1. Bối cảnh lịch sử: các thiết chế và chính sách văn hoá
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hoá
5. Quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. Vai trò và sự phát triển của các tổ chức văn hoá lớn
8. Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
1. Bối cảnh lịch sử: các thiết chế và chính sách văn hoá
Vương
quốc Hungary được thành lập năm 1000. Sau khi bị Ottoman xâm lược (1526 đến
1686) và tiếp theo là sự đô hộ của nước áo, người ta đặt vấn đề liệu rằng
Hungary còn gìn giữ được bản sắc và sự độc lập của mình hay không. Tuy nhiên,
thế kỉ 19 đã cho thấy một sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc này, trong đó văn hoá
đóng một vai trò rất quan trọng. Phần lớn các thiết chế văn hoá của Hungary hiện
nay đều được hình thành từ thế kỉ 19.
Đặc thù của Hungary cũng kế thừa từ cấu trúc xã hội Đông Âu giai đoạn này. Tầng lớp thượng lưu trong xã hội với những tiêu chuẩn văn hoá cao có thể so sánh với các nước phát triển nhất, trong khi đó đa số dân chúng vẫn ở trong tình trạng lạc hậu. Đến giữa thế kỉ 20, trong khi tầng lớp trung lưu đã hình thành nên cơ sở cho sự phát triển dân chủ, kinh tế và xã hội ở Đông Âu, thì hơn một nửa thành phần xã hội ở Hungary vẫn là nông dân. So với Tây Âu, tầng lớp lao động và giới trí thức vẫn còn có vai trò khiêm tốn, giai cấp tư sản còn yếu kém. Tại thời điểm đó, là một nước Trung Âu, Hungary đã xây dựng một thể chế theo hướng phương Tây, đối lập với vùng Balkan và Đông Âu.
sau chiến tranh thế giới lần thứ i, chính sách văn hoá đóng một vai trò chiến lược nhằm giúp đất nước vượt qua những khó khăn, hungary lúc đó mới tách ra từ nhà nước áo-hung. sau chiến tranh thế giới lần thứ ii, chính sách văn hoá tập trung vào việc tái thiết chính trị và xây dựng cơ sở vật chất. vào thời điểm đó, các tư tưởng của giai cấp tư sản, phe bảo thủ, chủ nghĩa dân tộc dần bị trượt tiêu. vào cuối những năm 1940, thành phần cấp tiến đã bị loại trừ khỏi chính sách văn hoá kiểu bolshevik. trước cách mạng 1956 chính sách văn hoá mô phỏng một cách máy móc các mô hình chính sách của liên xô.
Sau làn sóng cách mạng, đến đầu những năm 1960 chủ nghĩa giáo điều về văn hoá đã bắt đầu mờ nhạt dần. Đến năm 1989, tương tự như trong các lĩnh vực khác của đời sống, chính sách văn hoá được xem xét thay đổi và đã diễn ra sự chuyển đổi dần dần của toàn bộ khối Cộng sản. Do hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng yếu đi, các nguồn lực công ngày càng suy yếu và cùng với việc kiểm soát về chính trị ngày càng ít đi, nhà nước đã cắt giảm việc tài trợ cho văn hoá. Vào cuối những năm 1980, quá trình thương mại hoá văn hoá bắt đầu diễn ra, và Quỹ hội Soros của Hungary đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính.
Trong thời kì xã hội chủ nghĩa, do được nhà nước trợ cấp và các hàng hoá và dịch vụ văn hoá được cung cấp với giá rẻ nên tiêu dùng cho văn hoá cũng tăng (đọc các sách khoa học và viễn tưởng, đi xem kịch, xem phim, nghe hoà nhạc, tham quan bảo tàng, triển lãm). Dưới thời độc tài, nghệ thuật đóng một vai trò chính trị quan trọng; và cuối cùng điều đó gây ra quan niệm trong nhiều người rằng lĩnh vực văn hoá là một trong những thất bại của quá trình chuyển đổi.
Sau thay đổi chính trị năm 1989-1990, việc xây dựng chính sách văn hoá dựa trên hai yếu tố chính: truyền thống dân tộc trước thời cộng sản và những hình mẫu hiện đại của phương Tây. Trong những năm đầu tiên, quá trình chuyển giao này diễn ra trong bối cảnh có những khó khăn về kinh tế. Vào thời điểm hoàn thành sự thay đổi về hệ thống và mô hình mới được thống nhất, thì sự suy thoái toàn cầu đã ngăn cản nhà nước chi tiêu thêm cho văn hoá. Quá trình hội nhập vào Liên minh châu Âu bị kéo dài cũng là một yếu tố quan trọng hình thành nên chính sách văn hoá ở Hungary; ảnh hưởng của việc gia nhập Liên minh châu Âu vào tháng 5/2004 đối với chính sách văn hoá đến nay vẫn còn chưa chắc chắn.
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí
2.2 Mô tả chung hệ thống
Thẩm
quyền liên quan đến vấn đề văn hoá trong những thập kỉ qua đã trải qua nhiều lần
thay đổi.
Thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia bao gồm: bảo vệ các công
trình di tích, giám sát các tổ chức văn hoá ở nước ngoài,
và các vấn đề tôn
giáo. Mặc dù có một cơ quan quản lí về vấn đề nghe nhìn, thì Bộ trưởng cũng
không có thẩm quyền trực tiếp nào đối với các vấn đề liên quan đến phát thanh và
truyền hình. Giáo dục nghệ thuật và hỗ trợ tài chính cho văn hoá ở các cấp địa
phương cũng không thuộc thẩm quyền của Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia. Mặt khác, có
một đơn vị độc lập có trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn cho các trung tâm văn
hoá cộng đồng.
Phần lớn trách nhiệm hỗ trợ cho văn hoá và các dân tộc thiểu số do Văn phòng nội các thực hiện.
Quỹ Văn hoá Quốc gia là một “chi nhánh nửa tự trị” của Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia, cơ quan này có trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho các dự án.
Hungary vẫn chưa thể thực hiện xong việc tổ chức lại các vùng trên cả nước. Các hạt, theo mô hình thể kỉ 19, vẫn có chức năng quản lí về văn hoá (đặc biệt là quản lí các tổ chức như bảo tàng, thư viện, cơ quan lưu trữ, đôi khi các thành phố cùng quản lí một tổ chức). Bên cạnh chính quyền trung ương, cấp quản lí thực sự đáng kể khác là 3167 chính quyền địa phương.
Việc gia nhập EU buộc Hungary phải hoàn thành việc phân chia vùng (có thể là 7 vùng) và trao cho các vùng quyền quản lí thực tế, bao gồm thẩm quyền đối với các chính sách văn hoá của vùng. Và việc gia nhập EU cũng thúc đẩy việc hình thành nên 167 tiểu vùng: chúng không phải là những đối tác đầy đủ của chính phủ trung ương, tuy nhiên lại có nhiều cơ hội nhận được hỗ trợ từ các quỹ của EU, trong đó có xin hỗ trợ cho mục đích văn hoá.
Nghị viện Hungary theo chế độ một viện, và đây là cơ quan lập pháp. Bên cạnh vai trò chuẩn bị luật, Uỷ ban Văn hoá và Báo chí và Uỷ ban Giáo dục và Khoa học cũng có chức năng giám sát bằng cách đưa các vấn đề văn hoá vào chương trình hoạt động của mình. Tuy nhiên, nhìn chung Nghị viện và các Uỷ ban thuộc Nghị viện có thẩm quyền hạn chế, trong hầu hết mọi trường hợp các cơ quan này một mặt phản ánh ý chí của Chính phủ, và mặt khác là ý chí của các đảng đối lập.
2.3 Hợp tác giữa các bộ ngành và giữa các cấp chính quyền
Hợp tác giữa các bộ được quy định bắt buộc theo nghị định của chính phủ. Không có một cơ quan chính thức nào có nhiệm vụ thúc đẩy sự hợp tác đó. Ngoại lệ duy nhất là Văn phòng phát triển quốc gia, là cơ quan điều phối việc đóng góp của các bộ liên quan đến Kế hoạch phát triển Quốc gia.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá
Hiện tại Hungary có 22 viện văn hoá hoạt động trên toàn thế giới. Các viện này
đều thuộc quản lí của Bộ Di sản Văn hoá. Cơ quan mới được thành lập gần đây nhất
là Trung tâm Văn hoá Hungary ở Brussels, thành lập tháng 12/ 2004. Các viện văn
hoá có trách nhiệm quảng bá văn hoá Hungary ở nước ngoài thông qua các triển
lãm, các thuyết trình, buổi hoà
nhạc, v.v.. Chính phủ cũng hỗ trợ việc tham gia
vào các sự kiện văn hoá lớn. Gần đây, việc quảng bá văn hoá được nhấn mạnh vào
các sự kiện như:
- “MAGYart”, Năm văn hoá Hungary ở Pháp, 2001;
- “Ungherua in primo piano” ở Italy 2002;
- “Magyar” ở Anh, năm 2003-2004;
- “Hongarije an Zee” ở Hà Lan năm 2004.
Các sự kiện như vậy cũng dự kiến được tổ chức, vào năm 2005 là ở Nga và 2006 là ở Đức. Bên cạnh các quan hệ quốc tế song phương, Bộ Di sản Văn hoá cũng thúc đẩy hợp tác đa phương với các quốc gia trong vùng trong khuôn khổ Visegrad Four và Sáng kiến Trung tâm châu Âu. Năm 1990, Hungary trở thành thành viên của Hội đồng châu Âu, và đã gia nhập Liên minh châu Âu năm 2004. Một cơ quan có tên là Đầu mối giao tiếp văn hoá đã được thành lập để giải quyết các vấn đề liên quan đến EU và để thực hiện hỗ trợ đối với các đối tượng muốn xin hỗ trợ tài chính theo chương trình Văn hoá 2000. Hoạt động của cơ quan này chỉ mang tính hỗ trợ. Từ năm 2000 đến 2003, 9 người điều hành dự án, 140 nhà tổ chức và các tổ chức liên quan của Hungary đã tham gia vào các dự án thuộc C2000 (Chương trình Văn hoá 2000)
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố của mô hình chính sách văn hoá hiện nay
Trong số các đặc điểm về chính sách văn hoá ở Hungary, bất cứ người nào cũng có
thể chỉ ra hai đặc điểm sau: tính thực tế và tính hai mặt. Thực tế có
nghĩa là thiếu
các văn bản chính thức làm cơ sở. Có rất ít luật quy định về văn
hoá, và hoạt động thực tế ít khi được định
hướng bởi các tuyên bố hoặc tài liệu mang tính đường lối về việc xây dựng chính
sách văn hoá. Tính hai mặt nghĩa là có sự chia rẽ về tư tưởng đã hình
thành từ giai đoạn sau 1990, giữa cánh hữu và cánh tả, hay “chủ nghĩa dân
tộc-bảo thủ” và “tự do-xã hội”. Sự chia rẽ này lên đến đỉnh điểm tại cuộc bầu cử
Nghị viện 2002; đã có nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm làm cho văn hoá khỏi bị
ảnh hưởng bởi những yếu tố chính trị và tư tưởng, tuy nhiên vẫn chưa mang lại
hiệu quả đáng kể.
Vào thời kì xác định lại các thể chế dân chủ trong những năm 1990, chính quyền địa phương, đặc biệt là các thành phố, đã nhận được quyền độc lập cao hơn. Quá trình phi tập trung hoá này có tính quyết định đối với chính sách văn hoá.
Trong vài năm qua, người ta đã cố gắng để cải thiện những đặc điểm này theo hướng tốt hơn. Bộ trưởng Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia đã nêu ra sự cần thiết phải xây dựng một chiến lược văn hoá quốc gia, và sau đó một bản thảo về chiến lược này đã được đưa ra tranh luận công khai vào mùa hè năm 2004.
Chính phủ cũng đang cố gắng khắc phục sự phân tán của 3167 chính quyền địa phương bằng cách khuyến khích các hoạt động chung, ví dụ như điều hành các thư viện hoặc quản lí các tổ chức, đặc biệt là trong khuôn khổ các tiểu vùng đã được đề cập tại phần 2.2
3.2 Định nghĩa về văn hoá
Hiện tại không có một định nghĩa chính thức nào được quy định trong luật. Đối với người dân Hungary, từ “văn hoá” thường bao gồm cả nghệ thuật: do đó cụm từ “văn hoá và nghệ thuật” hiếm khi được sử dụng.
3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá
Xem phần 3.1 và phần 4.1
4. Các vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hoá
4.1 Những vấn đề chính sách văn hoá quan trọng và những ưu tiên
Từ năm 1990 khi lần đầu tiên thực hiện bầu cử tự do, các ưu tiên chính sách văn
hoá, giống như con lắc, cứ giao động từ trái
sang phải theo chu kì bốn năm một
lần. Một số ưu tiên trong đó có liên quan đến sự ví von trong quan điểm chính
trị về “tả” và “hữu”: chính quyền cánh hữu nhấn mạnh đến di sản quốc gia và niềm
tự hào dân tộc, mối liên hệ văn hoá với những người Hungary đang sống ở các nước
láng giềng. Một quá trình tái tập trung hoá đáng ghi nhớ vào giai đoạn
1998-2002, thời kì nắm chính quyền của phe trung hữu. Giai đoạn này, lĩnh vực
văn hoá đã nhận được nhiều ưu tiên nhất trong vòng 30-40 năm qua. Dự thảo chiến
lược văn hoá 2004, hiện đang được thảo luận, trong đó đề ra những ưu tiên sau
đây:
· Phát triển văn hoá vùng nông thôn;
· Tập trung nhiều hơn vào đối tượng trẻ em;
· Tiếp cận những nhóm công chúng mới;
· Kế hoạch hành động để bảo vệ di sản văn hoá;
· Làm cho các di sản gần gũi hơn với đời sống;
· Quảng bá các giá trị văn hoá Hungary ở trong nước cũng như nước ngoài
· Sự cách tân hiện nay chính là yếu tố cổ điển trong tương lai.
· Văn hoá thúc đẩy phát triển kinh tế và cạnh tranh
4.2 Các vấn đề chính sách và những tranh luận
4.2.1 Văn hoá các dân tộc thiểu số
Vào năm 1995, Hungary là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn hiệp định
khung của Hội đồng châu Âu về bảo
vệ các dân tộc thiểu số. Hungary cũng tham gia
vào các thảo luận nhằm nâng cao tầm quan trọng vấn đề các dân tộc thiểu số trong
các nguyên tắc chính trị và các ưu tiên của Liên minh châu Âu. Luật dân tộc
và dân tộc thiểu số được ban hành năm 1993 (Luật LXXVII), quy định rằng các
dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành của nhà nước; luật cũng định rõ các quyền
tập thể và cá nhân của các dân tộc thiểu số. Các liên đoàn quốc gia các dân tộc
thiểu số có vai trò cố vấn, và thường có quyền phủ quyết đối với các vấn đề pháp
lí có liên quan đến họ. Đại diện của họ được bầu ra tại các làng và thị trấn
cũng như ở cấp quốc gia, những người này có các quyền rất quan trọng và vai trò
của họ ngày một tăng. Hiện tại có 12 cộng đồng văn hoá dân tộc thiểu số chính
thức được thừa nhận (Armenia, Bulgary, Croatia, Đức, Hi Lạp, Ba Lan, Rumani,
Ruthenian, Séc bi, Slovakia, Slovenia, Ukrina) và một nhóm dân tộc thiểu số là
Người La Mã. Tổng tỉ lệ người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 7-8% dân số. Theo
điều tra năm 2002, có 3.1% số người nói rằng họ thuộc về dân tộc thiểu số; 1.3%
coi tiếng dân tộc thiểu số là tiếng mẹ đẻ của mình hoặc ngôn ngữ thứ nhất. Quá
trình đồng hoá đã diễn ra từ rất lâu và người ta e rằng nó sẽ vẫn tiếp tục.
Những đặc điểm dân tộc và xã hội hiện nay của các dân tộc thiểu số có thể sẽ bị
tan biến vào các công trình hoài cổ về văn hoá. Quốc gia này cũng lo rằng 2-3
triệu người Hungary đang sống ở các nước láng giềng cũng sẽ có số phận tương tự
cho nên đã thực hiện mọi nỗ lực có thể để chấm dứt hoặc làm chậm lại quá trình
đồng hoá đang diễn ra trong phạm vi đất nước mình.
Việc gia nhập vào Liên minh châu Âu, và đặc biệt là việc thực thi cố các quy định về biên giới Schengen sẽ là một trong những yếu tố làm cản trở sự hợp tác giữa người Hungary ở hai phía biên giới với Ukraina và Séc bi, đây là một vấn đề chính trị đáng quan tâm. Nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất là người Rumani; họ cũng đóng vai trò nhất định trong việc ban hành chính sách văn hoá và xã hội.
Xem phần 4.2.3 về vấn đề ngôn ngữ và các quyền khác của người thiểu số
4.2.2 Bình đẳng giới và chính sách văn hoá
Trong một thời gian dài, ở Hungary không có một chương trình nào nhằm thúc đẩy vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật. Tuy nhiên, năm 2002 một bộ mới được thành lập và có nhiệm vụ hạn chế các yếu tố không bình đẳng. Bộ đang có một chương trình nhằm thúc đẩy vai trò của phụ nữ; và chương trình này có thể có tác động đối với đời sống văn hoá.
4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách
Trải qua hàng thế kỉ thiếu vắng việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ cho người dân tộc thiểu số, tiếp sau đó là sự nhẫn tâm của chế độ cộng sản, sự biến mất của các cộng đồng biệt lập và sự gia tăng tính đồng nhất do truyền thông đại chúng gây ra, tất cả đều góp phần vào quá trình đồng hoá ngôn ngữ.
Trong một nỗ lực để cân đối lại nhữ
ng yếu tố này là truyền hình quốc gia phát
sóng hàng tuần hoặc hai tuần một lần các chương trình với thời lượng 25 phút
bằng bảy thứ tiếng, và các chương trình kết hợp cho 5 cộng đồng khác – tất cả
các chương trình này đều có phụ đề tiếng Hungary. Tính bình quân, các chương
trình này có độ dài 800 phút mỗi tháng. Trên đài phát thanh Hungary, mỗi ngày
dành 10 tiếng đồng hồ phát chương trình theo 7 thứ tiếng. Tính theo tuần, tiếng
Slovakia được phát sóng với thời lượng lớn nhất, 870 phút mỗi tuần, trong khi
sáu ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác chỉ được phát sóng 30 phút mỗi tuần.
Quỹ Dân tộc thiểu số thực hiện trợ cấp cho 17 ấn phẩm định kì, hỗ trợ cho các đài truyền hình địa phương để thực hiện các chương trình bằng ngôn ngữ thiểu số và chịu mọi chi phí cho việc xuất bản các sách vở bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Các hoạt động nghệ thuật, thư viện, xuất bản sách, nghiên cứu khoa học xã hội và hoạt động tôn giáo của dân tộc thiểu số, được thực hiện theo tiếng mẹ đẻ thì được Chính phủ trợ cấp. Các bảng hiệu bằng hai thứ tiếng cũng được áp dụng ngày càng nhiều tại những ngôi làng có nhiều dân tộc chung sống.
Chỉ có duy nhất dân tộc La Mã nói phương ngữ La Mã, và đọc viết bằng tiếng La Mã từ thời còn niên thiếu.
Không có một đạo luật chung điều chỉnh vấn đề ngôn ngữ Hungary. Sau quá trình thảo luận rộng rãi tại Nghị viện cũng như trên báo chí, Luật XCVI/2001 có quy định về sử dụng tiếng Hungary trong các quảng cáo thương mại, khẩu ngữ, các bảng hiệu, chỉ dẫn, v.v.. bên cạnh tiếng nước ngoài; tuy nhiên quy định này cũng chưa gây được ảnh hưởng lớn.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Nhiệm vụ và cơ cấu của truyền hình nhà nước được quy định trong Luật Truyền
thông (I/1996). Truyền hình nhà nước phát trên ba kênh. Tổng số người xem
truyền hình nhà nước đã tăng lên trong thời gian gần đây, chiếm 17%. Tuy nhiên,
hai kênh truyền hình kinh doanh đã vượt qua kênh số 1 của truyền hình nhà nước
về số người xem: kênh truyền hình kinh doanh hàng đầu có 40% lượng người xem, và
kênh truyền hình kinh doanh đứng thứ hai có lư
ợng người xem chiếm 30%; trong khi
kênh số 1 của truyền hình nhà nước có lượng người xem là 10%, và các kênh còn
lại là 20%. Hàng ngày có trên 1 triệu người Hungary đang sống ở Rumani xem các
kênh truyền hình nhà nước của Hungary – các kênh này được phát qua vệ tinh.
Truyền hình nhà nước bị chỉ trích rất nhiều do chi phí quá cao. Hiện nay người ta đang xem xét phát các kênh truyền hình theo chủ đề – và có thể sẽ có kênh truyền hình chuyên về văn hoá.
Giấy phép dài hạn cấp cho hai kênh truyền hình kinh doanh được thực hiện theo phương thức đấu thầu công khai: các kế hoạch phải bao gồm một số cam kết về đặc điểm văn hoá. Do sự giảm sút về ngân sách thu từ quảng cáo, các nội dung văn hoá trên truyền hình đã bị giảm đáng kể. ở Hungary cũng có các kênh truyền hình đa quốc gia được phát qua hệ thống cable, và chúng cũng góp phần thực hiện các chức năng văn hoá và giáo dục.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với lĩnh vực phát thanh, với ba kênh phát thanh quốc gia và hàng chục đài phát thanh của các địa phương. Một hiện tượng đáng chú ý là sự phát triển của kênh Radio C, do người La Mã thực hiện. Vì đã sử dụng hết nguồn tài chính trong năm đầu tiên, nên Chính phủ đã tiếp tục trợ cấp tài chính cho đài này.
Trong ngành báo viết, do quá trình tư nhân hoá, và sau đó là thương mại hoá nên việc thực hiện các chương trình văn hoá ngày càng ít được chú trọng. Trong một thời gian, những người Hungary có thể tạm hài lòng với việc tờ nhật báo quan trọng, trong đó luôn có các bài viết phê bình nghệ thuật có chất lượng cao, luôn dẫn đầu các tờ báo khổ nhỏ về lượng độc giả: từ năm 2001 trở đi điều này không còn đúng nữa.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương trình và quan hệ đối tác
Cho đến nay không có một chiến lược toàn diện hoặc chính sách nào nhằm định hướng cho các ngành kinh doanh văn hoá. Thông tin về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này (thu nhập, lợi nhuận, thuế, xuất khẩu, lao động, v.v..) đều rất rời rạc, do đó rất khó thu thập.
Các số liệu về doanh thu từ việc bán các bản ghi âm phản ánh sự khủng hoảng trên toàn thế giới trong lĩnh vực này. Các nhà xuất bản làm ăn khấm khá hơn, mặc dù số lượng nhà in đang có xu hướng giảm xuống (năm 1993 là 8 500/ và năm 2003 chỉ còn 544 nhà in). Không có số liệu nào về doanh thu của lĩnh vực nghệ thuật ứng dụng, nghệ thuật dân gian, làm bưu thiếp v.v…
Bảng 1: Doanh số của các ngành kinh doanh văn hoá
|
2001 |
2003 |
||||
|
|
Triệu đơn vị |
Triệu HUF (Hu frin) |
Triệu đơn vị |
Phần trăm sản phẩm Hungary* |
Triệu HUF |
|
Đĩa CD |
3.26 |
6.07 |
3.32 |
31 % |
5.98 |
|
Nhạc Cassette |
2.70 |
2.64 |
1.64 |
60 % |
1.76 |
|
Video Cassettes |
0.02 |
0.04 |
0.02 |
80 % |
0.03 |
|
DVD |
0.03 |
0.01 |
0.11 |
16 % |
0.38 |
|
Sách |
32.60 |
45.72 |
32.63 |
68 % |
56.87 |
Lưu ý: * các nghệ sĩ biểu diễn và tác giả người Hungary, và các nhà sản xuất Video và DVD.
Các Quỹ Công có trợ cấp đối với các sản phẩm phim và sách. Quỹ Văn hoá Quốc gia
cũng hỗ trợ đối với một số doanh nghiệp kinh doanh về văn h
oá trong các lĩnh vực
như phim, văn học, âm nhạc, nghệ thuật dân gian, và văn hoá đại chúng (ví dụ như
xiếc), với tổng số tiền lên đến 2.5 tỉ HUF hàng năm (gần 10 triệu euro).
Trong lĩnh vực xuất bản sách, diễn biến đáng kể nhất là việc giảm thuế VAT từ 12% xuống còn 5% từ tháng 1/ 2004. Trong lĩnh vực này còn có một chương trình giảm lãi suất đối với các khoản vốn vay (50% lãi suất sẽ do Bộ Di sản Văn hoá chịu). Chương trình này được đồng quản lí bởi Bộ Di sản Văn hoá và một ngân hàng tư nhân được lựa chọn thông qua đấu thầu.
Quỹ Dịch thuật Hungary đã được thành lập cách đây 8 năm, tuy nhiên nó lại thực hiện trợ cấp đối với các nhà xuất bản nước ngoài do đó không thể xem là nguồn hỗ trợ của nhà nước đối với ngành kinh doanh văn hoá Hungary.
Mặc dù hỗ trợ của nhà nước đối với ngành phim không được bảo đảm về mặt pháp lí (xem phần 5.3.3), thì hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực này cũng đạt đết con số gần 6 tỉ HUF trong năm 2004 (khoảng 23 triệu euro), con số này cao gấp 5 lần so với 4 năm trước đó. Tuy nhiên, năm 2005 nguồn hỗ trợ này giảm xuống còn 4 triệu HUF.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Số dân tham gia lao động hiện nay là 4,11 triệu người, trong đó 2.71 triệu người là làm việc toàn thời gian. Trong số 2,71 triệu đó có 790 000 người làm việc trong các khối nhà nước, công chức và người lao động. Bảng 2 dưới đây cho thấy khoảng 21 000 lao động văn hoá trong khối nhà nước, chiếm khoảng 2,8% số người làm thuê (theo hợp đồng?).
Bảng 2: Việc làm trong lĩnh vực văn hoá, khối nhà nước, 2003.
|
Lĩnh vực |
Số người làm việc tại các vùng và thành phố |
Số người làm việc trong các tổ chức quốc gia |
Số người làm việc trong các tổ chức văn hoá quốc gia |
||||||
|
|
P |
A&T |
Total |
P |
A&T |
Total |
P |
A&T |
Total |
|
Bảo tàng |
1 313 |
1 294 |
2 607 |
997 |
1 032 |
2 029 |
2 310 |
2 326 |
4 636 |
|
Lưu trữ |
534 |
152 |
686 |
289 |
85 |
374 |
823 |
237 |
1 060 |
|
Thư viện |
2 678 |
917 |
3 595 |
1 505 |
331 |
1 836 |
4 183 |
1 248 |
5 431 |
|
Âm nhạc |
37 |
19 |
56 |
991 |
99 |
1 090 |
1 028 |
118 |
1 146 |
|
Nhà hát kịch |
1 716 |
1 719 |
3 435 |
75 |
204 |
279 |
1 791 |
1 923 |
3 714 |
|
Múa |
536 |
70 |
606 |
239 |
91 |
330 |
775 |
161 |
936 |
|
Các hoạt động văn hoá-xã hội |
1 468 |
1 901 |
3 369 |
412 |
184 |
596 |
1 880 |
2 085 |
3 965 |
|
Khác |
35 |
13 |
48 |
107 |
56 |
163 |
142 |
69 |
211 |
|
Tổng |
8 317 |
6 085 |
14 402 |
4 615 |
2 082 |
6 697 |
12 932 |
8 167 |
21 099 |
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Kho bạc Nhà nước
Lưu ý: P là số nhân viên chuyên môn
A&T: nhân viên hành chính và kĩ thuật
Các con số trên chỉ đề cập đến việc làm trong khối nhà nước. Lực lượng lao động thực tế trong lĩnh vực văn hoá cao hơn rất nhiều, tuy nhiên không có số liệu nào trong khối doanh nghiệp và những người tự doanh. Một số cơ sở, ví dụ như phòng trưng bày nghệ thuật, sản xuất phim và điện ảnh, xuất bản và kinh doanh sách hầu như thuộc về sở hữu tư nhân. Lao động trong các đài phát thanh và truyền hình cũng không được đưa vào bởi vì những đối tượng này theo phân loại chính thức là thuộc về khối doanh nghiệp.
Vấn đề gây tranh cãi nhất là quy chế của những nghệ sĩ tự doanh. Hầu hết các nghệ sĩ tự doanh – diễn viên, hoạ sĩ, dịch giả, v.v.. làm việc theo các hình thức hợp danh, hình thức đơn giản nhất của công ty kinh doanh hoặc làm việc với các thành viên khác trong gia đình như những đối tác hoạt động. Do đó cũng dễ hiểu khi họ đang cố gắng để bảo vệ hoặc đòi lại những bảo đảm giống như những bảo đảm mà nhà nước dành cho người lao động toàn thời gian; mặt khác, hầu hết các nhà quản lí văn hoá thích làm việc với các nghệ sĩ có kí hợp đồng hơn.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá
Việc thành lập Bộ Tin học và Viễn thông năm 2002 cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn đối với công nghệ. Với sự tham gia của Bộ Văn hoá, sự hợp tác chiến lược bắt đầu thực hiện trong lĩnh vực lưu giữ các di sản văn hóa dưới dạng số, đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực nghe-nhìn.
Tài liệu chiến lược quốc gia về công nghệ thông tin và văn hoá cũng chưa được
ban hành dưới dạng luật hoặc nghị định của Chính phủ. Một dự thảo chiến lược dài
hạn về văn hoá và công nghệ thông tin đến năm 2015 đang được đem ra thảo luận.
Các
mục tiêu trong dự thảo này là:
* Tạo cơ hội cho công chúng được tiếp cận rộng rãi với các tài sản và dịch vụ văn hoá;
* Bảo vệ các giá trị và di sản;
* Tạo ra nhiều giá trị mới (nhiều ý tưởng nghệ thuật mới cần được thực hiện bằng cách sử dụng các điều kiện mới về kĩ thuật, xã hội và kinh tế).
Để đạt được các mục tiêu này cần phải tập trung vào các vấn đề sau:
* Các sản phẩm nghệ thuật mới, những hình thức sáng tạo mới trong thời đại kĩ thuật số;
* Thay đổi thói quen của người tiêu dùng sản phẩm văn hoá trong thời đại kĩ thuật số;
* Lĩnh vực văn hóa góp phần thúc đẩy xã hội tri thức
* Tạo điều kiện tiếp cận đối với văn hoá;
* Gìn giữ các di sản văn hoá thông qua việc lưu trữ và số hoá;
* Quản lí văn hoá bằng phương tiện điện tử;
* Hiệu quả kinh tế của đầu tư vào văn hoá
Theo chiến lược này, Cơ quan Lưu trữ nghe-nhìn quốc gia (NAVA) đã được thành lập năm 2004. NAVA là cơ quan lữu trữ các tư liệu nghe nhìn của các cơ quan phát thanh truyền hình quốc gia Hungary. Vai trò của NAVA đối với các tư liệu nghe nhìn cũng có thể so sánh như vai trò của Thư viện Quốc gia Széchesyi đối với sản ấn phẩm in hoặc như vai trò của Cơ quan Lưu trữ Phim Quốc gia đối với các phim của Hungary. Điểm khác biệt của NAVA là nó tạo điều kiện tiếp cận trực tuyến đối với sản sản phẩm mà nó lưu trữ, và điều này được quy định trong luật. Ngoài ra, nó còn hỗ trợ việc lưu trữ tư liệu của các cơ quan phát thanh truyền hình địa phương. Năm đầu tiên được xem là giai đoạn thử nghiệm và chuẩn bị cho việc chính thức đi vào hoạt động năm 2006. Ban đầu các sản phẩm của các kênh phát thanh truyền hình nhà nước sẽ được thu thập, xử lí và lưu lại. Năm 2005, dự án này tiêu tốn đến 7% ngân sách của Bộ Văn hoá, khoảng 2568 triệu HUF (một phần của số tiền này được dành để hỗ trợ cho các hãng truyền hình yếu kém của nhà nước).
Sự phát triển điện tử hoá của hệ thống thư viện công cũng là một vấn đề khác đáng quan tâm.
Thư viện Điện tử John von Neumann được thành lập năm 1997. Cơ quan này có nhiệm vụ tham gia vào công việc số hoá các di sản văn hoá Hungary và điều phối mọi hoạt động có liên quan, quản lí hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho các dự án số hoá này.
MEK, hợp tuyển (bộ sưu tập) điện tử về văn chương Hungary, ra đời năm 1994 do một cơ quan tư nhân thực hiện. Bộ sưu tập này hiện có khoảng 4700 tác phẩm (xem thêm phần 9.2).
Viện Văn học Điện tử là một dự án đặc biệt trong khuôn khổ của Bảo tàng Văn học trung ương. Viện này kí các hợp đồng với những nhà văn nổi tiếng để phổ biến các tác phẩm của họ trên Internet. Đổi lại, các tác giả nhận được hàng tháng một khoản phụ cấp gấp bốn lần tiền lương tối thiểu.
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương trình và mô hình
Đào tạo các nghệ sĩ ở Hungary đã được thực hiện ở cấp tiểu học, trung học. Hiện tại có 555 cơ sở đào tạo cơ bản về nghệ thuật và âm nhạc, với khoảng 800 chi nhánh. Có 9 000 giáo viên giảng dạy cho 260 000 học sinh (hai phần ba trong số đó học về âm nhạc). ở cấp trung học phổ thông có 400 giáo viên giảng dạy cho 4 400 học sinh (45% trong số đó học về âm nhạc) tại 34 cơ sở đào tạo.
Việc giáo dục nghệ thuật tại các trường công hàng năm đều nhận được trợ cấp từ ngân sách trung ương. Năm 2005, giáo dục âm nhạc ở tiểu học nhận được 105 000 HUF mỗi học sinh; giáo dục tiểu học trong các lĩnh vực nghệ thuật ứng dụng, mĩ thuật, múa, kịch, và múa rối nhận được 59 000 HUF mỗi học sinh.
Giáo dục và đào tạo nghệ thuật chuyên nghiệp đã có truyền thống lâu đời: Đại học
Mĩ thuật được thành lập năm 1871, và Đại học Âm nhạc
Franz Liszt được thành lập
năm 1875. Năm 2002, tại 5 cơ sở đào tạo đại học và trên đại học, có 951 giáo
viên với số sinh viên là 3152 người.
Từ tháng 9/2001, một môn học mới bắt buộc là “Kịch và Múa” được đưa vào giảng dạy trong trường tiểu học và trung học cơ sở. Số buổi học tổi thiểu của môn học này cho mỗi năm là 18, tuy nhiên các trường học có thể tuỳ ý tăng thêm thời gian giảng dạy.
Các tiêu chuẩn sau đây dựa trên các cải tổ về đào tạo giáo viên. Hiện tại có các loại chứng chỉ sau:
* Giáo viên kịch (nghị định 8/1998, XII.1 của Bộ Giáo dục);
* Giáo viên dạy trò chơi và giải trí (nghị định 25/1999., VII.6 của Bộ Giáo dục);
* Giáo viên múa và kịch (nghị định 20/1999., IV.21 của Bộ giáo dục).
4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách
Diễn biến quan trọng nhất là việc chuyển trách nhiệm bảo vệ các công trình di sản cho lĩnh vực văn hoá vào năm 1998 sau nhiều thập kỉ bị phân tán.
Những tranh luận gần đây đã dẫn đến quyết định xây dựng “Cung nghệ thuật”. Công trình này bao gồm Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại và một phòng giao hưởng được trang bị tốt nhất cả nước. Đây là một phần của một khu liên hợp ở phía Nam của thủ đô (trên thành phố Pest), trong đó có cả Nhà hát Quốc gia (hoàn thành năm 2002).
Từ tháng 5/ 2004, việc tham quan 24 bảo tàng do nhà nước quản lí sẽ được miễn phí. 120 bảo tàng khác do chính quyền địa phương quản lí sẽ có quyền tự quyết định có thu phí hay không.
5. Quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá
5.1 Quy định chung
5.1.1 Hiến pháp
Hiến pháp quy định rõ ràng về vấn đề văn hoá:
Điều 35.
(1) Chính phủ phải:
f) Xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc phát triển khoa học, văn hoá, và bảo đảm các điều kiện cần thiết cho sự phát triển đó.
Điều 66.
(1) Nhà nước Hungary bảo đảm sự bình đẳng nam nữ giới về tất cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá.
Điều 70/F.
(1) Nhà nước Hungary bảo đảm quyền giáo dục cho các công dân.
Điều 70/G.
(1) Nhà nước Hungary tôn trọng và ủng hộ quyền tự do thể hiện nghệ thuật và nghiên cứu khoa học, tự do học tập và giảng dạy.
Mặc dù trong điều 70/F không đề cập đến văn hoá hoặc nghệ thuật, nhưng đây là đoạn thường được trích dẫn nhất khi nói về văn hoá. Vì giáo dục trong tiếng Hungary là muvelodes, một thuật ngữ được hiểu rộng hơn so với giáo dục thông thường, và nó thường bao gồm cả các hoạt động thực hiện hay “tiêu dùng” văn hoá.
Tuy nhiên, các đoạn trích dẫn này có rất ít tác động trực tiếp đối với các hiện tượng văn hoá ở Hungary. Có hàng trăm nghị quyết của Toà án Hiến pháp hầu như không bao giờ viện dẫn đến các quy định này. Do đó, các điều khoản này thỉnh thoảng chỉ được nhắc đến trong các tuyên bố chính trị hoặc trong các ấn phẩm xuất bản.
Tương tự, các ghi chép về hoạt động của thanh tra nghị viện về quyền dân sự có rất ít các trường hợp chỉ liên quan đến các quyền văn hoá.
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
Hiện đang tồn tại một hệ thống gồm ba tầng, cấp nhà nước và cấp thành phố (khoảng 3 300 đô thị), các hạt dần mất đi tầm quan trọng. Tuy nhiên, họ cũng tổ chức bầu cử chính quyền địa phương, khác với 7 vùng được thành lập để đáp ứng các điều kiện của Liên minh châu Âu (xem thêm phần 7.1).
Về nghĩa vụ của các chính quyền địa phương, xem phần 5.3.4
5.1.3 Phân bổ nguồn tài chính nhà nước
Quy định pháp lí phù hợp với các tiêu chuẩn của châu Âu về chi tiêu của nhà nước. Tuy nhiên, trong lĩnh vực văn hoá việc chi tiêu tài chính của nhà nước lại diễn ra hoàn toàn khác. Mặt khác, có những luật đưa ra các nghĩa vụ không cần thiết, trong khi ở các lĩnh vực khác lại thiếu các quy định rõ ràng:
Các ví dụ về trở ngại hành chính không cần thiết:
* Để nhậ
n được trợ cấp từ Quỹ Văn hoá Quốc gia, tổ chức văn hoá phải không có
khoản nợ nào đối với nhà nước; mỗi lần xin trợ cấp tổ chức văn hoá phải xuất
trình giấy chứng nhận hoạt động (bản gốc) cho hai cơ quan có thẩm quyền;
* Để kiểm soát việc thanh toán của các tổ chức dân sự, các bộ buộc phải xin sự chấp thuận của chính phủ đối với một số tiền trợ cấp nhất định. Điều này gây ra sự trì hoãn, và chỉ mang tính thủ tục mà thôi, thể hiện trên danh sách được đăng tải trên website của Bộ theo từng giai đoạn hai hoặc ba tháng.
Mặt khác, ngân sách của Bộ Di sản Văn hoá còn có nhiều điểm không minh bạch liên quan đến những khoản tiền lớn. Ví dụ như trong ngân sách năm 2005:
* 5000 triệu HUF (khoảng 20 triệu EUR, chiếm 6.2% ngân sách của Bộ Di sản Văn hoá) dành cho “hỗ trợ các cơ quan văn hoá”, ví dụ như 19 công ty công ích thuộc sở hữu của Bộ, bao gồm hai Nhà hát kịch Budapest, Dàn giao hưởng Quốc gia, Chiếu bóng Quốc gia, các bảo tàng, Lâu đài Hoàng gia ở Godollo, và Pháo đài thế kỉ 19 ở Komarom.
* 9475 triệu HUF (khoảng 39 triệu EUR, chiếm 11.8% ngân sách của Bộ) dành chi cho Cung Văn hoá mới, được xây dựng bởi Công ty đầu tư bất động sản lớn nhất Hungary theo chương trình PPP. Nó sẽ bao gồm một phòng giao hưởng và một bảo tàng nghệ thuật đương đại. Tuy nhiên, việc chi tiêu đó được thực hiện theo một tiến trình thiếu minh bạch về chính trị cũng như về chuyên môn.
* Một phần tư số tiền 9600 HUF của Quỹ Văn hoá Quốc gia dành cho trợ cấp sẽ do Bộ Trưởng Bộ Di sản quyết định.
Do đó, việc xác định cụ thể chi tiêu cho văn hoá năm 2005 sẽ khó có thể thực hiện được trước giữa năm 2006, là thời điểm phải trình báo cáo chi tiết chi tiêu của Chính phủ lên nghị viện
5.1.4 An sinh xã hội
Khi
còn ở chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả những người làm việc trong ngành văn hoá
cho dù làm việc trong khối dân sự hoặc là thành viên của các tổ chức nghệ thuật
đều được hưởng phúc lợi tương tự như những người lao động được trả lương. Nhiệm
vụ khó khăn nhất là phải chuyển đổi hệ thống chăm sóc y tế và lương hưu của “Quỹ
Nghệ thuật”, kế thừa từ thời cộng sản, sang hệ thống bảo hiểm mới. Nhà nước bảo
đảm việc chi trả tiền lương hưu cho những nghệ sĩ và nhà văn từng là thành viên
của Quỹ Nghệ thuật trước khi nó được chuyển sang Quỹ Sáng tạo Nghệ thuật Hungary
(Magyar Alkotúmuvộszeti Kửzalapớtvỏny, MAK) năm 1992. Ngân sách năm 2005 của Bộ
Di sản Văn hoá còn bao gồm một khoản trợ cấp 1 252 triệu HUF (tương đương 5
triệu EUR, xem thêm phần 8.1.1).
Theo ước tính, trên 75% nhạc sĩ, vũ công, nhạc sĩ-nhạc công, người tổ chức nghệ thuật, kĩ thuật viên, nhà thiết kế, và những người hoạt động văn hoá khác là những người tự doanh, thường là thông qua hình thức công ty có tên là “beteti tarsasag”, hay Bt. Loại công ty hợp danh hữu hạn này có quy chế đơn giản và không tốn nhiều chi phí để thành lập và điều hành. Mỗi công ty phải có ít nhất hai thành viên sáng lập, một thành viên “bên trong” (người góp vốn và quản lí) và một thành viên “bên ngoài” (người chỉ góp vốn mà không tham gia quản lí). Phúc lợi xã hội cũng được thực hiện với các đối tác kí kết thành lập Bt cho dù họ có làm việc cho công ty này hay không. Có thể kể đến các lợi ích họ được hưởng như chăm sóc y tế và các lợi ích khác cho các thành viên trong gia đình họ
Chi phí chăm sóc y tế cơ bản và trợ cấp thai sản được thanh toán bằng bảo hiểm xã hội.
Những người lao động độc lập không được quyền xin trợ cấp thất nghiệp. Phúc lợi ốm đau (trợ cấp ốm đau) có thể được thanh toán theo hợp đồng bảo hiểm cá nhân. Hầu hết những người lao động độc lập trong lĩnh vực văn hoá đều đóng tiền cho quỹ hưu trí tư nhân, số tiền này sau đó sẽ được chuyển đến quỹ hưu trí nhà nước.
5.1.5 Luật thuế
Đối với các cá nhân, từ năm 2005 sẽ áp dụng hai mức thuế: 16% và 38%. Tiền thuế
có thể được giảm xuống với số
tiền tối đa là 50 000 HUF (khoảng 200 EUR) đối với
các thu nhập được tạo ra từ bản quyền hoặc các khoản tiền thù lao tác quyền
khác. Việc đóng góp vì mục đích phúc thiện cũng có thể được tính vào để trừ thuế
thu nhập cá nhân.
Các giải thưởng, phần thưởng và học bổng của nhà nước được miễn thuế; các nghệ sĩ có thể được trừ chi phí đối với vật liệu (đầu vào) trong việc tính thuế.
Thuế thu nhập công ty là 16%, thuế bổ sung 20% được đánh vào cổ tức.
Luật phi lợi nhuận (CLVI/1997) tạo điều kiện cho hoạt động của các tổ chức và quỹ hội thuộc khối thứ ba. Các quy định trong luật này bao gồm ưu đãi thuế để khuyến khích tư nhân hỗ trợ cho các hoạt động nhằm mục tiêu công. Do có những quy định manh tính quan liêu hành chính mà những ưu đãi này ít có hiệu lực trên thực tế. Các nỗ lực đang được thực hiện để thay đổi hình ảnh này bằng cách liên kết với lĩnh vực văn hoá để thực hiện các hoạt động tài trợ.
Thuế VAT áp dụng: 25% cho các sản phẩm ghi âm, 15% đối với ấn phẩm định kì, nghệ thuật biểu diễn (bao gồm cả bán vé tại các nhà hát), sản phẩm thủ công, làm phim, cho thuê băng hình, cinema, v.v..; thuế suất 5% áp dụng đối với sách, bao gồm cả sách giáo khoa. Đăng kí thuế VAT là nghĩa vụ bắt buộc đối với các cơ quan tổ chức, trừ phi được miễn thuế (đối với những tổ chức có doanh thu hàng năm dưới 4 triệu HUF).
Các nghệ sĩ cũng phải đóng thuế như những công dân khác, nhưng đa số những người làm việc theo kiểu cộng tác viên được thừa nhận là “beteti tarsagag” (hợp danh), hình thức đơn giản nhất của công ti. Một thay đổi đáng kể trong hệ thống tài khoá là sự đơn giản hoá triệt để việc quản lí và đánh thuế các doanh nghiệp nhỏ (gọi là EVA: thuế doanh nghiệp đã được đơn giản). Điều này mang lại nhiều lợi ích cho các nghệ sĩ và những người tự doanh hoạt động trong lĩnh vực văn hoá.
Theo chế độ EVA, các doanh nghiệp nhỏ như công ty hợp danh không nhất thiết ghi chép lại các chi phí mà được đánh thuế theo mức cố định là 15%. Điều này tiện lợi hơn so với việc tính thuế theo tỉ suất 25% và loại bỏ được việc lưu giữ hoá đơn và việc tính toán để khấu trừ các chi phí nghề nghiệp. Mặt khác những người bị đánh thuế VAT sẽ không được hoàn thuế VAT đối với chi phí của họ. Trên thực tế cũng không có quy định bắt buộc phải ghi chép chi phí kinh doanh: do đó không còn việc thu lập, lưu giữ, vào sổ sách và làm kế toán. Kể từ khi áp dụng EVA, số tiền cơ quan thuế thu được đã tăng lên.
Hệ thống thuế của Hungary còn có một điều đặc biệt khác. Khi người đóng thuế trình báo cáo thuế hàng năm, họ có thể phân bổ 1% thuế thu nhập của họ vào một công ty phi lợi nhuận theo lựa chọn của họ. Các công ty phi lợi nhuận này có thể là tổ chức từ thiện và một số tổ chức văn hoá. Xem thêm phần 8.1.3 để biết thêm thông tin.
5.1.6 Luật lao động
Từ
tháng 1/ 2005, mức lương tối thiểu hàng tháng là 57 000 HUF (khoảng 230 EUR).
Thu nhập ròng bình quân khoảng gấp đôi con số trên.
Quan hệ đối tác được thực hiện một cách tương đối hiệu quả ở cấp quốc gia và trên quy mô lớn, ví dụ như quan hệ đối tác giữa Chính phủ và các nhân viên. Tuy nhiên trong lĩnh vực văn hoá, những quan hệ đối tác đó lại ít được thực hiện, và thậm chí trong một số lĩnh vực thuộc văn hoá những quan hệ này còn không tồn tại.
Các điều kiện lao động của các viên chức và người lao động trong khối tư nhân được quy định trong luật dịch vụ dân sự và luật tài chính công. Các luật này có những quy định chi tiết về thang bảng lương và các tiêu chí khác về tiền lương – trong đó có nhiều phần đề cập trực tiếp trên việc làm trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật. Các quy định này được cập nhật hàng năm, trong đó công đoàn ngành văn hoá có tham gia một cách tích cực.
Như đã nói trong phần 5.1.3, đa số những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá đều theo hình thức beteti tarsasag (Bt). Và hình thức này cũng được sử dụng bởi những người lao động nhận tiền công định kì, người làm việc cộng tác theo vụ việc.
Cũng có thể đăng kí làm người tự doanh theo theo quy chế bình thường. Tuy nhiên, điều này được cho là phức tạp, gây nhiều tốn kém và chỉ phù hợp với những người tự doanh có thu nhập cao, công việc thường xuyên và phải đóng thuế cao.
Trong một số tổ chức văn hoá quốc gia tồn tại hai cơ chế trả lương khác nhau. Một số nghệ sĩ được kí hợp đồng làm việc toàn thời gian và được trả mức lương thấp, trong khi đó các nghệ sĩ khác là những người tự doanh và có thể tạo được mức thu nhập cao theo nhiều cách khác nhau.
Có một số quy định trong hệ thống hưu bổng cho phép những nghệ sĩ biểu diễn có thể nghỉ hưu sớm tuỳ vào một số điều kiện nhất định, ví dụ như vũ công (nghệ sĩ múa).
Hiện tại không có quy định cụ thể nào đề cập đến sự tham gia của những người tình nguyện trong lĩnh vực văn hoá.
5.1.7 Quy định về bản quyền
Luật bản quyền của Hungary theo thuyết của pháp luật lục địa, tức là đề cao
quyền tác giả (droit d’auteur). Luật bản q
uyền LXXVI/1999 tuân thủ nghiêm
ngặt các yêu cầu về acquis (xác lập bản quyền) của Liên minh châu Âu.
Theo luật này, thời hạn bảo hộ được kéo dài đến 70 năm sau khi tác giả chết.
Luật này cũng quy định các quyền gắn liền với việc phổ biến và tải xuống từ internet.
Luật Bản quyền đã đưa ra quy định về quyền sao chụp, và thành lập Hiệp hội Hungary về Bản quyền Sao chụp (RSZ). Cơ quan này có chức năng thu và phân phối phí bản quyền sao chụp. Các trường học và thư viện công được miễn trừ các khoản phí này. Những nhà nhập khẩu và sản xuất các máy sao chụp và các thiết bị liên quan đều phải đóng các loại phí này. RZS đang cố gắng để mở rộng phạm vi áp dụng loại phí này đối với các nhà in, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa đạt kết quả. Các loại phí khác sẽ do Bộ trưởng Bộ Văn hoá quyết định hàng năm.
Hệ thống tương tự cũng đang được áp dụng có hiệu quả đối với các loại phí liên quan đến biểu diễn công khai âm nhạc và văn học. Các loại phí được ghi trong một danh sách phức tạp với trên 400 dòng kẻ và các điều kiện khác nhau. Ví dụ, trong năm 2005, loại phí hàng ngày: các câu lạc bộ đêm tại khác khu du lịch có mùa hoạt động dưới ba tháng phải đóng mỗi ngày là 1 855 HUF (khoảng 7.5 EUR); các cửa hàng bán kem và mứt tại các khu dân cư dưới 1 000 người phải đóng 175 HUF (khoảng 0.7 EUR). Số tiền tăng lên 20% nếu có các máy bán hàng tự động với nhiều lựa chọn (nhiều loại hàng khác nhau); tăng thêm 60% nếu có biễu diễn nhạc sống (30% nếu chỉ thuê ít nhất 2 nhạc công).
Từ năm 1994, các loại thuế còn được áp dụng đối với bán các băng trắng. Sau này các sản phẩm sau đây cũng thuộc đối tượng áp dụng: CD, DVD, MP3 v.v..; ví dụ đối với nhạc MP3 phí được tính là 530 HUF (khoảng 2.1 EUR) cho mỗi gói dữ liệu 32 MB.
5.1.8 Luật bảo vệ dữ liệu
Luật bảo vệ dữ liệu của Hungary và việc thực hiện luật này rất nghiêm ngặt. Trong số đó là quy định Thanh tra đặc biệt về bảo vệ dữ liệu. Hoạt động của cơ quan này đã thúc đẩy việc lưu trữ trong quá trình xác định các nạn nhân của vụ thảm sát người Do thái.
5.1.9 Luật ngôn ngữ
Luật 2001/XCVI được ban hành nhằm hạn chế các sự xuất hiện của ngôn ngữ nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Luật này sau đó được thảo luận sôi nổi trên báo chí, tuy nhiên có rất ít thông tin về thực hiện luật này.
5.2 Luật về văn hoá
Ở Hungary, không có một đạo luật điều chính một cách toàn diện về văn hoá hoặc
nghệ thuật. Luật CXL/1997 thường được gọi là “luật văn hoá”, nhưng thực
tế nó chỉ điều chỉnh các vấn đề thư viện, bảo tàng, các hoạt động văn hoá xã
hội. Các luật được sửa đổi hàng năm về các vấn đề ngân sách, thuế và
quy định
thẩm quyền của chính quyền địa phương đều giữ vai trò nòng cốt. Luật tài chính
công và luật viên chức nhà nước liên quan đến hoạt động của các tổ chức văn hoá
thuộc sở hữu nhà nước.
Luật về công ty cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng. Cách đây vài năm, quy chế về “công ty công ích” hay “kht” được ban hành, nó tạo điều kiện cho việc thành lập các doanh nghiệp phi lợi nhuận, và một số lượng lớn các tổ chức văn hoá đang chuyển sang hoạt động theo hình thức “công ty công ích”; hầu hết các tổ chức văn hoá mới thành lập đều lựa chọn quy chế này. Tương tự, các quỹ hội công được thành lập gần đây và hoạt động của chúng về cơ bản được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự.
Luật XXIII/1993 về Quỹ Văn hoá Quốc gia quy định số tiền thu được khi bán các hàng hoá và dịch vụ, kể cả quảng cáo, phải trích ra 1% để đóng góp cho văn hoá. Mỗi năm Quỹ này thu được khoảng 8-10 000 triệu HUF. Một phần tư số tiền đó sẽ do Bộ trưởng Văn hoá quyết định chi tiêu. Phần còn lại được chi theo chỉ dẫn của ủy ban điều hành, trên thực tế có 16 uỷ ban chuyên môn.
Luật CXXVI/1996 về “1%” đã thu hút được sự quan tâm của các quốc gia khác. Theo quy định của luật này, những người đóng thuế có chỉ định 1% thuế đã đóng năm trước đó cho một tổ chức phi lợi nhuận bằng cách chỉ ra mã số thuế của tổ chức phi lợi nhuận đó. (Tương tự, 1% cũng được chỉ định cho một tổ chức tôn giáo)
5.3 Quy định trong các lĩnh vực cụ thể
5.3.1 Di sản Văn hoá
Luật về di sản khảo cổ, xây dựng và các di sản di dời được ban hành năm 1997, trong khi Luật Lưu trữ được ban hành năm 1995. Luật này có quy định cụ thể về quyền sở hữu của nhà nước, chính quyền địa phương, và các tổ chức tư nhân (bao gồm cả nhà thờ), và quy định việc bảo vệ và sử dụng các di sản. Năm 2001, một đạo luật mới được ban hành điều chỉnh vấn đề bảo vệ di sản văn hoá, bao gồm các di sản khảo cổ và xây dựng, bảo vệ các di sản di dời được. Các tổ chức có liên quan trước đấy đều được sát nhập vào Cơ quan quốc gia mới thành lập về bảo vệ các di sản văn hoá. Cơ quan này có tám văn phòng đặt tại các vùng. Gần đây, chế định pháp luật về bảo vệ các di sản văn hoá đã được bổ sung thêm một số luật mới.
Sự bổ sung quan trọng nhất đó là Luật lưu trữ quốc gia về âm thanh- hình ảnh (NAVA) được ban hành năm 2004 (xem phần 4.2.7). Một yếu tố mới quan trọng khác, ngân sách năm 2005 đã quy định một số tiền mà Bộ trưởng Tài chính có thể sử dụng để bảo đảm an toàn cho các triển lãm văn hoá lớn diễn ra trên đất nước. Số tiền này tương đương với 1/3 ngân sách của Chính phủ dành cho văn hoá, và chiếm đến 1/5 các khoản tiền bảo đảm của Chính phủ trong năm 2005.
5.3.2 Văn học và thư viện
Hungary không có luật quy định về lĩnh vực văn học, mặc dù với việc thành công của 15 năm thi hành Luật phim, các nhà văn đã rất nỗ lực để vận động cho việc ban hành Luật Văn học. Tuy nhiên, lĩnh vực thư viện lại được quy định chi tiết trong các luật CXL/1997 và XX/1991. Luật XX/1991 quy định các chính quyền địa phương phải cung cấp dịch vụ thư viện, đặc biệt nhắm vào các đối tượng là thanh niên và người dân tộc thiểu số. Để thực hiện được quy định này, nhất là với các đối tượng là những cộng đồng chỉ có vài trăm người, các thị trấn và các ngôi làng gần nhau phải có những thoả thuận chung để thực hiện.
5.3.3 Phim, video và nhiếp ảnh
Sự kiện đáng kể nhất là luật L/2003 về Phim truyện được ban hành, văn bản này còn được gọi là Luật phim. Luật này qui định thành lập Hội đồng điều phối quốc gia và Cục Phim Quốc gia. Luật khẳng định vai trò của Quỹ Công Hungary đối với Phim truyện (MMA) trong việc thực hiện trợ cấp của nhà nước, số tiền trợ cấp không được quy định cụ thể trong luật; năm 2005 Ngân sách của MMA là 3839 triệu HUF (tươnng đương 15 triệu EUR, ít hơn 1/4 so với năm 2004). Điểm mới của luật là hệ thống trợ cấp tự động, có thể áp dụng cho các nhà làm phim đáp ứng được những mục tiêu đặt ra đối với các sản phẩm (bộ phim) đã được làm ra trước đó; đối với các nhà phân phối phim Hungary và phim nghệ thuật – thì việc trợ cấp do Cục Phim quyết định. Người ta hi vọng việc miễn thuế sẽ được thông qua theo đó các nhà làm phim sẽ được giảm khoảng 50% tiền thuế thu nhập. Dự án xây dựng một trường quay lớn tại vùng nông thôn, với sự liên doanh giữa Mỹ và Hungary đã được công bố.
5.3.4 Các ngành kinh doanh văn hoá
Xem phần 5.3.6 đối với lĩnh vực phim và 5.1.5 đối với việc giảm thuế VAT cho sách.
5.3.5 Truyền thông đại chúng
Những quy định quan trọng nhất liên quan điều chỉnh hoạt động của các hãng phát thanh truyền hình:
* Định mức nội dung cho các chương trình của Hungary được sản xuất tại Hungary, với đài phát thanh tư nhân là 15% và đài nhà nước là 30%;
* Định mức nội dung về các chương trình Hungary được sản xuất tại Hungary, đối với đài truyền hình tư nhân là 20% và đài truyền hình nhà nước là 51% (trung bình hàng năm, không kể đến việc phát sóng quảng cáo, tin tức, thể thao và các cuộc thi trên truyền hình), hạn mức về các chương trình có xuất xứ châu Âu là 70% đối với truyền hình nhà nước;
* Tối thiểu 20% phim phát sóng trên truyền hình nhà nước phải có sự tham gia của người Hungary;
* Tối thiểu 6% thu nhập từ quảng cáo trên truyền hình phải được dành cho sản xuất phim trong nước.
5.3.6 Luật đối với các nghệ sĩ tự doanh
Không có đạo luật cụ thể nào quy định về nghệ thuật hay các nghệ sĩ. Việc miễn thuế và các điều kiện được đề cập đến trong phần 5.1.4 và 5.1.6 được trích từ các quy định chung về bảo hiểm, thuế, và lao động.
5.3.7 Các vấn đề khác
Luật công ty ngày càng đóng vai trò quan trọng. Cách đây vài năm, quy chế “công ty công ích” hay “kht” được ban hành, điều này tạo điều kiện cho việc thành lập các tổ chức kinh tế phi lợi nhuận, làm tăng số lượng các tổ chức văn hoá chuyển đổi sang hình thức công ty công ích. Những tổ chức văn hoá mới được thành lập gần đây cũng đều lựa chọn quy chế này để hoạt động. Các quỹ hội của nhà nước cũng được thành lập gần đây, và hoạt động của chúng về cơ bản dựa trên các quy định trong Bộ Luật Dân sự
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
6.1 Khái quát
Cũng như các nước cộng sản trước đây, quá trình chuyển đổi đã tạo ra một sự
khủng h
oảng đối với việc cung cấp tài chính cho lĩnh vực văn hoá. Bên cạnh GDP
giảm xuống và ngân sách nhà nước bị cắt giảm, dân chúng cũng ít quan tâm đến văn
hoá và nghệ thuật trong những năm chuyển đổi này. Tuy nhiên, hiện nay các kênh
cung cấp tài chính đang dần trở nên ổn định và trong một số lĩnh vực có tăng lên
nhất định (ví dụ như lĩnh vực bảo vệ các công trình kỷ niệm, trong đó đáng chú ý
là những hình thức đầu tư mới).
6.2 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo bình quân đầu người
Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo bình quân đầu người trong năm ngân sách 2004 là 9 112 HUF hay 39.5 USD (khoảng 35.7 euros). Con số này tương ứng với 0.5% GDP dự tính.
6.3 Chi tiêu của nhà nước cho văn hóa tính theo cấp chính quyền
Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá trong năm ngân sách 2004 là 92.92 nghìn triệu HUF (khoảng 364 triệu euros), tương ứng với 1.53% tổng ngân sách nhà nước.
Bảng 3: chi tiêu của nhà nước cho văn hoá: chính quyền Trung ương, 1991-2004
|
1991 |
1995 |
2000 |
2003 |
2004 |
|
|
Ngân sách của trung ương cho văn hoá, tỉ HUF |
10.31 |
21.57 |
71.28 |
79.40 |
92.92 |
|
Phần trăm ngân sách trung ương, % |
1.11 |
1.11 |
1.88 |
1.50 |
1.53 |
|
Phần trăm ngân sách cho văn hoá tính theo GDP, % |
0.41 |
0.38 |
0.55 |
n.a. |
n.a. |
|
Ngân sách của Trung ương cho văn hoá theo bình quân đầu người, HUF |
995 |
2 106 |
7 097 |
7 787 |
9 112 |
|
Giá trị thực của ngân sách Trung ương cho văn hoá (1991 = 100) |
100 |
91.2 |
149.3 |
n.a. |
n.a. |
|
Ngân sách của Trung ương cho văn hoá, triệu USD |
137.8 |
171.6 |
252.5 |
360 |
400 |
|
Ngân sách của Trung ương cho văn hoá theo bình quân đầu người, USD |
13.3 |
16.8 |
25.1 |
35.5 |
39.5 |
|
Tỉ lệ % của đầu tư và tái thiết |
16.0 |
23.0 |
39.6 |
n.a. |
n.a. |
Nguồn: Tổng hợp của Cơ quan quan sát vùng về hỗ trợ tài chính cho văn hoá ở Trung-Đông châu Âu, Luật Ngân sách Trung ương.
Lưu ý: * giá trị ước tính: số liệu dựa trên tỉ giá hối đoái bình quân hàng năm.
Các số liệu trong Bảng 3 bao gồm các nguồn tài chính của Quỹ Văn hoá Quốc gia, đây là nguồn tài chính nhà nước chủ yếu hỗ trợ cho các dự án văn hoá. Năm 2003, Quỹ Văn hoá Quốc gia đã chi ra 7.5 tỉ HUF. Đây là một cơ quan độc lập với cơ quan điều hành riêng, số nhân viên khoảng 30 người. Giám đốc Quỹ Văn hoá chịu trách nhiệm trước Bộ Trưởng Di sản Văn hoá, nhưng các quyết định về tài chính trên thực tế lại do 13 uỷ ban chuyên môn ban hành (ví dụ như uỷ ban về kịch, thư viện, v.v..). Bộ trưởng có quyền phân bổ với giá trị lên đến 25% nguồn tài chính của Quỹ văn hoá. Trước năm 2002 tỉ lệ này được quy định là 50%, tuy nhiên thực tế Bộ trưởng không bao giờ sử dụng đến mức đó: năm 2003 Bộ trưởng đã chi hết 1.7 tỉ HUF (khoảng 22%).
7. Vai trò và sự phát triển của các tổ chức văn hoá lớn
Dưới đây là tóm tắt quy chế của một số tổ chức văn hoá lớn ở Hungary, các quy chế này khác nhau tuỳ theo từng lĩnh vực cụ thể:
* Có nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm cải cách Nhà hát Opera Quốc gia – chuyển tổ chức này thành hình thức công ty công ích. Những nỗ lực này gặp phải sự chống đối từ phía các nhân viên mặc dù việc cải tổ này có đi kèm với việc bổ sung một khoản ngân sách lớn;
* Với việc xây dựng mới Nhà hát Quốc gia thì một công ty trách nhiệm hữu hạn cũng mới được thành lập. Công trình Nhà hát Quốc gia cũ bây giờ đổi tên thành “Magyar Szinhaz” = “Nhà hát Hungary”.
* Năm 2000 Đoàn nghệ thuật dân gian được sáp nhập vào một tổ chức mới có tên là House of Traditon;
* Chức năng của Cục Bảo vệ các công trình lịch sử được chuyển sang cho Cục Bảo vệ di sản văn hoá.
Có thể kể ra nhiều trường hợp các tổ chức của tư nhân hoặc khối thứ ba thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước hoặc chức năng văn hoá nhằm phục vụ lợi ích cộng đồng.
Một hiện tượng mới trong đó các công ty bất động sản hợp tác với chính quyền trong các dự án đầu tư văn hoá quy mô lớn, ví dụ như dự án Khu phố văn hoá xung quanh Nhà hát Quốc gia, dự án khôi phục vùng Castle của thành phố Buda, v.v.. Đặc biệt phải kể đến dự án khôi phục một nhà máy cũ ở trung tâm thành phố trở thành một khu Công viên và Trung tâm Văn hoá Thiên niên kỉ đa chức năng. Dự án này đã trở thành chủ đề gây tranh cãi mạnh mẽ sau khi có sự thay đổi Chính phủ vào năm 2002, với những cáo buộc về những vụ thất thoát và tham nhũng lớn đang được cơ quan thẩm quyền tiến hành điều tra, và có thể sự việc sẽ được giải quyết tại toà án.
8. Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ
8.1.1 Các quỹ đặc biệt dành cho nghệ sĩ
Bên cạnh hỗ trợ của các tổ chức nghệ thuật hoặc hỗ trợ cho các dự án, các kênh còn lại hỗ trợ cho nghệ sĩ đều thông qua Quỹ Sáng tạo nghệ thuật Hungary. Quỹ này kế thừa các tài sản và một phần chức năng văn hoá và xã hội của Quỹ Nghệ thuật ở chế độ trước đây. Năm 2002, ngân sách của Quỹ này lên đến 1 230 triệu HUF.
Quỹ Soros Hungary đã từng là một tổ chức tư nhân quan trọng nhất hỗ trợ cho lĩnh vực văn hoá. Tuy nhiên, năm 2003 là năm cuối cùng mà tổ chức này hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hoá ở Hungary.
Một số chính quyền địa phương đã thành lập các quỹ hội để hỗ trợ cho các hoạt động nghệ thuật và những nghệ sĩ đang sinh sống tại địa phương mình. Ngoài ra còn một số các quỹ được thành lập dưới sự bảo trợ của các nghệ sĩ nhằm hỗ trợ cho những tài năng trẻ.
8.1.2 Các giải thưởng và học bổng
Từ cuối những năm 1950 trở đi, hệ thống học bổng 1-3 năm ngày càng được phát triển và mở rộng. Hiện tại, trong mỗi lĩnh vực sau đây có từ 4 đến 10 giải thưởng dành cho những người dưới 35 tuổi: mĩ thuật, nhiếp ảnh, thiết kế, nghệ thuật ứng dụng, phê bình nghệ thuật, văn học, viết kịch, soạn nhạc, nghiên cứu âm nhạc, phê bình âm nhạc. Từ năm 2004, 18 nhà văn trẻ Hungary sống tại các nước láng giềng sẽ nhận được trợ cấp mỗi năm trong bốn thể loại văn học. Bên cạnh tiền thưởng do Bộ trao, một số chính quyền địa phương cũng tặng thưởng cho những nghệ sĩ sống tại địa phương của mình. Ngoài ra còn có tiền thưởng cho các nghệ sĩ do Viện Hàn lâm Hungary ở Rome trao tặng.
Cơ cấu giải thưởng trong lĩnh vực văn hoá đã có từ chế độ trước; bên cạnh các giải thưởng đã có từ cách đây 40-50 năm, mỗi bộ lại bổ sung thêm một vài giải thưởng mới. Hiện tại có 37 loại giải thưởng khác nhau, một số giải này dành cho khoảng 5-10 nghệ sĩ mỗi năm, hầu hết các giải này đều mang tên các nghệ sĩ Hungary nổi tiếng: ví dụ như Giải thưởng Liszt dành cho 8 nghệ sĩ mỗi năm.
Nhà nước cũng có những giải thưởng dành cho những người có đóng góp quan trọng cho văn hoá. Các giải thưởng này thường kèm theo những khoản tiền thưởng rất lớn.
8.1.3 Hỗ trợ cho các tổ chức nghệ sĩ chuyên nghiệp
Luật
L/2003
quy định thành lập Quỹ Dân sự Quốc gia. Cơ quan điều hành của quỹ là một hội
đồng gồm 17 thành viên. Các đề xuất xin được hỗ trợ tài chính của quỹ này sẽ do
7 uỷ ban của vùng và 5 uỷ ban chuyên môn xem xét đánh giá. Trong 5 uỷ ban đó có
một uỷ ban chuyên trách về các vấn đề văn hoá, giáo dục và người thiểu số. Tiền
trợ cấp cho các tổ chức dân sự sẽ vượt quá con số 400 triệu HUF mà Nghị viện đã
phân bổ cho đến năm 2003.
Nguồn tiền lớn nhất là khoản đóng góp thuế 1% (xem phần 5.1.5). Năm 2003 có 1.4 triệu công dân – trên một phần ba số người đóng thuế - đã khai báo đóng góp 1% thu nhập. Số tiền đóng góp trung bình là 4 500 HUF mỗi người, như vậy bình quân mỗi tổ chức sẽ nhận được 280 000 HUF (khoảng 1 100 EUR) (có khoảng 22 000 tổ chức).
Các tổ chức văn hoá nhận được 19% số tiền này, bao gồm các tổ chức bảo vệ di sản văn hoá. Các cơ quan thuế đã công bố danh sách 20 tổ chức nhận tiền ủng hộ, chủ yếu là các tổ chức hoạt động bảo vệ trẻ em. Hội chữ thập đỏ Hungary đứng thứ 15, sau đó là Vườn thú Budapest. Trong lĩnh vực văn hoá có Quỹ hội Nhà xuất bản.
Các tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hoá có thể nhận tài trợ từ Quỹ dân sự Quốc gia và nhận tiền ủng hộ từ chương trình 1%. Bộ Di sản Văn hoá cũng có những khoản tiền hỗ trợ thường xuyên: năm 2004 Bộ đã cấp cho các tổ chức này 254 triệu HUF (khoảng 1 triệu EUR). Bảng 7 liệt kê các khoản tiền cấp cho các tổ chức trong một số lĩnh vực văn hoá (lĩnh vực di sản không được tính vào):
Bảng 5: Hỗ trợ cho các tổ chức nghệ sĩ từ ngân sách của Bộ Di sản Văn hoá, 2003
|
Lĩnh vực |
Số lượng các tổ chức |
Triệu HUF |
|
Múa |
5 |
10.5 |
|
Sách |
3 |
2.8 |
|
ảnh |
3 |
8.2 |
|
Kịch |
9 |
20.9 |
|
Nghệ thuật thị giác |
40 |
40.9 |
|
Âm nhạc |
20 |
28.9 |
|
Văn học |
19 |
39.4 |
|
Tổng |
99 |
151.4 |
8.2 Xu hướng tham gia vào hoạt động văn hoá và các số liệu
Một số dữ liệu phản ánh những gián đoạn và thăng trầm theo những thay đổi về chế độ vào đầu những năm 1990: các thư viện, sách xuất bản, phim trình chiếu, kịch và lượng khán giả, khách tham quan bảo tàng, v.v.. đều giảm về số lượng.
Một số lĩnh vực đã cố gắng vực dậy và duy trì ở một mức độ nhất định (ví dụ như các đầu sách xuất bản, các triển lãm phim, các bảo tàng và khách tham quan bảo tàng), một số lĩnh vực khác lại yếu kém đi trong những năm gần đây (các rạp chiếu phim và số người đi xem), những lĩnh vực khác lại tiếp tục tăng trưởng (hoạt động kịch sân khấu). Lĩnh vực thư viện có xu hướng suy yếu.
8.3 Các chương trình hoặc sáng kiến chính sách để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá
Các sự kiện như Ngày Âm nhạc Thế giới, Ngày Di sản, Ngày Bảo tàng Thế giới, Tháng Thư viện, v.v.. ngày càng thu hút được sự chú ý của nhiều người và hỗ trợ của nhà nước cho các sự kiện này cũng tăng lên. Hoạt động quảng bá cho các sự kiện này mang tính chuyên nghiệp cao và ảnh hưởng của chúng đối với công chúng ngày càng tăng.
Chiến dịch “Chính quyền địa phương hỗ trợ cho Thư viện (bảo tàng, văn hoá cộng đồng)” đã đạt được nhiều thành công và đang được nhân rộng. Gần đây các ngôi làng / thị trấn đã nhận được từ Bộ Di sản Văn hoá một số tiền rất lớn để nhằm duy trì các dịch vụ này (dịch vụ bảo tàng và văn hoá cộng đồng)
8.4 Nghệ thuật không chuyên, các trung tâm văn hoá cộng đồng
8.1 Nghệ thuật không chuyên
Hoạt động văn hoá không chuyên ở Hungary được hỗ trợ rất nhiều bởi hệ thống cơ sở hạ tầng và mạng lưới các nhà văn hoá (xem phần 8.4.2)
8.4.2 Nhà văn hoá và trung tâm văn hoá cộng đồng
Sự kiểm soát chính trị của chế độ cộng sản đã gây tổn hại đến các “nhà văn hoá” sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. Tuy nhiên, những năm vừa qua đã ghi nhận sự phục hồi các nhà văn hoá đa chức năng. Các nhà văn hoá là nơi hội tụ của những tổ chức văn hoá và nhóm hoạt động không chuyên trong mọi lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật. Mặc dù hoạt động qua các chương trình như giáo dục cho người lớn, chính sách xã hội hoặc chính sách đối với thanh niên, rất nhiều nhà văn hoá lại hoạt động như các trung tâm internet công cộng… ở Hungary, các tổ chức văn hoá-xã hội từ trước đến nay luôn được xem là thuộc về lĩnh vực văn hoá. Tại một số làng và thị trấn nhỏ, chính sách văn hoá hầu như đồng nghĩa với việc duy trì các nhà văn hoá; điều này đặc biệt đúng nếu các nhà văn hoá này lại có cả hoạt động thư viện.
Istvan Hiller, làm Bộ trưởng Văn hoá từ giữa năm 2003, đã xem việc xây dựng hệ thống các nhà văn hoá là một yếu tố quan trọng trong chính sách của mình.
Bảng 9: Số lượng người tham gia các tổ chức văn hoá xã hội, 2002-2003
|
Năm |
Số lượng tổ chức |
Số lượt tham gia (triệu) |
Số lượt tham gia trên 1000 người dân |
|
2000 |
3 265 |
8.5 |
847 |
|
2001 |
3 258 |
5.1 |
508 |
|
2002 |
3 320 |
6.2 |
618 |
|
2003 |
3 715 |
6.6 |
621 |
Nguồn: Cục thống kê Trung ương (http:www.ksh.hu)
(Culturalpolicies)