lư trực tiếp của chính quyền nhà nước. Trọng trách của cấp chính quyền trung ương là đảm bảo sao cho các viện, tổ chức và công ty này hoạt động thật tốt. Nhà nước cũng bảo trợ cho hàng trăm công ty biểu diễn nghệ thuật, các viện triển lăm nghệ thuật, các chương tŕnh nghệ thuật, và nhiều viện cơ sở cũng như trung tâm chuyên ngành. Sau nghệ thuật và di sản văn hóa, cấp chính quyền trung ương chịu trách nhiệm trước nhất về hệ thống phát thanh công cộng quốc gia.

Các thành phố địa phương và tỉnh thành, dành gần 2/3 ngân sách cho nghệ thuật và văn hóa, cùng với nhà nước thực hiện phân phối, sắp xếp cung và cầu giữa các vùng và địa phương. Về tài chính, phần lớn các viện bảo tàng của Hà Lan đều phụ thuộc vào chính quyền thành phố địa phương. ở Hà Lan, các cơ sở văn hóa công cộng như thư viện thường được giao cho các địa phương quản lư. Nhà nước chỉ hỗ trợ cho các thư viện bằng cách cấp kinh phí hoạt động cho một trung tâm đầu năo.

Để hiểu rơ hơn về hệ thống văn hóa Hà Lan, cần chú ư đến 4 vấn đề: quan hệ giữa nhà nước với các cấp chính quyền khác, vai tṛ của các ban cố vấn, vai tṛ của hội đồng tài trợ, và trước tiên phải t́m hiểu các quy định theo luật đối với việc hoạch định chính sách văn hóa trước bốn năm.

Đạo luật chính sách văn hóa (Quỹ dành cho mục đích đặc biệt) [Wet op het specifiek cultuurbeleid 1993] quy định các khía cạnh trong chính sách văn hóa, chẳng hạn như việc bốn năm một lần Chính phủ buộc phải tŕnh kế hoạch chính sách văn hóa lên quốc hội. Kế hoạch 4 năm này sẽ vạch ra các họat động cho giai đoạn tiếp theo cũng như tổng kết những thành tựu đă đạt được ở giai đoạn trước. Ngoài ra, trong kế hoạch này, việc Chính phủ lựa chọn bảo trợ cho tỉnh và thành phố địa phương nào cũng sẽ được điều chỉnh cho hợp lư. Năm 2005, Ngoại trưởng Hà Lan Medy van der Laan đề xuất một cuộc thảo luận chính trị về hệ thống kế hoạch 4 năm Trong văn kiện chính sách tựa đề Tạo ra sự khác biệt (Verschil Maken), bà đề nghị phải phân bố lại các cơ quan được Chính phủ bảo trợ. Trong kế hoạch của bà th́ những tổ chức cỡ trung b́nh vẫn cần tiếp tục được bảo trợ, c̣n những cơ quan nhỏ hơn như các công ty nhà hát hay các đoàn nhạc sẽ bị gạt ra khỏi danh sách được Hôi đồng Văn hóa tư vấn hỗ trợ, thay vào đó, những cơ quan này sẽ được cấp kinh phí sản xuất nghệ thuật. Các tổ chức/cơ quan lớn hơn (viện bảo tàng, dàn nhạc được nhà nước tài trợ, và các vũ đ̣an lớn được quốc hội đề xuất)

Sau gần 30 năm dưới quyền quản lư của cấp chính quyền trung ương th́ nay sẽ được ủy ban kiểm toán quốc tế tiến hành kiểm toán định kỳ. Văn kiện chính sách này đă được quốc hội thảo luận ngày 28 tháng 11 năm 2005 nhưng sau đó không có thêm bất cứ thảo luận nào khác. Sẽ không có quyết định cuối cùng nào về vấn đề này được đưa ra trước mùa xuân 2006.

Đầu những năm 70 đă diễn ra một cuộc tranh luận xung quanh vấn đề phân quyền. Vào những năm 80, việc phân chia nhiệm vụ trách nhiệm giữa 3 cấp chính quyền: nhà nước, tỉnh và thành phố địa phương đă được xem xét lại nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách văn hóa công cộng. Đơn cử như ngành nghệ thuật biểu diễn được giao cho cấp chính quyền trung ương quản lư. Hệ thống phân chia trách nhiệm chồng chéo phức tạp đi đến hồi kết; nhà nước phụ trách hoàn toàn việc duy tŕ hoạt động của các dàn nhạc giao hưởng trong đó có các dàn nhạc trong khu vực và các nhóm nghệ thuật biểu diễn có nhánh quốc gia. Trừ một số ít các viện bảo tàng nhà nước, c̣n lại hầu hết viện bảo tàng nói chung đều chịu sự quản lư của chính quyền tỉnh và thành phố địa phương. Với thư viện và các kho lưu trữ cũng vậy. Thư viện Hoàng gia và Trung tâm lưu trữ Hà Lan ở Hague được nhà nước hỗ trợ; ngoài ra khá nhiều tổ chức cơ sở và trung ương cũng nhận được ưu đăi trợ giá của nhà nước cho các hoạt động liên quan đến văn hóa và hỗ trợ.

Nh́n chung, các tỉnh có nhiệm vụ truyền tải, điều tiết và duy tŕ các họat động văn hóa ở cấp tỉnh. Chính quyền thành phố địa phương có trách nhiệm duy tŕ, đảm bảo địa điểm và cơ sở cho các buổi biểu diễn. Tuy nhiên trên thực tế, sự phân chia nhiệm vụ này không phải lúc nào cũng rơ ràng hiệu quả mà đôi khi h́nh thức phân quyền và tập trung quyền có xu hướng đan xen nhau. 

Hiện nay các tỉnh thành và chính quyền địa phương đang là những đối tác của nhiều chương tŕnh chính sách văn hóa quốc gia. Kể từ năm 1997, một số cam kết tài chính liên kết cho các hoạt động chung đă được thực hiện. Các tổ chức không chỉ hợp tác triển khai những cam kết tài chính mà đôi khi các đơn vị này cùng chia sẻ trách nhiệm khi cùng tham gia vào các chương tŕnh chính sách cụ thể. Đối tác tham gia là 8 đơn vị tập hợp trong đó có 3 thành phố lớn là Amsterdam, Rotterdam, Hague và 5 nhóm của các tỉnh và thành phố lớn từ các miền Đông-Tây-Nam-Bắc-Trung Hà Lan. 

Nguyên tắc ban đầu của Chính phủ Hà Lan là giữ quan điểm trung lập trong việc đánh giá các vấn đề nghệ thuật vẫn được duy tŕ. Chính phủ sẽ chỉ tập trung vào các vấn đề chính sách, đó cũng là lí do v́ sao việc đưa ra những quyết định liên quan đến nghệ thuật luôn được nhường cho các ủy ban gồm những chuyên gia hoạt động độc lập.

Hội đồng Văn hóa (cho đến năm 1995 chuyển thành Hội đồng Nghệ thuật) là một đơn vị độc lập hợp tác với Chính phủ để xây dựng chính sách. Tuy Chính phủ không c̣n trách nhiệm phải cố vấn cho Hội đồng Nghệ thuật nữa (bắt đầu từ năm 1997) nhưng giữa Chính phủ và Hội đồng này luôn giữ mối quan hệ hợp tác hữu hảo. 

ở cấp tỉnh và thành phố địa phương cũng có các ban cố vấn, ví dụ Hội Đồng Nghệ thuật Amsterdam. ở cấp tỉnh, một số hội đồng văn hóa hoạt động với nhiệm vụ cố vấn nhưng đôi khi cũng tham gia vào hội thẩm, cung cấp và yêu cầu về phương tiện truyền thông, thể thao và các hoạt động thông tin công cộng.

Ngoại trưởng Văn hóa thường chỉ định các ủy ban phụ trách đối ngoại và các cố vấn riêng tư vấn cho các vấn đề tái cơ cấu về mặt hành chính và chính trị. Ví dụ, vào những năm 1980 một số ủy ban đặc biệt được chỉ định cố vấn cho việc sắp xếp lại chính sách của nhà nước về sân khấu, hát kịch và âm nhạc. Năm 1993, báo cáo của một chuyên gia có tựa đề “Thúc đẩy ngành sản xuất nghe nh́n ở Hà Lan” đă gây ảnh hưởng lớn đến việc tái cơ cấu trong ngành điện ảnh. Gần đây, cũng có một số ủy ban được thành lập có nhiệm vụ cố vấn cho Chính phủ giải quyết đơn kiện của một số gia đ́nh đ̣i nhà nước hoàn trả tranh và các tác phẩm nghệ thuật mà trước đây được coi là tài sản quốc gia sau chiến tranh thế giới II. Một số trường hợp các gia đ́nh đă được ḥan trả tài sản. Đầu năm 2006, 202 bức tranh đă được trả lại cho những người thừa kế hợp pháp của gia đ́nh Goudstikker (xem thêm chương 4.2.10).

Có một số quỹ công cộng và bán công cộng từ trước đến giờ vẫn được dùng vào việc hỗ trợ cho nghệ thuật sáng tạo. Trách nhiệm của các cấp chính quyền nhà nước như Quỹ Văn chương, Quỹ Mondriann và Qũy dành cho Nghệ thuật giác quan, thiết kế và kiến trúc chỉ dừng ở việc cấp tiền và quyết định điều kiện cụ thể để cấp kinh phí hỗ trợ, c̣n quốc hội sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng về mức kinh phí. Hiện nay, Hội đồng Văn hóa cứ bốn năm một lại tiến hành đánh giá các quỹ trên. Danh sách đầy đủ về các quỹ đang họat động có thể xem ở chương 7.1.

2.2 Hợp tác liên bộ hoặc liên chính quyền

Từ khi văn hóa trở thành vấn đề nhỏ và ít quan trọng dưới sự quản lư của chính quyền trung ương, ngoại trưởng Văn hóa Hà Lan phụ thuộc phần lớn vào sự hợp tác với các bộ khác trong lĩnh vực này. Bộ Văn Hóa thường xuyên đàm phán, trao đổi với Bộ các vấn đề kinh tế tài chính nhằm bảo vệ quyền lợi của nghệ thuật và văn hóa. Về cơ bản, các bộ đều có thể trực tiếp trao đổi với nhau, nhưng trong một số trường hợp các ủy ban hợp tác liên ngành được thành lập, tuy nhiên thời gian tồn tại của các ủy ban này có thể thay đổi tùy t́nh h́nh.

§         Bộ Nhà ở, môi trường và kế hoạch không gian đă xây dựng một chương tŕnh trợ giá, trích ra một khoản từ 0,5% đến 2% chi phí xây dựng các ṭa nhà công cộng để đặt mua hoặc mua trực tiếp các tác phẩm nghệ thuật làm đồ trang trí tô điểm cho các ṭa nhà. Bộ này hợp tác rất chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải, quản lư nước và công tŕnh công cộng trong các vấn đề liên quan đến chính sách kiến trúc, di tích và các ṭa nhà lịch sử;

§         Belvedere, một văn kiện chính sách ra đời năm 1997 về quan hệ giữa lịch sử văn hóa và kế hoạch không gian được coi là dự án hợp tác giữa Bộ Giáo dục, Văn hóa và khoa học; Bộ Nông nghiệp, tự nhiên và chất lượng thực phẩm và Bộ Nhà ở, Kế hoạch không gian và môi trường; 

§         Bộ Các vấn đề Kinh tế đóng góp không đáng kể cho các sự kiện và dự án văn hóa liên quan đến xuất khẩu và phát triển du lịch. Tuy nhiên, Bộ này cũng thúc đẩy cơ chế miễn thuế cho các nhà đầu tư muốn đầu tư vào ngành điện ảnh, xem ;

§         Bộ Ngoại Giao cũng phụ trách vấn đề quan hệ văn hóa quốc tế. Ví dụ, các đoàn đại biểu của Hà Lan trong đại sứ quán các nước chính là đại diện mang văn hóa Hà Lan ra nước ngoài, tiến hành các hoạt động văn hóa trong Hội đồng châu Âu và UNESCO, đồng thời thúc đẩy các mối quan hệ văn hóa song phương. Bộ Ngoại giao và Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học cùng hợp tác thúc đẩy các dự án văn hóa quốc tế, lập ra quỹ lấy tên là HGIS. Quỹ này được dùng cho các dự án có mục tiêu tăng cường khía cạnh quốc tế trong chính sách văn hóa của Hà Lan. Sau đợt giảm ngân sách vào năm 1994, Quỹ này sẽ c̣n khoảng 9 triệu euro;

§         Bộ Tư pháp phụ trách hệ thống ưu đăi cho các hăng xổ số tư nhân. Khoảng 8% trong tổng ngân sách của Bộ chuyên được dùng cho công tác từ thiện th́ đều dành cả cho nghệ thuật và văn hóa thông qua các hăng xổ số tư nhân; số tiền đóng góp này lên đến khoảng 30 triệu euro vào năm 2003. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng chịu trách nhiệm về vấn đề luật bản quyền. 

§         Bộ Tài chính tham gia vào chính sách văn hóa thông qua các chương tŕnh thuế; và

§         Operation Young (Operatie Jong) là một tập hợp của các bộ: Bộ Y tế cộng đồng, phúc lợi và thể thao; Bộ Giáo dục, văn hóa và khoa học; Bộ Tư pháp; Bộ Các vấn đề xă hội và việc làm; Bộ Nội vụ và quan hệ Hoàng gia. Mục đích của ủy ban này là phát triển chính sách lồng ghép liên quan đến trẻ em và thanh niên. Kế hoạch Họat động của Operation Young cũng bao gồm cả chương tŕnh bổ sung cho giáo dục nghệ thuật hướng đến học sinh bậc tiểu học (ngân sách dành cho hoạt động này là 49 triệu đô trong giai đoạn 2004-2007) và một khoản đóng góp tài chính khiêm tốn nhằm nâng cao hợp tác giữa các thư viện công cộng và trường học.

2.3 Hợp tác văn hóa quốc tế

Bộ Ngoại giao và Bộ Giáo dục, văn hóa và khoa học hỗ trợ chính sách văn hóa quốc tế cả về vật chất lẫn tài chính. Các khung chính sách văn hóa quốc tế cho giai đoạn bốn năm đă đi vào hoạt động từ năm 2004. Cũng trong dịp này, nguyên tắc tập trung theo chủ điểm và vị trí địa lư cũng đă được xác nhận. Những nước nằm trong danh sách được ưu tiên gồm có Các nước thành viên của Liên minh châu Âu, Nga, Mỹ, Canada, Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Moroco, Ai Cập, Surinam, Nam Phi và Indonesia. ở nhiều vùng biên giới (với Đức, Bỉ), một số h́nh thức quan hệ hợp tác cũng đă được thiết lập. Cụ thể là, vào năm 1995, một Công ước đă được kư kết giữa Hà Lan và các nước biên giới v́ mục đích giáo dục, khoa học và văn hóa. (Công ước Antwerp, 1995).

Luôn có sẵn một khoản ngân sách độc lập dành cho các hoạt động quốc tế thông qua Quỹ Văn Hóa Hà Lan [HGIS-C gelden]. Quỹ này thuộc sự quản lư của chính sách ưu tiên kế hoạch 4 năm trong đó có đa dạng văn hóa, doanh nghiệp văn hóa và văn hóa hướng đến khán giả.

Trung tâm dịch vụ Các vấn đề Văn hóa Quốc tế, viết tắt là SICA [Stichting Internationale Culturele Activiteiten] được thành lập năm 1999 nhằm phối hợp và tư vấn cho họat động của các tổ chức văn hóa Hà Lan ở nước ngoài. SICA đóng vai tṛ quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các tổ chứ, cơ sở; cung cấp thông tin và đánh giá cũng như tổ chức các sự kiện văn hóa quốc tế. Trung tâm này c̣n được chỉ định làm Tâm điểm liên lạc văn hóa châu Âu (CCP) với nhiệm vụ khuyến khích và hỗ trợ các cá nhân cũng như tổ chức đăng kư vào chương tŕnh khung Văn hóa châu Âu 2000.

Hà Lan cũng có quan hệ văn hóa đa phương với việc trở thành thành viên của BENELUX, Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và Liên Hiệp Quốc (Unesco). Ngoài ra, việc là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO cũng là điều kiện thuận lợi cho nhánh văn hóa của ngành thương mại quốc tế phát triển. 

Gần đây, Hà Lan tham gia dự án “Mạng lưới điện ảnh châu Âu”, nhằm phát triển ngành công nghiệp nghe nh́n trong nước thông qua việc phân phối phim kỹ thuật số cho các rạp chiếu phim phi thương mại. Nhưng do hệ thống hạn ngạch của dự án nên Mạng lưới này được đón nhận với ít nhiều dè dặt. Chất lượng phim truyền h́nh vẫn là vấn đề cần bàn tới khi thiếu những đặc tính của điện ảnh. Hy vọng rằng những vấn đề này sẽ được khắc phục trong ṿng 5 năm tới. 

Gần đây, Ngoại trưởng Văn hóa và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đă thúc đẩy việc kư kết Công ước UNESCO 1970 nhằm ngăn chặn nạn buôn bán tác phẩm nghệ thuật trên phạm vi quốc tế.  Năm 2004, Chính phủ Hà Lan đă hy vọng công ước UNIDROIT sẽ được phê duyệt để mục tiêu trên có thể đạt được. Trong suốt thời gian Hà Lan giữ chức chủ tịch Liên minh châu Âu (Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2004), Chính phủ nước này đă rất chú trọng đến văn hóa và phương tiện truyền thông.

Hà Lan đă bỏ phiếu ủng hộ Hiệp ước UNESCO về Đa dạng văn hóa – ra đời vào cuối năm 2005 tại Pari.

Thông tin cụ thể hơn về vai tṛ chính thức và không chính thức của Hà Lan trong mạng lưới điện ảnh châu Âu có thể xem trong báo cáo (năm 2003) về vấn đề này do Liên ngành nghệ thuật (Barcelone) và EFAH (Brussel) tổng hợp sau khi được sự cho phép của Liên minh châu Âu.

 

Trở về

3 . Mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hóa

3.1  Thành phần chính của mô h́nh chính sách văn hóa

 

Theo Công ước Chính sách Văn hóa (Quỹ Dành cho Mục đích đặc biệt), Bộ Khoa học, Văn hóa và Giáo dục có nhiệm vụ tŕnh bày kế hoạch chính sách bốn năm một lần. Kế hoạch này sẽ xét duyệt các hoạt động chính sách văn hóa trước mắt hoặc đă hoàn thành. Tài liệu trước đó của Văn kiện Chính sách Văn hóa là Kế hoạch Nghệ thuật [Kunstenplan] được soạn thảo năm 1988. Tài liệu này sau đó được mở rộng trong cultuurnota (tài liệu hoạch định về chi tiêu cho chính sách văn hóa) đưa vào cả nghệ thuật, viện bảo tàng, đài tưởng niệm, lưu trữ, thư viện, nghệ thuật sáng tạo và biểu diễn, điện ảnh và văn chương, kiến trúc và kế hoạch đô thị. Mục đích của hệ thống hoạch định này là để áp dụng một cách tổ chức hợp lư đối với vấn đề cấp hỗ trợ và trợ giá. Theo chính phủ, hệ thống tài chính của Hà Lan cho phép các tổ chức văn hóa - nghệ thuật được tham gia các chương tŕnh chừng nào các tổ chức ấy muốn miễn là có đủ khả năng tài chính. Ngoại trưởng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác duy tŕ, phát triển và phổ biến văn hóa (xét cả về mặt xă hội lẫn địa lư) hoặc mở rộng văn hóa theo cách khác.

Những tổ chức văn hóa muốn xin hỗ trợ trong thời gian 4 năm (trong giai đoạn chính sách văn hóa) sẽ phải nộp đơn trước một năm trước khi giai đoạn chính sách văn hóa mới bắt đầu. Kế hoạch 4 năm này sẽ quyết định một loạt các mục tiêu thực tế cho giai đoạn tiếp theo cũng như sắp xếp đánh giá kế hoạch của giai đoạn trước. Mỗi kế hoạch đều có ngân sách đi kèm (thu - chi). Quy định trước đây yêu cầu các tổ chức khi nộp đơn đệ tŕnh bắt buộc phải có kế hoạch hoạt động hàng năm trong đó nêu rơ xem các nguyên tắc cơ bản của kế hoạch chính sách sẽ được triển khai như thế nào cho giai đoạn một năm đă bị hủy bỏ để tránh hiện tượng kém hiệu quả và quan liêu.

Tháng 11 năm 2003, văn kiện chính sách cho giai đoạn 2004-2007 đă được Bà Medy van der Laan, Ngoại trưởng Văn hóa trong nhiệm kỳ thứ 2 của Thủ tướng Balkenende (liên minh của Đảng dân chủ Thiên chúa giáo, Đảng Tự do và Tự do Dân chủ) và một thành viên của Đảng Tự do Dân chủ (D66) xây dựng. Văn kiện chính sách năm 2003 có tựa đề :C̣n hơn cả tổng số ("More than the Sum") có 3 mục tiêu chính sách văn hóa cơ bản, đó là: (1) giảm bớt quan liêu trong hỗ trợ nghệ thuật và văn hóa, (2) gắn kết và giao tiếp nhiều hơn nữa với đời sống văn hóa; (3) tăng cường yếu tố văn hóa trong xă hội.

Xét về quan điểm chính trị th́ văn kiện chính sách này không có ǵ thay đổi nhiều. Một số điểm đă được thay đổi trước đó sẽ c̣n tiếp tục thay đổi, chẳng hạn như Kế hoạch Hành động Văn hóa Ngoại tuyến mà mục đích là hướng đến nhiều đối tượng tham gia văn hóa hơn nữa, đặc biệt các thính giả mới như dân nhập cư và thanh niên. Thuật ngữ “văn hóa” ở đây mang nghĩa rộng, không chỉ hướng đến văn hóa truyền thống như bảo tàng và nghệ thuật biểu diễn mà c̣n bao gồm cả văn hóa quần chúng như nhạc pop. Kế hoạch này sẽ có thay đổi dưới ảnh hưởng của liên minh chính quyền trung ương, tỉnh và địa phương. Tuy nhiên, để thuận tiện khi cần băi bỏ quy định th́ việc triển khai các cam kết giữa nhà nước, tỉnh thành và thành phố địa phương - hoạt động với tư cách đối tác hợp đồng- đă được đơn giản hóa. Cam kết tài chính giữa 3 cấp chính quyền thường trên cơ sở bốn năm chứ không theo hàng năm.

3.2 Định nghĩa về văn hóa quốc gia

Theo định nghĩa trong Chính sách Văn hóa Hà Lan (2003) văn hóa được hiểu bao gồm:

§         Di sản văn hóa (bảo tàng, địa điểm và ṭa nhà lịch sử, khảo cổ học, hồ sơ lưu trữ);

§         Truyền thông (phát thanh và truyền thông in ấn), văn chương và thư viện; và

§         Nghệ thuật (thiết kế và nghệ thuật nghe nh́n, kiến trúc, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, giáo dục nghệ thuật và nghệ thuật nghiệp dư).

3.3 Mục tiêu chính sách văn hóa

Mục tiêu chính sách văn hóa Hà Lan đă phản ánh 4 chủ trương văn hóa của Hội đồng châu Âu, đặc biệt là chủ trương hướng đến phát triển bản sắc văn hóa và sự đa dạng, hỗ trợ cho họat động sáng tạo và tham gia vào đời sống văn hóa. Hà Lan hiện nay đang rất chú trọng đến tính đa dạng của bản sắc văn hóa. Tuy nhiên, gần đây việc thúc đẩy các dân tộc thiểu số ḥa nhập vào đời sống xă hội Hà Lan đang được đặt lên hàng đầu trong chương tŕnh chính trị nước này. Năm 2003, những người nước ngoài muốn trở thành công dân Hà Lan bắt buộc phải theo học những khóa học nhập tịch. Ngôn ngữ cũng là một trong những điều được dạy trong các khóa học này theo quy định: mọi công dân Hà Lan đều phải nói được tiếng Hà Lan. Trong các chương tŕnh chính sách văn hóa, vấn đề hợp tác và trao đổi giữa các thực thể văn hóa ngày càng được chú trọng, c̣n sự tự trị về văn hóa của các nhóm dân tộc trở nên ít được chú ư hơn.  V́ điều này phản ánh một hướng mới trong cách tiếp cận suy nghĩ mang tính chính trị nên cho đến nay chưa có kết quả hay báo cáo nào cụ thể.

 

Trở về

4. Các vấn đề phát triển chính sách hiện nay và những tranh luận

4.1 Chính sách văn hoá và những ưu tiên

Văn hóa như một mặt trận" là một văn kiện chính sách văn hóa do Ngoại trưởng Van der Ploeg (1998-2002) tŕnh bày.  Những ưu tiên mà chính phủ nhận định là đa dạng văn hóa và doanh nghiệp văn hóa hướng đến khán giả. Van der Ploeg lên kế hoạch coi đa dạng văn hóa là một ưu tiên chính sách quan trọng, đặc biệt trong một xă hội đa văn hóa như Hà Lan. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trao đổi hướng đến các đối tượng khán giả rộng hơn. (cf. văn kiện chính sách văn hóa 2001-2004 có tựa đề "Dọn đường cho Đa dạng Văn hóa" [Ruim baan voor culturele diversiteit]). Ưu tiên thứ 3 của Ngoại trưởng Hà Lan là doanh nghiệp văn hóa. Theo quan điểm của ông th́ sự phân biệt rạch ṛi giữa thị trường do nhà nước nắm giữ và thị trường thương mại không c̣n thực tế nữa. Thay vào đó, hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa là cần thiết để chính phủ có thể nắm được thị trường văn hóa nhằm làm cho những buổi biễu diễn mang tính nghệ thuật cao trở nên phổ biến hơn trong quần chúng, và ngược lại cũng nhằm nâng cao văn hóa quần chúng xét ở góc độ nội dung nghệ thuật. Thị trường doanh nghiệp văn hóa sẽ mở ra nhiều khả năng vươn tới đối tượng khán giả phong phú và đa dạng hơn.

Sau một thời gian tạm nghỉ ở văn pḥng Cees van Leeuwen (2002-2003), Ngoại trưởng Hà Lan, bà Medy van der Laan được giao phụ trách chính trị về nghệ thuật, văn hóa và truyền thông đại chúng. Trong văn kiện chính sách “C̣n hơn cả Tổng số” của bà ra mắt công chúng vào tháng 11 năm 2003 (theo thời gian hoạt động của Nội các thứ 2 Balkenende, 2004-2007), bà tập trung vào 3 chủ đề chính của chính sách văn hóa.

·         Giảm quan liêu và tăng trách nhiệm cá nhân trong hệ thống văn hóa. Nếu những thủ tục hành chính của các tổ chức/cơ quan được xem là không phù hợp th́ nên được giảm bớt. Quá nhiều quy định đặt ra trong một quỹ hoạt động cụ thể có thể sẽ gây phản tác dụng (sau khi xem xét tổng quan về các quỹ đang hoạt động, xem chương 7.1). Các quy định trong lĩnh vực bảo vệ đài tưởng niệm sẽ được rút gọn. Trong quan hệ giữa các viện và Bộ hỗ trợ, khâu nào thấy cần thiết sẽ được lược giản. T́nh trạng quan liêu giảm phải được thể hiện qua việc giảm hỗ trợ từ phía nhà nước. Trước năm 2005, ngân sách liên quan đến Công ước Chính sách Văn hóa phải giảm được 10 triệu euro. Về vấn đề tiết kiệm tiền công, vai tṛ hiệu quả hơn và ít tốn kém hơn cho những đơn vị gọi là “cơ quan hỗ trợ” cũng cần phải được xem xét (xem trong chương 4.2.10.) Năm 2005, Ngoại trưởng Hà Lan mong muốn xóa bỏ những mặt yếu kém trong các hệ thống hỗ trợ của nhà nước. Hy vọng trong năm 2006, những cắt giảm thực sự sẽ được thực hiện. 

·         Kết nối và giao tiếp nhiều hơn với đời sống văn hóa. Mục tiêu của Chính phủ là thu được lợi nhuận từ các khoản hỗ trợ cho gần 750 tổ chức. Một số câu hỏi quan trọng được đặt ra, đó là: Liệu tất cả các chức năng của đời sống văn hóa có tổ chức đă được thực hiện đầy đủ chưa? Có ǵ chồng chéo không? Những thiết bị cơ sở văn hóa có được phân bố đồng đều đến mọi nơi trên cả nước không? Giữa kinh tế và ngành du lịch có mối liên hệ nào không? Cần phải thúc đẩy để những người trẻ có tài đến với các công ty nghệ thuật biểu diễn lớn, để có sự liên hệ qua lại giữa các địa điểm nổi tiếng với các nhà hát trong vùng, giữa các Họa sỹ giác quan và khách hàng tiềm năng của họ, giữa bảo tàng và thư viện công cộng hoặc các chương tŕnh số công cộng. ở lĩnh vực di sản văn hóa, Ngoại trưởng Hà Lan thể hiện mong muốn có thêm nhiều vật thể nữa được công nhận là di sản văn hóa quốc gia. Đồng thời, bà cũng t́m cách tăng cường khả năng, thúc đẩy hơn nữa kiến thức và tinh thần phát huy lịch sử dân tộc của người dân. Trong lĩnh vực ngôn ngữ và văn học, Ngoại trưởng sẽ xem xét lại chức năng của ba quỹ văn chương và văn học để tính đến chuyện sát nhập ba quỹ này.

·         Tăng cường yếu tố văn hóa trong xă hội. Cần có thêm các sáng kiến và hợp tác để nâng cao hơn nữa tầm quan trọng của nghệ thuật trong các lĩnh vực chính sách khác. Đặc biệt cần chú trọng đến mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế - một ngành công nghiệp sáng tạo mở ra nhiều cơ hội hết sức cần thiết cho sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành văn hóa. Đồng thời, ngành văn hóa cũng tạo ra nhiều việc làm, thu hút các doanh nghiệp có hướng đầu tư vào môi trường văn hóa. Việc triển khai cụ thể kế hoạch này đă bị hoăn lại đến mùa Thu năm 2005. Có lẽ cuộc tranh luận của quần chúng nhân dân xung quanh vấn đề này sẽ diễn ra vào mùa xuân năm 2005. 

4.2. Quy định đối với văn hoá cộng đồng thiểu số

Một cuộc thảo luận đă được tổ chức xung quanh việc bất đồng với thực trạng đa dạng sắc tộc đang ngày càng trở nên phổ biến. Điều này có thể thấy qua các số liệu. Tổng dân số Hà Lan vào tháng 1 năm 2004 chỉ  vào khoảng 16 triệu người nhưng có tới 3 triệu người không phải người Hà Lan, trong số này th́ có đến 1,7 triệu người không có gốc phương Tây. Các nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất là Thổ Nhĩ Kỳ (352 000), Marốc (306 000), Surinam (325 000) và Antillian (152 000).

Trong văn kiện chính sách văn hóa giai đoạn 2001-2004 có tên gọi "Mở đường cho Đa dạng Văn hóa" [Ruim baan voor culturele diversiteit], vấn đề đa dạng văn hóa đă được đặc biệt chú ư. Mục đích của văn kiện này là hỗ trợ các họat động thúc đẩy tổ chức và gom nhóm những người có tài không phải người Hà Lan. Sau khi bầu không khí chính trị của Hà Lan có một số thay đổi cơ bản vào năm 2002 và 2003 dẫn đến việc tồn tại đảng trung ương và đảng cánh hữu, th́ vấn đề đối thoại và lồng ghép văn hóa các dân tộc thiểu số đă được ưu tiên hơn so với việc thúc đẩy quyền tự quyết về văn hóa của các dân tộc này. Di sản văn hóa Hà Lan ngày càng đóng vai tṛ tâm điểm khi nó phản ánh được văn hóa dân tộc Hà Lan. Đây cũng là vấn đề được đề cập tới trong cuộc thảo luận tới về đa dạng văn hóa.

Trong văn kiện chính sách có tên "C̣n hơn cả tổng số” (More than the Sum")(2003), Ngoại trưởng Van der Laan đă kết hợp hai chủ đề đó là đa dạng và lồng ghép văn hóa. T́nh trạng giao thoa văn hóa có thể được định nghĩa như sau, "Điều khiến chúng ta liên hệ đến văn hóa Hà Lan là kết quả của nhiều thế kỷ giao thoa văn hóa và thay đổi liên tục.  Tính đa dạng lâu dài vượt biên giới đă tạo nên một nền văn hóa Hà Lan độc đáo, dễ nhận dạng và linh động. Sở dĩ sự giao thoa văn hóa đạt được là nhờ có sự đa dạng về văn hóa - đặc điểm này trên thực tế lại chính là yếu tố gắn kết văn hóa. ở đây di sản văn hóa đóng vai tṛ quan trọng khi sự tự nhận thức văn hóa trở thành vấn đề thiết yếu trong cuộc tranh luận về về giao thoa văn hóa.   Việc triển khai chính sách đa dạng văn hóa cần phải được phân công rơ ràng: mỗi đơn vị cần có cách tiếp cận văn hóa riêng sao cho phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc, nhưng không nhất thiết phải là những dân tộc thiểu số hoặc non trẻ. Đa dạng văn hóa không chỉ được thể hiện qua chính sách và cách thức giới thiệu Họa sỹ mà c̣n thể hiện qua cấu tạo về mặt xă hội của ban tổ chức, quản lư và nhân viên. Ngoài ra Hội đồng văn hóa cũng cần chú trọng đến chất lượng của nghệ thuật văn hóa không có nguồn gốc phương Tây.”

Nhóm bảo tàng Hà Lan gồm toàn các dân tộc non trẻ và thiểu số, nên Hội Bảo Tàng Hà Lan đă phát triển Chương tŕnh Bảo tàng Giao thoa Văn hóa nhằm quảng bá sự phong phú của các bảo tàng ở Hà Lan, đồng thời giới thiệu với công chúng nói chung về các bảo tàng trên quy mô lớn hơn.

 4.3 Các cuộc tranh luận và vấn đề tương tự

Văn hóa Cho tặng

Bộ trưởng Văn hóa Van Leeuwen (2002-2003) đă đặt vấn đề quyên góp tự nguyện cho chương tŕnh chính sách văn hóa. Theo ông, ngân sách cho văn hóa sẽ được bổ sung nếu “văn hóa cho tặng” được thúc đẩy thực hiện một cách có hệ thống qua các chính sách tài khóa. Người kế nhiệm của ông là Medy van der Laan th́ theo đuổi vấn đề cho tặng này ở góc độ cá nhân. Và quyết định được đưa ra cuối cùng là những cá nhân hay doanh nghiệp tặng tiền hoặc tác phẩm nghệ thuật cho các tổ chức văn hóa (như viện bảo tàng, công ty nghệ thuật biểu diễn) và quỹ văn hóa sẽ được miễn nộp thuế thừa kế và quà tặng, đồng thời c̣n được giảm thuế thu nhập hoặc thuế tập đoàn.

ở Hà Lan, có một số công ty ủy thác đầu tư thường đầu tư ít nhất 70% vốn vào các dự án nghệ thuật và văn hóa. Sự đầu tư riêng vào những “đại diện ủy thác văn hóa” đó thường tạo ra nhiều lợi nhuận cao, chủ yếu là nhờ được khấu trừ thuế thu nhập. Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học đă xuất bản sách hướng dẫn cung cấp thông tin cho các cá nhân và doanh nghiệp về những chương tŕnh này. Cuốn sách này đă được đem giới thiệu trong một cuộc hội thảo bàn về sự bảo trợ đương đại trong nghệ thuật và văn hóa tổ chức ở Amstedam vào tháng 9 năm 2004.

Năm 2005, cựu cầu thủ bóng đá Johan Cruyff - một người rất thành công trong việc kêu gọi quyên góp tiền để mua trang thiết bị cho thanh niên và những người có hoàn cảnh khó khăn -bắt đầu công khai phàn nàn về phần trăm thuế đánh vào quà tặng quá cao, đến 11% giá trị thật của quà tặng. Sau một vài cuộc tranh luận, Bộ trưởng Tài chính Wijn đă đề nghị giảm mức thuế quà tặng xuống 8%, và sau này là 0%. Đề xuất của ông được chính quyền Balkenende và quốc hội phê duyệt. Hiện nay mức thuế quà tặng 0% được áp dụng cho toàn ngành nghệ thuật và văn hóa.

Viện bảo tàng quốc gia cũ - vốn vẫn được hưởng mức thuế 0% sau khi đă tư nhân hóa (từ lâu, các khoản quyên góp, hiến tặng cho nhà nước đều không bị đánh thuế) - hiện nay đang bị nhiều tổ chức kiện với mong muốn thu được lợi nhuận từ các khoản quyên góp hay quà tặng của các cá nhân hiến tặng.

Giảm chi phí dành cho  cơ sở hạ tầng văn hóa

Với mục đích giảm ngân sách quốc gia, Bộ trưởng Van der Laan đă yêu cầu Ban cố vấn (Berenschot) làm kiểm kê các cơ sở văn hóa [ondersteunende instellingen] và chức năng của từng cơ sở. Ban cố vấn đă đưa ra một danh sách gồm 150 tổ chức và sắp xếp theo 4 nhóm: (1) tổ chức nhánh, (2) tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được ủy quyền, (3) tổ chức chuyên phụ trách vấn đề di sản văn hóa, và (4) các tổ chức liên quan đế toàn bộ hệ thống văn hóa nói chung. Mặc dù Hội đồng Văn hóa không sẵn sàng đồng ư với cách phân nhóm hoặc phân chia các tổ chức thành các đơn vị “hỗ trợ” như trên, nhưng Hội đồng cũng đưa ra đề xuất cơ cấu lại “bộ phận hỗ trợ” kết hợp với việc cắt giảm hỗ trợ đi 10%. Cũng v́ lí do này nên gần như tất cả các tổ chức liên quan đều chỉ được nhận trợ cấp một năm thay v́ bốn năm như b́nh thường. Tiếp đến đầu năm 2005, Bộ trưởng đưa ra tuyên bố tái cơ cấu bộ máy ở diện rộng và trợ cấp cũng sẽ được điều chỉnh lại theo cách mới. Và  năm 2005 đă cho thấy rơ trong toàn bộ quá tŕnh tŕnh giảm trợ cấp th́ việc tái cơ cấu sẽ được tiến hành đối với ngành nghệ thuật không chuyên và lĩnh vực âm nhạc. Riêng trong ngành âm nhạc, Bộ trưởng đề xuất cơ cấu 20 “đơn vị hỗ trợ” lớn nhỏ khác nhau thành 2 đơn vị chính, một tập trung vào tư liệu và một chú trọng đến phát triển.

Hoàn trả tranh cho những người đ̣i quyền lợi chính đáng

Trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Jacques Goudstikker (1897-1940) là chủ của một gelơri nghệ thuật hàng đầu ở Amsterdam. Cố gắng trốn khỏi chế độ Đức Quốc Xă, ông chuyển sang Anh sinh sống vào tháng 5 năm 1940, nhưng cuối cùng chết thảm trong một tai nạn. Vợ ông định cư ở Mỹ và gia đ́nh này chưa bao giờ trở về Amsterdam. Một trong những người làm thuê tại gelơri của Jacques đă tiếp quản triển lăm nghệ thuật này và bán các tác phẩm tranh cho Đức quốc xă mà không có sự cho phép của chủ nhân. Sau chiến tranh, chính phủ Hà Lan đứng ra đ̣i nhận quản lư và làm chủ bộ sưu tập tranh của Jacquees, trong do có nhiều tác phẩm đă được trưng bày tại nhiều bảo tàng. Sau một thời gian nỗ lực gần như không có kết quả, những người thừa kế của Jacquees đă thành công trong việc đ̣i lại được 202 bức tranh của Chính phủ Hà Lan vào đầu năm 2006. Theo báo cáo th́ quyết định ḥan trả tranh này được thực hiện v́ lí do đạo đức nhiều hơn là về mặt pháp lư. Tuy nhiên vẫn chưa rơ ràng về điều ǵ sẽ xảy ra tiếp theo với những tác phẩm nghệ thuật này.

4.4 Các chính sách văn hóa và vấn đề b́nh đẳng giới

Vào những năm 80, trong các tranh luận quần chúng về vấn đề b́nh đẳng giới th́ sự tham gia của phụ nữ vào đời sống công việc ở Hà Lan được coi là trọng tâm. Các tranh luận này xuất phát từ những động thái tích cực nhằm tăng tỉ lệ có mặt của phụ nữ trong lĩnh vực nghề nghiệp. Vào những năm 1990s, đối tượng của vấn đề được đưa ra tranh luận này không chỉ là phụ nữ mà mở rộng ra cả các dân tộc thiểu số (cả phụ nữ và nam giới).

Ban điều phối trực tiếp (DCE) của Bộ Ngoại giao có trách nhiệm điều phối chính sách b́nh đẳng của Hà Lan, toàn bộ chương tŕnh của Chính phủ, và nắm liên lạc thường xuyên với giới kinh doanh cũng như các tổ chức xă hội để thúc đẩy mọi hoạt động, trao đổi kiến thức và thông tin. Mục tiêu chính sách của Ban này là tạo quyền b́nh đẳng, cơ hội và tự do cho tất cả mọi phụ nữ và nam giới, không phân biệt cá nhân nào.

Mỗi Bộ, bao gồm cả Bộ Văn hóa đều phải có một kế hoạch hành động riêng gồm bốn điểm có thể được triển khai trong thời gian đề ra của Nội các II Balkenende (2003-2007). Điểm thứ 4 trong biên bản ghi nhớ của Bộ Văn hóa là về văn hóa nghệ thuật. Mục tiêu chính là nhằm tăng số lượng phụ nữ trong các vị trí chủ chốt của ban cố vấn và chức năng quản lư trong các tổ chức văn hóa nghệ thuật. Năm 2001, trong Bộ Văn hóa có 59% phụ nữ làm ở các vị trí thấp, 34% vị trí trung b́nh và 22% người nắm giữ những vị trí cao.

Bên cạnh việc đề ra kế hoạch hành động, theo hướng dẫn của công văn chính sách văn hóa(Mặt trận Văn hóa) th́ Bộ Văn hóa tiếp tục giữ vai tṛ tích cực hơn. Công văn này ghi rơ “Cần tạo nhiều không gian hơn nữa cho văn hóa đặc trưng của các nhóm dân tộc dù những nét văn hóa riêng này có thể được xem là không biến chuyển. Các chương tŕnh văn hóa phong phú cần phải tận dụng nhiều sân khấu, viện bảo tàng và các bối cảnh địa điểm khác nhau nhằm tạo nhịp cầu giao lưu giữa các văn hóa. Cơ hội tiếp cận với các tổ chức, công ty văn hóa, ban cố vấn và hỗ trợ về văn hóa đang ngày càng được mở rộng cho nhiều nhóm dân tộc khác nhau.”  (Văn hóa là một mặt trận, trang 47).

Một dự án nghiên cứu được xây dựng vào năm 2002 đă cho thấy số lượng phụ nữ làm việc trong ngành văn hóa trước đây khá cao. Nhưng đồng thời, tỉ lệ phụ nữ nắm giữ những vị trí cao không tăng lên. Điều này được xác nhận rơ nhờ nghiên cứu của Agneta Fischer - người đă tiến hành nghiên cứu 413 tổ chức (2002): trong tất cả các vị trí hàng đầu th́ chỉ có 32% phụ nữ nắm giữ. Những tổ chức càng lớn th́ tỉ lệ phụ nữ làm tại những vị trí cao càng ít. Vẫn chưa có thay đổi nào được tạo ra. Trong số các ngành nghệ thuật th́ nghệ thuật h́nh ảnh lại “thân thiện” với phái nữ hơn cả với 43% phụ nữ nắm giữ vị trí quản lư quan trọng; c̣n ngành truyền thông chỉ có 22% phụ nữ làm ở những vị trí tương tự này.

Để kích thích sự chuyển giao nghề nghiệp trong các ngành văn hóa nghệ thuật đối với phụ nữ, Viện Sân khấu Hà Lan đă xây dựng dự án Hướng dẫn về nghệ thuật (2001-2002). Ngoài một số bộ khác, dự án này được tài trợ bởi Bộ Văn hóa, Bộ Các vấn đề xă hội và hiệp hội tư nhân có tên là “Mama Cash”. Dự án thu hút sự tham gia của các nữ Họa sỹ và phụ nữ làm trong các ngành nghề liên quan - họ là những người hiểu rất rơ về những rào cản việc làm đối với phụ nữ trong quá khứ và chính họ là người sẽ phát triển các chiến lược phá vỡ rào cản đó. Giám sát và huấn luyện chứng tỏ là những công cụ hữu hiệu đối với những phụ nữ có tham vọng sự nghiệp lớn. Dự án này là một phần của MIXED - sự tham gia của Hà Lan trong một dự án của Liên minh châu Âu nhằm tạo ra sự b́nh đẳng hơn nữa trong các doanh nghiệp và tổ chức lớn.

4.5 Chính sách và các vấn đề ngôn ngữ

Hà Lan có hai ngôn ngữ chính là tiếng Hà Lan và Frisian. Trong văn kiện chính sách văn hóa 1997-2000, chính phủ Hà Lan đặc biệt chú trọng đến tiếng Hà Lan và việc triển khai các biện pháp tăng cường tầm quan trọng của ǵn giữ và phát huy tiếng Hà Lan không những ở Hà Lan mà c̣n ở những nơi khác trên thế giới. Hà Lan cũng tập trung vào những phim bằng tiếng Hà Lan, kịch truyền h́nh, văn học và việc tạo ra một Viện bảo tàng Văn học. Gần đây một kênh truyền h́nh quốc tế song ngữ Flemish-Hà Lan có tên BVN bắt đầu được thực hiện, chủ yếu phục vụ người Hà Lan và Flemis xa tổ quốc. 

Chính sách ngôn ngữ của Hà Lan được tiến hành với sự tham gia của Liên đoàn Ngôn ngữ Hà Lan [Nederlandse Taalunie] cùng với cộng đồng Flemis, kết hợp với quốc gia Bỉ. Nhằm nhấn mạnh sự quan tâm đến văn hóa của người Hà Lan và người Flemish, hai bên đă kư một công ước văn hóa vào năm 1995. Tháng 6 năm 2004, bước phát triển chắc chắn hơn trong quan hệ hai dân tộc đă được tạo ra đánh dấu bằng sự ra đời của Viện Hà Lan-Flemish [Vlaams-Nederlands Huis] ở Brussel. Mục tiêu của Viện này là phát triển văn hóa Hà Lan – Flemish ở châu Âu và sẵn sàng đón nhận những tranh căi về những chủ để như chính trị, xă hội và đa dạng văn hóa trong một châu Âu ngày càng thống nhất.

Xét từ góc độ nhân khẩu học, có thể nói tiếng Frisian đang trên đà hồi sinh, thậm chí được coi là ngôn ngữ thứ hai ở Hà Lan mặc dù số lượng người bản địa của ngôn ngữ này chỉ chiếm khoảng vài trăm ngh́n người. Đồng thời, tiếng Frisian cũng được quan tâm rất đúng mức, và được xem là một vị của di sản văn hóa Hà Lan. Giá trị văn học và văn hóa của di sản Frisian liên quan đến khía cạnh ngôn ngữ được chú trọng bảo tồn bởi Viện hàn lâm (Frysk Academie) ở Leeuwarden, thủ phủ của tỉnh Friesland. Trước đây đă có thời điểm chính phủ Hà Lan đưa ra quyết định yêu cầu tất cả các văn kiện chính thức của quốc hội và chính phủ đều phải được viết bằng tiếng Frisian.

 4.6 Đa phương tiện và đa dạng về nội dung

Theo Công ước Truyền thông th́ tính đa dạng của dân số, xét về sự ưu tiên chính trị, tôn giáo và khác biệt văn hóa, đă được phản ánh tương đối rơ trong hệ thống phát thanh công cộng. Giấy phép phát thanh có giá trị trong mười năm nếu tổ chức xin cấp phép chứng minh được tổ chức ḿnh có đủ số lượng nhân viên hoạt động. (xem ). Ngoài hệ thống phát thanh công cộng, h́nh thức phát thanh thương mại cũng rất phổ biến ở Hà Lan. Trong những năm gần đây, hệ thống truyền thanh công cộng chịu nhiều sức ép do lượng khán giả giảm đáng kể. Quốc hội Hà Lan do vậy đă đưa ra tranh luận về việc làm thế nào tạo ra sự cân bằng về các chức năng khác nhau trong đội ngũ những người làm phát thanh viên công cộng và phát thanh viên thương mại.

Trước mùa hè năm 2005, chính quyền Balkenende cho công bố văn kiện chính sách có tên Suy xét Ngày mai trên hệ thống truyền thanh trong bối cảnh thị trường truyền h́nh và đài phát thanh đang mở rộng. Văn kiện trên đề xuất đưa ra những quy định nghiêm ngặt hơn đối với các chương tŕnh truyền thanh và đề nghị giảm hỗ trợ từ nhà nước cho hoạt động này. Mặc dù nhiều người trong ngành cũng nhất trí với quan điểm cho rằng việc tái cơ cấu là hết sức cần thiết để tăng cường vai tṛ của phát thanh công cộng, nhưng gần như không có ai ủng hộ ư tưởng đề xuất trong văn kiện chính sách nói trên. Văn kiện này được xem là một thỏa hiệp giữa một bên là những người đảng Dân chủ Thiên chúa giáo - những người vẫn luôn ủng hộ các hiệp hội truyền thanh tư nhân với tư cách thành viên hoạt động với phương châm ít nhiều phản ánh những giá trị và thị hiếu của khán giả thành viên, với một bên là những người thuộc đảng Tự do – có nguyện vọng xây dựng hệ thống truyền thanh dù nhỏ nhưng phải mạnh và có vai tṛ tương tự như đài BBC của Anh.

Trong phiên thảo luận của quốc hội vào mùa thu năm 2005, ư tưởng về hệ thống truyền thanh công cộng không có sự hiện diện của các chương tŕnh quảng cáo (cách tiếp cận của đài BBC) đă bị phần lớn các thành viên quốc hội bác bỏ. Tuy nhiên, đến đầu năm 2006, Đảng tự do lại đưa ra một đề xuất khác là hủy bỏ toàn bộ hệ thống phát thanh công cộng, v́ theo họ, sẽ tốt hơn nếu nhà nước hỗ trợ cho các dịch vụ công cộng do chính các phát thanh viên thương mại (tư nhân) sản xuất. Nhưng cuối cùng vẫn chưa có kết luận nào được đưa ra.

Trước thực trạng thu nhập hàng năm từ quảng cáo giảm tới 80 triệu euro, hội những nhà truyền thanh công cộng hiện đang t́m cách tăng tỉ lệ khán thính giả. Nói chung, người ta sợ rằng điều này sẽ dẫn đến việc phải cắt giảm các chương tŕnh về văn hóa nghệ thuật bởi v́ thực chất, các chương tŕnh này cũng cũng không thu hút được nhiều khán thính giả. Tháng 2 năm 2006, những e ngại trên đă thành sự thật khi có quyết định ngân sách cho phát thanh công cộng trên sóng radio bị cắt giảm 13 triệu euro. Mặc dù chính sách này gặp phải nhiều phản đối gay gắt từ giới văn họa sỹ nhưng thực tế là đồng nghĩa với việc hơn 80 người sẽ mất việc và số lượng chương tŕnh văn hóa được phát đi sẽ giảm đáng kể.

Các báo hàng ngày sẽ phải chấp nhận quy tŕnh trước mắt là mất số lượng người đặt báo v́ thị hiếu đọc báo của thanh niên không giống thế hệ già. C̣n dân du cư th́ gần như cũng không để ư đến t́nh h́nh này ngay cả khi số lượng báo phát hành có lớn hơn thế. Xu hướng sát nhập giữa các tờ báo quốc gia với báo khu vực ngày càng được đẩy mạnh. Đồng thời, các tạp chí tuần cũng phải cắt giảm chi tiêu của họ do ngân sách bị thu hẹp. Trong thời điểm mà tăng trưởng kinh tế rất hạn chế như hiện nay th́ thu nhập từ quảng cáo cũng trở nên hết sức khiêm tốn.

4.7 Các ngành công nghiệp văn hóa: sự phát triển, các chương tŕnh và đối tác

Tháng 10 năm 2005, một văn kiện chính sách mang tên Khả năng sáng tạo của chúng ta (Ons Creatieve Vermogen) đă được Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học (Bộ trưởng Văn hóa và truyền thông) cùng với Bộ Các Vấn Đề Kinh tế (Bộ trưởng và Ngoại trưởng) tŕnh quốc hội. Văn kiện này giới thiệu các biện pháp và chương tŕnh giúp các ngành công nghiệp sáng tạo có thể đạt được tiềm năng kinh tế của ḿnh một cách trọn vẹn. Các ngành công nghiệp sáng tạo được chia làm ba ngành chính: nghệ thuật và di sản văn hóa; truyền thông và giải trí; các dịch vụ sáng tạo. Những dịch vụ này lại bao gồm các mảng như thiết kế thời trang, kiến trúc, truyền thông mới, game vi tính và quảng cáo. Các mục tiêu chính đề ra là:

·         Tăng cường quan hệ và hợp tác giữa dịch vụ sáng tạo và những ngành khác

·         Củng cố việc cấp tài chính cho các doanh nghiệp văn hóa (đặc biệt là những doanh nghiệp và công ty mới khởi nghiệp) ;

·         Thúc đẩy tài trợ tư nhân và đầu tư cho nghệ thuật và văn hóa

·         Tạo điều kiện cho việc khai thác quyền sở hữu trí tuệ

·         Thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm văn hóa Hà Lan ra nước ngoài; và

·         Tăng cưởng quản lư các tổ chức và doanh nghiệp văn hóa.

Chương tŕnh Khả năng sáng tạo của chúng ta hoạt động đến tận năm 2008 với ngân sách 15.5 triệu euro.

4.8 Chính sách việc làm cho ngành văn hóa

Kết quả của việc giảm ngân sách do là những việc làm được nhà nước hỗ trợ vốn rất phổ biến trong ngành văn hóa phi chính phủ, bị hủy bỏ. Nhưng mặt khác, Ngoại trưởng Van der Laan hy vọng sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn bằng việc thúc đẩy hợp tác giữa các Họa sỹ và những người làm trong ngành dịch vụ sáng tạo và văn hóa, nếu xét ở góc độ thương mại.

Sự chuyển hướng chú ư về mặt chính trị này có thể giải thích bởi hy vọng cho rằng gần như mọi việc làm liên quan đến văn hóa nghệ thuật đều sẽ có thể t́m thấy trong ngành văn hóa. Theo một báo cáo về việc làm trong ngành văn hóa ở châu Âu được hăng Eurostat công bố năm 2004 th́ những công việc liên quan đến văn hóa chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số việc làm ở Hà Lan: vào khoảng 3.27%, tương đương với 249 000 tổng số việc làm. Trong khi đó, chỉ có một số ít các nước Bắc Âu là có tỉ lệ việc làm trong ngành văn hóa cao hơn các ngành khác. Xét lực lượng lao động làm văn hóa ở Hà Lan, số lao động văn hóa cao chiếm tuyệt đối: khoảng 40% người tốt nghiệp đại học trong khi tỉ lệ này trong tổng lao động chỉ chiếm 25%. Tỉ lệ lao động làm chủ và tự quản lư trong ngành văn hóa chiếm 32%, cao gấp 3 lần so với các việc khác với tỉ lệ chỉ là 11%. Tuy nhiên, việc làm liên quan đến ngành văn hóa dường như ít ổn định hơn: với 19% gồm các việc làm tạm thời trong khi con số này ở các ngành nghề khác là 14%.

4.9 Công nghệ mới và chính sách văn hóa

Tất cả các biểu hiện của văn hóa được thể hiện nhờ có sự hỗ trợ của nhà nước đều là một phần của môi trường mà ở do mỗi công dân đều có thể t́m thấy những yếu tố giúp ḿnh cảm thấy ḿnh đang ở trên chính quê hương ḿnh. Khả năng mang điều lư tưởng trên gần với thực tế đang ngày càng lớn kể từ khi có sự ra đời của công nghệ truyền thông và thông tin (ICT). Văn kiện chính sách xuất bản năm 2002 [Beleidsbrief eCultuur] đă khám phá những ứng dụng và khả năng đưa ICT vào họat động của các tổ chức và truyền thông văn hóa. Cũng trong năm 2002, khoảng 50 triệu euro đă được chi cho việc ứng dụng triệt để ICT vào nghệ thuật, di sản văn hóa và truyền thanh công cộng. Năm 2004, một khoản ngân sách ICT đặc biệt đă được phân bổ cho hoạt động số hóa di sản văn hóa.

 4.10 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh

 

Giáo dục văn hóa nghệ thuật là công cụ chính để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hóa của quần chúng. Từ năm 1945, việc dẫn học sinh trung học đi tham quan viện bảo tàng, nhà hát, ḥa nhạc đă trở thành một trong những hoạt động ngoại khóa tự nguyện. Trong những thập kỷ gần đây chính phủ đă cố gắng tăng cường quan hệ hợp tác giữa các trường học và tổ chức nghệ thuật chuyên nghiệp. Năm 1998, chính sách này đă bước sang một giai đoạn mới khi “Giáo dục nghệ thuật và văn hóa” được đưa vào làm môn học bắt buộc trong các trường trung học cấp lớn havo (giáo dục trung học tổng hợp) và vwo (giáo dục tiền đại học). Năm 2003,  ở bậc trung học tiền học nghề, một môn học tương tự vậy cũng đă được triển khai giảng dạy.

Việc đưa giáo dục văn hóa nghệ thuật vào làm môn học bắt buộc là một chương tŕnh có quy mô lớn ở bậc trung học Hà Lan. Mục tiêu chung là giúp học sinh tự lựa chọn các họat động văn hóa có ư nghĩa hơn cả với ḿnh. Mục đích chính của chính sách mới này là nhằm thu hút sự tham gia của học sinh vào các hoạt động văn hóa, hay nói cách khác, để học sinh trải nghiệm văn hóa. Chính phủ hỗ trợ phí tổn cho các chuyến thăm ngoại khóa của học sinh bằng cách cấp cho mỗi học sinh những phiếu trị giá khoảng 20 euro dùng làm vé vào các viện bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu phim, v.v. Các họat động nghệ thuật thực tế khác như nghệ thuật studio, ca hát, khiêu vũ, v.v. chỉ là một phần nhỏ trong số các hoạt động ngoại khóa của học sinh, có tác dụng giúp người học chuẩn bị và “tiêu hóa” các họat động văn hóa chứ tuyệt nhiên không phải là tất cả. Môn Giáo dục Văn hóa Nghệ thuật trong các trường trung học thường được dạy bởi tổ giáo viên dạy nhiều môn khác nhau như bộ môn tiếng Hà Lan, Ngoại ngữ, nghệ thuật h́nh ảnh, âm nhạc và kịch. 

Ở bậc tiểu học, học sinh sẽ theo những môn học “biểu cảm” như: sử dụng ngôn ngữ, âm nhạc, họa, thủ công, tṛ chơi và vận động. Những ǵ mà học sinh sẽ học trong mỗi môn học đều được chỉ định rất cụ thể. Trọng tâm của môn giáo dục văn hóa nghệ thuật ở từng trường sẽ thay đổi khác nhau. Một số trường sẽ thuê cả họa sỹ cho những dự án của ḿnh. Một số trường khác có thể tổ chức các chương tŕnh mà theo do đọc được tiếp cận không chỉ như một kỹ năng kỹ thuật mà c̣n như một hoạt động văn hóa. Gần 80% các trường tiểu học tận dụng cái gọi là “thực đơn nghệ thuật” mà thực chất là những chương tŕnh gồm từ sáu đến tám hoạt động văn hóa như tour tham quan viện bảo tàng, tham gia biểu diễn trong một nhà hát thiếu nhi hay đi xem phim.

Trên cơ sở văn kiện chính sách “Trường học văn hóa” (1997), cả các tổ chức văn hóa lẫn trường học đều có thể đăng kư xin hỗ trợ. Hệ thống hai chiều này tỏ ra khá hiệu quả: các trường học trở nên quen thuộc hơn với sự cung cấp đều đặn của các tổ chức “hàng xóm”, c̣n các tổ chức này  cũng sẽ hiểu hơn về động lực của phụ huynh và học sinh. Giáo dục văn hóa nghệ thuật không chỉ đơn giản là xây dựng trên nền các môn nghệ thuật truyền thống (như nhạc và họa) mà c̣n lịch sử, toán học và kinh tế. Ngoài ra, chính các trường học cũng sẽ được hưởng lợi từ việc giáo dục văn hóa nghệ thuật này.

Đào tạo chuyên nghiệp

Cái gọi là Viện Hàn Lâm hay Trường Nghệ thuật là những tổ chức giáo dục chuyên nghiệp ở bậc cao hơn (tổ chức HBO hay c̣n gọi là “đại học giáo dục chuyên nghiệp”). Các trường đại học này có các khóa học về mỹ thuật, thiết kế, âm nhạc, khiêu vũ và sân khấu để người học có thể trở thành những Họa sỹ thực thụ. Sau khi qua một khóa đào tạo hướng nghiệp cao hơn, học viên được cấp bằng giảng dạy khiêu vũ, mỹ thuật hoặc âm nhạc. Với tấm bằng được công nhận trên khắp châu Âu này, học viên tốt nghiệp có đủ điều kiện giảng dạy ở tất cả các cấp giáo dục. Như vậy, thay đổi chủ yếu ở bậc đại học chỉ là việc triển khai hệ thống bằng tiến sỹ và thạc sỹ nhằm tạo sự linh động hơn cho người tốt nghiệp trên thị trường quốc tế. Cùng với sự chuyển biến này, giá trị của các chương tŕnh nghiên cứu cần phải được dễ dàng công nhận hơn và sẽ được thừa nhận là những chương tŕnh hướng đến yếu tố chất lượng.

Ngày càng có nhiều trường học triển khai Internet, coi đây là công cụ học tập và là phương tiện thúc đẩy sự đổi mới trong giáo dục. Năm 2003, thay mặt Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học, Stichting Kennisnet (Hiệp hội tri thức liên kết) có trách nhiệm triển khai xây dựng cơ sở hạ tấng Internet trung ương cho giáo dục. Stichting Kennisnet đă kết hợp chặt chẽ với nhiều tổ chức như Hội Waag, Trung tâm chuyên gia về các bộ môn văn hóa và ICT, Trường học số và Hiệp hội thư viện công cộng. Ngày 1 tháng 1 năm 2004, dựa trên kiến nghị của tổ chức Kennisnet, chính phủ đă cho tự do thị trường và tự do lựa chọn truờng học. Các dịch vụ và nội dung giáo dục vẫn được đảm bảo thông qua nền trung ương về nội dung và dịch vụ.

4.11 Chính sách và vấn đề di sản

Di sản văn hóa ở Hà Lan bao gồm viện bảo tàng, các địa điểm và toà nhà lịch sử, khảo cổ học, thông tin lưu trữ và thư viện. Mặc dù quần chúng đang ngày càng quan tâm đến di sản văn hóa, nhưng cái giá trả cho công tác sưu tầm và bảo tồn cũng không phải rẻ. Văn kiện chính sách văn hóa 2001-2004 đă nhấn mạnh việc sử dụng hiệu quả di sản hiện có, hướng đến khán giả và thành công về mặt xă hội nhờ các biện pháp giáo dục văn hóa. Ngoài ra, văn kiện cũng chỉ rơ rằng di sản văn hóa của dân nhập cư cũng cần được bảo tồn và tiếp cận. Sau một cuộc họp về người di cư và văn hóa di cư vào năm 2001, Viện Lịch sử xă hội ở Amsterdam đă chuẩn bị một danh sách kiểm kê, t́m kiếm những vật liệu tương ứng trong 104 cơ quan trữ văn Hà Lan. Người ta khuyên nên tập hợp các mảnh vụn về lịch sử của người di cư tồn tại ở dạng viết, ảnh và ghi chép làm thành các triển lăm nhỏ trong các cơ quan trữ văn của các thành phố trên cả nước. Bằng cách tổ chức những triển lăm như vậy, các tổ chức di cư sẽ giúp công chúng tiếp cận dễ dàng hơn, hiểu hơn về văn hóa của họ.

Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học chịu trách nhiệm về cơ sở hạ tầng; “hệ thống bảo tàng” gồm tất cả các viện bảo tàng, các đơn vị cố vấn, hỗ trợ, tài trợ có nhiệm vụ sưu tầm, duy tŕ và nghiên cứu di sản văn hóa và giới thiệu nó với công chúng ở tất cả các cấp trung ương, khu vực và địa phương. Mục tiêu của chính sách bảo tàng là bảo tồn di sản văn hóa, nâng cao khả năng tiếp cận (kết hợp với những yếu tố khác thông qua Internet), khuyến khích sự tham gia của quần chúng (đặc biệt là đối tượng thanh niên và dân tộc thiểu số), tăng cường sự giới thiệu và động thái của các bộ sưu tập bảo tàng không chỉ ở cấp quốc gia mà c̣n ở khắp châu Âu. Trong suốt thời gian Hà Lan và Liên minh châu Âu đồng chủ tŕ nửa phiên họp thứ 2 của năm 2004, Cục Di Sản Văn Hóa của Bộ đă chủ tŕ một hội thảo về “tính linh động trong các bộ sưu tập.".

Trước thời điểm chuyển giao thế kỷ, một cuộc tranh luận đă diễn ra xung quanh vấn đề trao đổi  các bức tranh, tác phẩm điêu khắc và hiện vật nghệ thuật khác trên cơ sở các kư kết cho vay “liên bảo tàng”. Ngoài ra những giới hạn của các bộ sưu tập nghệ thuật Hà Lan cũng được đem ra bàn luận. Điều ǵ nên được lưu lại làm một phần măi măi của bộ sưu tập, yếu tố nào có thể bỏ qua và dựa trên cơ sở nào để tiến hành những động thái ấy? Gần đây, tính linh động của các bộ sưu tập bảo tàng đă được đưa vào chương tŕnh bàn luận chính trị. Biết trước rằng tham vọng trao đổi bộ sưu tập giữa các viện bảo tàng sẽ dẫn đến vấn đề giao thông quốc tế nên chính quyền trung ương đă quyết định đề ra luật bồi thường cho hàng hóa hỏng hoặc mất mát. Điều này đồng nghĩa với việc nhà nước sẽ chịu phí bảo hiểm cho những viện bảo tàng bảo tồn và triển lăm các bộ sưu tập do nhà nước sở hữu. Quy định này được ban bố vào tháng 10 năm 2004 và được nhiều viện bảo tàng đón mừng. Tuy nhiên, một số viện vẫn tỏ ra thất vọng trước động thái này v́ phí bảo hiểm này vẫn thấp hơn so với giá mong đợi vốn được dùng làm khoản bồi thường cho những thiệt hại của hàng hóa v́ lí do ngân sách. 

Hiện nay chính phủ đang phát triển và triển khai các kế hoạch lồng ghép quan điểm về giá trị lịch sử và văn hóa với chiến lược hoạch định không gian của Hà Lan như đă tŕnh bày rơ trong văn kiện chính sách Belvedere (xem  ). Bên cạnh đó, Kế hoạch Denta, một kế hoạch chính sách lâu dài liên quan tới công tác bảo tồn di sản văn hóa Hà Lan hiện vẫn đang được xem xét. Tuy nhiên gần đây, do cắt giảm ngân sách nên có thông báo vào đầu tháng 1 năm 2006 rằng các ṭa nhà lịch sử sẽ chỉ được dùng nơi đặt đài tưởng niệm quốc gia trong các trường hợp ngoài dự kiến, trừ những đài tưởng niệm quan trọng mà nếu không có nơi lưu để đặt th́ tượng đài có nguy cơ bị hỏng. Trước hạn cuối cùng của giai đọan này, Ngoại trưởng sẽ chuẩn bị tiêu chuẩn lựa chọn mới để tạo ra các quy định cân bằng hơn, dễ áp dụng và khả thi hơn.

Trong văn kiện chính sách năm 2003, Ngoại trưởng Van der Laan đă miêu tả quá tŕnh số hóa như một công cụ thiết yếu cho các tổ chức di sản văn hóa. Tuy nhiên, bà cũng nói thêm rằng, các chương tŕnh ICT thường lại không phù hợp với cơ sở hạ tầng quốc gia và không được đa số công chúng chú ư. Thay v́ thế, các chương tŕnh này cần được thống nhất thành một tập hợp số đơn nhất dễ tiếp cận đối với công chúng để làm sao khi có sự cung cấp về văn hóa trên toàn quốc th́ công chúng phải được thông báo kịp thời. Quá tŕnh hợp nhất này cần có sự phối hợp của Hiệp hội Di sản Số hóa Hà Lan với nhiệm vụ điều phối hoạt động số hóa các vấn đề di sản và khiến chúng dễ tiếp cận hơn đối với cả giới chuyên nghiệp lẫn quần chúng thông thường.

Tháng 11 năm 2005, Ngoại trưởng Medy van der Laan đă tŕnh bày một văn kiện chính sách có tên là Bewaren om teweeg te brengen (Bảo tồn để tiến lên) về viện bảo tàng với quốc hội. Văn kiện này cũng đề xuất một số lựa chọn cơ bản trong chính sách về viện bảo tàng. Những bảo tàng được Bộ hỗ trợ sẽ bỏ đi hệ thống quỹ bốn năm (giai đoạn chính sách văn hóa, xem ). Thay v́ hỗ trợ 4 năm một, Bộ sẽ làm hợp đồng quản lư với các viện bảo tàng và đặt điều kiện hỗ trợ lâu dài (30 năm). Tiền hỗ trợ sẽ tính cả chi phí hoạt động của viện bảo tàng như trả lương nhân viên, lau dọn, bảo quản các bộ sưu tập, thu nhận tác phẩm mới và triển lăm. Hợp đồng quản lư sẽ yêu cầu có đánh giá định kỳ về hoạt động của viện bảo tàng bởi ủy ban chuyên gia quốc tế. Ngoài chi phí hoạt động, các viện bảo tàng c̣n cần thêm kinh phí cho các hoạt động cụ thể nhằm thúc đẩy sự tham gia của các nhóm mục tiêu (thanh niên, dân tộc thiểu số), bảo quản và giới thiệu di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số và các chương tŕnh giáo dục di sản cho học sinh. Một khoản ngân sách dành riêng cho các hoạt động do sẽ được truyển sang cho Hiệp hội Mondriaan. Tất cả các viện bảo tàng trong cả nước chứ không chỉ những bảo tàng được nhà nước hỗ trợ (khoảng 30 viện), sẽ đều được cấp hỗ trợ từ ngân sách này.

 

Trở về

5. Các điều khoản luật pháp chính trong ngành văn hóa

5.1 Pháp luật chung

 

Mục đích của việc mở rộng chương 5 về các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa là nhằm cung cấp một cái nh́n sâu hơn về các công cụ luật pháp hỗ trợ trong lĩnh vực văn hóa đối với những nước cụ thể.

Chương 5.1 cung cấp thông tin về những quy định chung có ảnh hưởng quan trọng đối với văn hóa, ví dụ những điều khoản trong hiến pháp một số nước hay những quy định luật pháp về việc phân bổ các quỹ công.

Chương 5.2 Cung cấp một danh sách tổng quan về những quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa. Có những nước có thể có hàng trăm luật trong khi nhiều nước khác chỉ có  một luật duy nhất là “Đạo luật về văn hóa”

Chương 5.3 đi vào cụ thể hơn, cung cấp thông tin về những quy định luật pháp trong các lĩnh vực như: nghệ thuật tả thực và ứng dụng, nghệ thuật tŕnh diễn và âm nhạc, di sản văn hóa văn chương và thư viện, kiến trúc và môi trường, phim, băng video, chụp ảnh, những ngành công nghiệp có yếu tố văn hóa và truyền thông đại chúng.

5.1.1 Hiến pháp

Hai điều quy định trong Grondwet (Hiến pháp Hà Lan) quy định về lĩnh vực văn hóa:

Điều 22, khoản 1: Quy định Chính phủ có nghĩa vụ tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về văn hóa cho tất cả mọi công dân và.

Điều 7: Bảo vệ tự do ngôn luận

5.1.2 Điều khoản về quyền hạn

Trên luật pháp, không có quy định nào về sự phân chia trách nhiệm giữa chính quyền trung ương, chính quyền tỉnh và các địa phương. Trong Monumentenwet (Đạo luật về các ṭa nhà lịch sử và Đài tưởng niệm Hà Lan), Archiefwet (Đạo luật ghi chép công cộng) và Wet op de inkomensvoorziening voor kunstenaars (Đạo luật về thu nhập của Họa sỹ), quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể cho các tỉnh thành và địa phương được nêu rơ.

Những luật kể trên, chính quyền thành phố được tự do phát triển chính sách văn hóa theo những hướng riêng của ḿnh. Mặt khác, Bộ trưởng Văn hóa có nghĩa vụ phải tham vấn ư kiến của chính quyền các tỉnh và địa phương trước khi tŕnh tài liệu chính sách văn hóa trong suốt nhiệm kỳ 4 năm lên quốc hội. Trong đó, một phần của quá tŕnh này là phát triển một hệ thống hợp đồng nhằm phối hợp các sáng kiến về chính sách văn hóa được nêu ra từ 3 cấp chính quyền, ví dụ Kế hoạch hành động Ngoại tuyến Văn hóa (xem chương 8.3). Để tham khảo thêm, xem chương 2.2.

 5.1.3 Phân bổ các quỹ công

Trong Đạo luật chính sách văn hóa (1993), phần 9 quy định cho phép bộ trưởng thành lập các quỹ tài trợ cho nghệ thuật và văn hóa. Những quỹ này hoạt động ở tầm xa và Bộ trưởng chỉ quyết định số lượng tiền dành cho các quỹ này theo quy định của luật quốc gia.  Trong Begrotingswet (Đạo luật về ngân sách), mọi chi tiêu công cộng đều phải được quốc hội phê duyệt hàng năm. Do những luật đặc biệt, có thể dành khoản tài trợ dài hạn cho lĩnh vực văn hóa. Theo luật châu Âu, các khoản ngân quỹ lớn hơn cũng có thể được dành cho lĩnh vực văn hóa và kiến trúc.

5.1.4 Khung pháp lư về an ninh xă hội

Các luật chung (bao gồm luật quy định về an ninh xă hội) liên quan đến các doanh nhân hoạt động độc lập cũng được áp dụng cho các Họa sỹ. Những điều luật cụ thể được quy định trong “Đạo luật về thu nhập của Họa sỹ năm 1998 (xem chương 5.3.9)

Trong Werkeloosheidswet (đạo luật về bảo hiểm thất nghiệp của Hà Lan) quy định một ngoại lệ cho các Họa sỹ không chuyên. So với các Họa sỹ chuyên nghiệp th́ tiêu chuẩn hưởng bảo hiểm thất nghiệp của các Họa sỹ tự do (căn cứ vào giai đoạn thất nghiệp) ít khắt khe hơn.

5.1.5 Luật thuế

Các doanh nghiệp cũng như các cá nhân có thể được hưởng lợi từ cá quy định miễn thuế. Quy định này được áp dụng đối với các hoạt động tài trợ và tặng quà. Gần đây, Bộ trưởng Bộ Tài Chính đă quyết định đánh thuế suất 0% đối với tặng quà biếu.

Theo những thay đổi về luật thuế (sửa đổi vào ngay 1 tháng 1 năm 2006), các tổ chức từ thiện không c̣n phải chịu thuế khi nhận tiền từ các quỹ thừa kế. Để được xét miễn thuế, các tổ chức này phải giải tŕnh quy chế hoạt động của ḿnh cũng như lập một bảng kê chi tiết các hoạt động hàng ngày để chứng minh rằng tôn chỉ từ thiện của họ không chỉ có trên danh nghĩa mà phải được thể hiện qua thực tế. Nhằm bù lại khoản thâm hụt trong thu nhập từ thuế cua nhà nước do áp dụng luật mới nói trên, thuế cho hoạt động cá cược được tăng từ 25% đến 29%.

Hệ thống miễn thuế VAT được chia làm 3 mức tỉ lệ: mức cao 19%, mức thấp 6% và mức 0%. Luật châu Âu cho phép các nước thành viên áp dụng mức thuế VAT đối với vé xem phim, vé vào cửa bảo tàng công cộng (thuế có thể tính vào giá bán sách giới thiệu, tranh do những viện bảo tàng này làm ra), vé sân khấu, vé xem ḥa nhạc. Các Họa sỹ - những người mà thu nhập tính trên hoa hồng như những người viết kịch bản, viết nhạc quảng cáo, các kiến trúc sư hay nhà thiết kết đều phải trả mức thuế VAT cao hơn.

Các cán bộ thuế cho rằng các h́nh thức hỗ trợ nhất định cũng phải chịu thuế VAT. Tuy nhiên, Bộ Tài chính quyết định rằng các khoản hỗ trợ từ Bekostigingsbesluit cultuuruitingen (Nghị định Tài trợ các dự án văn hóa) sẽ không phải chịu thuế VAT. Nghị định này áp dụng cho tất cả những hỗ trợ được cấp bởi Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học trên nền của Đạo luật Chính sách Văn hóa (Quỹ dành cho những mục đích đặc biệt), trong do có các hỗ trợ từ các quỹ văn hóa do chính Bộ Văn hóa lập nên.

5.1.6 Luật lao động

Trong nghệ thuật biểu diễn và nói rộng là trong lĩnh vực văn hóa, có nhiều hợp đồng đ̣i hỏi phải có sự thương lượng tập thể [collective crbeidsovereenkomst – CAO]. CAO là hợp đồng lao động giữa chủ lao động và người lao động. Điều này có nghĩa là CAO chỉ được áp dụng cho những người làm thuê cho một chủ lao động. C̣n nếu không phải vậy th́ sẽ hợp đồng pháp lư quốc gia sẽ được áp dụng. Các CAO hiện nay phần lớn được dùng trong các ngành phát thanh, chiếu phim, thư viện công cộng, đào tạo nghệ thuật, nghệ thuật biểu diễn/truyền h́nh, sân khấu được nhà nước hỗ trợ, nhạc giao hưởng, kịch câm, khiêu vũ, và các bảo tàng độc lập. Các liên đoàn thương mại đặc biệt tồn tại để giám sát và khiến những hợp đồng này trở nên có hiệu lực.

Gần như tất cả các tổ chức văn hóa nghệ thuật đều do Liên đoàn Văn hóa tổ chức [Federatie Cultuur], đây là một tổ chức của chủ lao động chính có nhiệm vụ giám sát kết quả thương lượng tập thể hàng năm về công việc và những điều kiện làm việc giữa các tập đoàn của Hà Lan, chính quyền trung ương và các tổ chức của chủ lao động.

Luật thuế cho những người t́nh nguyện nộp thuế được hưởng mức trợ cấp chi tiêu miễn thuế hàng năm trị giá 667 euro (được đưa vào danh mục ngày 1 tháng 1 năm 2000). Với khoản này, những người t́nh nguyện không cần phải quan tâm nhiều đến vấn đề chi tiêu. Những chi phí vượt mức cho phép trên có thể sẽ được ḥan lại nhưng chủ nhân phải chứng minh được những chi phí này là chi phí phát sinh. ( xem ).

5.1.7 Luật bản quyền

Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người chịu trách nhiệm về luật bản quyền. Tất cả các luật kể trên đều là luật mở rộng của đạo luật  Auteurswer (1912) (Đạo luật bản quyền Hà Lan, 1912). Do những thay đổi trong thế giới nghệ thuật nên những đạo luật mở rộng này trở nên hết sức cần thiết.

Hệ thống quyền tác giả / droits d'auteur

Luật bản quyền của Hà Lan được thông qua năm 1913. Luật này mang lại mức thu nhập thỏa đáng cho những người làm công tác sáng tác, nghiên cứu văn hóa, khoa học và nghệ thuật. Đạo luật này được coi là một đóng góp quan trọng vào sự phát triển của các lĩnh vực kể trên ở Hà Lan.

Mới đây (2003) Bộ trưởng Bộ Văn hóa đă nhắc nhở các nhà lập chính sách rằng những hiệu quả mà luật bản quyền đem lại là rất lớn (về lĩnh vực tài chính), thậm chí đủ lớn để phát triển một quan điểm chính trị văn hóa cho những người sản xuất và sử dụng các sản phẩm văn hóa nghệ thuật. Luật bản quyền liên quan đến việc số hóa các bộ sưu tập quốc gia, đặc biệt những bộ sưu tập đang trong quá tŕnh điều chỉnh sửa đổi.

Đánh thuế băng trắng

Một tổ chức chuyên về Quyền Tái Bản có trách nhiệm thu phí sao chép từ năm 1998. Các tác giả và nhà xuất bản của các ấn phẩm giáo dục và chuyên ngành, bao gồm cả sách báo và tạp chí là những người được nhận các khoản phí này. Luật quyền tác giả cho  phép các bên cá nhân được sao chép tài liệu phục vụ cho công việc học tập. Khi đầu ghi băng casset và đầu ghi h́nh xuất hiện th́ mọi người đều có thể sao chép các bản ghi bằng âm thanh hoặc các chương tŕnh được phát sóng với một quy mô lớn chưa từng thấy, chính v́ thế cần có một số h́nh thức bồi thường nào đó cho các tác giả. Sự kiện trên đă dẫn đến việc ra đời của một luật đánh vào các băng casset và băng thu h́nh trắng vào năm 91 được thu bởi Hiệp hội Sao chép Trong nước [Stichting de Thuiskopie] nhằm trả tiền cho những người giữ bản quyền tác phẩm.

 Năm 1993, Đạo luật Quyền chống làm Nhái Hà Lan có hiệu lực. Đạo luật này bảo vệ những thành tựu sáng tạo của các Họa sỹ biểu diễn, những nhà sản xuất nhạc và các tổ chức phát hành khỏi bị làm nhái. 

Quyền cho vay công cộng

Năm 1996, đạo luật cho vay công cộng được thông qua, cho phép tác giả được nhận một khoản phí nhất định từ việc cho mượn hoặc cho thuê tác phẩm của ḿnh. Trong trường hợp thuê với mục đích kinh doanh, tác giả là người có quyền quyết định giá trị của khoản phí này. Trong trường hợp cho các thư viện công cộng thuê tác phẩm th́ nhà nước có mức phí cố định áp dụng. Lệ phí này do Trụ sở quyền cho vay công cộng thu và trả lại cho tác giả. [Stichting Leenrecht].

5.1.8 Luật bảo vệ dữ liệu

Năm1996, hướng dẫn của châu Âu về cơ sở dữ liệu được thông qua. ở Hà Lan, hướng dẫn này được triển khai thành luật quốc gia vào năm 1999 (Databankenwet). Luật này có thể được xem là luật mở rộng của quy định về bản quyền.

5.1.9 Luật ngôn ngữ

Năm 1980, Liên đoàn Ngôn ngữ Hà Lan [Nederlandse Taalunie] bắt đầu đi vào hoạt động với nhiệm vụ triển khai công ước liên chính phủ giữa Cộng đồng Flemish và cộng đồng Hà Lan nhằm kết nối hai cộng đồng này lại đến chừng nào tiếng Hà Lan thực sự được quan tâm.

Frisian là một trong những ngôn ngữ chính thức của Hà Lan, là một trong những chủ điểm của bài toán hoạch định ngân sách quốc gia trong Chương tŕnh Kiểm tra Giáo dục Toàn quốc và trong các báo cáo quốc hội chính thức.

5.2. Luật pháp về văn hóa

Đạo luật chính sách văn hóa (Quỹ dành cho mục đích đặc biệt) của năm 1993 được xem là dấu mốc quan trọng trong cơ sở pháp lư chính sách Hà Lan. Nó là chuẩn mực của nhiều khía cạnh chính sách văn hóa. Đạo luật này cần được sử dụng cho việc phê duyệt các khoản tài chính mà chính phủ dành cho chính quyền địa phương và các quỹ văn hóa quốc gia. Nó cũng là công cụ điều tiết chính sách cụ thể và quan hệ tài chính với các tỉnh và thành phố. Đạo luật Chính sách Văn hóa tập trung vào trợ cấp dài hạn (4 năm) cho các tổ chức văn hóa nghệ thuật (xem chương 3.1). C̣n các trợ cấp ngắn hạn (chủ yếu là một năm) sẽ do các quỹ điều hành (xem  chương 8.1.1)

5.3 Quy định của các lĩnh vực cụ thể

5.3.1 Nghệ thuật thị giác và ứng dụng

Bộ Nhà ở, hoạch định không gian và môi trường đă lập nên một chương tŕnh trợ cấp luôn dành ra một khoản dao động từ 0.5 đến 2% trong tổng chi chí cho các ṭa nhà công cộng để dùng làm tiền hoa hồng hoặc mua các tác phẩm nghệ thuật. (xem chương 2.3 ).

5.3.2 Nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc

Để đảm bảo quyền lợi của các họa sỹ biểu diễn, Wet op de naburige rechten (Đạo luật Quyền chống làm nhái Hà Lan, 1993) được ban bố ở Hà Lan.

5.3.3 Di sản văn hóa

Một số luật vẫn đang tồn tại, trong do có những luật quan trọng nhất như sau:

·         Đạo luật bảo tồn di sản văn hóa năm 1985:  Luật Bảo tồn di sản Văn hóa (1985): Đạo luật này nhằm ngăn chặn việc xuất khẩu các đồ vật có ư nghĩa với lịch sử văn hóa Hà Lan. Đă từng có cuộc tranh căi giữa giám đốc và các nhân viên dưới quyền ở thư viện. Vị giám đốc đă định bán một bức tranh Rothko cho một cá nhân. Các nhân viên đă rất  phản bác điều này và họ viện dẫn những quy định trong điều luật trên, kết quả là bức tranh đă không được bán.

·         Luật các ṭa nhà cổ và tượng đài (1988): Việc bảo tồn các tượng đài theo luật thuộc nghĩa vụ của chính phủ, do vậy một cách gián tiếp, việc trông nom các tượng đài và ṭa nhà cổ là phần trách nhiệm của các chính quyền địa phương và các tổ chức tư nhân.

·         Đạo luật Ghi chép Cộng cộng 1995: quy định rằng tất cả những ghi chép của các cấp chính quyền đều phải được chuyển sang cho Cục Lưu trữ Văn thư Nhà Nước Hà Lan và được lưu giữ trong ṿng 55 năm; và

·         Trong khuôn khổ của Công ước Valletta, việc trông nom tượng đài và bảo tồn di sản khảo cổ là trách nhiệm không thể bở qua trong các chính sách hoạch định môi trường.

5.3.4 Văn chương và thư viện

Để có thêm thông tin về bản quyền, (xem chương 5.1.7)

Một điều luật được chuẩn bị để tiếp tục triển khai hệ thống giá sách cố định [vaste boekenprijs] ở Hà Lan đă được Hạ Viện chấp nhận vào tháng 10 năm 2004. Chỉ có đảng tự do là phản đối biện pháp này, trừ giá áp dụng cho sách dùng trong trường học, theo đó, các nhà xuất bản sách không bị bắt buộc phải bán sách với giá cố định  (xem chương 5.3.6 và 7.3 ). Việc tiếp tục tiến hành hệ thống giá sách cố định này gần đây đă được các thành viên của Thượng nghị viện quyết định. 

Một đạo luật cụ thể về thư viện đă được hủy bỏ vào năm 1987 do có nhiều quan điểm chính trị phản đối sự phân cấp chính quyền. Trong quá tŕnh hệ thống phân quyền diễn ra, trách nhiệm cơ bản của các thư viện công cộng đă được chuyển sang cho cấp chính quyền thành phố. Trợ cấp từ chính quyền trung ương chỉ có ư nghĩa thúc đẩy việc triển khai và phát triển chính sách này.

5.3.5 Kiến trúc và môi trường

Khía cạnh thẩm mỹ của môi trường xây dựng được bảo vệ nhờ Đạo luật 1992 Woningwet (Đạo luật Nhà ở Hà Lan), quy định và kiểm soát tiêu chuẩn thẩm mỹ của các hoạt động xây dựng.

5.3.6 Phim ảnh, video và nhiếp ảnh

Năm 1997, hệ thống kiểm duyệt tồn tại lâu đời được thay thể bởi một cách tiếp cận mới nhằm bảo vệ trẻ vị thành viên khỏi các ảnh hưởng bạo lực và những vấn đề tương tự thường thấy trên phim ảnh, gọi là hệ thống tự điều tiết do Học viện Hà Lan chuyên về Phân loại Truyền thông nghe nh́n phát triển (NICAM). "Chỉ số nh́n" (Kijkwijzer) sẽ đưa ra một loạt các biểu tượng thể hiện một chương tŕnh cụ thể có hại cho trẻ vị thành niên hay không và v́ lí do nào (t́nh dục, bạo lực, v.v.). Chỉ số này được sử dụng trong phim cũng như các chương tŕnh Thực vật, các video clip, game vi tính hay các trang mạng. 

Năm 1999, Bộ Giáo dục – Văn Hóa – Khoa học và Bộ Tài chính đă thỏa thuận áp dụng miễn thuế cho các nhà đâu tư tư nhân muốn đầu tư vào làm phim. Việc làm này nhằm khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân hỗ trợ cho các hăng hoạt động nghệ thuật và tạo ra lợi nhuận cho chính các hăng này. Trong thực tế điều này có nghĩa là nhà đầu tư sẽ tập trung hỗ trợ cho việc sản xuất phim theo đúng nghĩa c̣n các phim nghệ thuật hay phim tài liệu sẽ ít được quan tâm hơn. Tuy nhiên, nh́n chung việc miễn thuế trên được các nhà làm phim rất hoan nghênh v́ xét một cách tổng quát, nó giúp cải thiện t́nh trạng tŕ trệ của ngành công nghiệp làm phim ở Hà Lan.

Năm 2003, Bộ tài chính quyết định thu hồi quy định miễn thuế bởi v́ đây chỉ được coi là một biện pháp tạm thời nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp. Theo Bộ tài chính, biện pháp này sẽ không bao giờ được coi là một h́nh thức hỗ trợ về mặt cơ cấu mang tính dài hạn. Tuy nhiên, vào đầu năm 2004, Ngoại trưởng (thuộc Bộ tài chính) đă công bố sẽ hủy bỏ quy định miễn thuế, trong khi đó sẽ tăng mức đầu tư (mà có thể có được từ việc miễn thuế) là 25.000 euro đến 100.000 euro.

Một khoản ngân sách trị giá 20 triệu euro sẽ được dùng làm công cụ hỗ trợ tài chính cho biện pháp này. 

5.3.7 Các ngành văn hóa

Để xem thêm thông tin xem thêm chương 4.2.5 (các ngành văn hóa), chương 5.2.4 (giá sách cố định) và chương 5.3.6 (điện ảnh).

5.3.8 Truyền thông đại chúng

Đạo luật Mediawet 1987 (Đạo luật truyền thông Hà Lan), không những đề ra các quy định đối với truyền h́nh và phát thanh trên sóng radio mà c̣n với báo chí. Đạo luật này được xữa đổi lại năm 2000. Đạo luật này quy định rằng mỗi hiệp hội truyền thanh phải là đại diện cho một trường phái tư tưởng, xă hội và tôn giáo. Để có thể phát đi các kênh trên sóng công cộng, mỗi đài truyền thanh cần phải có ít nhất 300 000 thành viên đóng phí theo dơi. Phí thành viên tối thiểu đóng góp hàng năm vào khoảng 6 euro một năm. Năm 2004, ở Hà Lan có tám hiệp hội truyền thanh công cộng. Những hiệp hội mới nếu muốn ra nhập hệ thống này hiện nay phải có ít nhất 50 000 thành viên tham gia. Ngoài ra những hiệp hội này cũng cần phải bổ sung các yếu tố mới cho những chương tŕnh hiện nay để tăng sự phong phú của hệ thống truyền thanh.

Tổ chức bảo trợ của các nhà phát thanh công cộng được gọi là Tập đoàn Truyền Thanh Hà Lan [Nederlandse Omroep Stichting – NOS]. Tập đoàn này có nhiệm vụ phối hợp chương tŕnh của các hiệp hội và tạo ra quan tâm chung đối với những hiệp hội này. Ngoài ra, tập đoàn cũng cung cấp phần lớn tin tức và thông tin thể thao. Quỹ Chương tŕnh Hà Lan [Nederlandse Programma Stichting – NPS] chịu trách nhiệm bổ sung các chương tŕnh của các hăng phát thanh khác bằng cách đưa vào các chương tŕnh văn hóa, giáo dục, thanh niên hướng đến đối tượng khánh thính giả là các dân tộc thiểu số. Nhà thờ, các tổ chức tinh thần, giáo dục, các đảng phái chính trị và chính phủ cũng chiếm một tỉ lệ nhất định trong các chương tŕnh trên sóng phát thanh truyền h́nh công cộng. Ba kênh truyền thanh công cộng phải đáp ứng những yêu cầu về mặt chương tŕnh như trong bảng sau:

Bảng 1: Các yêu cầu về chương tŕnh

Loại chương tŕnh

Thời gian phát sóng

Hăng phát thanh

Thông tin và giáo dục

35%

Tất cả các hăng phát thanh cùng phát sóng

Nghệ thuật

12.5%

Tất cả các hăng phát thanh cùng phát sóng

 

20%

NPS

Văn hóa (bao gồm cả nghệ thuật)

25%

Tất cả các hăng phát thanh cùng phát sóng

 

40%

NPS

Các chương tŕnh của dân tộc thiểu số

20%

Giờ phát sóng của Truyền h́nh NPS

 

25%

Giờ phát sóng trên radio của NPS

Giải trí

25%

Tối đa trên mạng truyền thanh

Chương tŕnh do châu Âu sản xuất

50%

Trên mạng truyền thanh

Các chương tŕnh được ủy quyền

25%

truyền thanh công cộng, tối thiểu

 

17.5%

Trên mạng

Tiếng Hà Lan gốc hoặc tiếng Frisian

50%

Trên tổ chức truyền thanh

Với phụ đề dành cho đối tượng khiếm thính

50%

Phát sóng toàn bộ

Nguồn: Chính sách văn hóa ở Hà Lan. The Hague: Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học, 2003. trang 118.

Quảng cáo được giới hạn, chỉ chiếm tối đa 6,5% tổng thời lượng trên sóng radio và truyền h́nh.

Đạo luật Truyền thông cũng đưa ra những yêu cầu về chương tŕnh đối với các hăng truyền thanh thương mại như đă liệt kê trong Chỉ thị của EU rằng “Truyền h́nh không biên giới”. Ngoài thời gian cho tin tức, thể thao, chương tŕnh tṛ chơi, thương mại và điện tóan, ít nhất 50% thời gian phát sóng phải dành cho các chương tŕnh do châu Âu sản xuất. Và ít nhất phải có 10% thời lượng phát sóng dành cho các chương tŕnh do các nhà sản xuất độc lập cung cấp. Để tránh t́nh trạng độc quyền về cung cấp thông tin, Đạo luật Truyền thông đặt ra giới hạn về việc sở hữu thông tin. Trên thực tế, nếu một công ty đă có 25% hoặc nhiều hơn thế thị trường báo th́ việc xin phép mở kênh phát sóng thương mại của công ty sẽ bị từ chối.

5.3.9 Quy định pháp luật đối với các nghệ sĩ tự doanh

Luật pháp nói chung (bao gồm luật an ninh xă hội) liên quan đến các doanh nghiệp độc lập cũng được áp dụng cho giới nghệ sĩ. Các quy định cụ thể được ghi rơ trong Đạo luật Thu nhập của nghệ sĩ (1998).

Đạo luật về Thu nhập của nghệ sĩ ra đời nhằm cung cấp cho những người làm nghệ thuật một mức thu nhập cơ bản (70% đóng cho phúc lợi xă hội). Tuy nhiên, nghệ sĩ vẫn có thể làm việc và bán tranh cũng như sưu tầm tranh với giá trị lên tới 125% thu nhập mà họ nhận được thông qua đạo luật này. Ngoài luật này, chính phủ cũng có nhiều quỹ hỗ trợ cho nghệ thuật. Ví dụ, Quỹ Văn chương được lập ra nhằm khuyến khích việc sản xuất các sản phẩm văn chương Hà Lan bằng cách cấp học bổng cho các nhà văn và dịch giả văn học, trả thêm thu nhập cho nhà văn ngoài khoản lương b́nh thường, cấp hỗ trợ và học bổng du học nước ngoài. Quỹ Âm Nhạc Sáng tạo cũng cấp hỗ trợ tương tự như thế. 

 

Trở về

6. Hộ trợ tài chính cho văn hoá

6.1 Tổng quan sơ lược

Kể từ những năm 1980, chi tiêu công cộng cho văn hóa đă tăng gấp đôi, năm 1985 là 1168 triệu euro th́ tới năm 2003, con số này là 2603 triệu euro. Từ năm 1999 đến 2003, chi tiêu này đă tăng lên 32%. Do sự bùng nổ của nền kinh tế giai đoạn bấy giờ nên tất cả các cấp chính quyền đều tiêu nhiều tiền hơn cho hoạt động văn hóa. Chi tiêu công dành để hỗ trợ các địa điểm diễn ra nghệ thuật biểu diễn tăng 54% (từ 233 triệu euro lên 359 triệu euro), cho các địa điểm và ṭa nhà lịch sử tăng 36% (từ 178 triệu euro lên 243 triệu euro). Các bảo tàng nhận được thêm 27% ngân sách công (từ 291 triệu euro lên 372 triệu euro) và hỗ trợ cho các công ty nghệ thuật biểu diễn cũng tăng lên 18% (từ 228 triệu euro lên 270 triệu euro).

Sự tăng ngân sách hỗ trợ cho ngành văn hóa kéo dài đến năm 2004 th́ kết thúc. Theo đề xuất trong cam kết liên minh của chính quyền lâm thời th́ cần giảm ngân sách văn hóa của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học xuống 16 triệu euro vào năm 2005, tức là giảm từ 761 triệu euro vào năm 2004 xuống c̣n 745 triệu euro năm 2005. Kết quả của cuộc tranh luận về ngân sách trong quốc hội là ngân sách cho văn hóa bị cắt 6 triệu euro. Ngoài ra, sẽ cấp thêm 62 triệu euro cho các họat động được ưu tiên về mặt chính sách như số hóa di sản văn hóa, giáo dục nghệ thuật, trông nom bảo tàng cũng như tu bổ các thư viện công cộng. 

Theo ước tính của một công ty tư vấn th́ khoản cắt giảm cho các chi tiêu liên quan đến văn hóa ở cấp thành phố sẽ lên đến khoảng 28 triệu euro vào năm 2005, tương đương với 2% ngân sách hiện tại. Do các biện pháp khác của chính phủ như chấm dứt chương tŕnh việc làm trợ cấp, nên chi tiêu công cho văn hóa vào năm 2005 ước tính sẽ vào khoảng 59 triệu euro, hoặc 2,5% ngân sách cấp hỗ trợ hiện tại.

6.2 Chi tiêu công cho ngành văn hóa trên đầu người

Năm 2003, tổng chi tiêu cho ngành văn hóa tính trên đầu người là 161 triệu euro, tăng 29% (37 euro) kể từ năm 1999. Điều này dẫn đến GDP năm 2003 đạt 0,5% (năm 2001 là 0.6%).

Sự tăng chi tiêu đáng kể của chính phủ cho văn hóa có thể là do sự bùng nổ kinh tế ở Hà Lan, đặc biệt trong những năm 1996-2002. Cho đến nay, sự suy thoái trong nền kinh tế Hà Lan đă dẫn đến việc cắt giảm 50 triệu euro ngân sách cho ngành văn hóa. Hầu hết các thành phố là những nơi thực hiện sự cắt giảm này. 

6.3 Bảng kê Chi tiêu công cho văn hóa của các cấp chính quyền

Bảng 2:  Chi tiêu công cho văn hóa: bởi các cấp chính quyền, hàng triệu euro, 2001-2003

 

2001

2002

2003

Cấp chính quyền

Chi tiêu

tỉ lệ % trên tổng

Chi tiêu

Tỉ lệ % trên tổng

Chi tiêu

Tỉ lệ % trên tổng

Tất cả các cấp

2 378

100

2 449

100

2 603

100

Nhà nước

725

30

734

30

752

29

Tỉnh

176

8

201

8

224

9

Thành phố

1 477

62

1 514

62

1 627

62

Nguồn:      Cục Thống kê Hà Lan (CBS) 2005
*                 Chi tiêu dành cho truyền thanh, giáo dục nghệ thuật, quan hệ văn hóa với nước ngoài và các mục học thuật không được tính.

6.4 Bảng kê ngành

Bảng 3:  Chi tiêu công cho văn hóa trên ngành: tất cả các cấp chính quyền, hàng triệu euro, 2001-2003

 

2001

2002

2003

Phạm vi /Lĩnh vực / Lĩnh vực phụ

Chi tiêu

Tỉ lệ % của tổng

Chi tiêu

Tỉ lệ % của tổng

Chi tiêu

Tỉ lệ % của tổng

Di sản văn hóa

698

21

690

21

739

20

Truyền thông trong đó

966

29

1 001

29

1 007

28

Truyền thanh*

836

25

881

26

881

24

Nghệ thuật

1 222

36

1 264

36

1 337

37

Thư viện công cộng

487

14

505

15

538

15

Tổng

3 373

100

3 460

100

3 621

100

Nguồn:  Cục Thống kê Hà Lan (CBS) 2005
*              Đóng góp cho các hăng truyền thanh không thuộc phần ngân sách của chính phủ cho văn hóa mà trực tiếp chuyển đến các hăng này.

Bảng 4:   Chi tiêu nhà nước cho văn hóa, theo ngành, triệu euro, 2003

 

Phạm vi / Lĩnh vực/ Lĩnh vực phụ

Nhà nước

Tỉnh thành

Thành phố

Tổng

Di sản văn hóa

380

115

763

1 258

Đài tưởng niệm lịch sử

108

36

99

243

Viện bảo tàng

154

33

186

373

Khảo cổ học

5

 

 

5

Lưu trữ văn thư

43

1

65

109

Thư viện công cộng*

70

45

413

528

Nghệ thuật **

341

92

1 200

1 633

Kiến trúc và nghệ thuật h́nh ảnh

76

13

46

135

Nghệ thuật biểu diễn

202

8

423

633

Trong do:

 

 

 

 

Sân khấu

43

 

 

 

Âm nhạc

80

 

 

 

Khiêu vũ

26

 

 

 

Sân khấu ca nhạc

32

 

 

 

Địa điểm

 

4

355

359

Nghệ thuật không chuyên và giáo dục nghệ thuật***

25

14

251

290

Lĩnh vực khác, không xác định được

53

53

125

231

Truyền thông

922

116

11

1 049

Sách và báo chí

18

 

 

18

Văn chương, sách

16

 

 

16

Báo chí

2

 

 

2

Nghe, nghe nh́n và truyền thông đa phương tiện

904

116

11

1 031

Radio, truyền h́nh

881

116

11

1 008

Rạp chiếu phim

23

 

 

23

Khác

34

 

 

34

Văn hóa-xă hội

 

 

 

 

Quan hệ văn hóa với nước ngoài

12

 

 

12

Hành chính

8

 

 

8

Không xác định được theo lĩnh vực

14

 

 

14

Tổng

1 677

323

1 974

3 974

Nguồn:      Cục Thống kê Hà Lan (CBS) và Bộ Giáo dục, Văn hóa và Khoa học 2005
*      Chi tiêu của nhà nước là 39.2 triệu euro cho thư viện quốc gia – tính cả Thư viện Hoàng gia ở the Hague.

**    Không có sẵn dữ liệu về chi tiêu của các tỉnh và thành phố cho các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Điều khác biệt duy nhất mà Cục thống kê Hà Lan tạo ra là giữa (tất cả các loại) công ty nghệ thuật biểu diễn và địa điểm diễn ra loại h́nh nghệ thuật này.
***  Không tính giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp

 

Trở về

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác

7.1 Sự tái phân bổ trách nhiệm xă hội

 

Từ năm 1984 đă có sự dịch chuyển mạnh mẽ giữa các  lĩnh vực của chính sách văn hoá trong chi tiêu xă hội. Đặc biệt, có sự phân bổ lại về trách nhiệm giữa chính quyền các quốc gia, khu vực và địa phương bao gồm toàn bộ hoặc một phần của việc cấp phát vốn. Trong các môn nghệ thuật h́nh ảnh cũng diễn ra sự tái phân bổ tương tự như vậy bao gồm cả Bộ các vấn đề xă hội vào năm 1987. Việc đổi mới các bảo tàng quốc gia vào năm 1993 cũng tạo ra sự dịch chuyển các nguồn lợi  về chi phí nhân công từ Bộ Văn hoá sang ngân sách của bảo tàng. Trong chính sách văn hoá hai mặt của Hà Lan, một mặt nhấn mạnh hơn tới yếu tố thị trường, nhưng mặt khác vẫn giữ vững yếu tố trách nhiệm xă hội trong đời sống văn hoá. 

Hệ thống hai chiều này hoạt động suôn sẻ nhờ có các quỹ. Bộ giáo dục, văn hoá và khoa học đă thiết lập được một số quỹ, đặc biệt là từ sau năm 1987. Mỗi quỹ sẽ phân bổ tiền cho các tổ chức văn hoá hoặc các nghệ sĩ dựa trên mục đích cụ thể của họ. Danh sách những quỹ này được liệt kê trong chương 8.1.

7.2 Vai tṛ và sự phát triển của các tổ chức văn hoá lớn

Ngành văn hoá có 1 hệ thống trợ cấp cực kỳ phức tạp. Chương này sẽ lư giải phương thức hoạt động của hệ thống này trong các lĩnh vực: di sản văn hoá, truyền thông và nghệ thuật.

Di sản văn hoá

Một trong những vấn đề chính nổi bật trong chính sách đối với các bảo tàng ở Hà Lan vào những năm 1990 là việc chuyển đổi các bảo tàng thuộc sở hữu nhà nước thành  tự quản (đến thời điểm đó là một phần quản lư của chính phủ). Kế hoạch Delta 1992 đưa ra khái niệm Collectie Nederland ( di sản văn hoá Hà Lan); toàn bộ di sản văn hoá quốc gia của Hà Lan được thống kê trên cơ sở chính sách bảo tàng. Điều này có nghĩa là các đồ vật, bộ sưu tập và công tŕnh xây dựng được coi là có tầm quan trọng quốc gia sẽ thuộc sở hữu nhà nước, trong khi đó các bảo tàng quốc gia sẽ có địa vị pháp lư mới theo luật tư nhân. Vào năm 1993, kế hoạch chuyển đổi địa vị pháp lư của 25 bảo tàng quốc gia được bắt đầu. Dù có địa vị pháp lư mới, các bảo tàng này tiếp tục được Bộ giáo dục, văn hoá và khoa học bảo trợ. Các bộ khác như Bộ tài chính hay bộ quốc pḥng th́ chu cấp cho 11 bảo tàng khác. Các công tŕnh xây dựng hay sưu tập vẫn thuộc sở hữu nhà nước. Một số bảo tàng vẫn giữ tên rijksmuseum ( tức là bảo tàng quốc gia)  trong khi số khác đă quyết định bỏ tên này. Tổng cộng, các bảo tàng vẫn được chính phủ trợ cấp trên 70% tổng vốn ngân sách.

Trách nhiệm trong ngành khảo cổ học và văn thư lưu trữ đă được phân cấp từ quản lư nhà nước xuống các tỉnh. Việc quản lư các khu văn thư lưu trữ của nhà nước đă mang tính tự chủ hơn trước. Do mức độ tư nhân hoá cao hơn nên địa vị pháp lư cũng tương tự như các bảo tàng. Tuy có sự tái phân nhiệm nhưng chính phủ vẫn có nghĩa vụ cấp ngân sách.

Truyền thông, ngôn ngữ, văn học và thư viện

Rất khó lư giải cách thức tài trợ cho ngành truyền thông (phát sóng dịch vụ công cộng, báo in…), bởi v́ các quỹ do chính phủ rót vốn được phân bổ theo những nguyên tắc khác nhau ở mỗi vùng, và những bộ phận quan trọng của truyền thông lại được tài trợ một cách gián tiếp thông qua chi phí nghe đài và xem TV. Vai tṛ chính của chính phủ là đảm bảo tính đa dạng nhưng vẫn giữ được bản chất, công bằng và tự chủ, chất lượng và đồng nhất, sự ảnh hưởng, phân bổ và khả thi.

Ngôn ngữ và văn học th́ nhận được nguồn thu từ chương tŕnh khuyến khích đọc và các quỹ trợ cấp của chính phủ. Những quỹ này nhằm khuyến khích các thể loại văn học bằng tiếng Hà Lan và tiếng Frisian và sự trao đổi, quản lư, tiếp cận và phổ biến các tuyển tập văn học cũng như việc truyền bá văn học Hà Lan ra thế giới.

Trong chính sách năm 2003 của ḿnh, Ngoại trưởng Van der Laan đă khẳng định coi các thư viện công cộng là nơi phổ biến văn hoá giáo dục quan trọng. Các thư viện này chủ yếu do chính quyền địa phương quản lư. Chính phủ sẽ hỗ trợ thêm đối với các chương tŕnh phát triển ICT và đảm bảo hệ thống thư viện được bảo quản có chất lượng.

Nghệ thuật

Nghệ thuật bao gồm nghệ thuật h́nh ảnh, thiết kế, phim và các ngành nghệ thuật biểu diễn. Nghệ thuật nghiệp dư và giáo dục nghệ thuật.

Chính phủ trợ cấp nghệ thuật h́nh ảnh và thiết kế thông qua một số quỹ. Các địa phương bao cấp cho các Trung tâm Cho vay nghệ thuật có nhiệm vụ khuyến khích, tạo điều kiện cho dân chúng tiếp cận với các tác phẩm nghệ thuật. Liên đoàn cho vay Nghệ thuật (The Art Lending Federation) quản lư các trung tâm này do Bộ giáo dục, văn hoá và khoa học trực tiếp tài trợ. Ngoài ra, Bộ cũng hỗ trợ các khoản phát sinh thêm v́ những mục đích khác nhau như việc thành lập Viện kiến trúc Hà Lan. Chính phủ cũng hỗ trợ ngành kiến trúc bằng việc uỷ thác các hoạt động xây dựng.

Hầu hết ngân sách dành cho phim phân bổ vào Quỹ Phim Hà Lan. Phần c̣n lại dành cho các liên hoan phim, phát hành phim, phân phối, đào tạo chuyên gia và việc quản lư kho tàng điện ảnh Hà Lan.

Nghệ thuật biểu diễn bao gồm khiêu vũ, opera, nhạc và kịch. Hầu hết các hăng sản xuất kịch được bảo hộ ở Hà Lan đều do chính phủ tài trợ trong giai đoạn 4 năm của chính sách văn hoá. Tuy nhiên, sản xuất chủ yếu được sự bảo trợ của chính quyền địa phương cũng như các chương tŕnh trợ cấp bất thường của chính phủ. Khiêu vũ là bộ môn nhận được nguồn tài trợ lớn nhất.

Việc duy tŕ và quản lư các nhà hát, pḥng nhạc thuộc trách nhiệm của lănh đạo địa phương.

7.3 Những quan hệ đối tác mới

Ngành văn hoá của Hà Lan đang thực hiện 3 mô h́nh hợp tác chính: quỹ tư nhân, nhóm bạn bè và nhà tài trợ, đây đều là các h́nh thức rất mới. Tuy nhiên trên thực tế, hệ thống hỗ trợ văn hoá đă được các hiệp hội xă hội và các tổ chức tư nhân thành lập trước khi hệ thống hỗ trợ của nhà nước ra đời. Đến cuối thế kỷ 19, các công ty tư nhân và cá nhân bắt đầu yêu cầu nhà nước hỗ trợ cho các bảo tàng. Bảo tàng quan trọng nhất Hà Lan được xây dựng từ sau năm 1860, Bảo tàng Concertgebouw mở cửa đón khách vào năm 1888. Giám đốc các nhà hát cũng bắt đầu xin trợ cấp, mặc dù họ một phần đă là doanh nghiệp tư nhân và hoạt động theo hướng thương mại hoá. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hầu hết tất cả các tổ chức nghệ thuật lớn đều được trợ cấp, nhưng cũng có nhiều nơi vẫn do các thành viên là cá nhân tự quản lư. Chung quy lại, các bảo tàng h́nh thành một hệ thống quản lư gắn kết (trên cơ sở hoạt động phi lợi nhuận). Đến cuối thế kỷ 20, các mô h́nh tổ chức tư nhân này lại trở nên phổ biến với 3 lư do:

§              Việc t́m kiếm mô h́nh quản lư mới để thay thế các tổ chức nghệ thuật do nhà nước quản lư trở nên cần thiết. Vào những năm 1990, các bảo tàng quốc gia đều được tư nhân hoá, hoạt động quản lư được tự chủ, tách biệt khỏi mô h́nh bao cấp của chính phủ. Sự thay đổi quản lư này cũng đang được các bảo tàng địa phương thực hiện. Tuy nhiên các bảo tàng, các bộ sưu tập nghệ thuật cũng như các công tŕnh vẫn thuộc tài sản nhà nước;

§              Để đáp ứng nhu cầu chi phí tăng, các tổ chức văn hoá bắt đầu t́m kiếm các nguồn tài trợ. Việc các nhà tài trợ tư rót tiền cho nhà nước rất phức tạp và thậm chí không thoả đáng đối với họ ( trừ các khoản thuế bắt buộc phải đóng), v́ vậy các bảo tàng tư nhân hợp pháp hoá được khuyến khích. Từ đầu những năm 90, Bộ văn hoá đă chuyển đổi hệ thống bao cấp thành hệ thống thu chi mà các tổ chức văn hoá lớn đă thực hiện. Những món quà và thu nhập cá nhân từ tiền bán vé không c̣n được khấu trừ vào các khoản trợ cấp. Việc gây quỹ từ đó trợ thành hoạt động quan trọng của các bảo tàng; và 

§              Sự thay đổi từ các tổ chức nhà nước sang mô h́nh quản lư tư nhân (mặc dù vẫn có trợ cấp) cũng gây ra một cuộc tranh căi về giá trị. Nh́n chung đều tin rằng các tổ chức có thể thể hiện được vai tṛ xă hội quan trọng của ḿnh hay (chính là giá trị) và sự ảnh hưởng thông qua thu nhập cá nhân. Các cá nhân đóng góp tiền của ḿnh cho các tổ chức nghệ thuật dù là qua việc mua vé, nộp phí hội viên hay tài trợ đều là những hành động thiết thực.

Các hiệp hội tư nhân

Bên cạnh các nguồn thu được và sự hỗ trợ của chính phủ, có một nguồn thu  thứ ba từ các tổ chức và hiệp hội tư nhân. Ví dụ, một số quỹ tư nhân như Quỹ văn hoá Prince Bernhard and hội Rembrandt, đă kết hợp những mục đích văn hoá xă hội cụ thể vào hoạt động của ḿnh.  Các tổ chức tư nhân có hỗ trợ nghệ thuật sẽ được giảm trừ thuế hoặc được chuyển đổi thuế biếu tặng và thừa kế.

Các đoàn thể bạn bè

Sự gia tăng các tổ chức văn hoá được trợ cấp có một phần là các tổ chức bạn bè hoặc hệ thống hỗ trợ tư nhân. Các tổ chức liên minh này có thu nhập từ phí hội viên, quà tặng và tài sản của họ. Cũng có nhiều t́nh nguyện viên hỗ trợ cho vay.

Tài trợ

Một nguồn hỗ trợ văn hoá khác là sự đóng góp của các doanh nghiệp cho các tổ chức văn hoá. Số tiền tài trợ mỗi năm ước tính xấp xỉ 50 triệu euro.

Bộ giáo dục, văn hoá và khoa học mấy năm trước đă soạn ra một bộ luật về các sự kiện văn hoá có tên cultuursponsoring (tài trợ văn hoá). Trong bộ luật này, có nêu ra một số khái niệm về những nguyên tắc của quan hệ tài trợ và bộ khung của các cam kết tài trợ cũng được quy định. Tuy nhiên, bộ luật vẫn chưa đề cập đến việc tài trợ các chương tŕnh truyền thanh, truyền h́nh hay sản xuất phim. Về nguyên tắc, khía cạnh quan trọng nhất của bộ luật này là người tài trợ vẫn chưa được phép tác động vào nội dung của các hoạt động mà đối tác văn hoá của họ tổ chức.

 

Trở về

8. Hộ trợ và tham gia các hoạt động sáng tạo

8.1 Các nguồn hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp đối với các sĩ

8.1.2 Trợ cấp, giải thưởng, học bổng

 

Các tổ chức của chính phủ và tư nhân đều được trao giải thưởng nghệ thuật và truyền thông chuyên nghiệp về nhiều lĩnh vực khác nhau. Số lượng giải thưởng đă tăng đáng kể trong nhiều thập kỷ gần đây. Bao gồm 15 giải văn học, 5 giải nhạc cổ điển, 7 giải nhạc nhẹ, 7 giải phim, 3 giải kiến trúc, 3 giải nghệ thuật h́nh ảnh, 3 giải nhạc jazz. Tổng số giải thưởng văn hoá tăng từ 550 năm 1996 lên 750 năm 2002. Năm 2004, số giải thưởng lại giảm xuống c̣n 700. Từ 2002, xấp xỉ 90 giải được bỏ bớt và 41 giải thưởng mới được thêm vào.

8.1.3 Hỗ trợ đối với các hiệp hội, đoàn thể nghệ sĩ chuyên nghiệp

Từ khi thành lập năm 1944, Hiệp hội các tổ chức nghệ sĩ Hà Lan đă nhận được  sự tài trợ từ chính phủ. Thông qua tài trợ cho Hiệp hội, trong đó thành viên phần lớn là các nghệ sĩ giỏi đă đảm bảo đầu vào nuôi dưỡng các nghệ sĩ triển vọng trong chính sách văn hoá quốc gia. Tuy nhiên, không có một cơ chế thoả thuận chính thức nào giữa hiệp hội và chính phủ. Các nghệ sĩ và tổ chức của họ tự phải liên hệ với công chúng và sức ảnh hưởng trực tiếp của họ cũng rất khiêm tốn. Trong suốt các kỳ họp Nghị viện tổ chức vào tháng 11 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Văn hóa tuyên bố rằng không một tổ chức nghệ sĩ nào có thể mong đợi  những thương lượng liên quan tới việc thực hiện kế hoạch 4 năm tới. Các tổ chức công đoàn của các nghệ sĩ và các nhà sáng tạo chuyên nghiệp sẽ  không nhận được bất kỳ sự trợ cấp cơ cấu nào.

Chính phủ hỗ trợ cho các tổ chức dịch vụ dành cho nghệ sĩ như là Kunstenaars & Co (các doanh nhân văn hoá và nghệ sĩ). Năm 2004, Bộ trưởng đă khẳng định rằng các nhóm nghệ sĩ có tổ chức sẽ không nhận được trợ cấp tài chính từ chính phủ. Chưa có quyết định chính thức nào và tranh luận vẫn tiếp diễn. Bản chất của cuộc tranh luận là các công đoàn và nhóm trấn áp không thể phụ thuộc về tài chính vào những người cầm đầu chính trị và đồng thời lại phê b́nh chỉ trích họ. Các tổ chức nghệ sĩ nhấn mạnh rằng họ có nhiệm vụ thông tin 2 chiều rất đáng giá (từ chính trị tới văn hoá và ngược lại) mà họ không thể tự tài trợ cho ḿnh.

8.2 Những khuynh hướng tham gia và số liệu

Nghiên cứu về số lượng tham gia các hoạt động văn hoá, sử dụng các phương tiện truyền thông và các hoạt động giải trí có một truyền thống lâu dài ở Hà Lan. Những nghiên cứu đầu tiên được thực hiện trước những năm 1970, các khảo sát thường kỳ trên quy mô rộng do Pḥng kế hoạch văn hoá và xă hội (SCP) được thành lập năm 1973 thực hiện. Một trong những nhiệm vụ chính là tiến hành các nghiên cức khoa học về xu hướng văn hoá và xă hội. Các kết quả cho thấy một mối liên hệ mật thiết giữa sự quan tâm về văn hoá- đặc biệt là t́m hiểu về văn hoá truyền thống và giáo dục. Tất cả các yếu tố khác đều cân bằng, nền giáo dục tốt hơn cho thấy có mối quan tâm lớn hơn phần kém giáo dục. Tŕnh độ giáo dục ở Hà Lan tăng đáng kể từ năm 1970. Vào năm 1975 chỉ có 8% dân số hoàn thành giáo dục đại học hoặc cao hơn (Hogeschool bằng tiếng Hà Lan, Hochschule bằng tiếng Đức). Đến năm 2000, tỷ lệ này đă tăng lên 22%. Nếu nền giáo dục Hà Lan ở cấp độ cao hơn th́ có thể mối quan tâm đối với văn hoá truyền thống của mỗi người dân sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, sự mong đợi này vẫn chưa được thoả măn. Lư do quan trọng là những sở thích khác nhau của người già và trẻ. Nói chung, con người không biểu lộ mối quan tâm về văn hoá truyền thống như nhạc cổ điển, opera, nghệ thuật h́nh ảnh cho tới khi về già. Mức tuổi mà mọi người bắt đầu quan tâm tới văn hoá truyền thống cũng tăng dần theo các năm: năm 1995 là thời điểm bước ngoặt- tuổi mà một người bắt đầu đi xem các loại h́nh văn hoá truyền thống trên mức trung b́nh là khoảng 40; 4 năm sau mức này đă tăng lên 45 tuổi (SCR 2000, trang 502). Những khách tham quan chỉ quan tâm tới văn hoá truyền thống chiếm một tỷ lệ nhỏ dân số Hà Lan. Mối quan tâm riêng này phần lớn cũng nằm ở những người già với tŕnh độ văn hoá cấp 2 trở lên. Ngược lại, tỷ lệ dân số quan tâm tới văn hoá phổ biến tăng từ 1/5 năm 1983 lên  năm 1999. Đặc biệt ấn tượng là sự quan tâm mạnh mẽ của những người trẻ với tŕnh độ văn hoá từ cấp 2 trở lên.

Phần lớn khán giả của văn hoá là những người thích “tạp nham” tức là họ xem cả các thể loại văn hoá truyền thống và hiện đại và có thể thay thế 2 h́nh thức này cho nhau. Tuy nhiên, thành phần của 2 h́nh thức này đă thay đổi. Thay đổi lớn nhất diễn ra ở giới trẻ với tŕnh độ văn hoá từ cấp 2 trở lên. Tỷ lệ xem văn hoá truyền thống vào năm 1983 là tương đương với tỷ lệ văn hoá hiện đại, nhưng đến năm 1999 đă giảm xuống 1 nửa. ở thế hệ già với tŕnh độ văn hoá tương đương th́ trong danh mục các loại h́nh văn hoá họ quan tâm, so với năm 1983 tỷ lệ văn hoá hiện đại vào năm 1999 nhiều hơn, tuy nhiên các loại h́nh văn hoá truyền thống chiếm ưu thế.

Một trong những nguyên nhân của việc khuyến khích giáo dục nghệ thuật ở trường học cũng như khởi động kế hoạch hành động văn hoá năm 2000 là giới trẻ ngày càng thờ ơ với văn hoá truyền thống. Một lư do khác là các dân tộc thiểu số bị miêu tả lệch lạc với du khách của các tổ chức văn hoá, đặc biệt với người Thổ và Maroc, cho tới số ít  dân nhập cư từ các thuộc địa cũ của Hà Lan ở  Surinam và Antilles hiện vẫn là một phần của Vương quốc Hà Lan. 

Những kết quả đầu tiên của cuộc điều tra văn hoá năm 2003 đă được đưa ra. Những kết quả này rất đáng khích lệ.T́nh trạng già hoá khán giả của văn hoá truyền thống dường như đă chấm dứt. Lượng khách tham quan bảo tàng thuộc lứa tuổi nhỏ tăng đáng kể. Các nhóm du khách người dân tộc thiểu số tới thăm bảo tàng và các địa điểm nghệ thuật biểu diễn cũng tăng

Bảng 5:  Số lượng khách tham quan các điểm văn hoá theo tuổi và chủng tộc: dân số từ 12 tuổi trở lên (theo tỷ lệ, ít nhất 1 khách trong 12 tháng)

 

Bảo tàng

Nghệ thuật biểu diễn*

1991

1995

1999

2003

1991

1995

1999

2003

Dân số  ≥12 tuổi

40

34

36

37

25

27

25

25

12-17 tuổi

48

43

43

50

20

18

20

20

18-34 tuổi

40

31

28

27

24

24

22

22

35-49 tuổi

43

38

39

39

28

30

24

25

50-64 tuổi

39

36

43

43

28

33

34

31

≥65 tuổi

30

27

34

33

22

23

27

25

Dân tộc thiểu số**

 

17

15

22

 

10

8

14

Nguồn:      Báo cáo văn hóa và xă hội năm 2004
*                 "nghệ thuật biểu diễn truyền thống, ví dụ sân  khấu chuyên nghiệp, nhạc cổ điển và balê

**              do người Thổ Nhĩ Kỳ, Maroc, Surinam hoặc Antillian truyền lại

Việc phần lớn quỹ thời gian dành cho các phương tiện truyền thông dành cho truyền h́nh không có ǵ đáng ngạc nhiên. Truyền h́nh là phương tiện giải trí chiếm ưu thế ở Hà Lan giống như phần c̣n lại của thế giới công nghiệp hoá. Điều gây ấn tượng là thời lượng dành cho TV chỉ tăng nhẹ kể từ năm 1985. Trước đó, người Hà lan chỉ có 2 kênh tiếng Hà Lan ( một số người có cả kênh Flemish). Cuối thập kỷ 80 và 90 số lượng kênh tăng đáng kể  chủ yếu là nhờ các kênh thương mại. Giờ đây, có trên chục kênh tiếng Hà Lan để chọn lựa. Những người có tŕnh độ giáo dục thấp hơn thường xem TV nhiều hơn những người có giáo dục tốt, nhưng sự khác biệt giữa hai nhóm này càng ngày càng nhỏ đi vào 20 năm cuối thế kỷ 20. Giới trẻ bỏ nhiều thời gian xem các kênh thương mại hơn là các kênh công cộng. Thời gian nghe đài đă giảm liên tiếp kể từ năm 1975. Sụt giảm lớn nhất diễn ra ở nhóm trẻ tuổi. Điều này là do xu hướng sử dụng Internet để có thể dễ dàng download và nghe nhạc đang gia tăng.

Từ sau cuộc khảo sát văn hoá đầu tiên vào năm 1975, người ta thấy rằng thời gian dành cho đọc giảm xuống. Điều này tất nhiên liên quan tới phương tiện truyền thông trên giấy, khi mà việc sử dụng TV và máy vi tính đă chiếm phần lớn khối lượng đọc. Đọc sách có sự suy giảm mạnh nhất: trong khi dân số Hà Lan đọc sách trung b́nh 1.6 tiếng 1 tuần vào năm 1975, năm 2000 giảm xuống c̣n 1 nửa xuống 0.9 tiếng 1 tuần. Sự suy giảm này được nhận thấy đầu tiên ở giới trẻ, nhưng từ năm 1995 thời gian dành cho đọc sách ở những người già hơn- tuổi từ 35 trở lên cũng sụt giảm. Nghiên cứu trước đó cho thấy thời gian xem TV một phần từ thời gian đọc sách báo trước đó. Tuy nhiên, thời gian xem truyền h́nh không tăng trong ṿng 5 năm qua v́ vậy có thể là không phải là TV mà là máy tính cá nhân được kết nối Internet mới là cái ngốn thời gian từ  việc đọc sách báo và tạp chí.

Việc sử dụng máy tính cá nhân và đặc biệt là Internet đă tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Năm 2004 trên 70% gia đ́nh Hà Lan đă kết nối Internet.  Giới trẻ từ12-19 đi đầu trong việc sử dụng máy tính và Internet. Từ 1995 đến 2000 tỷ lệ người Hà Lan sử dụng máy tính và Internet vào thời gian rảnh gần như tăng gấp đôi từ 23% lên 45%. Nếu quỹ thời gian gian dành cho truyền thông không đổi trong suốt  giai đoạn này là không đổi- 19 tiếng một tuần, th́ đây là thời gian dành để xem TV và đọc sách. Mặc dù giữa việc sử dụng máy tính và Internet với học tập có mối quan hệ tích cực, nhưng sự khác biệt giữa nhóm người tŕnh độ văn hoá thấp với nhóm có tŕnh độ văn hoá cao hơn nhỏ hơn với trường hợp khách tham quan các điểm văn hoá.

Bảng 6:     Lượng sử dụng các phương tiện truyền thông: truyền h́nh (inc. video, và tin tức truyền h́nh cáp), nghe đài (inc. audio), đọc, sử dụng máy vi tính(inc. Internet) là một hoạt động chính, dân số tham gia từ 12 tuổi trở lên, tính từ năm1975-2000 (tính theo %, số giờ 1 tuần)

 

1975

1980

1985

1990

1995

2000

Sử dụng phương tiện truyền thông (số giờ trên tuần)

18.5

17.8

19.0

18.8

18.8

18.7

Xem truyền h́nh

10.2

10.3

12.1

12.0

12.4

12.4

Nghe đài

2.2

1.8

1.4

1.2

0.8

0.7

Đọc các sản phẩm truyền thông bản in

6.1

5.7

5.3

5.1

4.6

3.9

Vi tính và Internet

 

 

0.1

0.5

0.9

1.8

 

 

 

 

 

 

 

Sử dụng phương tiện truyền thông: tỉ lệ tham gia (%)

99

100

100

100

99

99

Xem truyền h́nh

94

96

98

97

96

97

Nghe đài

68

60

52

50

41

36

Đọc các sản phẩm truyền thông bản in

96

95

94

91

89

84

Vi tính và Internet

 

 

4

13

23

45

 

 

 

 

 

 

 

Người tham gia sử dụng phương tiện truyền thông (số giờ trên tuần)

18.6

17.9

19.0

18.9

18.9

18.8

Xem truyền h́nh

10.9

10.8

12.4

12.4

12.9

12.7

Nghe đài

3.2

3.0

2.7

2.4

2.1

1.8

Đọc các sản phẩm truyền thông bản in

6.4

6.0

5.7

5.6

5.2

4.7

Vi tính và Internet

 

 

3.5

3.7

4.0

3.9

Nguồn:      Huysmans and De Haan 2001, p. 77

Nghệ thuật và văn hoá đă đứng vững được trước áp lực cạnh tranh từ các ngành công nghiệp giải trí. Số lượng khách tới tham các buổi biểu diễn nghệ thuật, bảo tàng, các di tích lịch sử đă tăng từ thập kỷ 80. Lượng khách tới xem nghệ thuật và văn hoá hiện đại tăng nhanh chóng; nhạc pop rock là 72%, cabaret là 27% và phim kịch là 18%. Nghệ thuật và văn hoá truyền thống cũng được quan tâm nhiều hơn mặc dù mức độ này thấp hơn: nhà hát và múa balê là 15%, bảo tàng 7%, nhạc cổ điển 6%. Mức độ thường xuyên của khách tham quan các điểm văn hoá nghệ thuật vẫn không đổi kể từ những năm 1980. Điều đáng lo duy nhất là thời gian dành cho việc đọc bị giảm đi, mặc dù thời gian đọc sách văn học không giảm giữa các năm 1995 và 2005 (xem Bảng 7).

Bảng 7:     Các khuynh hướng trong cách tiếp cận  văn hoá giai đoạn 1983-2003.

Dựa trên % số người đến thăm ít nhất một lần trong ṿng 12 tháng

Năm

1983

1987

1991

1995

1999

2003

Viện bảo tàng

100

111

116

98

105

107

Các ṭa nhà lịch sử

100

103

115

100

97

104

Nhà hát

100

102

110

110

119

111

Nhà hát chuyên nghiệp

100

102

108

109

116

115

Balê

100

124

108

99

100

115

Hộp đêm

100

97

102

101

125

127

Nhạc cổ điển

100

113

123

133

115

106

Nhạc thịnh hành

100

113

134

138

153

172

Rạp chiếu phim

100

93

95

101

112

118

Dựa trên % số người xem và/hoặc nghe ít nhất một lần trong ṿng 12 tháng

Các chương tŕnh nghệ thuật trên đài và

100

114

110

100

90

99

Dựa trên % số người biểu diễn nghệ thuật ít nhất một lần trong ṿng 12 tháng

Nghệ thuật h́nh ảnh

100

97

107

72

82

85

Chơi nhạc cụ và /hoặc hát

100

102

125

96

119

95

Nhà hát

100

98

98

66

102

58

Dựa trên % số người đọc ít nhất 15 phút vào tuần trước khi sản phẩm phát hành :

Năm

1980

1985

1990

1995

2000

 

Sách

100

92

92

80

65

 

Tạp chí

100

97

87

89

74

 

Báo

100

96

90

85

76

 

Nguồn:      Huysmans, Van den Broek,  and De Haan (2005)

 8.3 Các chương tŕnh, chính sách khuyến khích tham gia sinh hoạt văn hoá

Một trong số những chính sách của chính phủ nhằm khuyến khích sự tham gia các hoạt động văn hoá, đặc biệt là trong giới trẻ và những người kém may mắn hơn trong xă hội đó là:

§              Hộ chiếu văn hoá cho thanh niên: Nhằm khuyến khích công chúng tham gia vào các hoạt động văn hoá, chính phủ đă đưa ra Hộ chiếu văn hoá cho thanh niên. ư tưởng này là hạ thấp chi phí tham gia các hoạt động nghệ thuật. Những người dưới 26 tuổi sẽ được giảm tiền vé vào các nhà hát, rạp chiếu phim và bảo tàng.

§              Hộ chiếu thành phố: Những người có Hộ chiếu  thành phố cũng sẽ được chiết khấu khi tham gia. Hộ chiếu này được cấp cho những người không có nhiều điều kiện cụ thể là người về hưu và thuộc diện an ninh xă hội.

§              Vé tháng vào bảo tàng: Loại vé này một năm  có giá 25 euro (năm 2004). Người có vé này sẽ được miễn phí vào phần lớn các bảo tàng ở Hà Lan. Tuy nhiên các bảo tàng đặc biệt th́ không được.

§              Các sự kiện miễn phí: Những năm trước, ngày cuối tuần cuối cùng của tháng thư đánh dấu một mùa văn hoá mới, mở đầu bằng lễ hội Uitmarkt ở  Amsterdam. Sự kiện này được miễn phí vào được tổ chức nhầưm thu hút khách tham quan vào đầu mùa văn hoá và đặc biệt quan trọng đối với các chương tŕnh biểu diễn nghệ thuật. Một số thành phố khác cũng có những chương tŕnh tương tự thế nhưng với quy mô nhỏ hơn như Architecture Weekend, Museum Weekend và Monument Day. Miễn phí vào cửa các viện, bảo tàng văn hoá trong những dịp này. Bắt nguồn từ chương tŕnh Berlin Museum Night, bảo tàng Amsterdam năm 2000 đă quyết định tổ chức một chương tŕnh thường niên tương tự như vậy vào ngày thứ 7 đầu tiên của tháng 11. Vào đêm đó, xe buưt và các phương tiện giao thông công cộng đều được dành để phục vụ khách tham quan từ bảo tàng này đến bảo tàng khác.

§              Miễn phí tham gia với thanh niên: Một số bảo tàng, trong đó có các bảo tàng lớn như Rijksmuseum ở Amsterdam, bảo tàng Boijmans-Van Beuningen ở Rotterdam và bảo tàng "Het Mauritshuis" ở Hague, miễn phí đối với khách từ 19 tuổi trở xuống.

§              Văn hoá và trường học [Cultuur en School]: Đây là dự án nhằm khuyến khích giáo dục văn hoá và nghệ thuật xem . Mục đích của chương tŕnh với mỗi thành phố và trường học có thể khác nhau là để giới trẻ làm quen với các loại h́nh nghệ thuật khác nhau đồng thời tham gia vào các h́nh thức ở cấp độ khác nhau như tham gia chủ động: ví dụ như xem các vở kịch, tham gia tích cực (viết cảm tưởng về các vở kịch đă xem). Một chương tŕnh phát các vé đặc biệt đă được thực hiện ở trường học. Với các vé này sinh viên có thể tham gia biểu diễn ở trong các nhà hát hay các buổi hoá nhạc hay xem phim ở rạp chiếu bóng.

§              Kế hoạch hành động văn hoá: Để văn hoá nghệ thuật đến gần với càng nhiều khán giả, Ngoại trưởng Van der Ploeg đă phát động 1 chương tŕnh chính sách mới vươn tới 5 mục tiêu: nâng cao hiệu quả khâu tổ chức chương tŕnh; tạo nhiều không gian cho việc đa dạng văn hoá, đầu tư cho giới trẻ tạo điều kiện cho họ tham gia chủ động vào các hoạt động văn hoá đa dạng, tân trang cải tạo các di sản văn hoá và; tạo  điều kiện tốt nhất cho việc lập kế hoạch cải tạo các điểm văn hoá ở thành phố cũng như vùng nông thôn.

Một yếu tố mấu chốt của kế hoạch là vấn đề tài trợ vốn phối hợp của chính phủ, dựa trên cơ sở 1 hệ thống phù hợp. Chính quyền của 30 khu vực lớn và 12 tỉnh nữa được chính phủ mời tài trợ 50% vốn để xây dựng và đồng tài trợ chương tŕnh nhằm đảm bảo hiện thực hoá một hoạc nhiều hơn 5 mục tiêu cụ thể mà Chương tŕnh hành động văn hoá đă chỉ ra. Các chính quyền và tỉnh uỷ đă xem xét và đánh giá kế hoạch thực hiện mà các tổ chức văn hoá xây dựng ở thành phố hay địa phương họ. Bước đầu của Kế hoạch hành động, bắt đầu vào năm 2001 và kết thúc năm 2004, hiệu quả của nó sẽ được đánh giá vào năm 2005. Trong khi đó th́ Bộ trưởng văn hóa Van der Laan đưa Kế hoạch hành động vào chính sách năm 2003 của ḿnh, chủ yếu nhằm củng cố tham vọng của ḿnh tập trung vào vùng đô thị và các khu vực. Bước 2 của kế hoạch bắt đầu vào năm 2005 và sẽ kéo dài đến năm 2008. Bộ máy tổ chức của kế hoạch cũng được đơn giản hoá. Các khu vực và tỉnh thành phải tiến hành dự toán chí phí của ḿnh một lần vào năm 2008 (thay v́ làm mối năm 1 lần). Quan trọng hơn có lẽ là các khu vực được quyền lựa chọn chương tŕnh và mục tiêu riêng, miễn là phải phù hợp với mục tiêu chung của Kế hoạch là “nâng cao kiến thức văn hoá của mỗi công dân thông qua việc tăng dần lượng tham quan các công tŕnh văn hoá nghệ thuật và duy tŕ các hoạt động văn hoá nghệ thuật quần chúng”. Ngân sách hàng năm khoảng 28 triệu euro dành sẵn cho bước 2 của kế hoạch.

8.4 Các hội văn hoá nghệ thuật không chuyên

8.4.1 Nghệ thuật nghiệp dư

 

Nghệ thuật nghiệp dư là một hoạt động văn hoá xă hội quan trọng và h́nh thành nên một thành phần nghệ thuật quan trọng ở Hà Lan. Theo nghiên cứu của tổ chức Motivaction 2000, 36% dân số Hà Lan ở độ tuổi 15 đến 80 dành khoảng 50 phút 1 tuần cho việc tập tành văn nghệ nghiệp dư, chủ yếu là nghệ thuật h́nh ảnh và biểu diễn. Hầu hết các nghệ sĩ nghiệp dư thuộc một tổ chức hoặc một câu lạc bộ. Qua nhiều cuộc điều tra  càng khẳng định một điều là những người tham gia nghệ thuật nghiệp dư thích tham dự các buổi biểu diễn của các nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Nghệ thuật nghiệp dư là điểm khởi đầu để đạt được một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách văn hoá: là mở rộng phạm vi tham gia văn hoá của các cá nhân cả theo hướng chủ động và bị động. Điều này nhằm tăng cường sự tham gia của chính phủ vào các hoạt động nghệ thuật nghiệp dư. Năm 1985, Bản ghi nhớ về Giáo dục nghệ thuật, nghệ thuật nghiệp dư và chính sách nghệ thuật chỉ ra rằng chính sách của chính phủ là không ngừng đẩy mạnh và duy tŕ chất lượng nghệ thuật trong các loại h́nh nghệ thuật nghiệp dư và nâng cao chất lượng cũng như điều kiện giáo dục nghệ thuật. Một mục tiêu khác là tạo mối quan hệ mật thiết giữa sân khấu nghệ thuật của nhà trường và nghệ sĩ chuyên nghiệp. Sự kết hợp này đă khuyến khích sự phổ biến của nền văn hoá Hà Lan trong các chương tŕnh của nhà trường.

Có rất nhiều tổ chức chuyên nghiệp hỗ trợ các nghệ sĩ nghiệp dư ở Hà Lan. Như nhà hát Engelenbak đă cho phép các nhóm và nghệ sĩ nghiệp dư biểu diễn tại nhà hát của ḿnh (nằm ở một phố nhà hát ở  Amsterdam). Có 4 tổ chức quốc gia đại diện cho các nghệ sĩ nghiệp dư là: Unisono (nhạc), Trung tâm khiêu vũ nghiệp dư quốc gia, Hiệp hội nghệ thuật h́nh ảnh nghiệp dư và Theaternetwerk NL (kịch). Các tổ chức này được chính phủ tài trợ và chính phủ cũng là cầu nối giữa người nhà tài trợ và khán giả quen thuộc.

8.4.2 Gia đ́nh văn hoá, câu lạc bộ văn hoá cộng đồng

Hầu hết các thành phố là trụ sở của các hội nghệ sĩ. Những tổ chức như vậy có một truyền thống lâu đời, được thành lập từ thế kỷ 18, 19 như là hội nghệ sĩ Amsterdam -Arti et Amicitiae, hay một hội nghệ sĩ tương tự ở, Pulchri. Một số nhỏ thành viên không phải là nghệ sĩ, nhưng họ đóng phí hội viên cao hơn. Những thành phố nhỏ thường có các nhà văn hoá nơi diễn ra các hoạt động văn hoá từ các chương tŕnh học nghệ thuật và ngôn ngữ cho đến triển lăm, biểu diễn nghệ thuật và phim. Các nhà văn hoá thường có các tṛ dành cho trẻ con, quán cà phê, nhà hàng và pḥng đọc … Đôi khi, các thư viện công cộng nơi cung cấp các thông tin một cách tổng hợp nhất liên kết với các nhà văn hoá. Các chính quyền địa phương là nguồn hỗ trợ chính cho các nhà văn hoá.

 

 (Nguồn: Culturalpolicies)