1. Bối cảnh lịch sử: các thiết chế và chính sách văn hoá
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
4. Các vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hoá
5. Quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
7. Vai trò và sự phát triển của các tổ chức văn hoá lớn
8. Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
1. Bối cảnh lịch sử: các thiết chế và chính sách văn hoá
Vương
quốc Hungary được thành lập năm 1000. Sau khi bị Ottoman xâm lược (1526 đến
1686) và tiếp theo là sự đô hộ của nước áo, người ta đặt vấn đề liệu rằng
Hungary còn gìn giữ được bản sắc và sự độc lập của mình hay không. Tuy nhiên,
thế kỉ 19 đã cho thấy một sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc này, trong đó văn hoá
đóng một vai trò rất quan trọng. Phần lớn các thiết chế văn hoá của Hungary hiện
nay đều được hình thành từ thế kỉ 19.
Đặc thù của Hungary cũng kế thừa từ cấu trúc xã hội Đông Âu giai đoạn này. Tầng lớp thượng lưu trong xã hội với những tiêu chuẩn văn hoá cao có thể so sánh với các nước phát triển nhất, trong khi đó đa số dân chúng vẫn ở trong tình trạng lạc hậu. Đến giữa thế kỉ 20, trong khi tầng lớp trung lưu đã hình thành nên cơ sở cho sự phát triển dân chủ, kinh tế và xã hội ở Đông Âu, thì hơn một nửa thành phần xã hội ở Hungary vẫn là nông dân. So với Tây Âu, tầng lớp lao động và giới trí thức vẫn còn có vai trò khiêm tốn, giai cấp tư sản còn yếu kém. Tại thời điểm đó, là một nước Trung Âu, Hungary đã xây dựng một thể chế theo hướng phương Tây, đối lập với vùng Balkan và Đông Âu.
sau chiến tranh thế giới lần thứ i, chính sách văn hoá đóng một vai trò chiến lược nhằm giúp đất nước vượt qua những khó khăn, hungary lúc đó mới tách ra từ nhà nước áo-hung. sau chiến tranh thế giới lần thứ ii, chính sách văn hoá tập trung vào việc tái thiết chính trị và xây dựng cơ sở vật chất. vào thời điểm đó, các tư tưởng của giai cấp tư sản, phe bảo thủ, chủ nghĩa dân tộc dần bị trượt tiêu. vào cuối những năm 1940, thành phần cấp tiến đã bị loại trừ khỏi chính sách văn hoá kiểu bolshevik. trước cách mạng 1956 chính sách văn hoá mô phỏng một cách máy móc các mô hình chính sách của liên xô.
Sau làn sóng cách mạng, đến đầu những năm 1960 chủ nghĩa giáo điều về văn hoá đã bắt đầu mờ nhạt dần. Đến năm 1989, tương tự như trong các lĩnh vực khác của đời sống, chính sách văn hoá được xem xét thay đổi và đã diễn ra sự chuyển đổi dần dần của toàn bộ khối Cộng sản. Do hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng yếu đi, các nguồn lực công ngày càng suy yếu và cùng với việc kiểm soát về chính trị ngày càng ít đi, nhà nước đã cắt giảm việc tài trợ cho văn hoá. Vào cuối những năm 1980, quá trình thương mại hoá văn hoá bắt đầu diễn ra, và Quỹ hội Soros của Hungary đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính.
Trong thời kì xã hội chủ nghĩa, do được nhà nước trợ cấp và các hàng hoá và dịch vụ văn hoá được cung cấp với giá rẻ nên tiêu dùng cho văn hoá cũng tăng (đọc các sách khoa học và viễn tưởng, đi xem kịch, xem phim, nghe hoà nhạc, tham quan bảo tàng, triển lãm). Dưới thời độc tài, nghệ thuật đóng một vai trò chính trị quan trọng; và cuối cùng điều đó gây ra quan niệm trong nhiều người rằng lĩnh vực văn hoá là một trong những thất bại của quá trình chuyển đổi.
Sau thay đổi chính trị năm 1989-1990, việc xây dựng chính sách văn hoá dựa trên hai yếu tố chính: truyền thống dân tộc trước thời cộng sản và những hình mẫu hiện đại của phương Tây. Trong những năm đầu tiên, quá trình chuyển giao này diễn ra trong bối cảnh có những khó khăn về kinh tế. Vào thời điểm hoàn thành sự thay đổi về hệ thống và mô hình mới được thống nhất, thì sự suy thoái toàn cầu đã ngăn cản nhà nước chi tiêu thêm cho văn hoá. Quá trình hội nhập vào Liên minh châu Âu bị kéo dài cũng là một yếu tố quan trọng hình thành nên chính sách văn hoá ở Hungary; ảnh hưởng của việc gia nhập Liên minh châu Âu vào tháng 5/2004 đối với chính sách văn hoá đến nay vẫn còn chưa chắc chắn.
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí
2.2 Mô tả chung hệ thống
Thẩm
quyền liên quan đến vấn đề văn hoá trong những thập kỉ qua đã trải qua nhiều lần
thay đổi.
Thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia bao gồm: bảo vệ các công
trình di tích, giám sát các tổ chức văn hoá ở nước ngoài,
và các vấn đề tôn
giáo. Mặc dù có một cơ quan quản lí về vấn đề nghe nhìn, thì Bộ trưởng cũng
không có thẩm quyền trực tiếp nào đối với các vấn đề liên quan đến phát thanh và
truyền hình. Giáo dục nghệ thuật và hỗ trợ tài chính cho văn hoá ở các cấp địa
phương cũng không thuộc thẩm quyền của Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia. Mặt khác, có
một đơn vị độc lập có trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn cho các trung tâm văn
hoá cộng đồng.
Phần lớn trách nhiệm hỗ trợ cho văn hoá và các dân tộc thiểu số do Văn phòng nội các thực hiện.
Quỹ Văn hoá Quốc gia là một “chi nhánh nửa tự trị” của Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia, cơ quan này có trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho các dự án.
Hungary vẫn chưa thể thực hiện xong việc tổ chức lại các vùng trên cả nước. Các hạt, theo mô hình thể kỉ 19, vẫn có chức năng quản lí về văn hoá (đặc biệt là quản lí các tổ chức như bảo tàng, thư viện, cơ quan lưu trữ, đôi khi các thành phố cùng quản lí một tổ chức). Bên cạnh chính quyền trung ương, cấp quản lí thực sự đáng kể khác là 3167 chính quyền địa phương.
Việc gia nhập EU buộc Hungary phải hoàn thành việc phân chia vùng (có thể là 7 vùng) và trao cho các vùng quyền quản lí thực tế, bao gồm thẩm quyền đối với các chính sách văn hoá của vùng. Và việc gia nhập EU cũng thúc đẩy việc hình thành nên 167 tiểu vùng: chúng không phải là những đối tác đầy đủ của chính phủ trung ương, tuy nhiên lại có nhiều cơ hội nhận được hỗ trợ từ các quỹ của EU, trong đó có xin hỗ trợ cho mục đích văn hoá.
Nghị viện Hungary theo chế độ một viện, và đây là cơ quan lập pháp. Bên cạnh vai trò chuẩn bị luật, Uỷ ban Văn hoá và Báo chí và Uỷ ban Giáo dục và Khoa học cũng có chức năng giám sát bằng cách đưa các vấn đề văn hoá vào chương trình hoạt động của mình. Tuy nhiên, nhìn chung Nghị viện và các Uỷ ban thuộc Nghị viện có thẩm quyền hạn chế, trong hầu hết mọi trường hợp các cơ quan này một mặt phản ánh ý chí của Chính phủ, và mặt khác là ý chí của các đảng đối lập.
2.3 Hợp tác giữa các bộ ngành và giữa các cấp chính quyền
Hợp tác giữa các bộ được quy định bắt buộc theo nghị định của chính phủ. Không có một cơ quan chính thức nào có nhiệm vụ thúc đẩy sự hợp tác đó. Ngoại lệ duy nhất là Văn phòng phát triển quốc gia, là cơ quan điều phối việc đóng góp của các bộ liên quan đến Kế hoạch phát triển Quốc gia.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá
Hiện tại Hungary có 22 viện văn hoá hoạt động trên toàn thế giới. Các viện này
đều thuộc quản lí của Bộ Di sản Văn hoá. Cơ quan mới được thành lập gần đây nhất
là Trung tâm Văn hoá Hungary ở Brussels, thành lập tháng 12/ 2004. Các viện văn
hoá có trách nhiệm quảng bá văn hoá Hungary ở nước ngoài thông qua các triển
lãm, các thuyết trình, buổi hoà
nhạc, v.v.. Chính phủ cũng hỗ trợ việc tham gia
vào các sự kiện văn hoá lớn. Gần đây, việc quảng bá văn hoá được nhấn mạnh vào
các sự kiện như:
- “MAGYart”, Năm văn hoá Hungary ở Pháp, 2001;
- “Ungherua in primo piano” ở Italy 2002;
- “Magyar” ở Anh, năm 2003-2004;
- “Hongarije an Zee” ở Hà Lan năm 2004.
Các sự kiện như vậy cũng dự kiến được tổ chức, vào năm 2005 là ở Nga và 2006 là ở Đức. Bên cạnh các quan hệ quốc tế song phương, Bộ Di sản Văn hoá cũng thúc đẩy hợp tác đa phương với các quốc gia trong vùng trong khuôn khổ Visegrad Four và Sáng kiến Trung tâm châu Âu. Năm 1990, Hungary trở thành thành viên của Hội đồng châu Âu, và đã gia nhập Liên minh châu Âu năm 2004. Một cơ quan có tên là Đầu mối giao tiếp văn hoá đã được thành lập để giải quyết các vấn đề liên quan đến EU và để thực hiện hỗ trợ đối với các đối tượng muốn xin hỗ trợ tài chính theo chương trình Văn hoá 2000. Hoạt động của cơ quan này chỉ mang tính hỗ trợ. Từ năm 2000 đến 2003, 9 người điều hành dự án, 140 nhà tổ chức và các tổ chức liên quan của Hungary đã tham gia vào các dự án thuộc C2000 (Chương trình Văn hoá 2000)
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
3.1 Các yếu tố của mô hình chính sách văn hoá hiện nay
Trong số các đặc điểm về chính sách văn hoá ở Hungary, bất cứ người nào cũng có
thể chỉ ra hai đặc điểm sau: tính thực tế và tính hai mặt. Thực tế có
nghĩa là thiếu
các văn bản chính thức làm cơ sở. Có rất ít luật quy định về văn
hoá, và hoạt động thực tế ít khi được định
hướng bởi các tuyên bố hoặc tài liệu mang tính đường lối về việc xây dựng chính
sách văn hoá. Tính hai mặt nghĩa là có sự chia rẽ về tư tưởng đã hình
thành từ giai đoạn sau 1990, giữa cánh hữu và cánh tả, hay “chủ nghĩa dân
tộc-bảo thủ” và “tự do-xã hội”. Sự chia rẽ này lên đến đỉnh điểm tại cuộc bầu cử
Nghị viện 2002; đã có nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm làm cho văn hoá khỏi bị
ảnh hưởng bởi những yếu tố chính trị và tư tưởng, tuy nhiên vẫn chưa mang lại
hiệu quả đáng kể.
Vào thời kì xác định lại các thể chế dân chủ trong những năm 1990, chính quyền địa phương, đặc biệt là các thành phố, đã nhận được quyền độc lập cao hơn. Quá trình phi tập trung hoá này có tính quyết định đối với chính sách văn hoá.
Trong vài năm qua, người ta đã cố gắng để cải thiện những đặc điểm này theo hướng tốt hơn. Bộ trưởng Bộ Di sản Văn hoá Quốc gia đã nêu ra sự cần thiết phải xây dựng một chiến lược văn hoá quốc gia, và sau đó một bản thảo về chiến lược này đã được đưa ra tranh luận công khai vào mùa hè năm 2004.
Chính phủ cũng đang cố gắng khắc phục sự phân tán của 3167 chính quyền địa phương bằng cách khuyến khích các hoạt động chung, ví dụ như điều hành các thư viện hoặc quản lí các tổ chức, đặc biệt là trong khuôn khổ các tiểu vùng đã được đề cập tại phần 2.2
3.2 Định nghĩa về văn hoá
Hiện tại không có một định nghĩa chính thức nào được quy định trong luật. Đối với người dân Hungary, từ “văn hoá” thường bao gồm cả nghệ thuật: do đó cụm từ “văn hoá và nghệ thuật” hiếm khi được sử dụng.
3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá
Xem phần 3.1 và phần 4.1
4. Các vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hoá
4.1 Những vấn đề chính sách văn hoá quan trọng và những ưu tiên
Từ năm 1990 khi lần đầu tiên thực hiện bầu cử tự do, các ưu tiên chính sách văn
hoá, giống như con lắc, cứ giao động từ trái
sang phải theo chu kì bốn năm một
lần. Một số ưu tiên trong đó có liên quan đến sự ví von trong quan điểm chính
trị về “tả” và “hữu”: chính quyền cánh hữu nhấn mạnh đến di sản quốc gia và niềm
tự hào dân tộc, mối liên hệ văn hoá với những người Hungary đang sống ở các nước
láng giềng. Một quá trình tái tập trung hoá đáng ghi nhớ vào giai đoạn
1998-2002, thời kì nắm chính quyền của phe trung hữu. Giai đoạn này, lĩnh vực
văn hoá đã nhận được nhiều ưu tiên nhất trong vòng 30-40 năm qua. Dự thảo chiến
lược văn hoá 2004, hiện đang được thảo luận, trong đó đề ra những ưu tiên sau
đây:
· Phát triển văn hoá vùng nông thôn;
· Tập trung nhiều hơn vào đối tượng trẻ em;
· Tiếp cận những nhóm công chúng mới;
· Kế hoạch hành động để bảo vệ di sản văn hoá;
· Làm cho các di sản gần gũi hơn với đời sống;
· Quảng bá các giá trị văn hoá Hungary ở trong nước cũng như nước ngoài
· Sự cách tân hiện nay chính là yếu tố cổ điển trong tương lai.
· Văn hoá thúc đẩy phát triển kinh tế và cạnh tranh
4.2 Các vấn đề chính sách và những tranh luận
4.2.1 Văn hoá các dân tộc thiểu số
Vào năm 1995, Hungary là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn hiệp định
khung của Hội đồng châu Âu về bảo
vệ các dân tộc thiểu số. Hungary cũng tham gia
vào các thảo luận nhằm nâng cao tầm quan trọng vấn đề các dân tộc thiểu số trong
các nguyên tắc chính trị và các ưu tiên của Liên minh châu Âu. Luật dân tộc
và dân tộc thiểu số được ban hành năm 1993 (Luật LXXVII), quy định rằng các
dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành của nhà nước; luật cũng định rõ các quyền
tập thể và cá nhân của các dân tộc thiểu số. Các liên đoàn quốc gia các dân tộc
thiểu số có vai trò cố vấn, và thường có quyền phủ quyết đối với các vấn đề pháp
lí có liên quan đến họ. Đại diện của họ được bầu ra tại các làng và thị trấn
cũng như ở cấp quốc gia, những người này có các quyền rất quan trọng và vai trò
của họ ngày một tăng. Hiện tại có 12 cộng đồng văn hoá dân tộc thiểu số chính
thức được thừa nhận (Armenia, Bulgary, Croatia, Đức, Hi Lạp, Ba Lan, Rumani,
Ruthenian, Séc bi, Slovakia, Slovenia, Ukrina) và một nhóm dân tộc thiểu số là
Người La Mã. Tổng tỉ lệ người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 7-8% dân số. Theo
điều tra năm 2002, có 3.1% số người nói rằng họ thuộc về dân tộc thiểu số; 1.3%
coi tiếng dân tộc thiểu số là tiếng mẹ đẻ của mình hoặc ngôn ngữ thứ nhất. Quá
trình đồng hoá đã diễn ra từ rất lâu và người ta e rằng nó sẽ vẫn tiếp tục.
Những đặc điểm dân tộc và xã hội hiện nay của các dân tộc thiểu số có thể sẽ bị
tan biến vào các công trình hoài cổ về văn hoá. Quốc gia này cũng lo rằng 2-3
triệu người Hungary đang sống ở các nước láng giềng cũng sẽ có số phận tương tự
cho nên đã thực hiện mọi nỗ lực có thể để chấm dứt hoặc làm chậm lại quá trình
đồng hoá đang diễn ra trong phạm vi đất nước mình.
Việc gia nhập vào Liên minh châu Âu, và đặc biệt là việc thực thi cố các quy định về biên giới Schengen sẽ là một trong những yếu tố làm cản trở sự hợp tác giữa người Hungary ở hai phía biên giới với Ukraina và Séc bi, đây là một vấn đề chính trị đáng quan tâm. Nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất là người Rumani; họ cũng đóng vai trò nhất định trong việc ban hành chính sách văn hoá và xã hội.
Xem phần 4.2.3 về vấn đề ngôn ngữ và các quyền khác của người thiểu số
4.2.2 Bình đẳng giới và chính sách văn hoá
Trong một thời gian dài, ở Hungary không có một chương trình nào nhằm thúc đẩy vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật. Tuy nhiên, năm 2002 một bộ mới được thành lập và có nhiệm vụ hạn chế các yếu tố không bình đẳng. Bộ đang có một chương trình nhằm thúc đẩy vai trò của phụ nữ; và chương trình này có thể có tác động đối với đời sống văn hoá.
4.2.3 Vấn đề ngôn ngữ và các chính sách
Trải qua hàng thế kỉ thiếu vắng việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ cho người dân tộc thiểu số, tiếp sau đó là sự nhẫn tâm của chế độ cộng sản, sự biến mất của các cộng đồng biệt lập và sự gia tăng tính đồng nhất do truyền thông đại chúng gây ra, tất cả đều góp phần vào quá trình đồng hoá ngôn ngữ.
Trong một nỗ lực để cân đối lại nhữ
ng yếu tố này là truyền hình quốc gia phát
sóng hàng tuần hoặc hai tuần một lần các chương trình với thời lượng 25 phút
bằng bảy thứ tiếng, và các chương trình kết hợp cho 5 cộng đồng khác – tất cả
các chương trình này đều có phụ đề tiếng Hungary. Tính bình quân, các chương
trình này có độ dài 800 phút mỗi tháng. Trên đài phát thanh Hungary, mỗi ngày
dành 10 tiếng đồng hồ phát chương trình theo 7 thứ tiếng. Tính theo tuần, tiếng
Slovakia được phát sóng với thời lượng lớn nhất, 870 phút mỗi tuần, trong khi
sáu ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác chỉ được phát sóng 30 phút mỗi tuần.
Quỹ Dân tộc thiểu số thực hiện trợ cấp cho 17 ấn phẩm định kì, hỗ trợ cho các đài truyền hình địa phương để thực hiện các chương trình bằng ngôn ngữ thiểu số và chịu mọi chi phí cho việc xuất bản các sách vở bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Các hoạt động nghệ thuật, thư viện, xuất bản sách, nghiên cứu khoa học xã hội và hoạt động tôn giáo của dân tộc thiểu số, được thực hiện theo tiếng mẹ đẻ thì được Chính phủ trợ cấp. Các bảng hiệu bằng hai thứ tiếng cũng được áp dụng ngày càng nhiều tại những ngôi làng có nhiều dân tộc chung sống.
Chỉ có duy nhất dân tộc La Mã nói phương ngữ La Mã, và đọc viết bằng tiếng La Mã từ thời còn niên thiếu.
Không có một đạo luật chung điều chỉnh vấn đề ngôn ngữ Hungary. Sau quá trình thảo luận rộng rãi tại Nghị viện cũng như trên báo chí, Luật XCVI/2001 có quy định về sử dụng tiếng Hungary trong các quảng cáo thương mại, khẩu ngữ, các bảng hiệu, chỉ dẫn, v.v.. bên cạnh tiếng nước ngoài; tuy nhiên quy định này cũng chưa gây được ảnh hưởng lớn.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Nhiệm vụ và cơ cấu của truyền hình nhà nước được quy định trong Luật Truyền
thông (I/1996). Truyền hình nhà nước phát trên ba kênh. Tổng số người xem
truyền hình nhà nước đã tăng lên trong thời gian gần đây, chiếm 17%. Tuy nhiên,
hai kênh truyền hình kinh doanh đã vượt qua kênh số 1 của truyền hình nhà nước
về số người xem: kênh truyền hình kinh doanh hàng đầu có 40% lượng người xem, và
kênh truyền hình kinh doanh đứng thứ hai có lư
ợng người xem chiếm 30%; trong khi
kênh số 1 của truyền hình nhà nước có lượng người xem là 10%, và các kênh còn
lại là 20%. Hàng ngày có trên 1 triệu người Hungary đang sống ở Rumani xem các
kênh truyền hình nhà nước của Hungary – các kênh này được phát qua vệ tinh.
Truyền hình nhà nước bị chỉ trích rất nhiều do chi phí quá cao. Hiện nay người ta đang xem xét phát các kênh truyền hình theo chủ đề – và có thể sẽ có kênh truyền hình chuyên về văn hoá.
Giấy phép dài hạn cấp cho hai kênh truyền hình kinh doanh được thực hiện theo phương thức đấu thầu công khai: các kế hoạch phải bao gồm một số cam kết về đặc điểm văn hoá. Do sự giảm sút về ngân sách thu từ quảng cáo, các nội dung văn hoá trên truyền hình đã bị giảm đáng kể. ở Hungary cũng có các kênh truyền hình đa quốc gia được phát qua hệ thống cable, và chúng cũng góp phần thực hiện các chức năng văn hoá và giáo dục.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với lĩnh vực phát thanh, với ba kênh phát thanh quốc gia và hàng chục đài phát thanh của các địa phương. Một hiện tượng đáng chú ý là sự phát triển của kênh Radio C, do người La Mã thực hiện. Vì đã sử dụng hết nguồn tài chính trong năm đầu tiên, nên Chính phủ đã tiếp tục trợ cấp tài chính cho đài này.
Trong ngành báo viết, do quá trình tư nhân hoá, và sau đó là thương mại hoá nên việc thực hiện các chương trình văn hoá ngày càng ít được chú trọng. Trong một thời gian, những người Hungary có thể tạm hài lòng với việc tờ nhật báo quan trọng, trong đó luôn có các bài viết phê bình nghệ thuật có chất lượng cao, luôn dẫn đầu các tờ báo khổ nhỏ về lượng độc giả: từ năm 2001 trở đi điều này không còn đúng nữa.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương trình và quan hệ đối tác
Cho đến nay không có một chiến lược toàn diện hoặc chính sách nào nhằm định hướng cho các ngành kinh doanh văn hoá. Thông tin về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này (thu nhập, lợi nhuận, thuế, xuất khẩu, lao động, v.v..) đều rất rời rạc, do đó rất khó thu thập.
Các số liệu về doanh thu từ việc bán các bản ghi âm phản ánh sự khủng hoảng trên toàn thế giới trong lĩnh vực này. Các nhà xuất bản làm ăn khấm khá hơn, mặc dù số lượng nhà in đang có xu hướng giảm xuống (năm 1993 là 8 500/ và năm 2003 chỉ còn 544 nhà in). Không có số liệu nào về doanh thu của lĩnh vực nghệ thuật ứng dụng, nghệ thuật dân gian, làm bưu thiếp v.v…
Bảng 1: Doanh số của các ngành kinh doanh văn hoá
|
2001 |
2003 |
||||
|
|
Triệu đơn vị |
Triệu HUF (Hu frin) |
Triệu đơn vị |
Phần trăm sản phẩm Hungary* |
Triệu HUF |
|
Đĩa CD |
3.26 |
6.07 |
3.32 |
31 % |
5.98 |
|
Nhạc Cassette |
2.70 |
2.64 |
1.64 |
60 % |
1.76 |
|
Video Cassettes |
0.02 |
0.04 |
0.02 |
80 % |
0.03 |
|
DVD |
0.03 |
0.01 |
0.11 |
16 % |
0.38 |
|
Sách |
32.60 |
45.72 |
32.63 |
68 % |
56.87 |
Lưu ý: * các nghệ sĩ biểu diễn và tác giả người Hungary, và các nhà sản xuất Video và DVD.
Các Quỹ Công có trợ cấp đối với các sản phẩm phim và sách. Quỹ Văn hoá Quốc gia
cũng hỗ trợ đối với một số doanh nghiệp kinh doanh về văn h
oá trong các lĩnh vực
như phim, văn học, âm nhạc, nghệ thuật dân gian, và văn hoá đại chúng (ví dụ như
xiếc), với tổng số tiền lên đến 2.5 tỉ HUF hàng năm (gần 10 triệu euro).
Trong lĩnh vực xuất bản sách, diễn biến đáng kể nhất là việc giảm thuế VAT từ 12% xuống còn 5% từ tháng 1/ 2004. Trong lĩnh vực này còn có một chương trình giảm lãi suất đối với các khoản vốn vay (50% lãi suất sẽ do Bộ Di sản Văn hoá chịu). Chương trình này được đồng quản lí bởi Bộ Di sản Văn hoá và một ngân hàng tư nhân được lựa chọn thông qua đấu thầu.
Quỹ Dịch thuật Hungary đã được thành lập cách đây 8 năm, tuy nhiên nó lại thực hiện trợ cấp đối với các nhà xuất bản nước ngoài do đó không thể xem là nguồn hỗ trợ của nhà nước đối với ngành kinh doanh văn hoá Hungary.
Mặc dù hỗ trợ của nhà nước đối với ngành phim không được bảo đảm về mặt pháp lí (xem phần 5.3.3), thì hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực này cũng đạt đết con số gần 6 tỉ HUF trong năm 2004 (khoảng 23 triệu euro), con số này cao gấp 5 lần so với 4 năm trước đó. Tuy nhiên, năm 2005 nguồn hỗ trợ này giảm xuống còn 4 triệu HUF.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá
Số dân tham gia lao động hiện nay là 4,11 triệu người, trong đó 2.71 triệu người là làm việc toàn thời gian. Trong số 2,71 triệu đó có 790 000 người làm việc trong các khối nhà nước, công chức và người lao động. Bảng 2 dưới đây cho thấy khoảng 21 000 lao động văn hoá trong khối nhà nước, chiếm khoảng 2,8% số người làm thuê (theo hợp đồng?).
Bảng 2: Việc làm trong lĩnh vực văn hoá, khối nhà nước, 2003.
|
Lĩnh vực |
Số người làm việc tại các vùng và thành phố |
Số người làm việc trong các tổ chức quốc gia |
Số người làm việc trong các tổ chức văn hoá quốc gia |
||||||
|
|
P |
A&T |
Total |
P |
A&T |
Total |
P |
A&T |
Total |
|
Bảo tàng |
1 313 |
1 294 |
2 607 |
997 |
1 032 |
2 029 |
2 310 |
2 326 |
4 636 |
|
Lưu trữ |
534 |
152 |
686 |
289 |
85 |
374 |
823 |
237 |
1 060 |
|
Thư viện |
2 678 |
917 |
3 595 |
1 505 |
331 |
1 836 |
4 183 |
1 248 |
5 431 |
|
Âm nhạc |
37 |
19 |
56 |
991 |
99 |
1 090 |
1 028 |
118 |
1 146 |
|
Nhà hát kịch |
1 716 |
1 719 |
3 435 |
75 |
204 |
279 |
1 791 |
1 923 |
3 714 |
|
Múa |
536 |
70 |
606 |
239 |
91 |
330 |
775 |
161 |
936 |
|
Các hoạt động văn hoá-xã hội |
1 468 |
1 901 |
3 369 |
412 |
184 |
596 |
1 880 |
2 085 |
3 965 |
|
Khác |
35 |
13 |
48 |
107 |
56 |
163 |
142 |
69 |
211 |