1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Các yếu tố chính của chính sách văn hoá Hy Lạp và việc thực hiện các chính sách này hiện nay có thể được hiểu tốt hơn dưới ánh sáng của di sản, cũng như lịch sử gần đây. Hy Lạp nổi lên là một quốc gia liên bang vào đầu thế kỷ 19, với một nền di sản cổ đại lớn, cũng như các quan hệ ràng buộc cộng đồng mạnh mẽ dựa trên truyền thống đạo Cơ đốc giáo chính thống.

Sau cuộc chiến tranh giành độc lập nhằm chống lại đế chế Ottoman, đất nước được chính thức thành lập vào năm 1827 như một nhà nước có nền dân chủ với việc bầu cử chính phủ, hiến pháp và một quốc vương, (cho đến 1972), ban đầu là Triều đại Bavarian và sau đó là Triều đại Đan Mạch.

Dưới ảnh hưởng đặc biệt của Thời đại khai sáng, Hy Lạp đã chấp nhận các chính sách duy trì di sản văn hoá giáo dục kết quả là một chương trình giảng dạy quốc gia và một pháp chế nghiêm ngặt bảo vệ di sản khảo cổ học vẫn còn tồn tại qua thế kỉ 19 và cả thế kỉ 20.

Các tổ chức như Ngành khảo cổ Hy Lạp, Bảo tàng khảo cổ quốc gia, Thư viện quốc gia, Đại học Athens và Nhà hát quốc gia đã được dần dần thành lập trong suốt một thế kỉ. Văn học và nghệ thuật phát triển đã phản ánh các phong trào tây Âu đương thời, với việc phát triển mạnh mẽ các nhà tri thức và các nhà nghệ thuật Hy Lạp.

Thế chiến thứ 2, và cuộc nội chiến đẫm máu sau đó đã để lại một Hy Lạp – một chính thể về xã hội và kinh tế – trở nên tan vỡ. Sự phân hoá sâu sắc giữa phe thắng trận và phe bại trận, cùng với việc gia tăng các nhóm chính trị và số lượng các cuộc phê bình chính trị bị kéo dài, đã làm ảnh hưởng rõ rệt đến đời sống văn hoá. Các nhà văn và các nghệ sĩ chống lại sự thiết lập này thì không được hưởng các chương trình giúp đỡ của nhà nước, và một số bị ép buộc sống trong lưu đày ở các nước tây Âu mến khách hơn, đặc biệt nhất là nước Pháp. Các hiệp hội nhà văn và nghệ sĩ, các tổ chức văn hoá và các phương tiện truyền thông còn lại, như lệ thường, tách ra thành các giáo phái.

Dần dần mức sống đã được cải thiện, trong suốt những năm 1950 và 1960, âm nhạc đại chúng và ngành công nghiệp điện ảnh đã phát triển một cách mạnh mẽ. Quỹ tài trợ phát thanh  Hy Lạp (EIR) đã phát triển mạng lưới các trạm phát thanh địa phương, và Chương trình thứ 3 trở thành một tiêu điểm của âm nhạc tri thức (nhạc cổ điển, nhạc jazz, nhạc dân tộc) và cả những chương trình về văn học và nghệ thuật. Lễ hội ở thủ đô Athens, được tổ chức vào mỗi mùa hè tại rạp hát Herodes Atticus đã được phục hồi, trở thành một cuộc thi âm nhạc, múa ba-lê, biểu diễn kịch quốc tế thu hút được các thính giả Hy Lạp tới thưởng thức, trong khi đó Liên hoan phim Thessaloniki trở thành trung tâm cho điện ảnh Hy Lạp và cả các nhà sản xuất quốc tế. Các nhà văn được giải Nobel như Georges Seferis và Odysseas Elytis, các nhà viết nhạc như Mikis Theodorakis, và các công ty nhà  hát như Theatro Technis đã vượt lên các ranh giới về chính trị. Các tập san như Epitheorissi Technis, Nea Hestia, Epoches, Theatro và Zygos trở thành nơi thể hiện nghệ thuật và nơi thảo luận về văn học hay các nghệ thuật.

Những năm 1960, một số lượng đáng kể các bảo tàng khảo cổ học đã được xây dựng ở các thành phố chính hay gần những khu khảo cổ quan trọng, giải quyết được một số lượng lớn các di tích khảo cổ đã được tìm kiếm một cách có hệ thống và giải thoát cho các cuộc khai quật. Ngành khảo cổ Hy Lạp đã hoạt động qua cấu trúc phân quyền  của địa phương theo phong tục đời xưa. Thêm vào đó, thủ đô Athens đã cung cấp tiền cho Phòng trưng bày quốc gia, để đặt một bộ sưu tập đại diện cho thế kỉ 19 và 20 của hội hoạ và nghệ thuật điêu khắc của Hy Lạp.

Ban đầu, trách nhiệm về văn hoá và chính sách văn hoá đã được phân chia giữa các bộ khác nhau thuộc Chính phủ như Bộ Giáo Dục, Bộ Nội vụ và Bộ Công trình công cộng. Bộ Văn hoá và Khoa học riêng rẽ đã được thành lập năm 1971, khi Hy Lạp dưới quyền một Đảng quân sự. Sau sự phục hồi quyên lực dân chủ và đời sống văn hoá trở nên bình thường năm 1974, Bộ đã giành được quyền lực. Các  Bộ trưởng mới đã được bổ nhiệm, những người này được lấy từ các nhà chính trị chuyên nghiệp, bao gồm một số tri thức và nghệ sĩ nổi tiếng, như nữ nghệ sĩ Melina Mercouri người đã có vị trí là Bộ trưởng trong một thời gian dài (từ năm 1981 đến 1989,và lại trúng tiếp nhiệm kỳ từ năm 1993 đến 1995) đã am hiểu các yếu tố chính của chính sách văn hoá hiện hành.

Các thử thách mà các Bộ phải đối mặt trong suốt những năm 1980 và những năm 1990 là:

Việc bảo tồn và việc bình ổn giá cho di tích khảo cổ của thủ đô Athens và các thành phố lớn khác, trước sự đe doạ của tốc độ đô thị hoá; và

- Nhu cầu giúp đỡ việc mở rộng khu vực văn hoá và mở thêm các hoạt động tham gia vào đời sống văn hoá không chỉ ở thủ đô Athens, mà còn phát triển thêm ở các vùng; và

- Các chính sách văn hoá của Hy Lạp với tầm quốc tế, được nhấn mạnh bởi sự cho phép của Hy Lạp như một thành viên của Hội đồng châu Âu sau sự sụp đổ của nên chuyên chính quân sự năm 1974, và đặc biệt là sự tham gia vào liên minh châu Âu năm 1981.

Mặc dù sau các nỗ lực liên tiếp của các Bộ trưởng, ngân sách của Bộ văn hoá vẫn được xem là một phần nhỏ của ngân sách liên bang. Một vài mối đầu tư công cộng có liên quan đến nghệ thuật hay di sản được các Bộ cung cấp (Chính quyền công cộng, Các công trình công cộng, Báo chí và phương tiện truyền thông). Tuy thế, văn hoá vẫn phụ thuộc vào quỹ của Tổ chức giúp đỡ của Cộng đồng châu Âu, doanh thu từ các đoàn khách đến thăm các khu di tích khảo cổ và các bảo tàng (bao gồm cả việc bán sách, tranh ảnh và các sản phẩm khảo cổ giả) qua Quỹ Khảo cổ học, và, từ giữa thập niên 90, vào Quỹ Xổ số, được Bộ văn hoá quản lý. Trong thực tế, các chương trình chính của Vốn văn hoá Thessaloniki của châu Âu (năm 1997), cũng không thể thực hiện được ngoại trừ sự giúp đỡ của họ.

Tăng thêm nhu cầu bảo vệ di sản khảo cổ và việc bình ổn giá đã được chấp nhận, dưới cương vị quản lý của Melina Mercouri, bằng sự bắt đầu của các sáng kiến phục hồi như chương trình phục hồi các di tích Acropolis, và đưa ra một chiến dịch quốc tế thống kê bộ Parthenon bằng đá cẩm thạch cùng với việc thành lập Bảo tàng Acropolis. Một chương trình tổng thể về việc thống nhất các khu khảo cổ của thủ đô Athens đã được chấp nhận  đầu những năm 1990, và các dự án hiện đang di vào giai đoạn hoàn thành việc phục hồi các di tích, thiết lập các tiện nghi cho các du khách tham quan, tạo các đường dành cho người đi bộ và sửa lại giao thông để các khách tham quan có thể có đường riêng vào các khu khảo cổ hấp dẫn của người Athens.

Sự thay đổi về việc phân quyền vào đầu những năm 80 đã  tạo ra các tổ chức nhà hát địa phương và các cơ sở hạ tầng nghệ thuật địa phương. Vào giữa những năm 90, Mạng lưới văn hoá quốc gia của các thành phố đã được thiết lập, bao gồm các trung tâm địa phương biểu diễn và các nghệ thuật nghe nhìn. Sự lựa chọn Thessaloniki như thủ đô văn hoá châu Âu của năm 1997 cung cấp vị trí cho việc mở rộng cơ sở hạ tầng văn hoá của thành phố. Một chương trình toàn quốc , “Phạm vi của văn hoá”, đã đưa ra các hoạt động văn hoá chính và các tổ chức qua Hy Lạp với 10 mạng lưới có liên quan, từ điện ảnh, khiêu vũ và nhiếp ảnh đến quản lý nghệ thụât và văn hoá quần chúng. Các bộ phận chính quyền của các vùng và địa phương , hay sự tồn tại của luật lệ dưới việc thực thi hiến pháp của mình đã cam kết tăng cường các hoạt động liên quan đến sự phát triển cơ sở hạ tầng và các chương trình nghệ thuật. Các trách nhiệm mới đã được phác thảo theo chương trình hàng năm thoả thuận với Bộ văn hoá. Các hoạt động văn hoá khác cũng được chuyển nhượng từ Bộ văn hoá đến các tổ chức riêng lẻ dưới sự đỡ đầu, như Trung tâm chiếu phim Hy Lạp và Trung tâm sách quốc gia.

Người Hy Lạp tích cực tham gia vào các chương trình hợp tác với châu Âu, Đông Nam châu Âu hay miền Địa Trung Hải. Trong suốt những thập kỉ qua,  hợp tác quốc tế về ban hành chính sách đóng vai trò rất quan trọng, Hy Lạp đã trở thành thành viên của mạng lưới chính sách văn hoá quốc tế liên chính phủ (INCP) và tham gia tích cực các  hoạt động của UNESCO và Hội đồng châu Âu.

   

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lí

2.1 Mô tả chung về hệ thống

Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm toàn bộ về chính sách trong lĩnh vực nghệ thuật và di sản văn hoá. Thể thao cũng dưới phạm vi quyền lực của Bộ.

Dựa trên nền tảng của hiến pháp, Quốc hội Hy Lạp đóng một vai trò đáng kể trong các vấn đề văn hoá, điều đặc biệt là, qua luật pháp về các vấn đề gắn liền với di sản và văn hoá nghệ thuật được Bộ văn hoá giới thiệu. Thêm vào đó, Uỷ ban thường trực về giáo dục và văn hoá cũng có một vai trò quan trọng trong việc quản lý thực thi các chính sách, các chương trình của Bộ văn hoá và các cơ quan trực thuộc Bộ; các vấn đề có liên quan đến chính sách văn hoá ngoại quốc.

Một vài phòng ban của các Bộ và chính phủ đóng một vai trò trong việc phát triển và thực thi các chính sách và chương trình văn hóa, nghệ thuật và phương tiện truyền thông bao gồm:

-   Bộ báo chí và phương tiện truyền thông đa phương tiện;

- Bộ Văn hoá và Bộ môi trường, quy hoạch và công trình công cộng đang cùng nhau chịu trách nhiệm về việc bảo vệ kiến trúc và di sản tự nhiên;

Bộ Ngoại giao;

Tổng thư ký của người Hy Lạp ở nước ngoài;

Bộ Giáo dục và các vấn đề tôn giáo (với các phòng ban chịu trách nhiệm về các giáo phái tôn giáo);

- Tổng thư ký: về giáo dục công cộng và thanh niên;

Đơn vị quản lý đa Giáo dục, Giáo dục qua phát thanh truyền hình, Cơ quan lưu trữ và các thư viện công cộng;

Bộ Phát triển (có một vai trò quan trọng trong việc tổ chức các lễ hội); và

-   Tổ chức du lịch quốc gia.

Bộ Văn hoá gồm có 4 Ban tổng:

Ban di sản văn hoá và di tích cổ;

Ban Bảo tàng và công trình kĩ thuật;

Ban Văn hoá đương đại;

Ban hỗ trợ hành chính (bao gồm các Ban Hiệp hội châu Âu và các mối quan hệ quốc tế). Họ cùng nhau chịu những trách nhiệm chung sau:

Soạn thảo và thực thi pháp luật;

-    Định nghĩa và thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu;

Quỹ tài trợ, chương trình , kế hoạch chiến lược;

Các chương trình và các hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn và bình ổn giá di sản văn hoá (bao gồm khảo cổ học, bảo tàng, và văn hoá dân gian); và

-   Chuẩn bị chính sách cho các lĩnh vực sách, văn học, nghệ thuật trực quan (bao gồm nhiếp ảnh, thiết kế, và truyền thông số), kỹ thuật điện ảnh, âm nhạc, rạp hát, khiêu vũ, và nghệ thuật biểu diễn.

Bộ văn hoá tham gia vào việc sửa soạn, đặt kế hoạch, tài trợ, kiểm soát và/ hoặc thực thi chính sách văn hoá thông qua các cơ quan rộng khắp, như Trung tâm sách quốc gia, Trung tâm chiếu phim Hy Lạp, Quỹ quản lý tín dụng cho công việc khảo cổ học, Đội quân hợp nhất các khu khảo cổ ở Athens, Đội quân cứu tế cho Tổ chức văn hoá Hy Lạp, và Tổ chức Sở hữu trí tuệ Hy Lạp.

Bộ cũng đã thành lập một phòng đặc biệt chịu trách nhiệm về việc bảo tồn di sản văn hoá: các di tích cổ Epho dưới nước, Các bộ sưu tập tư nhân về Epho, Ban phục hồi các di tích vệ thành và một số bảo tàng khảo cổ mang tính đặc trưng địa phương(Khảo cổ quốc gia; Điêu khắc; Tiến đúc; Byzantine; Bảo tàng khảo cổ Heraklion; Bảo tàng khảo cổ Thessaloniki; Bảo tàng Văn hóa đế chế La mã Thessaloniki).

Một vài ban ngành địa phương của Bộ văn hoá chịu trách nhiệm về việc thực thi chính sách bảo vệ, bảo quản, bình ổn giá các di sản khảo cổ, cụ thể là, 25 Di tích cổ và tiền sử Epho, 14 di tích Epho của thời đế chế La mã và 8 bảo tàng Epho đương đại.

Một vài phòng trưng bày và bảo tàng công cộng hoạt động từ Bộ mặc dù phụ thuộc hầu hết vào quỹ tài trợ của chính phủ. Những tổ chức này bao gồm: Phòng trưng bày Alexandro, Bảo tàng Soutzo, Bảo tàng nghệ thuật đương đại quốc gia, Bảo tàng nghệ thuật đương đại ở Thessaloniki. Các quỹ và hiệp hội hoạt động phi lợi nhuận như Bảo tàng Benaki, Bảo tàng Cycladic, Trung tâm nghệ thuật đương đại của người Maxêđôni ở Thessaloniki, và Quỹ tài trợ thế giới Hy Lạp, đóng một vai trò bổ sung quan trọng trong lĩnh vực văn hoá và di sản nghệ thuật.

Bộ Văn hoá giúp đỡ việc phát triển văn hoá địa phương và nghệ thuật. Các tổ chức rạp hát địa phương, các rạp chiếu phim thuộc thành phố, các trung tâm văn hoá và các tổ chức tương tự khác được xem như một phần của Mạng lưới văn hoá quốc gia và/ hay là mạng lưới lĩnh vực văn hoá (được Đội cứu tế Tổ chức văn hoá Hy Lạp) và cũng được Bộ Văn hoá tài trợ, và hoạt động dưới các chương trình dài hạn giữa các đô thị tự trị và Bộ. Trong phần lớn các trường hợp, chỉ những tổ chức hoạt động như các đại lí của chính quyền địa phương, dưới sự kiểm soát quản lý có hiệu quả. Tuy nhiên, một số lượng lớn nghệ thuật dân gian, dân tộc học, nghệ thuật ứng dụng hay các bảo tàng lịch sử đều được Bộ Văn hoá giúp đỡ về tài chính.

2.2 Hợp tác giữa các bộ ngành và giữa các cấp chính quyền

Một trang Web hợp nhất các mối quan hệ giữa các bộ khác nhau về chính sách văn hóa ở Hy Lạp. Ngoại trừ Bộ Văn hoá, chịu trách nhiệm về các lĩnh vực đặc biệt, trong số đó có Bộ Giáo dục và các vấn đề tôn giáo, Bộ Xuất bản và Truyền thông, và Bộ Ngoại giao. Thêm vào đó, ngân sách của Bộ Văn hoá và tất cả các bộ khác được chuyển đến ở Mục 2.1 và được Bộ kinh tế tán thành. Đáng kể là quỹ tài trợ phát triển văn hoá địa phương, từ các nguồn hỗ trợ của quốc gia hay là Hiệp hội châu Âu, đều được bộ kinh tế, Bộ Nội vụ, Cơ quan phân quyền và sự ban cấp công cộng, hay là chính quyền địa phương quản lý.

Bộ Văn hoá và các cơ quan  thành lập và tham gia vào một số uỷ ban đa bộ hay các chương trình chung như:

Hỗ trợ việc nghiên cứu Hy Lạp hiện đại ở nước ngoài là một lĩnh vực của sự hợp tác liên bộ của Bộ Giáo dục và các vấn đề tôn giáo, Bộ ngoại giao, Ban thư kí người Hy Lạp ở nước ngoài và Quỹ tài trợ văn hoá Hy Lạp;

- Chương trình giáo dục nghệ thuật “Melina”, được hoạt động chung với bộ giáo dục và các vấn đề về tôn giáo;

- Các chương trình dành cho người dân Roma, các chương trình trao đổi về tính đa dạng về văn hoá các vùng.

-Giám sát chung các tổ chức hoạt động lâu dài, như Đội quân hộ nhất các khu vực khảo cổ ở Athens với Bộ môi trường, kế hoạch và công trình công cộng.

-     Hợp tác với Phòng Kế hoạch về kiến trúc và bảo tồn và và dự án phong cảnh văn hoá(ví dụ như , Rhamnous, Patmos); và

-   Các nỗ lực phối hợp trong sự chuẩn bị cho thế vận hội mùa hè ở Athens 2004, kéo theo cả uỷ ban tổ chức thế vận hội Athens 2004, Bộ kế hoạch và một vài phòng ban khác.

Thực tế việc phối hợp thực thi các chính sách phát triển văn hoá với chính quyền địa phương và các tổ chức văn hoá độc lập làm được có thể là qua Lãnh thổ của văn hoá, cấu trúc đa mạng lưới đem lại cùng nhau:

23- Mạng lưới văn hoá quốc gia của các thành phố đã phân tán đến tất cả các vùng ở Hy lạp ; và

- Khu vực nắm giữ chủ đạo của mạng lưới là các tổ chức của các thủ đô, vùng, địa phương ở các lĩnh vực như nhà hát, nghệ thuật trực quan, khiêu vũ, chiếu phim, nhiếp ảnh, nghệ thuật dân gian, sách,kiến trúc, và tổ chức và quản lý văn hoá.

2.3 Hợp tác quốc tế về văn hóa

 

81 chương trình và hiệp định văn hóa song phương đã tạo nên cơ sở cho các quan hệ văn hóa quốc tế. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có nhiều diễn biến làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của việc thực hiện các hiệp định này. Điều đó dẫn đến xuất hiện một số hình thức hợp tác mới, ví dụ như những thay đổi trong lĩnh vực văn hóa ở Đông và Đông Nam châu Âu do sự sụp đổ của hệ thống cộng sản, xu hướng chuyển giao trách nhiệm về văn hóa từ nhà nước cho các tổ chức độc lập, và sự xuất hiện của các hình thức hợp tác đa dạng và xuất hiện ngày càng nhiều các cơ hội tài trợ - đáng chú ý là từ liên minh châu Âu. Dưới đây là một số xu hướng:

-     Xu hướng nhấn mạnh đến các chương trình hợp tác vùng ở châu Âu, Địa Trung Hải, Adriatic, Đông Nam Âu hoặc vùng Biển Đen do Liên minh châu Âu và Hội đồng châu Âu cùng tài trợ (theo các chương trình hợp tác đa phương).

Các tổ chức độc lập đóng một vai trò tích cực trong việc hợp tác văn hóa quốc tế, trong việc tổ chức các sự kiện và lễ hội văn hóa, dịch các tác phẩm văn học, truyền bá ngôn ngữ Hy Lạp, và bảo tồn di sản, ví dụ như Trung Tâm Văn hóa châu Âu Delphi, Quỹ Văn hóa Hellentic, Trung tâm sách Quốc gia, Trung tâm châu Âu về các công trình Byzantine. Các tổ chức phi lợi nhuận như Quỹ Alexandros A. Onassis, và một số công ty tư nhân cũng tham gia tích cực vào việc tài trợ cho hoạt động trao đổi văn hóa quốc tế, ví dụ như các lễ hội và các buổi hòa nhạc;

- Từ những năm 1980, Cộng đồng người Do thái gốc Hy Lạp ngày càng được quan tâm và ngày càng được biết đến nhiều hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này dẫn đến việc ban hành các chính sách linh hoạt nhằm thúc đẩy không chỉ lợi ích của các thế hệ thứ hai và thứ ba của người Do Thái, mà còn thừa nhận những đóng góp của họ đối với Hy Lạp, và vai trò của họ trong việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và hợp tác văn hóa giữa các nước với Hy Lạp. Điều này đặc biệt quan trọng khi mà rất nhiều người Hy Lạp muốn hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật hoặc học vấn tại một nước khác.

Tính quốc tế của các chính sách đối nội, hoạt động văn hóa, và nhu cầu kết hợp chính sách văn hóa trong nước với chính sách văn hóa đối ngoại giờ đây đã được thừa nhận đầy đủ. Thực tế đã thừa nhận, văn học và di sản văn  hóa Hy Lạp, việc bảo tồn chúng, không thể tách khỏi di sản văn hóa châu Âu, Đông Nam Âu và vùng Địa Trung Hải, cũng như không thể tách khỏi việc hợp tác với các tổ chức văn hóa nước ngoài;

-   Cuối cùng, việc lập kế hoạch và phân bổ các nguồn lực cho việc hợp tác văn hóa quốc tế và các chương trình trao đổi quốc tế ngày càng liên quan nhiều hơn đến những ưu tiên và mục tiêu của chính sách ngoại giao để hỗ trợ dân chủ và xây dựng thể chế trong khu vực Nam Âu, và để thúc đẩy các quan hệ văn hóa, thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa Hy Lạp với các đối tác quốc tế lớn.

Bộ Văn hóa Hy Lạp, trong quá trình hợp tác với bộ văn hóa của các nước khác, đã hỗ trợ cho rất nhiều chương trình nghiên cứu của nước ngoài về Hy Lạp hiện đại, cũng như cho các tổ chức văn hóa Hy Lạp, các sự kiện và lễ hội trên toàn cầu. Một chính sách bổ sung cũng đã được ban hành nhằm thúc đẩy hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ giữa các cộng đồng Do thái gốc Hy Lạp, ước tính có khoảng 8.5 triệu người – sống tại Mỹ, úc, Canada, Đức và các nơi khác.

   

3. Mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hóa

  3.1 Các yếu tố của mô hình chính sách văn hóa hiện nay

 

Hy Lạp thực hiện chính sách văn hóa theo mô hình hỗn hợp. Chính phủ vẫn giữ vai trò chính trong việc ban hành và thực hiện các ưu tiên chính sách văn hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực di sản văn hóa. Tuy nhiên, nhiệm vụ xây dựng và thực hiện các chương trình cụ thể thì có xu hướng thuộc thẩm quyền của các ngành và địa phương. Việc ban xây dựng và thực hiện các chương trình cụ thể phải có sự phối hợp với chính quyền địa phương và tuân thủ nguyên tắc độc lập, không cần phải tuân theo các ưu tiên chính sách của chính quyền trung ương thông qua việc chỉ định Ban Điều hành và thông qua việc phân bổ trợ cấp của nhà nước (xem thêm chương 2.2).

3.2 Định nghĩa văn hóa.

Trong các tài liệu chính sách của nhà nước không có định nghĩa chính thức về văn hóa. Tuy nhiên, hiến pháp Hy Lạp đưa ra một tham chiếu gián tiếp về văn hóa, trong đó thừa nhận tự do thể hiện nghệ thuật, và xác định rằng nhà nước có nghĩa vụ hỗ trợ và phát triển hoạt động sáng tạo nghệ thuật, bảo vệ môi trường văn hóa (bắt buộc), bao gồm các công trình di tích, các dấu tích và vùng di sản. Trách nhiệm của Bộ Văn hóa, như đã quy định trong văn bản thành lập, là bảo vệ và gìn giữ các di sản văn hóa (bao gồm cả văn hóa dân gian và khảo cổ), bảo vệ các tác phẩm văn học nghệ thuật (bao gồm mỹ thuật, nghệ thuật thị giác, kịch, múa, điện ảnh, âm nhạc và văn học) và quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm đó, bảo vệ quyền giáo dục nghệ thuật, quyền đa dạng văn hóa, quyền trao đổi và hợp tác văn hóa quốc tế, và quyền tiếp cận văn hóa của tất cả mọi người: tất cả những điều trên đây cho phép hiểu khái niệm chức năng về văn hóa ở Hy Lạp.

Trong các văn bản chính sách và những cuộc tranh luận hiện nay, từ politismos được sử dụng có ý nghĩa tương đương với các thuật ngữ nước ngoài khác như culture (văn hóa), civilisation (văn minh), hoặc arts and letters (văn học, nghệ thuật). Di sản văn hóa giữa vai trò trung tâm trong định nghĩa này.

Định nghĩa rộng hơn về văn hóa, được sử dụng ngày càng nhiều trong các văn bản ban hành trong thập niên vừa qua, xem di sản văn hóa và tất cả các kết quả sáng tạo văn học nghệ thuật từ thời tiền sử đến nay, cũng như các giá trị và các cách ứng xử phù hợp với việc phát triển sáng tạo và tự do tiếp cận đến các sản phẩm văn học nghệ thuật. Dẫu vậy, văn hóa cũng không được hiểu là một khái niệm có tính trung lập, và nó hoàn toàn trái nghĩa với sự giải trí, quảng cáo, truyền thông, những gì được các quốc gia khác gọi là “các ngành kinh doanh văn hóa”.

  3.3 Các mục tiêu chính sách văn hóa

Nguyên tắc tiếp cận bình đẳng và tham gia vào đời sống văn hóa được quy định trong Hiến pháp Hy Lạp, và được thể hiện trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho nghệ thuật, cả ở cấp vùng và thành phố. Các chương trình giáo dục trong trường học, và việc vào cửa miễn phí tại các bảo tàng và di chỉ khảo cổ nhằm hình thành một thái độ tích cực của thế hệ trẻ đối với văn hóa và nghệ thuật. Công việc tại các bảo tàng, di chỉ khảo cổ và địa điểm văn hóa đang được gấp rút thực hiện để tạo điều kiện cho người khuyết tật cũng có thể tham quan.

Nguyên tắc giữ gìn bản sắc được coi là ưu tiên hàng đầu trong chính sách văn hóa của Hy Lạp. Điều này được thể hiện bằng việc nhấn mạnh đến sự thống nhất về mặt lịch đại (lịch sử) các di sản văn hóa Hy Lạp và trong quan điểm phổ biến được thể hiện trong cả các tài liệu chính sách và trong các cuộc tranh luận về tính độc đáo của văn hóa Hy Lạp.

Nguyên tắc phát triển đa dạng được thể hiện thông qua quyền hiến định về tự do thể hiện nghệ thuật và văn học, cũng như trong nhiều các chương trình nhằm thúc đẩy sự thể hiện văn hóa và việc tham gia vào đời sống văn hóa của các cộng đồng người như người Roma (La Mã), cộng đồng người nhập cư tại Athen, và cộng đồng hồi giáo ở Thrace; Chương trình khôi phục các công trình di tích (do Bộ Văn hóa thực hiện) cũng bao gồm trong đó cả những công trình Nhà thờ Hồi giáo và Giáo đường Hồi giáo.

Mặc dù xã hội Hy Lạp được xem là đồng nhất, xét theo quan điểm phổ biến đối với những xã hội đã đô thị hóa, thì văn hóa dân gian đại diện cho những cộng đồng thiểu số cũng có hiện diện tại các bảo tàng nghệ thuật dân gian, các nhóm nhạc và múa truyền thống. Luật số 3028/2002 được thông qua gần đây đã quy định toàn diện về việc bảo vệ các di sản văn hóa của các nền văn hóa có trên lãnh thổ Hy Lạp.

Nguyên tắc hỗ trợ hoạt động sáng tạo được quy định trong hiến pháp Hy Lạp. Do phạm vi ngân sách hạn chế, nhà nước Hy Lạp chỉ hỗ trợ cho những người sáng tạo thông qua phương thức nhà nước đặt hàng, mua tác phẩm nghệ thuật, hỗ trợ cho nhà hát và cho sản xuất phim, văn học và các giải thưởng, và phúc lợi xã hội, ví dụ như lương hưu, cho nhà văn. Ngoài ra, việc xây dựng hạ tầng cho các chương trình văn hóa nghệ thuật cũng được nhà nước hỗ trợ bởi các quỹ công do chính quyền trung ương hoặc địa phương quản lý.

   

4. Những vấn đề chính trong chính sách văn hóa hiện nay và những tranh luận

  4.1 Những vấn đề chính trong chính sách văn hóa hiện nay và những ưu tiên

 

 

Các ưu tiên chính sách văn hóa, được xác định dựa trên các văn bản chính sách và ưu tiên trong phân bổ ngân sách trong 5 năm qua.

-       Bảo vệ, bảo tồn các di sản văn hóa hữu hình và vô hình trong tất cả các thời kỳ lịch sử của Hy Lạp – bao gồm văn hóa đương đại và hiện tại – và của mọi cộng đồng văn hóa phát triển trên lãnh thổ Hy Lạp. Nếu trước đây ngân sách chủ yếu phân bổ cho lĩnh vực di sản văn hóa thì nay được thực hiện theo nguyên tắc phân bổ cho những yếu tố cấu thành nên di sản; với việc xây dựng mới bảo tàng Acropolis, người ta đang kêu gọi trả về bộ sưu tập đá cẩm thạch Parthenon, hiện do Bảo tàng Anh quản lý, để bổ sung cho các công trình điêu khắc hiện cổ ở Athens.

-      Thúc đẩy hợp tác và trao đổi văn hóa quốc tế là một biện pháp nhằm tăng cường quan hệ bang giao giữa Hy Lạp với các nước (như các quốc gia thành viên EU, các quốc gia láng giềng, cộng đồng và quốc gia có nhiều người Do thái gốc Hy Lạp). Theo hướng này, các sáng kiến chung như Tháng Văn hóa Hy Lạp hoặc Chương trình Văn hóa Hy Lạp tại Anh, và những sự kiện thu hút nhiều người tham gia như triển lãm khảo cổ tại những bảo tàng quốc tế lớn đã dành được nhiều ưu tiên hơn so với những hoạt động có quy mô nhỏ. Phương tiện chính để thực hiện chính sách này trong khoảng thời gian 4 năm dẫn đến việc tổ chức đại hội thể thao thế giới tại Athens năm 2004 (Olimpic Athens 2004) là chương trình Cultural Olympiad, một chương trình bao gồm nhiều sự kiện văn hóa được tổ chức tại Hy Lạp và nhiều nước khác nhằm thúc đẩy sự hiểu biết đến nhiều nền văn hóa, với phương châm “Hướng đền một nền văn hóa của các nền văn minh”. Chương trình này được thực hiện bởi Tổ chức văn hóa Hy Lạp SA, và được sự bảo trợ của một tổ chức tương đương tổ chức phi chính phủ đồng thành lập bởi UNNESO, Uỷ ban Olympic Quốc tế và Cộng hòa Hellenic.

-      Tiếp tục hiện đại hóa và phát triển hạ tầng văn hóa và nghệ thuật, được thể hiện bằng việc ngày càng nhiều phòng trưng bày quốc gia về nghệ thuật đương đại được xây dựng ở Athens và Thessaloniki và các phòng trưng bày của Bảo tàng Byzantine ở Thessaloniki; xây dựng nhà hát ở Thessaloniki cho tương xứng với một nhà hát ở Athens; tổ chức lại các nhà hát ở cấp quốc gia (bao gồm cả Bảo tàng Byzantine và Bảo tàng Khảo cổ quốc gia ở Athens); và việc mở lại các bảo tàng lớn của tư nhân như Bảo tàng Benaki và trung tâm triển lãm của bảo tàng này tại Athens, cũng như trung tâm trưng bày Gaia của Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Goulandris ở Kifissia.

-   Thúc đẩy việc tiếp cận bình đẳng và sự tham gia vào đời sống văn hóa cho mọi công dân tại các vùng, thông qua việc phát triển các tổ chức văn hóa, xây dựng hạ tầng đầy đủ và các chương trình hoạt động văn hóa ở cấp địa phương. Gần đây người ta nhấn mạnh đến việc cải thiện các quy định và khuyến khích sự tham gia thông qua việc liên kết với các mạng lưới tổ chức văn hóa; chủ yếu là thông qua mạng lưới Domain of Culture.

-     Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật và hỗ trợ cho những hoạt động điển hình trong lĩnh vực này được giải quyết thông qua các chương trình hỗ trợ (ví dụ như chương trình hỗ trợ cho các nhà hát độc lập), đặt hàng các tác phẩm nghệ thuật, giải thưởng, quy định về phúc lợi xã hội cho nghệ sĩ, nhà văn.

4.2. Bình đẳng giới và chính sách văn hoá

Sự tham gia bình đẳng của phụ nữ vào đời sống văn hoá, xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng đã được thừa nhận như là mục tiêu chính sách chính kể từ những năm 1980, kể từ khi văn phòng về bình đẳng giới được thành lập hoạt động dưới sự điều hành của Bộ nội vụ. Thực tế cũng có nhiều hoạt động được thực hiện thông qua các chương trình hỗ trợ của EU như hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nữ hoặc các chương trình học về giới tính cho chương trình giảng dạy ở nhà trường. Mẫu chương trình giáo dục về giới tính mấy năm gần đây đã bị phản đối kịch liệt, đặc biệt là ở các khu vực thủ đô, nhưng các vấn đề giới tính vẫn là vấn đề ngoại vi. Gần đây,  Phương pháp chủ đạo của các vấn đề bình đẳng giới tính đã được thông qua, như các dự án được hỗ trợ  trong khuôn khổ chương trình thứ 3.

  4. 3 Các cuộc thảo luận và những vấn đề chính sách gần đây

      4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Hy Lạp đã thông qua điều khoản đối với dân tộc Hồi giáo ở Thrace với số dân chiếm 1,1%, gồm các tộc người Thổ Nhĩ Kỳ, Roma và Pomaks. Trong đó người Roma chiếm 2,5% và sống rải rác ở nhiều vùng khác nhau trên đất nước Hy Lạp.

Hy Lạp phát triển một xã hội tương đối đồng nhất, điều này có thể thấy qua sự ra đời và tồn tại của nhiều tổ chức trên cả nước, sự phát triển kinh tế xã hội và sự đô thị hóa của đất nước Hy Lạp.

Ngày nay, vấn đề chính mà Hy Lạp đang phải đối mặt là vấn đề người lao động nhập cư, người tị nạn và người định cư nhằm tìm kiếm nơi ở an toàn (số lượng này thực tế chiếm 7,3% dân số Hy Lạp), đây là những người chuyển đến sống ở nhiều vùng khác nhau trên đất nước Hy Lạp trong suốt thập kỷ gần đây, phần lớn họ đến từ các nước láng giếng và không có sự tương đồng về văn hóa. Vấn đề này đã tạo ra những ảnh hưởng vừa tích cực vừa đáng lo ngại trước tình trạng đa văn hóa có thể thấy rõ trong các thành phố và khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thực tế này vẫn chưa được hiểu và xem xét một cách đầy đủ.

Nhà nước Hy Lạp theo đường lối tiếp cận hội nhập văn hóa và kinh tế-xã hội. Trường hợp của người Roma là một ví dụ; năm 1997 một ủy ban liên bộ đã chính thức được thành lập, đặt ra vấn đề hội nhập xã hội của người Roma trong xã hội Hy Lạp.

Trong phạm vi chính sách này, Bộ Văn Hóa đã phát triển chương trình sáng kiến văn hóa-giáo dục dưới sự tài trợ của Chương trình khung hỗ trợ thứ 3 thuộc ủy ban châu Âu, và cùng với các chính quyền địa phương triển khai chương trình này.  Chương trình này đã đi vào hoạt động ở khu vực Athen và đang trong kế hoạch được mở rộng ra một số vùng khác nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho người Roma định cư, tăng cường hiểu biết và kỹ năng của người Roma trong các môn nghệ thuật (như âm nhạc và nhiếp ảnh) đồng thời giới thiệu quảng bá truyền thống văn hóa và tinh thần sáng tạo của người Roma với cả xã hội. 

Bộ Văn Hóa cũng đã triển khai và phát triển các chương trình giáo dục đa văn hóa, hướng đến trẻ em của các gia đình nhập cư không phải người Hy Lạp ở khu trung tâm Athen và những vùng khác.

Một số chương trình liên quan đến công tác bảo tồn và tu bổ các tượng đài gắn liền với di sản văn hóa Hy Lạp cũng được tiến hành, trong đó có 42 tượng đài Ottoman chính và vài giáo đường Do Thái ở tất cả mọi nơi trên đất nước Hy Lạp. Các chương trình phát thanh trên đài bằng ngôn ngữ chính của cộng đồng những người nhập cư cũng được phát đi đều đặn trên kênh phát thanh quần chúng ERT.

Mặc dù đã có chính sách chống phân biệt chủng tộc, chống các hành vi bài ngoại và rập khuôn của giới truyền thông nhưng Hy Lạp vẫn chịu nhiều áp lực xã hội do làn sóng nhập cư ồ ạt và thái độ tiêu cực thù nghịch những người không phải gốc Hy Lạp và bản sắc văn hóa mà họ mang theo đến đất nước này.

Là một đất nước có truyền thống hiếu khách và giàu lòng khoan dung, nhưng làm thế nào tránh được chủ nghĩa bài ngoại và phân biệt loại trừ văn hóa vẫn là vấn đề Hy Lạp phải đối mặt, cũng giống như vấn đề đã từng khiến các nước châu Âu khác phải đau đầu trước số lượng dân nhập cư quá lớn.  Trong hoàn cảnh này, một số cơ quan như Om-budsman đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đối xử bình đẳng giữa các nhóm dân tộc mà chủ yếu là những người nhập cư làm kinh doanh trong cộng đồng người không có gốc Hy Lạp.

Mặt khác, các chính sách văn hóa giáo dục luôn được xem là chìa khóa cho việc thúc đẩy sự  đa dạng văn hóa. Đồng thời, vai trò quan trọng trong việc hạn chế tình trạng đồng nhất các văn hóa dân tộc được giao cho Hội đồng Phát thanh truyền hình quốc gia, thể hiện rõ trong Đạo luật đạo đức báo chí và dự thảo đạo luật về đạo đức đối với các chương trình thông tin, và báo chí-chính trị khác.

     4.2.2 Chính sách và các vấn đề ngôn ngữ

 

Ngôn ngữ chính thức của Hy Lạp là tiếng Hy Lạp, đây là tiếng mẹ đẻ được phần lớn công dân Hy Lạp sử dụng. Tiếng Hy Lạp ngày nay là sự phát triển tự nhiên của các dạng tiếng Hy Lạp trước đó, từ cuối thời Đồ Đồng qua thời Cổ điển, Hy Lạp cổ, La Mã cổ đại, La Mã phương Đông, cho đến hậu La Mã phương Đông. Có thể thấy tiếng Hy Lạp hiện đại còn lưu giữ một lượng lớn từ vựng và ngữ pháp của các dạng ngôn ngữ cổ.

Ngày nay ở Hy Lạp, nhà thơ và nhà hùng biện sẽ được nể trọng nhất nếu họ hiểu biết về truyền thống ngôn ngữ và chữ viết cổ. Sau ảnh hưởng của đô thị hóa và đồng nhất trong hệ thống giáo dục quốc gia cũng như trong truyền thông nghe nhìn, tiếng Hy Lạp trở nên ít có sự biến đổi hơn, đặc biệt âm sắc và cách sử dụng gần như không có gì thay đổi.

Vào những năm 70, cuộc cải cách ngôn ngữ đã tạo ra loại tiếng Demotike, dùng làm ngôn ngữ chính thức trong hành chính và giáo dục, thay thế tiếng Katharevousa vốn là ngôn ngữ cổ “thanh lọc”, đã từng được dùng làm ngôn ngữ chính thức của đất nước Hy Lạp trong suốt một thế kỷ rưỡi trước đó. Tiếng Hy Lạp hiện đại sau đó được đơn giản hóa hơn nữa qua việc bỏ đi các “dấu thở” và đơn giản hóa dấu trọng âm. Gần đây, các cuộc bàn cãi diễn ra nhiều xung quanh việc sử dụng số lượng ngày càng lớn các từ ngoại lai, đặc biệt phổ biến trong giới trẻ. Đây là vấn đề mà theo nhiều người, thì có thể coi là sự đe dọa đối với sự trong sáng của tiếng Hy Lạp. Rõ ràng bản chất của những tranh cãi kiểu này vừa mang tính chính trị-xã hội vừa mang tính ngôn ngữ. Nhưng đồng thời nó cũng gắn liền với cuộc tranh luận trên phạm vi rộng hơn về bản chất văn hóa Hy Lạp và vị trí của nền văn hóa này trong sự khác biệt rõ rệt giữa các truyền thống văn hoá - một bên là những truyền thống có nguồn gốc đông phương mang dấu ấn La Mã phương Đông, còn một bên là những truyền thống mang phong cách châu Âu. 

Phần lớn các công trình văn chương, kịch, phim với sự tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà nước đều được làm bằng tiếng Hy Lạp. Chính phủ đã có chính sách phát triển ngôn ngữ Hy Lạp, điều này thể hiện rõ qua các chương trình hội nhập tìm hiểu tiếng Hy Lạp dành cho con cái của những người lao động nhập cư và những người gốc Hy Lạp - những đối tượng được chấp nhận cho trở về Hy Lạp từ Đông Âu (chủ yếu là từ Nga, Ucraina, và Georgia) sau sự tan rã của liên bang Xô Viết.

Trẻ em trong các cộng đồng Do Thái cũng được dạy tiếng Hy Lạp theo truyền thống hệ thống giáo dục của người định cư, có thể trong các trường học chính quy, các trường chuyên dạy tiếng Hy Lạp được chính quyền địa phương công nhận, hoặc trong các lớp học thứ 7 do nhà thờ Hy Lạp chính thống tổ chức. Không chỉ vậy, Bộ Văn hoá, giáo dục và các vấn đề đối ngoại cũng cấp kinh phí cho nhiều khoa, ngành học thuật trong các trường đại học của Hy Lạp trên khắp thế giới.

     4.2.3  Truyền thông đa dạng và nội dung phong phú

Kể từ cuối những năm những1980, ngành truyền thông nghe nhìn được tổ chức thành hai tầng: phát thanh công cộng và phát thanh truyền hình mà ERT (Công ty Phát thanh - Truyền hình Hy Lạp) là đại diện, và nhiều kênh truyền hình phát thanh tư nhân. Cũng có hai dịch vụ phát thanh truyền hình vệ tinh số cạnh tranh nhau, cùng cung cấp cho khán giả nhiều kênh tiếng Hy Lạp và quốc tế. Hy Lạp không có truyền hình cáp.

Các kênh truyền hình tư nhân không phát các chương trình văn hóa (mặc dù chân dung tích cực của những thương nhân nhập cư và người Roma xuất hiện trên màn ảnh trong thời gian gần đây cũng có thể rất đáng nói đến). Và những chương trình phát thử nghiệm trên các kênh văn hoá như kênh 7X thì gần như không gặt hái được thành công ở khía cạnh thương mại. Ngược lại, công ty ERT luôn phát các chương trình văn hoá giáo dục, điều này được miêu tả rõ trong tôn chỉ của công ty, đó là: “phát triển phát thanh truyền hình thông qua những chương trình chất lượng cao nhằm cung cấp cho khán giả một phần hoặc toàn bộ thông tin, đem đến sự phong phú về thể loại, các chương trình giải trí, duy trì và nâng cao hiểu biết của công chúng về lịch sử, phát huy văn hoá Hy Lạp và thế giới, xoá chủ nghĩa bài ngoại và phân biệt chủng tộc”.

Kênh truyền hình ET3 phát bằng tiếng Thessaloniki thường phát các chương trình văn hoá theo sở thích của người xem, trong đó có chương trình phim tài liệu lịch sử, văn hoá, tác phẩm phóng tác dựa trên các tác phẩm văn học và sân khấu và tạp chí văn hoá. Họ cũng chiếu những phim quốc tế và phim Hy Lạp hay, truyền hình các sự kiện âm nhạc, cũng như các chương trình được yêu thích khác. Các chương trình của kênh truyền hình vệ tinh ERT-SAT, phát đi bằng tiếng Hy Lạp và hướng đến cộng đồng người Do Thái ở Hy Lạp luôn tập trung vào chương trình văn hoá Hy Lạp.

Trong số gần 30 đài phát thanh khu vực và quốc gia trong hệ thống phát thanh công cộng, Đài Cosmos chuyên tập trung vào các hình thức âm nhạc đa văn hóa, nhạc dân tộc, dân ca của các dân tộc trên khắp thế giới. Riêng hình thức nhạc dân tộc luôn chú trọng đến nhạc cổ điển, ngoài ra cũng chú ý đến việc tổ chức các chương trình nhạc jazz, nhạc truyền thống, các chương trình văn học, nghệ thuật.

Trên thực tế, hầu hết các đài đều theo hệ thống phân vùng, mỗi ngày phát vài tiếng nhạc Hy Lạp. Bên cạnh đó, đài phát thanh công cộng cũng có chương trình thường xuyên phát bằng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Hy Lạp cho cộng đồng người lao động nhập cư, đồng thời cũng có một chương trình sóng ngắn phát toàn cầu.

Trong lĩnh vực điện ảnh, Trung tâm Điện ảnh Hy Lạp, một tổng công ty hoạt động dưới sự giám sát của Bộ Văn Hóa từ lâu đã tự xây dựng mình trở thành hãng phát triển vững chắc của ngành điện ảnh Hy Lạp. Hiện nay, trung tâm này hàng năm đồng tài trợ, cung cấp kinh phí cho 15 phim truyện, 15 phim ngắn và 5 phim tài liệu (phim tiếng Hy Lạp và/hoặc phim do đạo diễn có quốc tịch Hy Lạp hoặc gốc Hy Lạp sản xuất), hỗ trợ mạng lưới rạp chiếu phim công chiếu các bộ phim của Liên đoàn châu Âu và Hy Lạp, khuyến khích sự hợp tác giữa các hãng làm phim tư nhân và nhà nước, và hỗ trợ cho sự phát triển của ngành điện ảnh Hy Lạp nói chung.

   4.2.4 Văn hoá: các bước phát triển, chương trình và đối tác

Nhà nước vẫn luôn tài trợ cho ngành văn hoá. Việc tư nhân hoá cơ sở hạ tầng và các tổ chức văn hoá không thuộc danh mục được ưu tiên trong chính sách hiện nay của nhà nước Hy Lạp.  Bản “Tóm tắt chính sách và xu hướng văn hoá châu Âu, ấn bản thứ 6” năm 2005 GR-14 do Hội đồng tài trợ tư nhân châu Âu/ công ty ERI Carts phát hành đã giảm về số lượng sau đầu những năm 90 khi chính sách miễn thuế bị hủy bỏ (vào năm 1997). Một số biện pháp mới được xem xét, ví dụ các chương trình với sự tham gia tài trợ của các ngân hàng và công ty đa quốc gia cho các sự kiện được ưa chuộng do các công ty/tổ chức lớn chuyên về nghệ thuật trên toàn quốc sản xuất; các quy định mới về hoạt động tài trợ và một số loại chương trình khác.

Với nguồn ngân sách hạn chế, Bộ Văn hoá tập trung vào hỗ trợ cho ngành văn hoá thông qua các tổ chức của ngành và việc hợp lý hoá nguồn ngân sách. Do đó, Trung tâm sách quốc gia trở thành công cụ chính hỗ trợ cho mảng sách Hy Lạp. Gần đây trung tâm này tham gia vào chương trình triển khai rộng rãi tài trợ cho công tác biên dịch và các hoạt động khác nhằm phát triển nền văn học Hy Lạp. Hiện nay Trung tâm Điện ảnh Hy Lạp hàng năm hỗ trợ sản xuất khá nhiều phim. Các công ty điện ảnh tư nhân cũng được hỗ trợ thông qua cơ chế trợ giá, cơ chế này gần đây đã được hợp lý hoá theo một loạt các tiêu chí thống nhất hơn về phân phối và biểu nghệ thuật.

Trong những năm gần đây, mục tiêu chính mà chính sách văn hoá hướng tới là gắn liền và liên kết di sản văn hoá với hành vi văn hoá, giữa nhà nước và chính phủ, giữa trung tâm với các khu vực xung quanh; chính sách này ngay từ đầu đã được miêu tả rõ trong Mạng lưới văn hoá quốc gia của các thành phố và hiện nay đang là chính sách chủ đạo của chương trình văn hoá. (có thể xem chương 2.2)

   4.2.5 Chính sách việc làm cho ngành văn hoá

Do thiếu số liệu về số lượng người làm và không có nghiên cứu ban đầu nào về vấn đề việc làm trong ngành văn hoá nên ghi chú sau đây chỉ mang tính vắn tắt và hình thức.

Ngành quần chúng vẫn là ngành thu hút nhiều người làm về văn hoá nhất, chủ yếu là các nghề dịch vụ ở trung ương và địa phương của Bộ Văn hoá. Ước tính hiện nay Bộ đã tuyển vào khoảng 4.800 cán bộ biên chế, 700 nhân viên hợp đồng không thời hạn, và 300 nhân viên tạm thời (số lượng này chưa tính những nhân viên làm việc cho các tổ chức trực thuộc Bộ). Ngoài ra còn có một lượng không thống kê được con số chính xác bao nhiêu người hiện đang làm trong các tổ chức văn hoá nghệ thuật liên quan đến chính phủ.

Theo báo cáo năm 1995, có 38 496 người gồm cả hai giới làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, trong đó:

• 7 986 người làm nhà văn hoặc nhà báo;

• 17 436 người làm hoạ sỹ 

• 13 074 người là nghệ sỹ biểu diễn.

Từ năm 1988 đến năm 1995, con số này tăng lên đáng kể, bởi vậy có thể số lượng người làm việc trong ngành văn hóa hiện nay còn lớn hơn nhiều, thậm chí chiếm đến 2% tổng dân số tham gia lao động của Hy Lạp.

Vấn đề hỗ trợ việc làm trong ngành văn hóa là một trong những mục tiêu của chương trình họat động “Văn hóa 2000”, triển khai từ năm 2000 đến 2006 với sự đồng tài trợ của nhà nước Hy Lạp và Liên đoàn châu Âu. Theo đó khoảng 3000 việc làm mới liên quan đến quản lý văn hóa sẽ được tạo ra trong bối cảnh phát triển khu vực hiện nay nhằm phục vụ cho cơ sở hạ tâng mới nâng cấp mà chương trình này tài trợ. Trong số việc làm, 2/3 tập trung vào mảng di sản văn hoá, 1/3 vào văn hoá đương đại và nghệ thuật biểu diễn. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng vấn đề tạo việc làm trong ngành văn hóa phải đi đôi hợp lý với chính sách tài khóa nhằm hạn chế chứ không tăng gánh nặng việc làm cho nhà nước và chính phủ.

Mặc dù nhân viên trong Bộ Văn Hóa từ trước đến nay vẫn chủ yếu là những người tốt nghiệp ngành khảo cổ học (ở Hy Lạp, đây là những người chỉ thuần túy học về nhân văn chứ không nghiên cứu khoa học xã hội), nhưng những yêu cầu đặt ra cho vị trí quản lý phát triển văn hóa và di sản văn hóa đã có sự thay đổi, điều này được thể hiện qua các chương trình chính sách gần đây.

Bộ Văn Hóa đặt ra những kỹ năng mà nhân viên tuyển vào cần được dạy thông qua các khóa đào tạo nghiệp vụ. Những kỹ năng này bao gồm : phải quen với khung điều lệ và pháp lý bảo vệ di sản văn hóa, biết quản lý dự án và thành thạo vi tính, quen làm việc với các tài liệu về di sản văn hóa và quản lý thông tin.

Trên thực tế, ngành bảo tàng học cũng rất được coi trọng. Các ngành truyền thông, quản lý nguồn văn hóa, hành chính trong nghệ thuật và các bằng cấp liên quan đến chính sách nghệ thuật cũng ngày càng được thừa nhận rộng rãi. Ngoài ra, trong một số vụ và tổ chức, đặc biệt lĩnh vực phi chính phủ, vai trò của các nhân viên công nghệ thông tin và chuyên viên tư liệu bảo tàng rất được chú trọng. Nhiều tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn và nghe nhìn luôn cần cộng tác với các cố vấn nước ngoài và công ty tư nhân để cùng triển khai nhiều dự án.

Trong bối cảnh ngành văn hóa nói chung đang phải đối mặt với nhiều thách thức như hiện nay thì viễn cảnh toàn diện và to lớn hơn về nhân lực, giáo dục, việc làm của Hy Lạp cũng cần phải xem xét lại.

   4.2.6 Chính sách văn hóa và công nghệ mới

 

Gần đây Hiến pháp Hy Lạp được bổ sung, đặt ra vấn đề quyền tham gia vào xã hội thông tin của mọi công dân. Tuy nhiên, nếu so với các nước thành viên trong liên minh châu Âu khác thì Hy Lạp vẫn bị bỏ lại phía sau trong cuộc đua phát triển xã hội thông tin mạnh. Theo khảo sát gần đây của liên đoàn châu Âu, chỉ có 15% người dân Hy Lạp dùng Internet và chỉ 25% tiếp cận máy tính cá nhân. Tỉ lệ mức tiếp cận và sự tham gia thấp vào công nghệ của người dân Hy Lạp có một số nguyên nhân, trong đó có sự hiểu biết về kỹ thuật số của đại đa số dân chúng còn hạn chế, phong cách sống hướng ngoại, thích giao tiếp gặp gỡ trực tiếp thay vì trao đổi qua Internet; vấn đề thiếu các dịch vụ cũng như chương trình bổ ích và thú vị trên Internet hiện nay ở Hy Lạp đã cho thấy dù không chính thức nhưng cũng rất thống nhất rằng phần lớn các dịch vụ đều liên kết với các trang web của nước ngoài chứ không phải với trang web Hy Lạp.

Đó cũng là trường hợp của ngành văn hóa Hy Lạp bởi thực tế chỉ một số ít viện bảo tàng và viện nghệ thuật là có trang web riêng, nhưng phần lớn những trang web này chỉ đơn thuần giới thiệu về tổ chức và các hoạt động của mình thay vì được dùng làm phương tiện trao đổi văn hóa độc lập. Tương tự, trang web của Bộ Văn Hóa cũng chỉ cung cấp cách tiếp cận những thông tin tham khảo về các ban, vụ và hoạt động của bộ. Ngoại trừ:

• Trang web của Hội Thế Giới Hy Lạp, giới thiệu nhiều tài liệu giáo dục mở rộng về lịch sử và di sản văn hóa Hy Lạp.

• Nhiều đĩa CD-ROMS đa phương tiện do Tổ chức Văn hóa Hy Lạp SA , Hội Thế giới Hy Lạp, Hội Nghiên cứu Lambrakis và một số ít nhà xuất bản thương mại cung cấp.

• Trang giới thiệu văn hóa Hy Lạp một cách sống động, thậm chí có lúc hơi dị biệt trên tạp chí online phát hành hai tuần một lần đã ra đời với sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao .

• Cổng Internet mở rộng gần đây cập nhật các sự kiện văn hóa nghệ thuật cũng như các hoạt động gắn liền với Bộ Văn Hóa và các tổ chức văn hóa thuộc bộ, các họa sỹ và nhóm tình nguyện viên hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật.

Trong lĩnh vực nghệ thuật phương tiện mới, nhà nước đứng ra hỗ trợ các sự kiện và các đơn vị tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật hấp dẫn cả ở Hy Lạp lẫn nước ngoài. Trong số này có festival Medi@terra hàng năm, chú trọng đến những công trình nghệ thuật sáng tạo, vượt qua những rào cản của nghệ thuật phương tiện mới, nghệ thuật nhìn và biểu diễn, chủ yếu đến từ khu vực Địa trung hải và Đông Nam châu Âu. Ngoài ra còn có diễn đàn trao đổi về nghệ thuật giữa khu vực và các nước trên thế giới. Một số ít các triển lãm nghệ thuật tư nhân và viện bảo tàng nghệ thuật đương đại mới được thành lập ở Athen cũng thường xuyên triển lãm các tác phẩm nghệ thuật ra đời trên nền công nghệ mới.

Về chương trình chính sách hiện nay, việc phát triển ngành văn hóa trong bối cảnh của một xã hội thông tin vẫn là một trong những mục tiêu mà nhà nước Hy Lạp đặt ra trong Chương trình Khung Hỗ trợ thứ 3 với sự đồng tài trợ của Nhà nước và ủy Ban châu Âu cho giai đoạn 2000-2006. Kế Hoạch Hoạt động 6 năm của Bộ Văn Hóa trong phạm vi Chương trình Họat động “xã hội thông tin” (chủ yếu từ phương pháp 1.3) lên tới 130 triệu ero. Mục tiêu đề ra của chương trình này là hỗ trợ và phát triển sáng tạo nghệ thuật, nhưng các hoạt động hiện nay dường như mới chỉ hướng trực tiếp vào hỗ trợ các hoạt động:

• số hóa di sản văn hóa qua các chương trình quốc gia gắn liền với các chuẩn mực và cho thông qua những thông lệ tích cực dưới sự hỗ trợ của ủy Ban Số hóa quốc gia.

• phát triển cổng web và các tít đa phương tiện về văn hóa Hy Lạp (chẳng hạn như giới thiệu các tượng đài và địa điểm từ cổ chí kim) nhằm phục vụ cho thị trường du lịch và giáo dục. 

• phát triển các hệ thống hỗ trợ khách tham quan dựa vào kỹ thuật công nghệ thông tin như lập các ki-ốt thông tin, thiết bị hỗ trợ khách di động, và các triển lãm trên mạng cũng như ngoài thực tế tại các địa điểm khảo cổ và viện bảo tàng.

• quản lý vấn đề bản quyền, tài sản số, GIS, CRM, truyền các sự kiện nhờ kỹ thuật số, và phát triển hệ thống quản lý khách đến cho các điểm diễn ra những sự kiện văn hóa.

Các vấn đề nảy sinh từ các chính sách hiện tại và trước mắt liên quan đến xã hội thông tin văn hóa gồm: 

• tiếp tục ưu tiên đầu tư cho di sản văn hóa nhiều hơn hỗ trợ sáng tạo trong nghệ thuật;  

• cần cân bằng ưu tiên cho ngành công nghệ thông tin và giải trí với văn hóa giáo dục; 

• áp dụng cơ chế tập trung hóa trong cấp tài trợ và quản lý thay cho ý tưởng để cộng đồng địa phương tự quyết đinh;

• ngoại trừ một số nơi, các cộng đồng địa phương nói chung còn ngại tiếp cận công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông hiện đại.

   4.2.7 Giáo dục nghệ thuật: các chương trình và mô hình

Giáo dục nghệ thuật ở Hy Lạp theo một hệ thống hai tầng. Mộ