1. Giới thiệu chung về chính sách văn hoá
2. Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước
3. Các công cụ của chính sách văn hoá
4. Chính sách văn hoá trong các lĩnh vực
1. Giới thiệu chung về chính sách văn hoá
Malaysia là một quốc gia đa sắc tộc với nhiều di sản văn hoá đặc sắc ở nhiều loại h́nh khác nhau: các bản thảo viết tay, đồ tạo tác, điêu khắc, các mẫu truyền thống về dệt và đồ trang sức. Một vài trong số đó được lưu giữ ở các thư viện, các cơ quan lưu trữ, các pḥng trưng bày nghệ thuật và các trung tâm văn hoá. Hiện c̣n tồn tại nhiều bài thơ, bản nhạc, giai điệu truyền thống, các truyện cổ tích, các bài thuốc dân gian, các câu truyện truyền miệng được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Chính phủ Malaysia khẳng định các chương tŕnh văn hoá là phương tiện cải thiện chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự hoà hợp quốc gia. Trong các nỗ lực nhằm tạo ra sự thống nhất trong toàn thể nhân dân, không quan tâm đến nguồn gốc của tộc người hay các mối quan hệ tôn giáo, chính phủ Malaysia đă đưa ra rất nhiều các chính sách văn hoá khác nhau.
Rukunegera khẳng định Malaysia đă có nhiều cống hiến để đạt tới sự thống nhất cho tất cả mọi người, duy tŕ xă hội dân chủ, tạo ra một xă hội mà sự giàu mạnh được phân chia một cách công bằng cho mọi người dân, bảo đảm sự phát triển tự do truyền thống văn hoá đa dạng và đặc sắc. Đồng thời xây dựng một xă hội tiến bộ hướng tới khoa học và công nghệ hiện đại.
Văn hoá đóng vai tṛ rất quan trọng làm giàu bản sắc dân tộc, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, giúp mọi người nhớ và đánh giá đúng vai tṛ của các giá trị văn hoá, nghệ thuật. Chính sách văn hoá đă được đưa ra năm 1971, trong đó bao gồm ba vấn đề cốt yếu: Chính phủ Malaysia quan tâm thực hiện các chương tŕnh văn hoá nhằm tăng cường bản sắc văn hoá dân tộc, Bảo đảm sự thống nhất và độc lập của quốc gia cũng như duy tŕ sự hợp tác giữa các dân tộc trong nước, Nền tảng văn hoá Malaysia là văn hoá Mă Lai, tuy nhiên các nền văn hoá khác nhau của các tộc người cũng tạo nên tính độc đáo trong văn hoá của họ.
Malaysia dự kiến trở thành một quốc gia phát triển vào năm 2020, các mục tiêu cần đạt được cụ thể là: Trở thành một đất nước thống nhất, các dân tộc chung sống hoà b́nh với nhau và hoà b́nh với các quốc gia khác trên thế giới, các giá trị đạo đức và tinh thần được tôn vinh.
Đây sẽ là động lực phát triển một xă hội đa dạng về thông tin, có nền văn hoá mang đậm dấu ấn của khoa học công nghệ.
Để đạt được những mục tiêu trên, Malaysia cần phải nỗ lực trước những thách thức, đặc biệt trong những hoạt động: Xây dựng một xă hội thống nhất của người Malaysia; tạo ra một xă hội phát triển, ổn định, tự do, thúc đẩy và tạo lập một xă hội dân chủ thực sự; tạo ra một xă hội tự do ngày càng hoàn thiện và nhân bản; xây dựng xă hội quan tâm tới sự phát triển của con người đồng thời là một xă hội tiến bộ và khoa học. bảo đảm sự phát triển đúng đắn về mặt kinh tế, của cải và phúc lợi xă hội được phân chia một cách công bằng cho mọi người; xây dựng một xă hội thịnh vượng với nền kinh tế mang tính cạnh tranh, năng động và phát triển vững mạnh, bền vững
Trong chặng đường phấn đấu v́ mục tiêu trở thành 1 nước phát triển toàn diện, các giá trị đạo đức tinh thần cũng được coi trọng trong xă hội Malaysia. Các giá trị này tôn vinh những chuẩn mực về hành vi ứng xử, đạo đức dựa trên nền tảng truyền thống, tôn giáo và các phong tục tập quán. Các giá trị này cũng nhấn mạnh tới việc cần phê phán và loại bỏ để phát triển đất nước. Chính sách văn hoá của Malaysia đề cao các khía cạnh khác nhau của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như : tính tự chủ, trung thực, cần cù, khoan dung, bền bỉ, tiết kiệm, kính trọng người lớn tuổi. Những phẩm chất này trở thành nét đẹp tiêu biểu của người Malaysia, ngày nay nó trở thành nội dung được quan tâm trong hệ thống giáo dục nhà trường, trong các chương tŕnh liên quan tới gia đ́nh, tổ chức xă hội và tổ chức kinh tế.
Mọi người dân Malaysia được khuyến khích tôn trọng và tuân thủ các giá trị đạo đức và coi đó là nhân tố quan trọng trong việc đánh giá con người. Các hành vi ứng xử và các giá trị đạo đức được ghi nhận và đưa ra cụ thể trong chương tŕnh RakanMuda (c̣n có tên gọi là chương tŕnh hữu nghị thanh niên). Ngoài ra, chương tŕnh này cũng truyền bá lối sống lành mạnh trong giới trẻ nhằm giáo dục họ các giá trị tích cực của cuộc sống.
Trong các nỗ lực khuyến khích sự tham gia của công chúng vào các hoạt động văn hoá, bộ phận phụ trách về văn hoá của Bộ Văn hoá, nghệ thuật và Du lịch đă tổ chức và tài trợ cho nhiều hoạt động văn hoá như : tổ chức trại thanh niên văn hoá, xă hội được tổ chức nhằm mục tiêu h́nh thành và phát triển thế hệ những người thanh niên làm chủ đất nước, làm chủ văn hoá, có nhiều sáng tạo đổi mới văn hoá và nghệ thuật. Trại thanh niên văn hoá xă hội được quan tâm đặc biệt của xă hội: lănh đạo đất nước, người dân, sinh viên, các nhà hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và các thành viên của tổ chức liên quan đến văn hoá ở tất cả các cấp trên toàn lănh thổ Malaysia.
Hiện tại, đất nước Malaysia đang bước vào một thiên niên kỷ mới, thời kỳ công nghệ thông tin được coi là công cụ hàng đầu cho sự phát triển. Chính v́ vậy mà chính phủ Malaysia ra sức thúc đẩy quá tŕnh phát triển của nền văn hoá- công nghệ thông tin cho toàn xă hội, đặc biệt là cho thế hệ trẻ.
2. Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước
2.1 Các cơ quan công cộng và bán công cộng

Malaysia là đất nước theo chế độ Dân chủ quốc hội với một nền quân chủ lập hiến. Quốc vương là người đứng đầu nhà nước, được bầu theo nhiệm ḱ 5 năm một lần. Quốc vương sẽ được bầu lên là một trong các Sultans, tức là người đứng đầu của 9 bang: Perlis, Kedah, Perak, Selangor, Negeri Sembilan, Johor, Pahang, Terengganu và Kelanta. ở một số bang khác như: Melake, Pulau Pinang, Sabah và Sarawak, người đứng đầu bang gọi là Yang DiPertua Negeri hay c̣n gọi là thống đốc bang. Trong dịp sinh nhật hay lễ phong chức của vua và các Sultans, người ta thường tổ chức nhiều lễ hội văn hoá truyền thống.
Hiến pháp liên bang Malaysia có sự quy định phân chia rơ ràng quyền hạn của liên bang cũng như của mỗi bang nhằm duy tŕ chế độ liên bang, tạo cơ sở xây dựng nền hành chính nhà nước. Chính phủ liên bang có quyền quyết định tất cả mọi lĩnh vực của đất nước, ngoại trừ những lĩnh vực liên quan đến đất đai, tôn giáo, phong tục tập quán, những lĩnh vực này sẽ thuộc quyền quyết định của mỗi bang.
Chính phủ Malaysia coi sự phát triển của văn hoá và nghệ thuật cũng quan trọng như sự phát triển về kinh tế. Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Du lịch được thành lập nhằm các mục tiêu: Tăng cường sự thống nhất và đoàn kết trong nước, giữ ǵn bản sắc dân tộc, phát triển kinh tế xă hội đất nước, tạo sự cân bằng trong chất lượng cuộc sống nhân dân, phát triển ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Pḥng Văn hoá của Bộ Văn hoá, Nghệ thuật và Du lịch có chức năng h́nh thành cộng đồng người Malaysia đậm chất văn hoá và các giá trị đạo đức tốt đẹp.
Pḥng Văn hoá có các chức năng sau đây: Đảm nhận việc nghiên cứu và xử lí các tài liệu liên quan đến văn hoá để chuẩn bị cho việc thành lập Trung tâm nghiên cứu và ngân hàng dữ liệu, phục vụ cho sự phát triển của nền văn hoá quốc gia; xác định các di sản văn hoá để bảo tồn và giữǵn; tổ chức, điều phối, giám sát quá tŕnh diễn ra các hoạt động văn hoá, các dự án liên quan đến văn hoá ở cấp bang và liên bang cho phù hợp với chính sách văn hoá quốc gia; lên kế hoạch về các yếu tố cơ sở hạ tầng, các điều kiện cần thiết để những người làm nghệ thuật có thể phục tốt khán giả trong nước và khách du lịch; tăng cường sự hiểu biết cũng như quan hệ hợp tác song phương trong lĩnh vực văn hoá với nước ngoài.
Hội đồng cố vấn quốc gia về văn hoá có vai tṛ cố vấn cho Bộ Văn hoá, nghệ thuật và du lịch về tất cả các mặt để mọi hoạt động văn hoá diễn ra phù hợp với các qui định của chính sách văn hoá quốc gia. Các thành viên của hội đồng này là các chuyên gia trong mọi lĩnh vực liên quan đến văn hoá. Malaysia có khoảng 1.800 tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, ngoài ra con có 14 hội đồng văn hoá cấp bang và 46 hội đồng văn hoá cấp hạt. Các tổ chức phi chính phủ cũng đă tăng cường hoạt động và vai tṛ của ḿnh trong các hoạt động văn hoá nghệ thuật.
Các cơ quan văn hoá, nghệ thuật đă được thành lập ở tất cả các bang, nhằm tổ chức và quản lí những chương tŕnh phát triển văn hoá, duy tŕ hệ thống văn hoá, các hoạt động văn hoá và các hội liên hiệp về văn hoá.
Các trung tâm văn hoá nghệ thuật được đặt ở nhiều thành phố của Malaysia để thúc đẩy hợp tác văn hoá và tạo ra môi trường có sự chung sống hoà thuận của các dân tộc khác nhau. Có rất nhiều hoạt động văn hoá đă dược tổ chức ở Malaysia như: Pesta Gawai, Pesta Kaamatan, Pesta Pantai, Lễ hội Drum, ngoài ra c̣n có nhiều lễ hội khiêu vũ và các hội trại văn hoá xă hội.
ở Malaysia các nhóm văn hoá dành cho trẻ em đă được thành lập nhằm giúp trẻ em có cơ hội được đào tạo, rèn luyện trong các lĩnh vực như khiêu vũ, nhạc, kịch, hội hoạ. Qua đó giúp giới trẻ hiểu được giá trị và yêu mến văn hoá dân tộc.
Ngoài ra, chính phủ Malaysia cũng quan tâm thực hiện nhiều chương tŕnh và dự án liên quan đến văn hoá xă hội nhằm bảo tồn, phát triển văn hoá, nghệ thuật.
Chính phủ Malaysia đă rất nỗ lực trong việc tăng cường mạng lưới văn hoá giữa các viện nghiên cứu văn hoá và các tổ chức t́nh nguyện thông qua các hoạt động như biểu diễn âm nhạc, tổ chức các triển lăm văn hoá, các hội nghị, các cuộc thi, cuộc toạ đàm về văn học và ngôn ngữ. Những chương tŕnh này có vai tṛ rất quan trọng trong việc h́nh thành một xă hội toàn dân nỗ lực tăng cường bản sắc dân tộc, xă hội thống nhất, cùng chung sống hoà b́nh với thế giới, các giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của đất nươc.
Hiện nay, các nguồn lực trợ giúp cho các công tŕnh tạo tác mang giá trị giá trị lịch sử đang được tăng cường để hoàn thiện Bảo tàng lịch sử quốc gia, đài tưởng niệm Tun Abdul Razak, đài tưởng niệm Tunku Abdul Rahman và pḥng trưng bày nghệ thuật Perdana. Các khu bảo tồn và các công tŕnh kỉ niệm mang giá trị lịch sử được đánh giá cao trong các di sản văn hoá phong phú của Malaysia.
Đất nước Malaysia đă có nhiều nỗ lực trong việc tăng cường, củng cố và làm giàu nền văn hoá dân tộc thông qua việc nghiên cứu nền văn hoá bản địa, các nền văn hoá của các dân tộc thiểu số đang tồn tại trên toàn liên bang.
Bên cạnh đó, Bộ Thông tin cũng khẳng định vai tṛ quan trọng của việc truyền bá bản sắc văn hoá của người Malaysia.
Bộ đă chịu trách nhiệm điều phối và thực hiện Chính sách thông tin quốc gia thông qua các dịch vụ thông tin và phát thanh, truyền h́nh. Chính sách này sẽ đảm bảo mọi người dân Malaysia, cả ở trong nước và nước ngoài, đều có cơ hội hiểu rơ về các hoạt động, chính sách và các kế hoạch của chính phủ.
Bộ có trách nhiệm đảm bảo các thông tin được truyền bá một cách có hệ thống trên các phương tiện truyền thông đại chúng, qua phim ảnh và qua các giao tiếp, trao đổi của công chúng.
Cục thông tin của Bộ có nhiệm vụ thúc đẩy việc h́nh thành một xă hội ổn định về kinh tế, chính trị và xă hội, phát triển phù hợp với những nguyên tắc của Rukunegara, hướng tới mục tiêu v́ một nước Malaysia phát triển. Cục cũng đă xây dựng một thư viện ảnh phong phú, tái hiện lại các sự kiện lịch sử, các lễ hội văn hoá, các hoạt động văn hoá xă hội của người Malaysia. Cục thông tin cũng tài trợ cho các triển lăm trưng bày các hiện vật miêu tả toàn cảnh về lối sống của người Malaysia thường diễn ra ở các bang.
2.2 Các tiện nghi và các tổ chức
Malaysia có một số cơ quan, tổ chức sau đây có vai tṛ quan trọng trong việc truyền bá, sưu tập, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá của dân tộc.
Cục bảo tàng và di tích cổ là cơ quan chính thức lưu giữ các di sản văn hoá và lịch sử ngằm giúp công chúng nhận thức được giá trị và sự giàu có của các di sản dân tộc. Cục đă tổ chức nghiên cứu và trưng bày rất nhiều hiện vật liên quan đến văn hoá, lịch sử, hệ thống động vật, thực vật của Malaysia. Ngoài ra, cục c̣n có chức năng tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân về các di sản mang giá trị văn hoá và lịch sử.
Cục có chức năng chính là sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hoá, lịch sử, cũng như quần thực vật, động vật của đất nước, tập hợp tư liệu cho các bộ sưu tập và bảo tàng khảo cổ học, thi hành đạo luật năm 1976 về di sản truyền thống, cung cấp các tài liệu và văn bản hướng dẫn về việc t́m kiếm các hiện vật cổ.
Cục cũng có nhiệm vụ nghiên cứu các công tŕnh khảo cổ để tuyên truyền rộng răi các kiến thức về văn hoá, lịch sử thông qua các hoạt động như tổ chức các buổi nói chuyện, triển lăm, hội thảo, và các tua du lịch…
Cục bảo tàng và di tích cổ cũng có một bộ phận các chuyên gia, cố vấn cho các di tích khảo cổ, các khu tưởng niệm, các di tích lịch sử.
Theo đạo luật về các di tích cổ năm 1976, các hoạt động bảo tồn, giữ gin các di sản văn hoá cổ dược tổ chức nhằm làm giàu di sản văn hoá, bảo vệ chúng cho tương lai.
Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia Malaysia đă dược thành lập theo đạo luật về triển lăm nghệ thuật quốc gia năm 1959.
Đạo luật này bảo vệ các di sản, những người sáng tạo cũng như những người làm công tác giáo dục trong nghành nghệ thuật, từ đó thúc đẩy sự phát triển của văn hoá nghệ thuật của đất nước.
Đạo luật này cũng quan tâm đến việc tập hợp các công tŕnh nghệ thuật của người Malaysia, tổ chức các cuộc triển lăm, tài trợ cho các chương tŕnh nghệ thuật cả trong và ngoài nước, tổ chức các buổi họp, hội thảo về các vấn đề liên quan đến nghệ thuật, khuyến khích việc học và tăng cường mối quan tâm đến nghệ thuật của mọi người dân.
Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia đă mua và tập hợp một bộ sưu tập nghệ thuật vĩnh cửu từ các nguồn trong và ngoài nước với hơn 2.000 tác phẩm nghệ thuật. Một khu trưng bày nghệ thuật quốc gia mới cũng đang được xây dựng bên cạnh rạp hát quốc gia và nằm gần thư viện quốc gia. Khu nhà này sẽ có một bảo tàng quốc gia để trưng bày các công tŕnh nghệ thuật. Đây cũng là trung tâm nghiên cứu nghệ thuật Malaysia, lưu giữ các phương tiện sử dụng trong các ngành nghệ thuật, đồng thời có thư viện, có công tŕnh kiến trúc hiện đại và có cả nhà hát.

Thư viện quốc gia Malaysia (c̣n gọi là "Perpustakaan Negara Malaysia”) được thành lập năm 1966, trực thuộc cơ quan lưu trữ quốc gia, sau trở thành một cơ quan độc lập của chính phủ liên bang vào năm 1977. Chức năng và quyền hạn của thư viện quốc gia dược qui định trong đạo luật thư viện quốc gia ban hành năm 1972 và đạo luật thư viện quốc gia (sửa đổi) năm 1987.
Một trong các nhiệm vụ chủ yếu của thư viện quốc gia là tập hợp và bảo quản nguồn tài liệu thư viện của cả nước, tái hiện lại các di sản văn hoá, tinh thần, tri thức của đất nước cũng như giới thiệu các bộ sưu tập phản ánh những kiến thức phong phú và trí thông minh của loài người.
Theo đạo luật được kư năm 1986 (c̣n gọi là Đạo luật A667), thay cho đạo luật về bảo tồn sách kí năm 1966, tất cả các nhà xuất bản ở Malaysia đều phải gửi 5 bản, dạng bản in (sách, bản đồ, biểu đồ, tạp chí) và 2 bản, dạng không phải bản in (quay phim, phim, video, các thiét bị truyền thông điện tử khác) vào thư viện quốc gia Malaysia trong trường hợp chúng được sản xuất hoặc xuất bản ở Malaysia. Do đó, thư viện quốc gia cũng đóng vai tṛ như là trung tâm lưu trữ đối với ngành xuất bản trong nước.
Trung tâm này cũng giữ ǵn các tài liệu thống kê tập hợp được theo điều khoản lưu giữ tài liệu. Theo đạo luật này, thư viện quốc gia Malaysia có thể giữ các ấn phẩm xuất bản thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (phụ lục 1). Thư viện quốc gia Malaysia cũng có chức năng lưu giữ, thông qua việc mua bán, chuyển đổi, các bộ sưu tập liên quan đến đất nước Malaysia và/hoặc được thực hiện bởi người Malaysia, mà xuất bản trong và ngoài nước
Thư viện quốc gia Malaysia đă có nhiều nỗ lực để trở thành một trung tâm về nguồn thông tin xuất sắc, tạo thuận lợi cho những hoạt động nghiên cứu liên quan đến Malaysia, Các buổi triển lăm các di sản liên quan đến văn hoá, tri thức cũng như các công tŕnh kiến trúc, ngành dệt, các bộ sưu tập tem và nhiều khía cạnh liên quan đến văn hoá của người Malaysia cũng thường xuyên được tổ chức ở pḥng triển lăm.
Thư viện, trung tâm bản thảo có nhiệm vụ sưu tập, lưu gĩư, xác định các bản thảo viết tay (dạng bản thảo gốc hoặc đă dược sao chép), tiến hành nghiên cứu các bản thảo có vai tṛ quan trọng trong di sản văn chương và tri thức của người Malaysia. Là một dạng của chức năng giám sát các di sản văn chương có tính tiểu sử, thư viện quốc gia Malaysia cũng xuất bản các ấn phẩm như : Malaysian National Bibliography, Malaysian Periodical Index, Index to Malaysia Conference…
Các dữ liệu nguồn thông tin của Malaysia bao gồm tài liệu về mọi mặt của nền văn hoá Malaysia cũng có sẵn trên Internet. Thư viện quốc gia Malaysia có nhiệm vụ điều phối, hỗ trợ tài chính, cũng như tư vấn về chuyên môn cho thư viện của tất cả các bang.
Cơ quan lưu trữ Malaysia là nơi sưu tầm, lưu giữ, bảo quản các văn bản và thông tin có giá trị quốc gia, có ư nghĩa lịch sử cũng như làm nhiệm vụ tư vấn cho các cơ quan chính phủ để lưu giữ văn bản tài liệu một cách hệ thống theo đúng qui định của Đạo luật lưu trữ quốc gia. Cơ quan này có nhiệm vụ t́m ra, tập hợp, sưu tầm, bảo vệ, cát giữ mọi loại tài liệu cần lưu trữ ở các nguồn cá nhân và chính phủ.

Thông qua trung tâm nguồn thông tin, cơ quan lưu trữ quốc gia cung cấp những thiết bị và điều kiện cần thiết để nghiên cứu và tham khảo cho công chúng và các cơ quan chính phủ. Đây cũng là nơi có các khu tưởng niệm các thủ tương Malaysia như: Khu tưởng niệm Tunku Abdul Rahman (thủ tướng Malaysia đầu tiên), Tun Abdul Razak (thủ tướng Malaysia thứ hai) và Pustaka P.Ramlee (một trong những nhà soạn nhạc, ca si, đạo diễn, diễn viên huyền thoại người Malaysia).
Trung tâm này c̣n có các chuyên gia tư vấn cho việc quản lí Gallery Perdana (đương kim thủ tướng Malaysia), Gallery do văn pḥng thủ tướng và cơ quan phát triển Langkawi chịu trách nhiệm quản lí.
Filem Negara Malaysia được thành lập năm 1946, cơ quan này có nhiệm vụ hỗ trợ chính phủ trong việc cung cấp và truyền bấ các chính sách, chương tŕnh, kế hoạch, hoạt động của chính phủ đến mọi người dân. Đồng thời cơ quan này cũng sản xuất các phim tài liệu, phim cổ động, phim quảng cáo, ghi lại các sự kiện quan trọng về lịch sử, văn hoá, xă hội của Malaysia, để lưu giữ làm tài liệu lưu trữ
Hội đồng phát triển phim quốc gia (FINAS) đă được thành lập theo qui định của đạo luật phim quốc gia Malaysia Perbadânn Kemajuan, ban hành năm 1981 (c̣n gọi là đạo luật 244) nhằm mục tiêu giáo dục, thúc đẩy, hỗ trợ cho sự phát triển của điện ảnh Malaysia
FINAS có một số chức năng chính là:
§ Đệ tŕnh lên thủ tướng chính phủ các chính sách, phương thức, biện pháp về các nhu cầu cũng như điều kiện để ngành điện ảnh trong nước phát triển nhanh.
§ Thúc đẩy, kích thích sự phát triển và duy tŕ những qui định chuẩn đối vời ngành điện ảnh bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó bao gồm các qui định về dịch vụ tư vấn và nghiên cứu.
§ Quy định và điều phối các hoạt động của các cá nhân và cơ quan có liên quan đến ngành điện ảnh.
§ Đóng vai tṛ quan trọng là Kênh thông tin của chính phủ, đài phát thanh và truyền h́nh Malaysia (RTM) cung cấp các dịch vụ cho các chương tŕnh phát thanh, truyền h́nh trong và ngoài nước qua chương tŕnh Voice of Malaysia, với năm mục tiêu chủ yếu:
§ Làm rơ và cung cấp thông tin về các chương tŕnh, chính sách của chính phủ một cách sâu rộng đến tất cả mọi người dân.
§ Định hướng sự quan tâm và khuyến khích để các quan niệm, cách nghĩ của cộng đồng phù hợp với chính sách và mục tiêu của chính phủ.
§ Tăng cường ư thức của ngựi dân và khuyến khích sự phát triển của văn hoá, nghệ thuật Malaysia.
§ Cung cấp các điều kiện cần thiết cho mục đích giải trí, giáo dục và các thông tin chung.
Chính phủ Malaysia cũng nỗ lực bảo tồn các di sản văn hoá, đặc biệt là khuyến khích sự phát triển của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Trung tâm chợ và triển lăm Karyanika đă được thành lập để trưng bày nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ đặc sắc của đồng bào các dân tộc. Bên cạnh đó, các di sản kiến trúc và các thiết kế mang đậm bản sắc Malaysia cũng được quan tâm khi xây dựng các công tŕnh công cộng để giữ ǵn h́nh ảnh tốt đẹp của đất nước Malaysia.
Tất cả các bang của Malaysia đều có thư viện công cộng, bên cạnh việc cho mượn sách, các thư viện này c̣n tập hợp, giữ ǵn các ấn phẩm liên quan đến mọi mặt của mỗi bang, đặc biệt là các di sản văn hoá, văn học, lịch sử ở dạng bản in, video, ảnh, hoặc các dạng khác.
Mỗi bang ở Malaysia đều có bảo tàng, bảo tàng Sarawak là một nơi điển h́nh lưu giữ nhiều di sản văn hoá giá trị của dân tộc Sarawak. Các bang cũng có các công viên văn hoá và các làng văn hoá, chẳng hạn như làng văn hoá Sarawak.
Các trung tâm giáo dục lớn ở Malaysia như: Trường đại học Malaya, Trường đại học khoa học Malaysia,...thường có các bảo tàng chuyên đề. Malaysia c̣n có Student Cultural Groups ở viện Higher Learning, có các hiệp hội như: PAPITA, hiệp hội đạo diễn phim Malaysia, hiệp hội các hoạ sĩ Malaysia. Các hiệp hội này đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của những hoạt động nghệ thuật ở cấp quốc gia và quốc tế phát triển mạnh mẽ.
3. Các công cụ của chính sách văn hoá
3.1 Tài chính cho các hoạt động văn hoá

Ở các cấp chính quyền (liên bang, bang, các đô thị tự trị và các tổ chức) đều quan tâm đến việc phát triển văn hoá, nên cần phân phối một cách cân đối các ngân sách phát triển văn hoá ở Malaysia. Chính phủ tiếp tục khuyến khích các công dân Malaysia sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật, và thấm nhuần các giá trị thẩm mỹ to lớn đặc biệt biết hiểu rơ giá trị và biết ǵn giữ nghệ thuật, văn hoá và di sản. Để làm giàu thêm văn hoá Malaysia, năm 1996 chính phủ đă chi một khoản tiền là 73.71 triệu RM cho việc làm phong phú và thúc đẩy nghệ thuật và phát triển văn hoá ở Malaysia.
Chính phủ Malaysia tiếp tục đẩy mạnh các chương tŕnh văn hoá, góp phần tăng ngân sách nhà nước theo các kế hoạch năm năm đă đề ra: kế hoạch 5 năm lần1 (1966-1970), kế hoạch 5 năm lần 2 (1971-1975), kế hoạch 5 năm lần 3 (1976-1980), kế hoạch 5 năm lần 4 (1981-1985), kế hoạch 5 năm lần 5 (1986-1990), kế hoạch 5 năm lần 6 (1991-1995), kế hoạch 5 năm lần 7 (1996-2000). Bốn công viên văn hoá, với chi phí 6.7 triệu RM đă được xây dựng ở Ipoh, Alor Setar, Kuantan và Penang.
Vào năm 1992, thư viện quôc gia Malaysia cũng được khánh thành với trị giá 35 triệu RM. Nhà hát quốc gia với chi phí xây dựng 195 triệu RM và pḥng triển lăm nghệ thuật quốc gia với chi phí 40 triệu RM cùng được khánh thành vào năm 1998. Cả ba công tŕnh này đều nằm cạnh một đại lộ với kiến trúc đặc trưng kiểu Malaysia và đă trở thành điểm du lịch nổi tiếng của thủ đô Kuala Lumpur.
Thông qua Bộ Văn hoá, nghệ thuật và du lịch, chính phủ Malaysia đă hỗ trợ về mặt tài chính cho tổ chức văn hoá, nghệ thuật ở cấp liên bang, cấp bang và cấp hạt, các viện nghiên cứu chuyên sâu, các công ty tư nhân và các hội thảo do chính phủ hoặc các cá nhân thành lập.
Những hỗ trợ về tài chính này được cung cấp để khuyến khích việc tổ chức và thực hiện các chương tŕnh liên quan đến văn hoá, nghệ thuật. Qua đó tăng cường mối quan hệ hữu nghị giữa các tổ chức này để thực hiện các dự án có chất lượng cao, tạo ra một mạng lưới hợp tác, liên kết giữa chính phủ và các tổ chức văn hoá,nghệ thuật.
Chi tiêu của Chính phủ Malaysia cho văn hoá tính theo % tổng chi được thể hiện trong bảng sau:
|
Năm |
Tổng chi của chính phủ tính bằng RM |
Chi cho văn hoá tính bằng RM |
Chiếm (%) |
|
1980 |
20,724,348,256 |
47,732,806 |
0.23 |
|
1985 |
29,191,096,194 |
58,860,149 |
0.20 |
|
1990 |
33,405,637,300 |
137,284,450 |
0.41 |
|
1995 |
48,797,932,300 |
554,721,130 |
1.14 |
|
1996 |
55,467,290,400 |
316,329,000 |
0.57 |
Nguồn cung cấp: Malaysia. Belanjawan Persekutuan. Anggaran hasil dan perbelanjaan bagi tahun 1980, 1985, 1990, 1995. Kuala Lumpur: Percetakan Nasional Malaysia Bha, 1980.
Để khuyến khích khu vực tư nhân đóng góp làm giàu cho các nghệ thuật và khôi phục các di sản quốc gia, chính phủ Malaysia đă qui định tỉ lệ khấu trừ thuế như sau:
a, Đóng góp tiền mặt tới tài khoản uỷ thác của Bộ văn hoá, Nghệ thuật và Du lịch để tài trợ cho các buổi biểu diễn kịch, hoà nhạc, và các hoạt động văn hoá khác mang tầm quốc gia.
b, Đóng góp vào việc thành lập các nhóm biểu diễn văn hoá mà hoạt động của các nhóm này được coi là ở cấp quốc gia
c, Đóng góp tiền mặt cho tài khoản uỷ thác của Cục Bảo tàng và di tích cổ và Cơ quan lưu trữ quốc gia để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và thực hiện các hoạt động đặc biệt để bảo tồn di sản quốc gia
Ngoài ra, các cá nhân và tổ chức đóng góp các bản thảo hoặc đồ tạo tác cũng sẽ có một tỉ lệ khấu trừ thuế nhất định. Khu vực tư nhân có đóng góp vào việc phát triển dịch vụ thư viện cũng sẽ được miễn thuế.
Để tăng cường chất lượng các hoạt động văn hoá: các nhà văn, diễn viên, vũ công, ca sĩ, nhạc sĩ, nhạc công, tác giả, nhà thơ trữ t́nh tham gia vào các hoạt động văn hoá ở cấp quốc gia sẽ được miễn thuế đánh trên phần thu nhập mà họ được nhận. Chính sách miễn thuế cũng giành cho sân khấu của các nhóm nghệ thuật địa phương.
Bên cạnh các dịch vụ hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn, chính phủ cũng cung cấp tài chính cho các cơ quan, tổ chức văn hoá. Năm 1996, các tổ chức văn hoá phi chính phủ đă chi tổng cộng 480.000 RM để tổ chức các hoạt động văn hoá cho công chúng.
3.2 Pháp luật

Theo Hiến pháp Liên Bang, tất cả mọi người đều công bằng trước luật và đều có quyền được bảo vệ công bằng của pháp luật. Hiến pháp cũng đă tuyên bố rằng Đạo Hồi là tôn giáo của Liên bang, nhưng các tôn giáo khác cũng được tồn tại trong hoà bính và hoà hợp ở bất ḱ nơi nào của liên bang. Hiến pháp liên bang Malaysia không đề cập một cách rơ ràng về nghệ thuật văn hoá, và pháp chế cho văn hoá.Các cơ sở pháp luật cho chính sách Malaysia xuất phát từ các luật và các quy định sau:
§ Luật di tích cổ năm 1976 (có 168 điều);
§ luật Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia năm 1958;
§ luật thư viện quốc gia năm 1972; Luật Thư viện quốc gia (có sửa đổi)
§ Luật Lưu trữ quốc gia năm 1966 (có 44 điều),(được sửa đổi năm 1971), (có 85 điều), (được sửa đổi năm 1993), (có 511 điều);
§ Luật hợp tác phát triển du lịch Malaysia năm 1972 (có 1972 điều);
§ Luật phát thanh truyền h́nh năm 1988 (có 338 điều), Luật phát thanh truyền h́nh (có sửa đổi) năm 199, (có 977 điều);
§ Luật Điện ảnh năm 1965 (được sửa đổi năm 1990), (có 434 điều);
§ Luật Perbadanan Kemajuan Fielem Nasional Malaysia năm 1981 (có 244 điều), Luật Perbadanan Kemanjuan Filem Nasional Malaysia (có sửa đổi) năm 1984 (có 589 điều);
§ Luật Perbadanan Kemajuan Kraftangan malaysia năm 1979 (có 222 điều);
§ Luật Rạp hát và các địa điểm vui chơi công cộng (phạm vi Liên bang) năm 1988 (có 182 điều);
§ Luật Bernama năm 1967 (được sửa đổi bổ sung năm 1990), (có 449 điều);
§ Luật thuế giải trí năm 1953 (được sửa đổi năm 1973) (có 103 điều);
Với việc thành lập Cơ quan lănh đạo đa phương tiện, 4 Cyberlaws được đưa ra với tên gọi là Dự luật bản quyền (có sự bổ sung sửa đổi), dự luật kư hiệu số và dự luật tội phạm máy tính.
4. Chính sách văn hoá trong các lĩnh vực
4.1 Di sản Văn hoá
Các thư viện, cơ quan lưu trữ, bảo tàng và pḥng trưng bày chịu trách nhiệm bảo quản các di sản văn hoá của nước Malaysia. Các thư viện bảo quản các di sản văn học và tri thức được làm ra từ các h́nh thức phương tiện – bản thảo viết tay, phương tiện in ấn cũng như không bằng các phương tiện in ấn. Cơ quan lưu trữ bảo quản các bản ghi về lịch sử và chính phủ, Bảo tàng bảo quản các di sản văn hoá ở các h́nh thức đồ tạo tác, các sản phẩm của khảo cổ và lịch sử, và các công việc bảo quản nghệ thuật ở các pḥng trưng bày nghệ thuật.
4.2 Đào tạo và giáo dục văn hoá

Chính phủ Malaysia tiếp tục mở rộng và tăng cường các chương tŕnh văn hoá xă hội, nới rộng các cơ hội giáo dục và khuyến khích việc tham gia nhiều hơn của các khu vực vào các nỗ lực phát triển và cổ vũ sự tăng trưởng của văn hoá quốc gia.
Hệ thống giáo dục là dạy cho các công dân tầm quan trọng về đạo đức ở trong tất cả các trường học nhằm đáp ứng các nhu cầu của một xă hội đa chủng tộc.
Vai tṛ của giáo dục trong việc thúc đẩy tính độc đáo của quốc gia được làm nổi bật thông qua việc thừa nhận một chương tŕnh giảng dạy chung, với việc nhấn mạnh vào lịch sử và văn hoá của Malaysia, làm cho các trẻ em ở trường học hiểu và cảm kích văn hoá và các truyền thống của các nhóm chủng tộc khác nhau ở Malaysia.
Hệ thống giáo dục này cũng đă truyền thụ các giá trị kỷ luật, đạo đức và tôn giáo vào trẻ em với mục tiêu quảng bá tính độc đáo của quốc gia.
Nhạc và thơ đều được dạy ở các trường tiểu học và trung học. Các trường cũng đă được khuyến khích việc h́nh thành các ban nhạc trường học, các đội hợp xướng và các nhóm hài kịch/kịch.
Cuộc thi kịch giữa các trường học ở cấp bang và cấp quốc gia được tổ chức thường xuyên. Nhằm mang đến sự hiểu biết nhiều hơn và các mối hợp tác giữa những con người Malaysia, cũng như cung cấp các cơ hội cho mọi người tham gia vào việc xây dựng quốc gia, Pḥng Rukun Tetangga và tính độc đáo của quốc gia, đă hướng dẫn các lớp học liên kết quốc gia, đảm nhận các hoạt động phong phú, như gotong-royong, các môn thể thao mang tính cộng đồng.
Những sinh viên, những người muốn tiếp tục với các việc nghiên cứu xa hơn đặc biệt chuyên về ngành văn hoá và nghệ thuật ở cấp giáo dục đại học hoặc cao đẳng th́ có các khoá học ở trường Đại học Mă Lai, Đại học Kebangsaan của Malaysia, Đại học Khoa học Malaysia, Đại học Putra Malaysia, Đại học công nghệ Malaysia và Viện Công nghệ MARA. ở các trường Đại học Kebangsaan Malaysia và Viện Công nghệ MARA các sinh viên sẽ được giới thiệu học các khoá học có liên quan đến phim và dựng phim.
Để nâng cao tính chuyên nghiệp trong giới nghệ sĩ và các hoạt động văn hoá th́ có một số tổ chức cung cấp các khoá học ngắn hạn cho các cá nhân có quan tâm. Những tổ chức này là: Học viện Nghệ thuật quốc gia cung cấp đa dạng đào tạo và hướng dẫn các khoá hướng dẫn các khoá học để phát triển tŕnh độ chuyên nghiệp trong các lĩnh vực nhà hát, viết sáng tạo, múa và âm nhạc. Đài phát thanh truyền h́nh Tun Abdul Razak (IPTAR) cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn về biên tập video và các bài biên tập. Viện báo chí Malaysia cũng cung cấp các chương tŕnh đào tạo ngắn hạn có liên quan đến du lịch.
Cũng có nhiều pḥng ban thuộc Bộ văn hoá, nghệ thuật và Du lịch giới thiệu các khoá học cho các cá nhân muốn đeo đuổi việc học tập trong ngành văn hoá và nghệ thuật. Học viện Nghệ thuật quốc gia thuộc Bộ, cung cấp các thể loại khoá học khác nhau bao gồm như : các khoá học Viết sáng tạo viết kịch cho tất các các phương tiện – nhà hát, đài phát thanh, truyền h́nh và phim. Mỗi khoá học đều tập trung vào lư thuyết, nguyên tắc và các thực tiễn được phản ánh trong viết kịch bản và cố gắng để đảm bảo rằng các sinh viên có được kinh nghiệm và kĩ năng trong tất cả các thể loại viết.
Các sinh viên cũng được bộc lộ quan điểm của ḿnh, v́ thế sự hiểu biết đạt được có thể trí tuệ phân tích và phê b́nh làm cải thiện sức sáng tạo. Các nghiên cứu về âm nhạc trong loại h́nh nghệ thuật biểu diễn nổi bật là kĩ năng thực hành cũng như các khoá học dựa vào lư thuyết, việc sáng tạo/tác phẩm, triết lư và lịch sử.
Các sinh viên có cơ hội được thực tập trong các hoạt động hát múa, cũng như các đoàn hát múa của Mă Lai như: âm nhạc dân tộc, dàn giao hưởng, hợp xướng, các đội đàn dây, kèn đồng, bộ gơ, đội ghi ta, dàn hợp xướng, ban nhạc lớn, ban nhạc jazz, ban khiêu vũ và các ban yêu thích.
Các lớp học khiêu vũ cung cấp các khoá học về kĩ thuật khiêu vũ như của người Malaysia, người châu á và các thể loại khiêu vũ của phương Tây và Soạn nhạc cho khoa khiêu vũ về “nghệ thuật bố trí điệu múa ba lê”. Những khoá học này có mục đích đưa ra những con người có bằng cấp có thể phục vụ cho các nhu cầu chuyên nghiệp và kĩ năng khiêu vũ. Các lớp học của Nhà hát cũng mở các lớp học chuyên về các loại h́nh nghệ thuật sân khấu.
4.3 Các loại h́nh nghệ thuật biểu diễn

Các loại h́nh nghệ thuật sân khấu truyền thống của người Mă Lai sớm được duy tŕ như một h́nh thái giải trí là Wayang Kulit (sân khấu múa rối hay các vở kịch rối ). Với nguồn gốc từ các làng quê hẻo lánh, vở kịch đổ bóng truyền thống này đă và vẫn c̣n tồn tại, và là một trong các loại h́nh nghệ thuật dân gian chính ở bang Kelantan, Kedah và Terengganu. Tuy nhiên, trong những năm 1970 Wayang Kulit, là một h́nh thức giải trí, phải đối mặt với cuộc cạnh tranh điện ảnh, đài phát thanh và truyền h́nh.
Các niềm yêu thích ở Mă Lai với Wayang Kulit giảm nghiêm trọng, đáng chú ư là vào những năm 1970 và những năm 1980 khi sử dụng các kĩ thuật kịch đổ bóng trong việc sản xuất các nhà hát hiện đại xuất hiện. Thêm vào đó, một chương tŕnh không phù hợp với thực tế của hát kịch truyền thống đă xuất hiện ở một trong số các trường đại học chính đă sát nhập nhà hát rối đổ bóng như là một phần của khoá học. Vào những năm 1940 và những năm 1950 các h́nh thức giải trí khác đă xuất hiện phổ biến như bangsawan (hay là hát kịch du lịch mă lai) và boria.
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Malaysia đă tác động nhiều đến các nước láng giềng như Indonesia, Siam (Thái lan) cũng như Đạo Hồi và Đạo Hin đu. V́ thế, có chương tŕnh joget gamelan (múa cung đ́nh) đến từ Bugis của Rhiau Archipelago với các điệu múa sinh động của các điệu múa cung đ́nh của người Java cổ xưa. Rodat được đến từ Acheh ở Sumatera. Các h́nh thái biểu diễn nghệ thuật khác như Kuda kepang đều phổ biến ở Bang Johore.
Đạo Hồi cũng đưa ra điệu múa Zapin. Các nghệ thuật biểu diễn truyền thống, có ảnh hưởng của Thái Lan là manora và makyong. Đây là những bài hát và điệu múa đậm đà tính truyền thống trong các tộc người có tôn giáo khác nhau như Kadazan, Dayak,… Trong những người Trung quốc và ấn Độ có các điệu hát giao hưởng nổi tiếng của Trung quốc và các điệu múa nổi tiếng của người ấn Độ.
Có nhiều nhóm văn hoá h́nh thành để quảng bá sự hiểu biết của công chúng nói chung và đặc biệt là giới trẻ nói riêng với văn hoá Malaysia cũng như quảng bá du lịch. Để thúc đẩy các loại h́nh nghệ thuật biểu diễn của Malaysia ở cấp quốc gia và quôc tế, Bộ văn hoá, nghệ thuật và Du lịch phải tổ chức thường xuyên các Liên hoan múa và Liên hoan sân khấu quốc gia.
Có những liên hoan được thiết kế như là bệ phóng của các gánh hát và đoàn múa của bang có chất lượng cao hơn. Việc tạo được sự quan tâm của công chúng vào các lĩnh vực như hát thính pḥng, các nhóm hát thính pḥng phải được thành lập ở mỗi bang. Các buổi biểu diễn phải được tổ chức thường xuyên ở Liên hợp thông tin du lịch Malaysia (MATIC), ở Liên hợp sân khấu quốc gia, khán pḥng Dewan Bandaraya, Làng văn hoá Sarawak, và ở các trung tâm văn hoá ở các bang. Các nhóm múa thường xuyên phụ cùng với các nhóm du lịch nước ngoài v́ chính phủ quảng bá du lịch sinh động bằng nét văn hoá độc đáo của người Malaysia cũng như cả môi trường tự nhiên.
Rạp hát thực nghiệm đă được xây dựng ở Khu liên hợp văn hoá quốc gia cho các nghệ sĩ cũng như các nhà sản xuất và cho những người say mê với nghệ thuật để biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật biểu diễn và các hoạt động khác của các nghệ sĩ. Với việc hoàn thành Khu liên hợp nhà hát trị giá khoảng 195 triệu RM vào năm 1998, th́ buổi biểu diễn cấp chuyên nghiệp sẽ được thực hiện ở đây.
Để khuyến khích các nghệ sĩ sáng tạo và có tính đổi mới hơn nữa và sản xuất nghệ thuật và các tác phẩm văn học có chất lượng cao đế làm giàu cho di sản quốc gia, việc trao các giải thưởng, như là Anugerah Seni Negara và Anugerah Sastera negara, được thừa nhận cho cá nhân, người mà có những đóng góp vào việc phát triển của nghệ thuật, văn hoá và các tác phẩm văn học. Điều này cho thấy có đánh giá cao của Chính phủ cho những đóng góp của họ vào việc phát triển nghệ thuật và nền văn học nước nhà.
4.4 Nghệ thuật thị giác và nghệ thuật tạo h́nh
Đê khuyến khích người Malaysia sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật có tiêu chuẩn cao, các pḥng trưng bày nghệ thuật cũng đă được thành lập ở nhiều thành phố chính. Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia mới, trị giá 40 triệu RM.
Là một trung tâm bảo quản và trưng bày các báu vật nghệ thuật Đương đại của người Malaysia. Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia đă xuất bản các cuốn danh mục nghệ thuật và biên soạn các bài luận của các nhà văn về nghệ thuật của người Malaysia.
Pḥng trưng bày đă tổ chức một sự kiện thường xuyên - đó là Giới trẻ Đương đại, là diễn đàn của các nghệ sĩ mới nổi ngày nay. ở đó cũng có sự hỗ trợ của các câu lạc bộ/các nhóm nghệ thuật để mở các buổi diễn Nghệ thuật và tổ chức một giải thưởng nghệ thuật thường xuyên, giải thưởng mang tên "Philip Morris". Pḥng trưng bày cũng hỗ trợ các trường học và các thư viện đê tổ chức các cuộc thi tài năng.
Để khuyến khích khu vực tư nhân và các cá nhân tham gia vào việc quảng bá nghệ thuật, một Quỹ tài trợ Triển lăm nghệ thuật đă được thành lập. Năm 1996, có 3 khu vực tư nhân chính đóng góp với tổng số tiền là 7 250 000 RM.
Từ Quỹ tài trợ Triển lăm nghệ thuật, Pḥng trưng bày nghệ thuật đă chi 107,076 RM vào năm 1973, 902, 937 RM vào năm 1994, 208, 771 RM vào năm 1995 và 770,679 RM vào năm 1996 để có được vĩnh viễn các bộ sự tập nghệ thuật.
Bộ văn hoá, nghệ thuật và Du lịch đă trợ cấp cho chương tŕnh phát triển văn hoá với số lượng lên đến 5 triệu RM và được chia cho Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia, các Bảo tàng, và Cơ quan lưu trữ quốc gia cho việc mua bán các tác phẩm nghệ thuật/ tranh vẽ, các sản phẩm bảo tàng và các tài liệu lưu trữ.
4.5 Văn học và tác phẩm

Malaysia là một nước giàu có về di sản văn học như các câu chuyện cổ tích, các bài văn xuôi, pantun, seloka, syair,… hầu hết tồn tại qua truyền khẩu, bằng bản viết tay được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Dewan Bahasa dan Pustaka (Cục văn học và ngôn ngữ) lưu dữ các tài liệu làm chứng cứ và đă xuất bản cho thế hệ trẻ thưởng thức. Một vài tác phẩm văn học trở thành sách giáo khoa cho nghiên cứu văn học ở các trường và các viện đại học. Vào năm 1997, Thư viện quốc gia Malaysia đảm nhận một dự án sản xuất bản văn xuôi cho thiếu nhi Malaysia bằng đĩa CD-ROM với số tiền đóng góp là 60, 000 RM từ ESSO(M) Sdh.Bhd.
Vào năm 1989 Chính phủ đă thông qua Chính sách quốc gia về Thư viện và các Dịch vụ thông tin. Chính sách này là bộ bao quát việc phát triển các kế hoạch có hệ thống của thư viện và các dịch vụ thông tin đang được lưu giữ với các nhu cầu cho các lĩnh vực chính cũng như các nhu cầu của tất cả các tầng lớp của cộng đồng ở các vùng đô thị hay nông thôn.
Cuộc khảo sát gần đây về vấn đề đọc sách của Malaysia cho thấy rằng tỷ lệ đọc văn học của người Malaysia là 93%. Nhiều chiến dịch đọc sách đă được thực thi nhằm khuyến khích người dân Malaysia quan tâm hơn đến vấn đề này.
Các uỷ ban chiến dịch đọc sách quốc gia đă thành lập ở các cấp quốc gia cũng như ở các cấp bang.
Trong các hoạt động của chiến dịch đọc sách quốc gia bao gồm các phiên chợ sách, các cuộc thi kể chuyện, các buổi thảo luận và diễn đàm về văn hoá đọc, rạp hát thanh thiếu niên, đoạn trích thơ và khuyến khích gia tăng pḥng đọc sách gia đ́nh.
Uỷ ban quốc gia về văn hoá đọc đă xuất bản cuốn sách hướng dẫn việc đọc và thành lập pḥng đọc sách gia đ́nh với tựa đề là "Pembacaan dan Perpustakaan Keluarga".
Theo Kế hoạch thứ 7 của Malaysia, chính phủ chi 2 triệu RM cho việc quảng bá chiến dịch đọc sách thông qua Thư viện quốc gia. Các hoạt động của Thư viện như rạp hát thanh thiếu niên, các cuộc thi đọc sách, các đoạn trích thơ đă được tổ chức thường xuyên, mục đích để truyền thụ việc đọc sách trở thành thói quen và là việc thưởng thức văn hoá của người Malaysia. Trong thời đại của công nghệ thông tin, các thư viện đều thúc đẩy văn hoá công nghệ thông tin vào trong việc ứng dụng. Các phương tiện máy tính đă được lắp đặt ở hầu hết các thư viện cho những người sử dụng thư viện và thực hành sử dụng máy tính.
Các thư viện được xem như là “kho kiến thức”, nơi đó các nguồn tài nguyên thông tin và tri thức ở trong các khổ theo một hệ thống và dễ dàng t́m kiếm đối với các nhà nghiên cứu sử dụng nói riêng và công chúng nói chung. Các thư viện hoạt động như là các trung tâm văn hoá để xúc tiến các hoạt động văn hoá và sự học tập suốt đời cho tất cả mọi người.
Để đảm bảo mọi cá nhân đều có thể tiếp cận được với nguồn tài nguyên của thư viện, th́ chính phủ đă cấp các bảo trợ thông qua Thư viện quốc gia Malaysia, để các chính quyền bang thiết lập hệ thống thư viện rộng khắp ở trên khắp các bang, và những hệ thống này đều được liên kết thành một hệ thống thông tin quốc gia.
Với mục tiêu đảm bảo mọi cá nhân ở trên đất nước đều có thể dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ của thư viện. Dưới Kế hoạch thứ 7 của Malaysia, một khoản tiền với tổng số là 78, 151, 000.00 RM đă được chỉ định dùng cho việc phát triển các thư viện ở các bang.
Để khuyến khích sáng tạo và phát huy sở trường trong các lĩnh vực văn học, Giải thưởng Thư viện quốc gia đă được trao tặng cho các cá nhân xuất sắc trong các lĩnh vực như: viết sáng tạo, văn học, kịch, viết kịch bản. Các hiệp hội mà hoạt động trong việc quảng bá văn hóc đọc và các tác phẩm văn học đều là Hiệp hội những người viết văn Malaysia (GAPENA), Hiệp hội đọc sách Malaysia, Hiệp hội thư viện Malaysia,…
Các thư viện đóng một vai tṛ tất yếu trong việc bảo quản di sản văn hoá bằng việc sưu tầm, t́m kiếm tài liệu và việc thay đổi sự phong phú của các sản phẩm văn hoá thành các trang tra cứu số trong phương thức hệ thống. Điều này có thể được làm thông qua việc quan tâm về lịch sử địa phương, các xă hội văn hoá và di sản ở cấp địa phương.
Các thư viện ở cấp địa phương có các buổi triển lăm thường xuyên về các di sản văn hoá như là một phần trong các hoạt động quảng cáo. Các kế hoạch để phát triển “triễn lăm ảo” các di sản văn hoá địa phương mà có thể tiếp cận thông qua Internet đang được thực hiện. Việc này sẽ đưa ra các mục tiêu mới cho các thư viện về việc trưng bày sự giàu có của thế giới của di sản văn hoá Malaysia.
4.6 Âm nhạc
Các tác phẩm âm nhạc hầu hết được các khu vực tư nhân đảm nhận. Trung tâm Lưu giữ của Thư viện quốc gia Malaysia, là nơi thi hành Luật Lưu giữ tài liệu thư viện ra năm 1986 đưa ra một bản ghi xấp xỉ 400 đầu đề các băng cát xét, hầu hết là các bài hát và bản nhạc, được nhận vào năm 1996, một số trong đó được sản xuất bằng đĩa CD. Giá trị doanh thu của ngành âm nhạc ở Malaysia xấp xỉ 500 triệu RM. Tuy nhiên, các bài hát và âm nhạc nước ngoài là phần chủ yếu của con số doanh thu này.
Để thúc đẩy việc phát triển ngành âm nhạc trong nước và nước ngoài, chính phủ đă đưa ra một chính sách mới để quản lư ngành âm nhạc trong nước. Chính sách này ép buộc cả đài phát thanh tư nhân và quốc gia phải ưu tiên cho việc phát sóng các bản nhạc và các bài hát bằng ngôn ngữ phong phú của nước ḿnh. Các đài truyền h́nh trong nước đă tổ chức một cuộc thi hát thường niên, với các giải thưởng được dành cho Bài hát hay nhất, Nhà soạn nhạc hay nhất và Giai điệu Malaysia hay nhất. Để phục hồi sự phát triển của âm nhạc truyền thống và tăng thêm số lượng các ca sĩ và các nhà soạn nhạc trong âm nhạc cổ điển, Ban Văn hoá của Bộ văn hoá, nghệ thuật và du lịch đă tổ chức Cuộc thi Âm nhạc cổ điển cho Thanh niên ở cấp bang và cấp quốc gia.
Để hạn chế việc sao chép bất hợp pháp trong ngành âm nhạc, Bộ Thương mại và Tiêu dùng nội địa đóng một vai tṛ quan trọng trong việc thực thi có hiệu lực luật chống lại hành vi bất hợp pháp này.
4.7 Điển ảnh
Ngày 8-2 năm 1997, Bộ Thông tin Malaysia quyết định thành lập Ban Cố Vấn cho chính sách Điện ảnh quốc gia để quản lư toàn bộ các nghiên cứu về điện ảnh của đất nước và góp phần vào việc phát triển của ngành.
Phạm vi của Ban Cố vấn là toàn bộ các lĩnh vực liên quan đến nền công nghiệp điện ảnh, bao gồm việc sản xuất phim, các công việc sau sản xuất, thương mại, giáo dục, xúc tiến, pháp lư và quản lư.
Yêu cầu đối với một chính sách điện ảnh quốc gia là phải thiết lập được các nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược, các nguyên tắc hiệu quả và các đặc trưng của ngành điện ảnh để có được cái nh́n lạc quan hơn về các cơ hội và phát triển một cách có trật tự phù hợp với sự mong đợi của đất nước.
Ngành công nghiệp điện ảnh có liên quan đến hàng loạt các ngành công nghiệp rộng lớn khác nhằm tiếp cận với những tiến bộ mới nhất của công nghệ thông tin, với sự lớn mạnh của các hăng truyền h́nh tư nhân, với hệ thống cáp quang và vệ tinh, nâng cao chất lượng và đạt được thành công.
Nhiệm vụ của Chính sách điện ảnh là tạo ra “Điện ảnh Malaysia, giá trị đích thực”.
Mục tiêu của nó là nâng cao chuẩn của điện ảnh Malaysia cả về thẩm mỹ và chất lượng, vươn lên tầm quốc tế.
Các nhiệm vụ cụ thể của Chính sách Điện ảnh là:
- Tạo đ̣n bẩy cho sự phát triển của điện ảnh nước nhà, bao gồm cả chiều ngược và chiều xuôi để Malaysia trở thành điểm đến của các hoạt động điện ảnh cũng như trở thành trung tâm của điện ảnh khu vực.
- Có bước tiếp cận tự do nhưng có trách nhiệm với điện ảnh trong nước
- Nâng cao và thúc đẩy công nghệ h́nh ảnh lên tầm quốc tế
- Nâng cao chất lượng phim quốc gia bằng cách tập trung vào việc tuyên truyền các giá trị văn hoá và nhân văn cũng như nhấn mạnh vào các chủ đề liên quan đến con người nói chung.
- Gắn công nghiệp điện ảnh với các mục tiêu và tư tưởng trong Tầm nh́n 2020 và chính sách phát triển quốc gia
Chiến lược của chính sách này là:
- Tạo dựng được một cơ cấu tổ chức chịu trách nhiệm về toàn bộ các vấn đề liên quan đến việc quản lư các hoạt động phim ảnh
- Thiết lập một hệ thống pháp lư hiệu quả bắt kịp với sự phát triển hiện tại của ngành điện ảnh
- Tăng cường đấu tư vào cộng nghiệp điện ảnh Malaysia bằng cách tạo các khuyến khích cần thiết như giảm thuế, xoá bỏ các thủ tục quan liêu rườm rà chẳng hạn trong các vấn đề tài chính hay nhân sự cho phim nước ngoài ở cả trong và ngoài nước
- Xúc tiến thương mại liên quan đến việc phân phối và triển lăm phim và việc bảo vệ bản quyền
- Nâng cao chất lượng các dịch vụ trong ngành công nghiệp điện ảnh nhằm đạt được hiệu quả đa chiều.
- Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất cho các hoạt động phim ảnh nước ngoài
- Nâng cao tŕnh độ cho các nhà làm phim trong nước trong việc quản lư kinh doanh
- Giữ vững và phát huy chất lượng của nghệ thuật làm phim
- Coi việc nhận thức và gắn điện ảnh với các môn học trong nhà trường là yếu tố quan trọng để phát triển văn hoá nghệ thuật quốc gia
- Khuyến khích việc học tập các giá trị văn hoá lịch sử của dân tộc phù hợp với nguyện vọng chung của con người
Chính sách điện ảnh quốc gia được thực hiện thông qua:
a, Cục điện ảnh quốc gia (NFB)
Cục điện ảnh quốc gia là cơ quan duy nhất của chính phủ thuộc Bộ Thông tin có trách nhiệm đưa ra các quyết sách, thực hiện các mục tiêu trong chính sách áp dụng các quy định chung v́ sự phát triển của công nghiệp điện ảnh Malaysia. Với sự ra đời của Cục điện ảnh, các đơn vị quản lư điện ảnh trước đây như Fin As và Film Neeara đă được thay thế
b, Vấn đề pháp lư
Việc ban hành và áp dụng các điều luật và quy định gắn với điện ảnh phải phản ánh sự phát triển của công nghiệp điện ảnh và các lĩnh vực liên quan, đặc biệt là tại các địa phương nơi phủ sóng truyền h́nh
c, Giáo dục và Đào tạo
Việc thành lập trung tâm đào tạo phim theo tiêu chuẩn quốc tế đă đáp ứng được cả yêu cầu trong nước và cho các nước trong khu vực.
Nhiệm vụ:
Ngành nghề du lịch ở Malaysia có sự hợp tác với khu vực kinh tế tư nhân, như các khách sạn, hàng không và các đại lư du lịch, các tổ chức bán hàng thu lợi nhuận cho các nước khác. Những tổ chức này có nhiệm vụ làm tăng hiểu biết và kiến thức của khách du lịch về Malaysia như là việc giới thiệu về những nơi họ sẽ đến, tạo ra những cơ hội tiếp xúc giữa người hướng dẫn và khách du lịch.
Hội thảo và hội nghị chuyên đề
Các công ty du lịch của Malaysia tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị chuyên đề, phổ biến kiến thức một cách rất thường nhật. Mục tiêu của sáng kiến này là làm sao vừa giữ được sự quan tâm của khách du lịch đối với thị trường truyền thống lại vừa thực hiện các chương tŕnh nhằm tạo ra thị trường mới thu hút sự quan tâm của lượng khách du lịch mới.
Hội chợ người tiêu dùng
Người tiêu dùng sẽ là những người giới thiệu về nét quyến rũ của nền văn hoá Malaysia như mỹ thuật, đồ thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật ẩm thực. Cách quản lư ở các khách sạn và các trung tâm mua sắm hài hoà với nhau, làm nên nét độc đáo cho những tua du lịch Malay, kích thích sự quan tâm của khách du lịch. Bộ phát triển du lịch của Malaysia được thành lập vào năm 1992. Mục đích là nhanh chóng biến Malaysia thành một địa điểm du lịch nổi tiếng. Bằng sự năng động sáng tạo, họ mong muốn thu hút sự chú ư của toàn thế giới đối với vẻ đẹp tráng lệ, lộng lẫy chỉ duy nhất Malaysia mới có. Cuối cùng th́ cái mà chúng ta nhắm đến là tăng cao con số khách du lịch nước ngoài đến với Malaysia, kéo dài thời gian du lịch của họ và việc làm này chắc chắn sẽ tăng thêm doanh thu cho ngành du lịch. Chúng ta cũng mong muốn khai thác du lịch trang trại để chia sẻ và đóng góp với các khu vực du lịch khác
Các hoạt động du lịch ở Malaysia được đưa ra nhằm tăng khả năng của ngành công nghiệp du lịch của Malaysia. Điều này sẽ góp phần tăng nhanh sự đầu tư vào đất nước trong lúc nhu cầu tăng thêm công việc cho người lao động cũng đang tăng cao. Sự lớn mạnh của ngành du lịch sẽ đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xă hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Du lịch Malaysia trong ṿng 30 năm qua
Bộ phát triển du lịch của Malaysia gọi tắt là TDC, được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1972 lúc đầu chỉ là đại diện cho bộ ngoại thương và công nghiệp, được pháp luật công nhận.
Đó là một năm mà ngành du lịch đă phát triển và được quyết định thành lập Bộ du lịch của quốc gia. Ngày 20 tháng 5 năm 1987, bộ văn hoá, mỹ thuật và du lịch bắt đầu hoạt động và bộ phận chuyên trách việc phát triển du lịch này tách khỏi Bộ ngoại thương và công nghiệp thành một Bộ mới. Vào tháng 5 năm1992, Bộ này bị xoá bỏ và được khôi phục lại vào năm 1992 bởi một đạo luật về du lịch của Malaysia.
Với sự thay đổi này, ngành du lịch tàu biển Malaysia (MTPB) được biết đến như là “Du lịch Malaysia" chính thức được thành lập.
5.1. Ngành xuất bản
Điểm đặc trưng nhất của ngành xuất bản ở Malaysia là thị trường nội địa được ưu tiên với việc xuất bản chủ yếu là sách giáo khoa ( chiếm tới 70% thị phần sách xuất bản và tái bản). Việc in ấn sách giáo khoa cho các trường học là khoảng 7.000 - 10.000 bản mỗi năm. Đối với khu vực không xuất bản sách giáo khoa, th́ xuất bản sách cho thiếu nhi chiếm ưu thế hơn với khoảng từ 5.000 - 10.000 bản. Các đầu sách khác chiếm từ 1.000 - 3.000 bản. Năm 1966, ṿng quay này đă mang lại giá trị vượt mức khoảng 750 triệu RM.
Hội đồng phát triển sách quốc gia bao gồm có các đại diện đến từ các công ty sách khác nhau và các đại diện có liên quan trong chính phủ nhằm nâng cấp lên thành ngành công nghiệp xuất bản sách ở Malaysia.
Phạm vi hoạt động của ngành này bao gồm có tổ chức sách quốc gia là chủ đạo, bên cạnh đó c̣n có sự đóng góp của các tổ chức sách khác, như tổ chức các giải thưởng về sách, thúc đầy khả năng nghiên cứu, tổ chức các buổi hội thảo, các diễn đàn để nâng cao tŕnh độ chuyên môn cho ngành xuất bản sách. Đây là những sự kết hợp trực tiếp và gián tiếp có tác dụng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành này. Nằm trong số này là Tổ chức xuất bản sách học thuật Malaysia, Tổ chức xuất bản sách Malaysia và Tổ chức xuất bản Malaysia.
Chính sách xuất bản sách được thông qua năm 1984 đă thúc đẩy hoạt động sách báo ở nhiều khu vực của Malaysia. Chính sách thư viện thông tin đă được chính phủ thông qua năm 1989, với mong muốn các nhà xuất bản đẩy mạnh đến mức cao nhất hoạt động xuất bản của ḿnh, chiếm thị phần lớn trên thị trường và thu hút được sự quan tâm của toàn xă hội.
Là di sản của trí tuệ và văn hoá dân tộc, mọi thư viện của quốc gia đều được sử dụng hợp lư, thích đáng, và phải được giữ ǵn bảo vệ một cách tốt nhất để kéo dài thời gian sử dụng của nó một cách lâu bền nhất.
Thư viện quốc gia của Malaysia có chức năng như một trung tâm lưu giữ các loại sách đă xuất bản ở Malaysia được thừa nhận là các xuất bản phẩm (có thể đă in hoặc chưa in). Luật hỗ trợ về vật chất đối với các thư viện ra đời năm 1986 (được thay thế bằng luật bảo quản sách năm 1966) đă giữ các thông tin về các xuất bản phẩm dưới dạng các con số trong một đạo luật riêng. Phần phụ lục ở dưới sẽ chỉ ra số lượng các đầu sách thuộc các lĩnh vực, các chủ đề khác nhau đă đăng kư với thư viện quốc gia Malaysia.
Các con số này chỉ ra rằng có những bước phát triển khá vững chắc về số lượng các đầu sách xuất bản ở Malaysia, ví dụ 3,695 đầu sách (1992), 3.799 đầu sách (1993), 4.050 đầu sách (1994), 6.465 đầu sách (1995) và 5.843 đầu sách vào năm 1996.
Thành công của ngành xuất bản sách của Malaysia phụ thuộc vào tỉ lệ những người biết đọc biết viết ở Malaysia. Sự mở rộng của hệ thống thư viện quốc gia, các tổ chức nghiên cứu, học thuật cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành xuất bản. Thư viện chi khoảng 3 ngh́n RM mỗi năm để mua các xuất bản phẩm của địa phương. Những năm gần đây, các sách báo c̣n được xuất bản bằng đĩa CD-ROM.
5.2. Báo chí
Theo thống kê của thư viện năm 1986, có khoảng 88 báo ngày in bằng các ngôn ngữ khác nhau cho các vùng khác nhau của Malaysia. Có khoảng 10 tờ báo chuyên ngành được xuất bản.
Năm 1996, bộ thông tin đă thống kê có khoảng 5.586.000 độc giả báo ngày, 6.456 độc giả báo tuần, 3.177.000 độc giả của tạp chí định kỳ hai lần một tuần và khoảng 2.469.000 độc giả báo tháng (xem các bảng số liệu phần 9).
Hăng thông tấn quốc gia Malaysia (BERNAMA), được tổ chức qua một đạo luật của quốc hội vào năm 1967, phải báo cáo về việc phân phối các loại tài liệu về các vấn đề công cộng và mối quan tâm của quốc gia trong và ngoài Malaysia.
Vào những năm 1980, BERNAMA tăng khả năng đóng góp vào ngân khố, mạnh dạn đầu tư vào khu vực cung cấp thông tin có thời hạn bằng việc liên kết với các hăng truyền thông của nước ngoài.
Đến năm 1996, lợi nhuận của BERNAMA từ các đại lư và cả công ty ước tính vào khoảng 649, 940RM . Để nâng cao nghiệp vụ cho các nhà báo, Viện báo chí đă được thành lập vào năm 1974, chuẩn bị thúc đẩy các nhà báo phát triển cho kịp với thời đại mới, với công việc biên tập, với các mối quan hệ khác.
Từ khi bắt đầu thành lập đến năm 1994, viện đă tổ chức được khoảng 190 buổi trưng bày và khoảng 4,000 có tác phẩm được tin hoặc được đưa lên các phương tiện truyền thông đại chúng. Là một thị trường phi lợi nhuận, mỗi năm MPI nhận được khoảng 100,000 RM từ chính phủ trợ cấp cho các hoạt động của viện.
5.3. Phát thanh, truyền h́nh
Chỉ số mà bộ thông tin đưa ra vào năm 1996 cho thấy rằng có khoảng 9,876,000 người dân xem ti vi ở nhà và khoảng 10,017,000 người xem kênh Peninsular của Malaysia. Trung b́nh có khoảng 8,997,000 ngựi nghe đài. (xem phụ lục VI, VII, VIII). Chủ yếu là những người trẻ có rađiô di động v́ họ coi đó như một h́nh thứ giải trí.
Phát triển các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh ở Malaysia ngày càng được mở rộng và đặc biệt quan trọng đối với phía tây của tổ quốc. Trong thời đại này ngày càng có nhiều sự đối lập nhất là trong nền văn hoá cộng đồng. Để phát triển công nghiệp truyền thanh truyền h́nh ở các địa phương, chính phủ đă miễn thuế nhập khẩu đối với các phương tiện kỹ thuật truyền thanh truyền h́nh cho các công ty.
Ban phát triển truyền thanh truyền h́nh của bộ thông tin Malaysia cung cấp các dịch vụ phát thanh truyền h́nh và phổ biến thông tin qua đài và ti vi nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về các vấn đề kinh tế xă hội, rút ngắn khoảng cách của Malaysia với thế giới.
Với mục đích đạt được sự phát triển và hiện đại hoá các dịch vụ phát thanh truyền h́nh nhằm thay thế sự cũ kỹ lạc hậu của ti vi và đài tiếng nói. Những tin tức được đưa trên kênh Peninsular Malaysia tăng từ 85% năm 1990 đến 90% vào năm 1995 và tăng từ 80% đến 85% đối với hai kênh Sabah và Sarawak trong cùng thời kỳ. Đài tiếng nói cũng tăng khoảng 80%. Thời gian phát các chương tŕnh trên ti vi và đài cũng tăng theo. Trên 6 kênh đài tiếng nói quốc gia các chương tŕnh được phát cả 24 giờ trong khi đó giờ phát của ti vi cũng tăng từ 12 đến 18 giờ một ngày. Tất cả các tin tức đều được cập nhật trên đài tiếng nói để cho mọi người dân được biết.
5.4. Ngành công nghiệp thu âm
Việc thu âm về cơ bản gồm có công nghệ lồng tiếng và hoà trộn âm thanh làm tăng hiệu quả của âm nhạc. Công nghệ lồng tiếng ở Malaysia chủ yếu được quản lư bởi khu vực kinh tế tư nhân.
Ngành này đang ngày càng được phát triển ở Malaysia. Ngày càng có nhiều sự đầu tư vào trang thiết bị, tiện nghi công nhân lành nghề, những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của ngành. Ghi âm và lồng tiếng cho phim là lĩnh vực hoạt động của các hăng như: Rediffussion, Kinegraphic, Booty Boys Music Sdn. Bhd, vµ mét sè h·ng kh¸c.
5.5 Rạp chiếu phim và điện ảnh
Bộ Thông tin đă tổng kết lượng khán giả xem phim và video ở Malaysia
|
Năm |
Lượng khán giả |
|
|
|
Phim |
Băng video |
|
1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 |
1.965.000 2.111.000 2.227.000 2.599.000 2.872.000 3.264.000 2.799.000 2.790.000 |
3.400.000 3.470.000 3.581.000 4.098.000 4.407.000 4.835.000 4.789.000 5.337.000 |
* Nguồn: Tổ chức nghiên cứu, Bộ Thông tin và bộ phận khảo cứu của Malaysia
Hăng phim Perbadanan Kemajuan năm 1981 đă nhắm tới việc khuyến khích, bảo hộ và phát triển nền công nghiệp điện ảnh quốc gia. INAS là một hăng phim có thế lực ở Malaysia. Năm 1996, FINAS có khoảng 1,133 đầu phim thương mại sản xuất ở Malaysia với giá thành ước lượng vào khoảng 76,183,421.14RM. Đó là dấu hiệu của việc tăng mạnh về doanh thu của FINAS từ khi mới thành lập năm 1989 là khoảng 2,829,181RM đă lên đến 6,819,200 RM vào năm 1996. Chính phủ đề ra luật phim quốc gia vào năm 1997, nhằm xây dựng ngành điện ảnh Malaysia đạt tiêu chuẩn trong quan hệ với mỹ học, chất lượng cao và đạt tiêu chuẩn quốc tế
Mục tiêu là :
- Tạo cơ sở cho sự phát triển của công nghiệp điện ảnh Malaysian
- Nâng cao chất lượng phim ảnh bằng cách nhấn mạnh các giá trị văn hoá, nhân văn làm xúc động người xem về các truyền thống tốt đẹp của đất nước.
Hăng phim quốc gia đă làm những bộ phim tài liệu về sự giàu có của văn hoá Malaysia, thuật lại những sự kiện lịch sử quan trọng. Ngoài ra c̣n có các bộ phim quảng cáo ngắn và các đoạn phim lưu trữ. Năm 1996, hăng phim quốc gia đă sản xuất 6 phim về văn hóa, 3 phim về các liên hoan, 47 phim về xă hội và 18 phim về giáo dục.
Trong những năm 70, bằng chứng cho sự phát triển của công nghệ điện ảnh là sự ra đời của đĩa video (VCD). Trang thiết bị Video đă ngay lập tức lan tràn trên thị trường. Băng đĩa được bày bán khắp nơi trên đất nước. Năm 1984, Cơ quan kiểm duyệt phim đă báo cáo rằng có khoảng 3,145 trung tâm sản xuất băng video trên khắp đất nước. Hiện nay đă lên đến khoảng 10,000 trung tâm. Đây là một hướng đi mới cho sự phát triển của ngành điện ảnh. Với sự ra đời của hai hăng FINAS Video và Film Training Complex, ngày càng có nhiều cơ hội và tiềm năng cho việc sản xuất phim và băng video. Sự phát triển của công nghệ băng video đă mở ra cơ hội cho sự ra đời của một thế hệ các đạo diễn, nhà quay phim, diễn viên trẻ triển vọng mới.
Để cải tạo và nâng cấp các bộ môn nghệ thuật như kịch, phát thanh truyền h́nh và phim, chính phủ đă đầu tư khoảng 50 triệu RM cho các chương tŕnh đào tạo nhà sản xuất, nhà kỹ thuật, nhà quay phim, các kỹ sư nghe nh́n… đồng thời cũng tạo niềm tin và các cơ sở làm việc tốt nhất cho họ.

Nghiên cứu về tiến tŕnh phát triển văn hoá bắt đầu được thực hiện trong các trường đại học như Malaya, Kebangsaan, trường đại học khoa học Malaysia và MARA - học viện nghiên cứu khoa học Nghiên cứu các xuất bản phẩm, và các văn kiện về diện mạo văn hoá Malaysia ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm của công chúng.
Là một đất nước đang phát triển, để đưa đất nước tiến lên con đường phát triển hiện đại, chính phủ chủ trương xây dựng một thành phố công nghệ số đặt tên là Multimedia Super Corridor (MSC) với vị trí cách sân bay quốc tế Kuala Lumpur (KLIA) khoảng 15 đến 50 km và là một thủ đô mới tại Putrajaya. MSC sẽ là một trung tâm phát triển của Malaysia như là một trung tâm quản lư rất giàu có về thông tin và kiến thức xă hội. Nó sẽ là cơ quan đầu năo điều khiển các hoạt động của thị trường công nghệ đa phương tiện. ở khía cạnh này, chính phủ khuyến khích các công ty phần mềm, viết các chương tŕnh vi tính trong đó bao gồm cả nội dung về các giá trị nền văn hóa truyền thống của Malaysia.
Khu vực kinh tế Tư nhân như Cosmopoint Sdn. Bhd đă sản xuất chương tŕnh “Cửa sổ Malaysia: một sự kết hợp của quá khứ và hiện đại” trên đĩa CD-ROM và công ty ESSO (M) Sdn Bhd. Đă đóng góp 60,000 RM vào thư viện quốc gia Malaysia để xây dựng những pḥng dành riêng cho trẻ em để học đánh vần.
Bộ văn hoá, nghệ thuật và du lịch đă bố trí một trung tâm lưu giữ văn hoá hay c̣n gọi là ngân hàng dữ liệu với cố gắng phát triển và mở rộng các hiểu biết về giá trị văn hoá truyền thống. Nó sẽ liên kết các trung tâm văn hoá khác nhau, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các bảo tàng, thư viện và khu vực kinh tế tư nhân để tạo nên các diện mạo khác nhau cho nền văn hoá Malaysia. Kết quả đạt được là một nền văn hoá đa dạng ngày càng thu hút được nhiều khách tham quan đến với các bảo tàng, triển lăm, nhà hát, thư viện.
Các mối quan hệ văn hoá với các nước khác là vấn đề nằm trong tầm kiểm soát của Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin, Nghệ thuật và Du lịch. Văn hoá được quảng bá ra nước ngoài là nhờ các đại sứ quán, trung tâm văn hoá ở nước ngoài và tất nhiên là nhờ cả những sinh viên Malaysian đang sống và học tập ở nước ngoài. Sự kết hợp này đặc biệt được nhấn mạnh trong ngày quốc khánh của Malaysia.
Mạng lưới văn hoá quốc tế được tăng lên thông qua các các mối quan hệ văn hoá thân thiện và mối hợp tác lẫn nhau với các nước khác. Malaysia là thành viên tích cực của tổ chức ASEAN (có uỷ ban văn hoá và thông tin) (ASEAN-COCI). Uỷ ban này cung cấp nền tảng cơ sở cho sự hiểu biết và trao đổi với nhau giữa 9 nước thành viên của khối ASEAN thông qua văn hoá và thông tin. Uỷ ban này bao gồm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, trong hoạt động văn học và trong hoạt động nghiên cứu về ASEAN .
Uỷ ban này sẽ mang đến sự hiểu biết, những thông tin, những nghiên cứu và rất nhiều xuất bản phẩm về diện mạo văn hoá của các nước ASEAN. Malaysia cũng là một thành viên tích cực của UNESCO trong kế hoạch "Những kỷ niệm của trái đất", ASTINFO và APINESS.
Ngoài ra, Malaysia c̣n là thành viên của tổ chức quốc tế về khảo cổ học và nghệ thuật tạo h́nh (SPAFA) nhằm nuôi dưỡng và giữ ǵn những hiểu biết về giá trị của các di sản văn hoá thông qua việc phổ biến thông tin về một ngành khảo cổ học giàu thành tích và một nền văn hoá nhiều giá trị của vùng.
Trên thế giới đang có sự tranh căi gay gắt giữa các giáo sư hàn lâm, các nhà nghiên cứu, các nghệ sỹ, nhà viết kịch, soạn giả và tác giả… về việc đảm trách uỷ ban văn hoá và thông tin ASEAN (ASEAN-COCI) và trung tâm khảo cổ học, nghệ thuật tạo h́nh của dân tộc, như một sự đa dạng văn hoá và trao đổi các chương tŕnh để phát triển văn hoá. Để đưa văn hoá vào các lễ hội quốc tế là nhiệm vụ quan trọng của chính phủ đồng thời cũng là nhiệm vụ cấp thiết của ngành du lịch.
Đại hội Cán bộ Thư viện Đông Nam á (CONSAL) được tổ chức một năm hai lần để đảm bảo rằng cơ sở dữ liệu về văn hoá các nước Đông Nam á luôn được giữ ǵn và cập nhật.
Hiền Lê(Culturalpolicies)