CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ NA UY

 

1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá

Vương quốc Na Uy nằm ở phía bắc châu Âu, trên phần phía tây và bắc bán đảo Scandinavia, giáp với Thụy Điển, Phần Lan, Nga, biển Baren biển bắc.

Diện tích : 324,219 km2, dân số : 4,400,400 người, thủ đô: oslo, ngôn ngữ chính : tiếng Na Uy, quốc khánh : 17/05 (1814), tín ngưỡng : đạo cơ đốc, đơn vị tiền tệ : đồng cu rôn (krone)

Na Uy giành được độc lập ngày 7 tháng 6 năm 1905 từ vương quốc Thuỵ Điển. trong thời gian thế chiến thứ hai, Na Uy bị phát xít Đức chiếm đóng. Tháng 10 năm 1944, hồng quân Liên Xô giải phóng miền bắc Na Uy. Sau đó, quân đội phát xít Đức ở Na Uy đầu hàng ngày 8 tháng 5 năm 1945.

Vương quốc Na Uy là một quốc gia quân chủ lập hiến. Người đứng đầu quốc gia là vua Na Uy với tục lệ cha truyền con nối. C̣n người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, thường là thủ lĩnh của đảng hoặc của liên minh chiếm đa số trong quốc hội. Vua bổ nhiệm thủ tướng với sự phê duyệt của quốc hội (gồm 165 ghế, bầu theo thể thức phổ thông đầu phiếu, hoạt động theo nhiệm kỳ 4 năm).

Các đảng phái chính ở Na Uy bao gồm: đảng lao động, đảng bảo thủ, đảng trung tâm, đảng xhcn cánh tả, đảng nhân dân thiên chúa giáo, đảng cộng sản, đảng tiến bộ, đảng tự do.

Hiến pháp của Na Uy được thông qua ngày 17 tháng 5 năm 1814

Na Uy gồm 19 tỉnh (akershus, aust-agder, buskerud, finnmark, hedmark, hordaland, mre og romsdal, nordland, nord-trndelag, oppland, oslo, stfold, rogaland, sogn og fjordane, sr-trndelag, telemark, troms, vest-agder và vestfold) và 3 lănh thổ phụ thuộc (đảo bouvet, jan mayen và svalbard).

Vào thể kỉ thứ 19 và đầu những năm thể kỷ 20, một số chương tŕnh hỗ trợ công cộng cho các hoạt động và các tổ chức văn hoá nghệ thuật đă được thành lập (như là các học bổng nghệ thuật, hỗ trợ công cộng cho các thư viện, giáo dục nghệ thuật, bảo tàng và rạp hát), nhưng chính sách văn hoá chỉ trở thành một chính sách của từng lĩnh vực riêng biệt ở Na Uy kể từ Thế chiến thứ 2. Từ những năm 1930 trở đi, tư tưởng phúc lợi đă dần dần giành được một chỗ đứng chính trong hệ thống chính sách Na Uy nói chung, và cũng đă được áp dụng cho lĩnh vực văn hoá.

Trong suốt thời ḱ chiến tranh, các nhà thống trị người Đức và Nasjonal Samling (quốc gia Đảng Xă hội nắm quyền kể từ năm 1940 đến 1945) đă thiết lập Bộ Văn hoá và Giáo Dục công cộng, đây là cơ quan chịu trách nhiệm một phần riêng biệt của ngân sách liên bang. Chính sách văn hoá trong thời gian chiến tranh được kiểm soát có hệ thống bằng chế độ cai trị và được xem như là một công cụ tuyên truyền chính trị của giai cấp thống trị của nước Đức.

Trong thời ḱ hậu chiến, văn hoá dân chủ có tầm quan trọng. Nghệ thuật và văn hoá khi ấy đều được xem xét như là một tiêu chuẩn quan trọng của phúc lợi cho toàn thể dân chúng và cũng được xem như một công cụ hữu ích cho giáo dục công cộng.

Để xă hội hoá văn hoá, liên bang đă thiết lập các tổ chức nghệ thuật quan trọng với chức năng toàn quốc, một rạp hát – Nhà hát quốc gia Na Uy – năm 1949, một cho nghệ thuật ứng dụng – Các buổi triền lăm du lịch quốc gia – vào năm 1953 và một cho âm nhạc ở Rikskonsertene/ Viện Hoà nhạc Na Uy – năm 1958. Thêm vào đó, Nhà hát quốc gia cũng được thành lập vào năm 1957.

Trong suốt thời ḱ tiền chiến tranh cho đến đầu những năm 1960, số lượng xuất bản tiểu thuyết của người Na Uy đă giảm mạnh. Để bảo vệ văn hoá và ngôn ngữ Na Uy, một trong các trách nhiệm chính của Hội đồng là quản lư một chương tŕnh về sức mua các xuất bản mới của người Na Uy. Mặc dù liên bang đă dành một khoản lương nhỏ cho các nghệ sĩ từ những năm 1830, nhưng một loạt các chương tŕnh hỗ trợ quan trọng cho các nghệ sĩ chỉ được đưa ra trong những năm 1960.

Trong suốt những năm 1970 đă có nhiều nỗ lực chính nhằm phân quyền chính sách văn hoá và hệ thống quản lư ở Na Uy. Các uỷ ban về các vấn đề văn hoá đă được thành lập ở hầu hết các thành phố tự trị, và các chính quyền thành phố đă từ từ bổ nhiệm các nhà quản lư và các thư kí về các vấn đề văn hoá. Một hệ thống tương tự đă được phát triển ở cấp tỉnh và các chương tŕnh bảo trợ mới cũng đă được giới thiệu. Bằng cách này, các trách nhiệm trọng yếu được phẩn bổ để đưa ra quyết định gần hơn với giới công chúng nói chung. Quy tŕnh này đă kết hợp việc làm mới lại các hoạt động văn hoá không chuyên. Thêm vào đó, thể thao cũng nằm trong nội hàm của văn hoá. Các yếu tố truyền thống của đời sống văn hoá người Na Uy cũng được nhận thêm sự hỗ trợ tài chính từ các chính quyền công cộng trong suốt những năm 1970.

Bộ Luật Thư viện đă được thông qua vào năm 1971, chương tŕnh bảo trợ mới cho các rạp hát từ thiện được thành lập vào năm 1972 và một chương tŕnh hỗ trợ việc phân bổ quyền cho các bảo tàng đă được đưa ra vào năm 1975.

Quốc hội Na Uy đă xem xét báo cáo của Chính phủ về chính sách đối với vấn đề văn hoá năm 1978. Chính sách này đảm bảo cho các nghệ sĩ có quyền đàm phán với chính quyền trung ương và cải thiện các chương tŕnh phát triển trong lĩnh vực này. Yếu tố quan trọng nhất của thoả thuận này là đảm bảo mức thu nhập, với việc cung cấp hiện thời cho hơn 500 nghệ sĩ, chiếm đa số trong đó là các nghệ sĩ thị giác và những người làm nghề thủ công.

Trong suốt thời ḱ hậu chiến, dù nền kinh tế phát triển tŕ trệ, nhưng ngân sách cho văn hoá công cộng đă được tăng thêm một cách đáng kể. Điều này thể hiện rơ qua lượng chi tiêu cho văn hoá không tối thiểu ở cấp thành phố tự trị, tăng đáng kể vào năm 1980. Một chính quyền mới (năm 2005) đă được công bố, đây là một trong những tham vọng quan trọng nhằm tăng thị phần của ngân sách phân phối cho văn hoá của liên bang từ 0.8 % lên đến 1 % trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực văn hoá đă nghi ngờ về sự chính xác của các chỉ số đă được tính toán để được đặt kế hoạch cho việc gia tăng này.

Trong một khoảng thời gian dài các vấn đề về chính sách văn hoá ở cấp liên bang đă được Bộ Giáo Hội và Giáo dục. Tuy nhiên, vào năm 1982 Bộ Văn hoá và Khoa học đă được thành lập. Vào năm 1990, Bộ đă đổi tên thành Bộ Giáo Hội và Văn hoá. Từ năm 1991 cho đến năm 2001, đổi tên thành Bộ Văn hoá - chịu trách nhiệm về văn hoá, truyền thông đại chúng và thể thao. Từ năm 2002, Bộ Giáo hội thêm một lần nữa được sát nhập với Bộ văn hoá. Bây giờ Bộ Văn hoá và Giáo hội cũng hợp nhất các vấn đề thể thao và truyền thông đại chúng.

2. Năng lực, đưa ra quyết định và quản lư

  2.2 Mô tả tổng quan hệ thống

Giống như các nước Bắc Âu, chính sách văn hoá Na Uy có cả tính tập trung và tính phi tập trung. Mặt khác, cơ sở của chính sách văn hoá hầu hết được liên bang cung cấp. Tuy nhiên, các trách nhiệm có thể được xem xét về hính thức và việc thực hiện chính sách văn hoá để giao phó cho các chính quyền địa phương và các vùng. Các cấp quốc gia và thành phố quan trọng nhất với với việc chi tiêu văn hoá, c̣n cấp vùng chỉ đóng vai tṛ khiêm nhường nhất.

 cấp liên bang, cơ cấu việc đưa ra quyết định là phức hợp các mối quan hệ. Chính quyền tập trung hơn vào cơ quan chính trị và quản lư của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ban ngành. Một cách chính thức, cơ cấu chính của chính sách văn hoá được Quốc hội xác định. Bộ Văn hoá và Giáo Hội chuẩn bị các tài liệu cho Quốc Hội. Cả luật pháp, tài chính, tổ chức và thông tin đều áp dụng để đạt được các mục đích chính trị. Tuy nhiên, ngân sách liên bang là tài liệu quan trọng nhất, với Bộ Văn hoá và Giáo Hội nắm giữ trách nhiệm của tổng ngân sách xấp xỉ 6 tỷ NOK. Bộ cũng quản lư lợi nhuận đánh bạc từ Norsk Tipping AS, nơi phân phối các đề xuất về văn hoá thể thao. Bộ cũng thực hiện các nghị quyết chính trị mà được Quốc hội thông qua và quản lư các hoạt động của các hăng; các tổ chứ công cộng dưới quyền trong lĩnh vực văn hoá và các tổ chức độc lập đang nhận trợ cấp công cộng.

Các Bộ khác đề cập đến các công việc văn hoá là Bộ Môi trường, đây là nơi chịu trách nhiệm về di sản văn hoá (ngoại trừ các bảo tàng, các cơ quan lưu trữ và các thư viện) và các môi trường văn hoá. Bộ Giáo dục và Nghiên cứu lại chịu trách nhiệm về giáo dục, bao gồm cả việc giáo dục các nghệ sĩ, âm nhạc và các trường văn hoá cho trẻ em. Các trường văn hoá cung cấp các khoá học cho trẻ em ở độ tuổi tiểu học về các chuyên ngành như âm nhạc, nghệ thuật ứng dụng, khiêu vũ và kịch nghệ. Bộ Giáo dục và Nghiên cứu cũng chịu trách nhiệm đối với các thư viện của học viện và với các bảo tàng của các trường đại học.

Bộ Ngoại giao lại chịu trách nhiệm giới thiệu các loại h́nh nghệ thuật Na Uy và văn hoá nước ngoài, bao gồm cả việc trao đổi các dự án với các nước đang phát triển. Các Bộ khác cũng có liên quan đến chính sách văn hoá, nhưng đóng một vai tṛ thứ yếu.

Bộ Tài chính lại đóng vai tṛ sắp xếp quy tŕnh ngân sách. Bộ Chính quyền địa phương và Phát triển vùng trực tiếp hướng vào vai tṛ của văn hoá trong việc phát triển vùng. Bộ Thương mai và Công nghiệp có trách nhiệm quản lư các loại h́nh kinh doanh ở Na Uy, bao gồm cả vai tṛ trong việc phát triển của các nước đang phát triển. Bộ Hiện Đại hoá phát triển các chiến lược của chính phủ về công nghệ thông tin và chính sách cạnh tranh.

Chính quyền cũng đă uỷ quyền cho các tổ chức độc lập và các cơ quan đoàn thể chuyên môn. Hội đồng nghệ thuật Na Uy được Bộ văn hoá và Giáo hội chính thức quản lư và cấp vốn, nhưng vẫn có một vị trí độc lập lớn và v́ thế vẫn được xem như là một tổ chức hoạt động độc lập tiêu biểu. Mỗi năm Quốc hội đưa ra một quy định tổng thể cho Quỹ tài trợ văn hoá, và quỹ này được Hội đồng nghệ thuật Na Uy quản lư như là một bổn phận chính yếu. Thêm vào đó, Hội đồng nghệ thuật hoạt động về việc cố vấn đối với chính quyền trung ương và khu vực công cộng về các vấn đề văn hoá và tổ chức các hoạt động văn hoá mang tính thực nghiệm ở các lĩnh vực để cho Hội đồng cân nhắc xem về mối quan tâm đặc biệt.

Cơ quan Lưu trữ, thư viện và bảo tàng Na Uy được thành lập vào năm 2003 được xem như là một cơ quan chiến lược chuyên môn cho việc phát triển của ba lĩnh vực liên quan. Các nhiệm vụ chính của Cơ quan này là thúc đẩy các mối hợp tác, sự hiệu lực và các mặt mạnh của lĩnh vực lưu trữ, thư viện và bảo tàng. Tương tự như Hội đồng Nghệ thuật Na Uy, Cơ quan này quản lư ngân sách cho cả các hoạt động của ḿnh và các dự án mà được những người khác làm việc trong lĩnh vực này thực hiện. Thêm vào đó, Cơ quan này phục vụ luôn cả khả năng tư vấn cho Bộ.

Quỹ tài trợ Phim Na Uy chịu trách nhiệm về việc quản lư tất cả các hỗ trợ cho việc sản xuất phim ở Na Uy. Theo như các quy chế cho ngành này, Quỹ tài trợ phim cũng sẽ cố vấn cho Bộ Văn hoá và Giáo hội về chính sách của điện ảnh.

Ở các cơ quan chuyên môn khác, chẳng hạn như Hội đồng Ngôn ngữ Na Uy, Hội đồng Trang phục dân gian quốc gia, Viện Lịch sử Na Uy, Cơ quan phát triển phim Na Uy, Quỹ tài trợ các công tŕnh nghệ thuật công cộng quốc gia và Uỷ ban bảo trợ chính phủ (cho các nghệ sĩ), nắm giữ các trách nhiệm quản lư, cố vấn, sắp xếp và phát triển các lĩnh vực của ḿnh.

Các tổ chức quốc gia như Cơ quan dịch vụ lưu trữ quốc gia Na Uy, Thư viện quốc gia Na Uy, Viện điện ảnh Na Uy, Bảo tàng khảo cổ học, Thư viện sách cho người khiếm thị, Bảo tàng nghệ thuật quốc gia, tổ chức Thiết kế và Kiến trúc, Nhà hát du lịch quốc gia Na Uy và Viện hoà nhạc Na Uy ( Rikskonsertene ) đều chịu trách nhiệm về việc quản lư các bộ sưu tập và việc tạo ra các điều kiện cho văn hoá. Ngược lại với các tổ chức khác mà đă được đề cập, Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia, Tổ chức thiết kế và kiến trúc th́ được tổ chức như là một quỹ tài trợ bên ngoài hệt hống quản lư công cộng.

Tất cả các nước và hấu hết các thành phố tự trị thành lập các ban văn hoá và các cơ quan quản lư trong suốt những năm 1970. Những ban này là các vùng độc lập và các cơ quan quản lư văn hoá địa phương và chịu trách nhiệm trước đất nước và các hội đồng thành phố. Vào những năm 1990 một tiến tŕnh cải tổ chung được bắt đầu ở cấp quản lư và chính quyền đia phương. Một số các ban quản lư văn hoá độc lập đă không c̣n tồn tại, hay là sát nhập vào các lĩnh vực khác trong hoạt động của thành phố, ví dụ như giáo dục, thương mại và công nghiệp. Hậu quả của xu hướng này là không rơ ràng, và nó không phải là một chủ đề bàn căi kể từ những năm 1990. Các trách nhiệm của các chính quyền địa phương và vùng bao g̣m tự xác định các hành động và các trợ cấp cho các hoạt động và trợ cấp văn hoá cho các tổ chức ở vùng, đây là một phần quỹ liên bang và được các thoả thuận chính thức điều chỉnh trong trách nhiệm đă chia.

2.3 Hợp tác liên bộ và liên chính phủ

Việc hợp tác và sự phối hợp giữa các bộ ban ngành khác nhau thoả thuận theo đặc tính của các vật chất và không phải theo một cấu trúc cố định.

2.4 Hợp tác văn hoá quốc tế

Trách nhiệm của hợp tác văn hoá quốc tế được phân chia giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Văn hoá và Giáo hội. Bộ Ngoại giao th́ chịu trách nhiệm về việc giới thiệu các loại h́nh văn hoá nghệ thuật ra nước ngoài, bao gồm cả việc trao đổi các dự án với các nước đang phát triển, c̣n Bộ Văn hoá và Giáo Hội tài trợ cho việc hợp tác với các tổ chức văn hoá. Các nhiệm vụ của Cơ quan dịch vụ đối ngoại đóng vai tṛ quan trọng trong việc thành lập và quản lư mối hợp tác văn hoá với các nước khác. Cơ quan phát triển hợp tác Na Uy ( NORAD ), một ban quản lư thuộc Bộ ngoại giao, cũng liên quan đến các dự án văn hoá quốc tế và cung cấp các hoạt động hỗ trợ về văn hoá, truyền thông và thông tin. Bộ Văn hoá và Giáo Hội chịu trách nhiệm về các mối hợp tác đa phương về văn hoá cũng như về việc nhập khẩu văn hoá từ các tổ chức tài trợ liên bang ở nước ngoài và các tổ chức chuyên nghiệp với mục đích riêng nhằm khuyến khích việc trao đổi nghệ thuật và thúc đẩy các nghệ sĩ, công việc nghệ thuật Na Uy, cuối cùng thông qua việc quản lư các chương tŕnh hỗ trợ đặc biệt. Theo các tổ chức quản lư các chương tŕnh tài trợ với tư cách của Bộ Ngoại giao:

Hợp tác đa phương trong lĩnh vực văn hoá bao gồm cả việc những người dân Na Uy tham  gia vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế như:

·         Hội đồng Bắc Âu và Hội đồng bộ trưởng các nước Bắc Âu. Hội đồng Bắc Âu được thành lập vào năm 1952 và là một diễn đàn của mối hợp tác quốc hội. Kể từ đó mối hợp tác văn hoá là một thành phần trọng tâm trong mối hợp tác Bắc Âu. Hội đồng Bộ trưởng các nước Bắc Âu được thành lập vào năm 1971, là một diễn đàn của mối hợp tác của các chính phủ Bắc Âu. Văn hoá được xác định như là một lĩnh vực chính trong mối hợp tác này.

·         EU. Mặc dù không phải là một thành viên, Na Uy vẫn có mối quan hệ thân thiện với Hiệp hội châu Âu thông qua bản thoả thuận về Vùng Kinh tế châu Âu, việc này cũng bao gồm cả mối hợp tác văn hoá. Na Uy tham gia vào các chương tŕnh liên quan như: Chương tŕnh văn háo 2000 (2000-2006), nhằm cung cấp các tài trợ cho các dự án hợp tác văn hoá về tất cả các lĩnh vực văn hoá và các loại h́nh nghệ thuật (nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật ứng dụng, văn học, di sản, lịch sử văn hoá, …). Bộ Văn hoá và Giáo hội đă phân công cho Hội đồng nghệ thuật Na Uy như là một cơ quan liên lạc chịu trách nhiệm về các nhiệm vụ thông tin và hướng dẫn có liên quan đến các đối tác của Na Uy. Cơ quan truyền thông ( 2000- 2006 ), với các mục tiêu tăng cường tính cạnh tranh của ngành nghe nh́n. eConten – plus ( 2005 – 2008 ), với các mục đích tạo nên hàm lượng kĩ thuật số có thể được sử dụng, tiện lợi, và có thể được khai thác nhiều hơn nữa ở châu Âu.

·         Hội đồng châu Âu: Na Uy là một trong mười nước thành lập nên Hội đồng chung châu Âu vào năm 1949 và trở thành một thành viên trong Hiệp ước Văn hoá châu Âu - đây là tài liệu cơ bản để điều chỉnh mối hợp tác văn hoá giữa thành viên quốc gia – kề từ năm 1956. Na Uy tham gia vào hợp tác văn hoá của Hội đồng châu Âu ở Uỷ ban Văn hoá quốc hội.

·         UNESCO: Na Uy là một thành viên của UNESCO và đă tham gia vào các công việc của quốc tế về việc bảo vệ và quảng bá về tính đa dạng phong phú của văn hoá, bao gồm Hiệp ước về việc quảng bá và bảo vệ tính đa dạng phong phú của các nền văn hoá, đây là thoả thuận được Hội nghị chung UNESCO thông qua vào tháng 10 năm 2005.

·         Mạng lưới chính sách văn hoá quốc tế ( INCP ): Na Uy là một thành viên của INCP kể từ năm 1999 và đă hoạt động trong nhóm Tính đa dạng của văn hoá và Toàn cầu, với sự soạn thảo tỷ mỷ về khuôn khổ và phạm vi của văn kiện về tính đa dạng của văn hoá, và đă được phát triển và bây giờ được UNESCO thông qua.

3. Những mục tiêu và các nguyên tắc chung của chính sách văn hoá

3.1 Các yếu tố chính của mẫu chính sách hiện hành

 

Mẫu chính sách văn hoá Na Uy không thể được xem như là một nguyên mẫu của các kiểu mẫu chính sách văn hoá cổ điển, chẳng hạn như kiểu mẫu sự nghiệp, kiểu mẫu thuộc chủ nghĩa can thiệp, kiểu mẫu doanh nghiệp hay là kiểu mẫu phi tập trung. Thay vào đó, nó bao hàm các yếu tố của tất cả các kiểu mẫu, ngoại trừ kiểu mẫu doanh nghiệp. Ở mẫu h́nh chính sách này các chính quyền công cộng đóng một vai tṛ đáng kể trong lĩnh vực văn hoá, đặc biệt là việc đưa ra các hỗ trợ các hoạt động văn hoá và nghệ thuật. Mối liên hệ giữa các chính quyền công cộng và lĩnh vực văn hoá có thể được mô tả bằng các điều khoản của chủ nghĩa nghiệp đoàn, ở mặt khác là nguyên tắc độc lập. Trong khi đó các tổ chức nghệ sĩ lại đóng một vai tṛ cốt yếu trong việc quản lư một số chương tŕnh hỗ trợ công cộng cho các nghệ sĩ, công việc của Hội đồng nghệ thuật dựa trên thế mạnh độc lập đối với chính phủ và cả lĩnh vực nghệ thuật. Tuy nhiên, yếu tố tập thể của kiểu mẫu chính sách văn hoá dường như đă suy giảm trong suốt cuối 2 thập kỉ qua mặc dù nó có lợi thế so sánh đáng kể với các nước khác.

3.2 Bản sắc văn hoá quốc gia

Báo cáo mới nhất của chính phủ công bố về vấn đề văn hoá ( 2003 ) vẫn duy tŕ quan niệm “văn hoá” đă thay đổi tính lịch sử v́ mục đích của bối cảnh sử dụng. Báo cáo này đánh giá tầm quan trọng về nhu cầu của cơ sở văn hoá đă mở ra các thay đổi của xă hội, đặc biệt những vị thế của nghệ thuật và văn hoá. Trong khi đó hơn nữa là sự thoả thuận sơ bộ của “văn hoá” trong chính sách văn hoá đă liên kết gần hơn việc xây dựng quốc gia và chính sách phúc lợi, báo cáo này xác nhận việc toàn cầu hoá và cá tính hoá phải cần đến một cơ sở văn hoá, cái mà có thể đương đầu với tính đa dạng và tính phức tạp của văn hoá đương đại. V́ thế, bản báo cáo đă nhấn mạnh rằng văn hoá sẽ được hiểu như là tổng hợp các phương thức hơn là một hệ thống biệt lập. Bản báo cáo cũng đề cập đến một số các hoạt động văn hoá, mà trước đây được xem là không thuộc trách nhiệm của chính phủ trong đó bao gồm cả chính sách văn hoá trong suốt mười năm qua. Chẳng hạn như các chương tŕnh ủng hộ nhạc jazz, nhạc rock và các loại h́nh âm nhạc tương tự đă được thực hiện. Thậm chí là việc mở rộng cơ sở “văn hoá” không được đề cập đến một cách rơ ràng, đó là cấp hoạt động trung ương về văn hoá.

3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá

Các mục tiêu chính của chính sách văn hoá Na Uy được xúc tiến là:

·         Cải cách chất lượng văn hoá;

·         Bảo tồn và bảo vệ di sản văn hoá; và

·         Phổ biến các loại h́nh văn hoá giàu có và phong phú cho toàn thể dân chúng

Các mục tiêu chung của chính sách văn hoá Na Uy nh́n chung có một tính ổn định nhưng vẫn có một vài các cuộc tranh luận về các mục tiêu của vấn đề này trong giới công chúng.

4. Chính sách phát triển văn hoá và những tranh luận

4.1 Các cuộc thảo luận và những chính sách gần đây

4.1.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Ở Na Uy Sàmi được xem là những người bản xứ và Jews, Kvens (những người Phần Lan lại xuôi xuống sống ở phía Bắc), Roma (những người gipxi), Người Romani và Skogfins (người Phần Lan xuống sống ở phía bắc của đất nước) th́ được xem là những tộc người thiểu số quốc gia.

Mục tiêu toàn diện của chính phủ Na Uy về Sàmi và cả các tộc người thiểu số là nhằm hoàn thành và phát triển một chính sách phù hợp với các trách nhiệm quốc tế của Na Uy và các trách nhiệm được t́m thấy trong các luật thuế Na Uy và sự tồn tại của các nghị quyết chính trị.

Đại đa số người Sàmi sống ở Na Uy (chiếm 2/3, khoảng 40 000 người). Chính sách Sàmi cơ bản của chính phủ Na Uy được thể hiện trong Hiến pháp và Luật cho người Sàmi. Bên cạnh đó, Na Uy đă phê chuẩn Hiệp ước của Tổ chức lao động quốc tế. Mục tiêu tổng thể của chính sách Sàmi của chính phủ Na Uy là nhằm tạo điều kiện người Sàmi để bảo vệ và phát triển ngôn ngữ, văn hoá và đời sống xă hội của họ. Người Sàmi có quốc hội riêng của ḿnh - đó là Sàmediggi- chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến Sàmi. Sàmidiggi là một tổ chức độc lập được các cử tri bầu nhiệm. Tập đoàn phát thanh truyền h́nh (NRK) là một ban ngành đặc biệt- Đài phát thanh Sàmi - đó là nơi sản xuất và phát các chương tŕnh của đài phát thanh và truyền h́nh ở Sàmi. Một số các thành phố tự trị ở phía Bắc của đất nước xác định như là vùng quản lư ngôn ngữ Sàmi.

Trong bối cảnh giáo dục này, nó đă duy tŕ nét văn hoá truyền thống của cộng đồng Sàmi và là một một phần của văn hoá Na Uy và người Bắc Âu chung bao gồm chương tŕnh giảng dạy quốc gia và cả chương tŕnh giảng dạy đặc biệt tiếng Sàmi. Những vùng này được xác định như là các hạt Sàmi và đó là vùng tiêu chuẩn trong Na Uy, nền giáo dục đưa ra các chương tŕnh giảng dạy phù hợp với tiếng Sàmi phù hợp. Đối với những học sinh Sàmi, việc đào tạo này nhằm xây dựng ư thức bảo vệ trong mối quan hệ của học sinh với nền văn hoá nước nhà và nhằm phát triển tính độc đáo của ngôn ngữ Sàmi, cũng như trang bị cho các học sinh Sàmi để tham gia vào các hoạt động cộng đồng và khơi dậy khả năng của các em nhằm đạt được sự giáo dục ở tất cả các cấp. Tài trợ của liên bang cung cấp cho việc khuyếch trương sách giáo khoa được viết bằng ngôn ngữ Sàmi.

Nhằm bảo vệ các quyền lợi của tộc người thiểu số, Na Uy đă thông qua Khuôn khổ Hiệp định về Việc bảo vệ tộc người thiểu số quốc gia của Hội đồng châu Âu. ở cuối bản báo cáo của quốc hội về vấn đề văn hoá của các tộc ngướ thiểu số (2000), chính phủ đă chỉ rơ rằng nó sẽ là công việc của một xă hội nơi tạo điều kiện cho văn hoá của các tộc người thiểu số được thể hiện, duy tŕ và phát triển các bản sắc, cả trong nhóm người thiểu số của riêng ḿnh và khi có ảnh hưởng với toàn thể xă hội. Trong khi đó chính sách đồng hoá sớm hơn đă xâm lấn dần vào các văn hoá của các tộc người này, đặc biệt là Romanis, chính phủ này đă nhận lỗi trong việc báo cáo với quốc hội về những hành động này.

Các hoạt động của chính phủ cho các tộc người thiểu số quốc gia tập trung chủ yếu vào việc phát triển tổ chức, hỗ trợ kinh tế cho đại diện các tộc người thiểu số và hỗ trợ kinh tế cho việc thành lập và phát triển các trung tâm cho các tộc người thiểu số. Báo chí và các ấn phẩm định ḱ bằng tiếng Sàmi và các ngôn ngữ khác được nhận hỗ trợ kinh tế từ chính phủ thông qua các chương tŕnh .

4.2.2 Các chính sách văn hoá và sự b́nh đẳng về giới

Các số liệu thống kê về việc nam giới và nữ giới tham gia vào các hoạt động văn hoá đă chứng minh được không có sự khác biệt cơ bản nào trong việc sử dụng văn hoá và truyền thông của 2 giới. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm nam giới và nữ giới có sự biến đổi giữa các loại h́nh hoạt động văn hoá khác nhau. Trong đó nam giới hoạt động chủ yếu trong các hoạt động có liên quan đến bảo tàng, âm nhạc đại chúng và các sự kiện thể thao nhiều hơn nữ giới c̣n các rạp chiếu phim, khiêu vũ/múa ba lê, kịch/nhạc, triển lăm nghệ thuật, thư viện công cộng và hoà nhạc cổ điển th́ lại thu hút được nữ giới nhiều hơn nam giới.

Một cuộc khảo sát mới nhất về t́nh trạng kinh tế của các nghệ sĩ Na Uy (vào năm 1994) đă chỉ ra rằng hầu như nghệ sĩ nữ cân bằng với nghệ sĩ nam. Tuy nhiên, ở một vài loại h́nh nghệ thuật nam giới lại chiếm ưu thể (như chụp ảnh, nhà văn, soạn kịch, đạo diễn sân khấu, các nhà làm phim, nhạc sĩ và soạn nhạc) c̣n trong khi đó ở các loại h́nh khác th́ nữ giới lại chiếm ưu thế hơn hẳn (như thủ công, hoạ sĩ phối cảnh, các diễn viên múa ba lê, biên đạo múa và ca sĩ).

Một cuộc khảo sát đă được thực hiện vào năm 2002 đă cho thấy rằng 30% nhà lănh đạo trong lĩnh vực văn hoá là nữ giới. So sánh với các lĩnh vực khác ở xă hội Na Uy (ví dụ như lĩnh vực nghiên cứu, quản lư công cộng, truyền thông và kinh doanh), đây là một tỷ lệ tương đối cao. Từ năm 1989 cho đến mùa thu năm 2005 th́ vị trí Bộ trưởng Văn hoá là nữ giới.

Hệ thống hạn ngạch chưa có một nhân tố chính trong lĩnh vực văn hoá ở Na Uy. Tuy nhiên, các hạn ngạch này đă được đề xuất và thảo luận trong mối quan hệ phim truyện và nhạc jazz. Trong giới sinh viên mà đă hoàn thành khoá đào tạo của ḿnh ở Trường Điện ảnh Na Uy kể từ khi trường được thành lập vào năm 1997 th́ có 48% nữ giới theo học. Khi trường được Quỹ tài trợ Điện ảnh Na Uy trợ cấp th́ nữ giới không được nhắc đến đúng cách. Chỉ 20% vị trí chính trong các dự án phim có sự hỗ trợ tài chính từ Quỹ tài trợ Điện ảnh từ năm 2001 đến 2005 th́ được nữ giới nắm giữ. V́ tỷ lệ nữ đại diện thấp trong ngành điện ảnh như thế này nên vào năm 2006 Quỹ tài trợ Điện ảnh Na Uy đă thành lập một kế hoạch hỗ trợ nhằm quảng bá sự phát triển của các dự án phim với sự nắm giữ là nữ giới. Kể từ khi việc giáo dục nhạc jazz chuyên nghiệp lần đầu tiên được thành lập vào năm 1979 th́ chỉ 12% sinh viên nữ và hầu hết là học thành ca sĩ. Chỉ 3% học viên nữ tham gia khoá học nhạc công. Mặc dù đó là việc bàn căi nhiều trên phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng cho tới thời điểm này vẫn không có kế hoạch nào giới thiệu các hạn ngạch.

 Trong lĩnh vực âm nhạc đại chúng, AKKS – một tổ chức hoạt động tuyển sinh và khuyến khích nữ giới nhằm quảng bá bản thân họ trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh âm nhạc - đây là một điều quan trọng. AKKS đă sắp xếp các khoá học về các nhạc cụ khác nhau và các thể loại âm nhạc đại chúng, chủ yếu là dành cho nữ giới. AKKS đă nhận được một số hỗ trợ từ các quỹ tài trợ công cộng.

4.2.3 Các chính sách và các vấn đề về ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thống của Na Uy là tiếng Na Uy với hai loại ngôn ngữ , đó là Bokmal và Nynorsk, và Sàmi. Hai thứ ngôn ngữ Na Uy này là sản phẩm của các chính sách khác nhau trong quá tŕnh thành lập một ngôn ngữ mà nó có thể hỗ trợ một quốc gia độc lập Na Uy sau sự ly khai từ Đan Mạch vào năm 1814. Mặt khác, ngôn ngữ Bokmal được phát triển vào việc sử dụng tiếng Đan mạch để viết như là một ngôn ngữ chính và được sửa lại cho thích nghi với tiếng Na Uy theo các tiêu chuẩn của bài diễn thuyết của các cấp cao ở nông thôn.  Ngôn ngữ Nynorsk phát triển dựa trên nghiên cứu so sánh h́nh thái ngôn ngữ  của nhà ngôn ngữ học Ivar Aasen (năm 1813 - 1896). Nynorsk được thừa nhận là ngôn ngữ chính thống thông qua một nghị quyết quốc hội năm 1885.

Có 433 thành phố tự trị ở Na Uy (vào năm 2005). Trong đó 155 thành phố lựa chọn tiếng Nynorsk là ngôn ngữ chính thống của ḿnh và xấp xỉ 160 thành phố lựa chọn tiếng Bokmal, trong khi đó các thành phố c̣n lại th́ không có sự lựa chọn rơ rệt. Tuy nhiên, tính trung lập này có nghĩa rằng đại đa số chọn ngôn ngữ Bokmal là có sự chiếm ưu thế. 115 thành phố nói tiếng Nynorsk chiếm khoảng 12% dân số cả nước.

Ở các trường cấp 2 (hoặc là ở các trường khác cao hơn, từ một phần tàm của trường trung học) th́ tất cả các học sinh bắt buộc phải dùng cả hai loại ngôn ngữ Na Uy – một trong hai là ngôn ngữ chính, c̣n ngôn ngữ c̣n lại là “ngôn ngữ thứ 2”, tuỳ theo sự lựa chọn cá nhân của mỗi học sinh. Việc bắt buộc học ngôn ngữ thứ hai thường gặp phải sự chống đối và vẫn c̣n được thảo luận. Các sinh viên với một ngôn ngữ chính (bao gồm Sàmi) có thể lựa chọn ngôn ngữ của riêng ḿnh như là ngôn ngữ chính hay là ngôn ngữ thứ hai theo một trong số các h́nh thái tiếng Na Uy.

Mục đích chính của chính sách ngôn ngữ là nhằm bảo vệ và củng cố hai thứ tiếng của ngôn ngữ Na Uy v́ thế ngôn ngữ Bokmal và Nynorsk là hai ngôn ngữ có thể tồn tại ngang nhau về tầm quan trọng, đó là đều được sử dụng trong tất cả các phần của đời sống xă hội và trong xă hội thông tin ngày nay. C̣n mục đích khác là nhằm hỗ trợ và củng cố vị trí của tiếng Nynorsk, về sinh ngữ và cả là một ngôn ngữ viết chính thống trên danh nghĩa tiếng Bokmal.

Hơn 95% dân số Na Uy dùng một trong hai thứ tiếng là ngôn ngữ chính của ḿnh. Sàmi là ngôn ngữ quan trọng nhất của tộc người thiểu số. Trách nhiệm của ngôn ngữ Sàmi được xem là một phần quan trọng của chính sách văn hoá tiếng Na Uy. Một số các nhiệm vụ hoạt động là định rơ vị trí của quốc hội Sàmi (Sametinget/ Sàmidiggi), bao gồm một hội ngôn ngữ Sàmi. Luật Sàmi cần thông tin công cộng đặc biệt là liên quan đến người Sàmi để dịch thành tiếng Sàmi (ví dụ như các luật sửa đổi, các ban bố sắc lệnh và các hính thái).

Na Uy đă kí Hiến pháp của châu Âu về ngôn ngữ của các tộc người thiểu số, và đă chấp nhận các nghĩa vụ trong vấn đề về ngôn ngữ của các tộc người thiểu số ở Na Uy. Bản Hiến pháp này bao gồm các loại ngôn ngữ như – Kvensk, Romanes và Romani. Sau một yêu cầu từ Hội đồng châu Âu, Na Uy đă chọn ngôn ngữ Kvensk vào năm 2005. Bây giờ tiếng Kvensk được công nhận như là một ngôn ngữ trong quyền của ḿnh và không như là một phương ngữ của Phần Lan.

T́nh trạng nhiều ngôn ngữ được sử dụng ở Na Uy được bày tỏ trong luật về tên của các địa danh. Luật này đưa ra các quy tắc về việc sử dụng tên gọi của các địa danh bằng nhiều thứ tiếng trong những tiếng được sử dụng trên đất nước. Tên gọi các địa danh ở các vùng sử dụng tiếng Sàmi và Kvensk phải được chính quyền dùng chung trên bản đồ, biển chỉ đường, ở các sổ sách …Ví dụ như, Porsanger, là một thành phố tự trị ở phía Bắc Na Uy, nơi đây có 3 tên chính thức đó là Porsanger (tiếng Na Uy), Porsángu (tiếng Na Uy) và Porsanki (tiếng Kvensk).

Lượng người nhập cư gia tăng dẫn đến lượng học sinh nói những tiếng của tộc người thiểu số tăng lên. Có sự nhất trí lớn trong chính quyền về việc các trường học nên cung cấp các nhu cầu của các tộc người này để cho họ quyền được tiếp tục học tập và sự nghiệp. Dưới sự bảo trợ của Hội đồng tiếng Na Uy thuộc Bộ, việc cộng tác tiếng Na Uy đă thiết lập được việc đào tạo cho các học sinh, những người nói tiếng của dân tộc thiểu số.

4.2.4 Truyền thông đa dạng và nội dung phong phú

Có 3 mục tiêu chính của chính sách truyền thông ở Na Uy; đầu tiên là nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận; thứ hai là bảo vệ tính đa dạng của văn hoá và được truyền thông cung cấp bằng tiếng Na Uy; và thứ 3 là bảo vệ trẻ em trước những nội dung truyền thông tiêu cực.

Ở Na Uy có khoảng 200 tờ báo. Có một thoả thuận chung về chính trị ở Na Uy về đa dạng hoá báo chí là quyền dân chủ. Vào những năm 1950 chi phí cho việc sản xuất báo chí tăng nên dẫn đến việc chuyển nhượng xảy ra đối với nhiều toà báo. Vào năm 1966 các tổ chức báo chí đă yêu cầu với các chính quyền hỗ trợ kinh tế để có khả năng duy tŕ tính phong phú của các tờ báo, và v́ thế đảm bảo được việc trao đổi dân chủ của dư luận. Ba năm sau đó một kế hoạch hỗ trợ kinh tế của liên bang đă được thiết lập dành cho các báo ra hàng ngày. Các khoản hỗ trợ này chiếm khoảng 2 đến 3 phần trăm tổng doanh thu của báo chí hàng năm. Ngoài ra, các khoản hỗ trợ này được trao trực tiếp đặc biệt là với mục đích trao cho những tờ báo đang có khó khăn về chỗ đứng trên thị trường. Để có thể đủ tư cách được hỗ trợ th́ tờ báo phải có mô tả chung về tin tức và một tổng biên tập thực hiện Luật của Tổng biên tập, đây là luật được Hiệp hội tổng biên tập và Hiệp hội các Nhà xuất bản thảo ra. Luật này đưa ra các bảo đảm chắc chắn cho tính độc lập của tổng biên tập trong mối quan hệ với toà báo của ḿnh. Thêm vào đó c̣n có các hỗ trợ chung, hỗ trợ đặc biệt là trao cho tờ báo xuất bản bằng tiếng Sàmi và những tờ báo khác xuất bản cho vùng viễn bắc của đất nước Na Uy. Các hỗ trợ cũng dành cho các ấn phẩm báo chí của các đảng chính trị. Tuy nhiên, vẫn có sự trang căi việc hỗ trợ quan trọng nhất là việc miễn thuế cho các tờ báo từ hệ thống Thuế Giá trị gia tăng.

Tập đoàn phát thanh truyền h́nh Na Uy (NRK) được quốc hội thành lập vào năm 1933, thay thế cho bốn đài phát thanh tư nhân vẫn tồn tại lâu nay. Tập đoàn này cơ quan độc quyền của liên bang, được cấp vốn bằng phí đăng kí của công cộng. Sau một vài năm phát sóng thử nghiệm th́ vào năm 1960 kênh truyền h́nh của NRK đă đi vào phát sóng chính thức. Vào năm 1996 NRK trở thành một công ty tham gia vào thị trường chứng khoán với liên bang là chủ nắm giữ duy nhất. Quảng cáo vẫn c̣n bị cấm trên NRK, nhưng một số chương tŕnh quảng cáo từ thiện vẫn được cho phép – với nội dung chính xác phải liên quan đến mối bảo trợ dưới những biên bản chính thức hiện hành. Các đảng ngoại trừ NRK phải có một giấy phép để được tham gia vào truyền h́nh.

Bắt đầu vào những năm 1980 chính sách truyền thông đă được đề cập rộng răi với Tập đoàn phát thanh truyền h́nh Na Uy. Tuy nhiên, trong suốt những năm 1980, chính sách truyền thông đă mở rộng tự do và cách này đă mở đường cho các đài phát thanh truyền h́nh được thu nhập bằng việc quảng cáo. Đài truyền h́nh cáp thông qua mạng cáp nên đă dẫn đến một nhu cầu lớn trong việc lắp đặt và quản lư.

Bộ Văn hoá cấp các giấy phép cho các đài truyền h́nh quốc gia và đài truyền h́nh địa phương. Vào năm 1991 Bộ Văn hoá cũng đă thành lập một ban Chính sách Truyền thông và Bản quyền, ban này chịu trách nhiệm về qui chế cho phát thanh truyền h́nh, các vấn đề liên quan đến bản quyền, các hỗ trợ tài chính và điện ảnh. Ngày nay, một số trách nhiệm quản lư trong lĩnh vực truyền thông đă được uỷ thác cho Ban quản lư Truyền thông Na Uy.Ư thức hệ “dịch vụ công cộng” chủ yếu đối với chính sách truyền thông ở Na Uy. Các trách nhiệm về dịch vụ công cộng của Tập đoàn phát thanh truyền h́nh biểu thị được t́nh trạng của nó. Các giấy phép được công nhận cho kênh truyền h́nh TV2 và kênh phát thanh P4 vào đầu những năm 1990 và kênh phát thanh Kanal 24 vào năm 2004, tuy nhiên các kênh này được thiết lập với các mục tiêu kép.

 V́ các cơ quan tư nhân họ đă sinh ra các lợi nhuận lớn cho công ty của ḿnh, trong khi đó khuôn khổ của quyền này buộc phải chấp nhận các nghĩa vụ của dịch vụ công cộng của đài phát thanh truyền h́nh.Ví dụ như với giấy phép này, đối với kênh TV2 phải có ít nhất một chương tŕnh tin tức mỗi ngày và có ít nhất 50% chương tŕnh được phát bằng tiếng Na Uy. Rơ ràng đây là t́nh trạng khó xử liên quan đến các giấy phép và để đánh giá liệu kênh nào được cấp phép, ngoài ra Tập đoàn phát thanh truyền h́nh đồng ư làm theo điều liên quan đến các giấy phép, mà Ban dịch vụ công cộng Đài phát thanh truyền h́nh đă định.

Vào năm 2004, việc thực thi các trách nhiệm của dịch vụ công cộng của các kênh truyền thông tư nhân đă thu hút mối quan tâm chính trị đặc biệt và dư luận v́ việc phân phối giấy phép cho kênh phát thanh Kanal 24, và điều này đă được thực hiện trong 10 năm trước bởi công ty khác,P4. Lư do việc chuyển quyền từ P4 dường như là Bộ Văn hoá không hài ḷng với việc phục tùng của P4 với những bổn phận của họ trong lần cấp phép đầu tiên của ḿnh. Một thời gian ngắn sau việc phân quyền đến kênh Kanal 24, tuy nhiên giấy phép mới này đă được thành lập và được bổ nhiệm cho P4.

Không có các chương tŕnh tài trợ về kinh tế chung đối với truyền thông điện tử. Tuy nhiên, một quỹ tài trợ đă được các công ty và hăng điện ảnh thiết lập nhằm khuyến khích việc phối hợp sản xuất các công việc nghe nh́n và các dự án tương tự. Quỹ tài trợ này đă cấp hỗ trợ cho các đài phát thanh địa phương và cho các công cụ giáo dục cho nhân viên của các đài phát thanh và truyền h́nh địa phương.

4.2.5 Văn hoá : các bước phát triển, chương tŕnh và đối tác

Với một đất nước nhỏ như Na Uy, một trong những trách nhiệm của chính phủ là đảm bảo các sản phẩm nghe nh́n và điện ảnh phản ánh được lịch sử, văn hoá và ngôn ngữ của quốc gia. Bên cạnh đó cũng phải đảm bảo các sản phẩm tṛ chơi điển tử đạt chất lượng để cung cấp sự lựa chọn tốt trong nền kinh tế hoà nhập như hiện nay.

Trong bản báo cáo mới nhất do chính phủ công bố về chính sách đối với văn hoá về việc ưu tiên chính như là cung cấp hàng hoá, đa dạng hoá việc cung cấp truyền thông nghe nh́n ở Na Uy. Th́ để đạt được mục tiêu này, bản báo cáo đă chỉ ra rằng cần phải cung cấp sự hỗ trợ toàn diện của liên bang cho điện ảnh và hăng truyền thông nghe nh́n. Hơn nữa, cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo rằng trẻ em được tiếp cận với các sản phẩm nghe nh́n có chất lượng, đặc biệt là các tṛ chơi máy tính.

Ngành điện ảnh là một ngành được ưu tiên trong chính sách văn hoá của Na Uy. Phạm vi của các chương tŕnh hỗ trợ đă được thiết lập cho ngành này và đă làm gia tăng ngân sách liên bang hàng năm (vào năm 2005). Mục đích của các chương tŕnh hỗ trợ cho điện ảnh là nhằm đảm bảo việc cung cấp các tác phẩm nghe nh́n có chất lượng và đa dạng và phong phú về nội dung. Quỹ tài trợ điện ảnh đă gánh vác việc quản lư tất cả các chương tŕnh hỗ trợ cho việc sản xuất điện ảnh ở Na Uy, quản lư 8 chương tŕnh khác nhau, chẳng hạn như hỗ trợ sản xuất phim truyện dài tập, phim ngắn, hợp tác sản xuất với tộc người thiểu số, phim truyện truyền h́nh và truyền h́nh tương tác. Thêm vào đó, Quỹ tài trợ Điện ảnh quản lư việc hỗ trợ  sản xuất các phim dựa trên tiêu chuẩn thương mại và kế hoạch của phiên họp của các giải thưởng Box – Office. Sau đó chương tŕnh này cho phép việc tự giác hỗ trợ về việc cân đối tương quan của doanh thu bán vé. Box-Office Bonuses đă tự trao cho bất ḱ phim truyện nào được diễn rộng răi trên khắp sân khấu ở Na Uy, hiện tại có doanh thu bán vé là 55% cho đến khi khoản bán cao nhất đă đạt được (100% dành cho phim trẻ em). Giá trần của Box-Office Bonuses được tính toán trong mối liên quan đến việc bỏ vốn của các nhà sản xuất và cả việc rủi ro có thể có. Trong khi đó chương tŕnh này đă tăng khả năng thu nhập chắc chắn của các nhà làm phim, chương tŕnh này cũng đă phê b́nh việc quảng cáo việc sản xuất mang nhiều tính thương mại và tôn giáo v́ phí tổn của các phim thực nghiệm.

Các công cụ chính của ngành văn học là việc miễn thuế VAT, các chương tŕnh mua bán và một mạng lưới thư viện. Trong suốt những năm vừa qua có nhiều dư luận công cộng về một hợp đồng ngành về việc mua bán sách giữa Hiệp hội những người bán sách Na Uy và Hiệp hội các nhà xuất bản Na Uy về việc ấn định giá sách ở Na Uy. Bản thoả thuận này dựa vào việc miễn thuế từ các quy tắc cạnh tranh mà đă được các nhà cầm quyền chấp nhận. Một trong những lư do của việc miễn thuế là bản thoả thuận này đă nhận thấy tầm quan trọng để đảm bảo một mạng lưới các hiệu sách rộng răi trên khắp đất nước như là kênh phân phối quan trọng nhất của việc phổ biến văn học Na Uy. Cho đến năm 2005, một trong những điều khoản của bản thoả thuận có liên quan đến việc quyền bán các quyển sách tiểu học thấp hơn các sách cho trung học và cấp học sinh cao hơn, và nhờ đó quy tắc giá sách phải được ấn định trong năm xuất bản và năm tiếp theo.

Trong khi cuộc cạnh tranh của các nhà cầm quyền trong suốt 2 thập kỉ qua mong muốn được chuyển biến hay thay đổi nhanh “bản thoả thuận sách”, th́ ngành xuất bản và nhà bán sách muốn kéo dài bản thoả thuận này ở dạng nguyên gốc của nó vốn có. Vào năm 2005 một bản thoả thuận mới với một số sửa đổi được đưa vào hoạt động. Bản thoả thuận mới này dựa vào việc miễm thuế từ các quy tắc cạnh tranh, nhưng nhân tố cạnh tranh tự do lại được nhấn mạnh hơn trước. Trong các điều khác đều có quy định là ngành bán sách không c̣n được độc quyền bán sách giáo khoa nữa.

4.2.6 Chính sách việc làm của ngành văn hoá

Không có sự ước lượng chính xác là bao nhiêu người đang làm việc trong ngành văn hoá ở Na Uy. Dân số hoạt động nghệ thuật ở Na Uy đă tăng lên một cách đáng kể trong suốt nhiều năm qua, mặc dù các thống kê có thể có giá trợ có liên quan đến lượng tăng này th́ lại có phần mâu thuẫn và không đầy đủ. Tuy nhiên, Thành viên của hiệp hội nghệ sĩ lại tăng lên một cách đáng kể trong suốt những năm 1980 và những năm 1990. Một bản ước lượng được Viện Nghiên cứu xă hội thực hiện đă chỉ ra rằng từ năm 1979/80 đến 1994 một lượng các nghệ sĩ chuyên nghiệp tăng lên khoảng 30% đến 40%. Thêm vào đó, số các hăng đăng kí thành lập vào loại “dịch vụ văn hoá” – với “các nghệ sĩ tự do” đă tăng hơn so với các ngành khác trong những năm gần đây. Lượng sinh viên đă tốt nghiệp các khoá đào tạo chính thức về nghệ thuật (ở các trường cao đẳng ở Na Uy và cả ở nước ngoài) cũng đă tăng lên một lượng đáng kể trong những năm qua. Lượng sinh viên Na Uy học về nghệ thuật ở nước ngoài dường như tăng gấp bốn lần từ những năm 1986-87 đến năm 1998-99, mặc dù con số này có ít sai sót v́ các hạng thống kê đă có sự thay đổi trong suốt giai đoạn này.

Trong khi lượng nghệ sĩ tăng lên nhanh chóng, th́ ngược lại thị trường cho các tác phẩm và các dịch vụ của họ lại không tăng để cân đối với việc đó. V́ thế, có một lượng nghệ sĩ dư thừa đáng kể trong ngành văn hoá ở Na Uy.

Phạm vi chương tŕnh chính sách về các điều khoản thực tế đối với nghệ sĩ tăng lên đáng kể, nhưng vẫn không thể cân bằng được  lượng gia tăng của số nghệ sĩ. Cho nên có sự phân phối lại các quỹ tài trợ từ việc đảm bảo thu nhập cho đến thu nhập chính thức của của các nghệ sĩ.

Các đánh giá cuối cùng về các mức thu nhập của các nghệ sĩ là vào năm 1994, được Viện Nghiên cứu xă hội thực hiện. Chúng đă chỉ ra rằng có các khác nhau đáng kể giữa các hạng nghệ sĩ với việc liên quan đến thu nhập. Trong khi các nhà vẽ tranh minh hoạ, các nhà thiết kế đồ hoạ, các nhà dịch thuật và các nhà sáng tác nhạc th́ có mức thu nhập cao nhất trong các số nghệ sĩ c̣n các nghệ sĩ thị giác, các nghệ nhân thủ công, các diễn viên múa và các nhà biên đạo múa th́ lại có mức thu nhập thấp nhất.

So sánh mức lương này với các mức lương của các ngành khác th́ các nghệ sĩ kiếm được thu nhập ít hơn nhiều chẳng hạn như là bác sĩ, luật sư.

4.2.7 Công nghệ mới và các chính sách văn hoá

Các kế hoạch nhằm đẩy mạnh việc bổ sung các công nghệ mới vào lĩnh vực nghệ thuật và chính sách văn hoá từ các chính sách chung của việc sử dụng tiềm lực của công nghệ thông tin trong việc quản lư công cộng nhằm hỗ trợ đặc biệt cho công việc nghệ thuật. Từ năm 1998 đến năm 2000, Hội đồng nghệ thuật Na Uy đă có một chương tŕnh thử nghiệm việc đưa ra hỗ trợ cho các dự án nghệ thuật bổ sung các công nghệ mới. Từ năm 2001, kinh phí được dành cho mục đích như nhau, được phân phối qua các chương tŕnh hộ trợ thông thường cho các rạp hát/ trường múa và nghệ thuật thị giác của Hội đồng Nghệ thuật.

Trong lĩnh vực chính sách cho di sản, một dự án kéo dài 5 năm với mục đích thiết lập một thư viện số đă được bắt đầu vào năm 2003. Viễn cảnh của dự án này là giúp công cộng dễ dàng tiếp cận với thông tin và các nguồn tri thức ở các thư viện, các cơ quan lưu trữ và các bảo tàng.

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và các mô h́nh

Storting (quốc hội Na Uy) và chính phủ đă xác định các mục tiêu và quyết định khuôn khổ các ngân sách cho ngành giáo dục. Bộ Giáo dục và Nghiên cứu là cơ quan quản lư công cộng cao nhất về các vấn đề liên quan đến giáo dục và là nơi chịu trách nhiệm về việc bổ sung sửa đổi chính sách giáo dục quốc gia, bao gồm giáo dục nghệ thuật ở tất cả các cấp. Nhiều năm qua, giáo dục nghệ thuật ở Na Uy đă được cải tổ lại, được đặt ở cấp ưu tiên hàng đầu, và tiếp theo là cấp tiểu học đến trung học và sau đó là hệ thống đào tạo đại học.

Các chương tŕnh giảng dạy mới của các trường tiểu học và dưới trường tiểu học và trường trung học tập trung nhấn mạnh vào các việc rèn luyện tính thẩm mỹ. Mong muốn làm giàu thêm khả năng thẩm mỹ và sáng tạo của giới học sinh Na Uy và cũng biểu hiện được Den kulturelle skolesekken (DKS) đă được thành lập như một kế hoạch quốc gia vào năm 2001. DKS là một tổ chức quốc gia về nghệ thuật chuyên nghiệp và văn hoá trong giáo dục ở Na Uy với các mục tiêu sau:

·         Giúp đỡ nhằm đảm bảo cho các học sinh ở cấp tiểu học và dưới trung học được nhận một chương tŕnh học về các nghệ thuật và văn hoá chuyên nghiệp;

·         Tạo điều kiện dễ dàng cho các học sinh ở trường tiểu học và dưới trung học tăng thêm sự tiếp cận, quen hơn và có cách tiếp cận tích cực đối với t́nh yêu về văn hoá và nghệ thuật bằng tất cả cảm xúc; và

·         Góp phần tạo nên sự hợp nhất về t́nh yêu văn hoá và nghệ thuật trong sự nhận thức qua các chương tŕnh học tập ở trường.

DKS là một tổ chức thuộc Bộ Văn hoá Giáo Hội và Bộ Giáo dục Nghiên cứu và được tài trợ chính bằng lợi nhuận từ Norsk Tipping A/S (công ty tṛ chơi thuộc Nhà Nước Na Uy).

Đối với giáo dục nghệ thuật ở cấp ba có nhiều mức độ giáo dục khác nhau giữa các loại h́nh nghệ thuật tạo nhiều cơ hội cho học sinh tiếp cận. C̣n đối với chương tŕnh giáo dục đại học, th́ có một vài trường đào tạo chương tŕnh về nghệ thuật thị giác và âm nhạc, nhưng lại có ít cơ hội được đào tạo trong lĩnh vực về văn học, khiêu vũ và điện ảnh.

Trong nhiều năm qua, lượng sinh viên được đào tạo về nghệ thuật ở nước ngoài tăng đáng kể. Xu hướng này đă góp phần làm tăng thêm số nghệ sĩ cho ngành văn hoá ở Na Uy.

Cùng với thời ḱ này, số lượng nghệ sĩ được đào tạo ở nước ngoài tăng th́ điều này cũng có nghĩa là các nối kết gần với phong cách quan hệ truyền thống giữa ngành đào tạo nghệ thuật và các tổ chức nghệ thuật khác, ít nhất là trong ngành sân khấu, đang có sự thay đổi. Tuy nhiên, các nghệ sĩ được đào tạo ở nước ngoài lại không được chấp nhận dễ dàng ở thị trường lao động nghệ thuật Na Uy, dù sự phân biệt đối xử này dường như tăng lên trong những năm gần đây.

Giáo dục nghệ thuật ở đại học đă được công nhận trong suốt nhiều năm qua ở một số điều khoản liên kết của các tổ chức khác nhau trong lĩnh vực này. Xu hướng liên kết các liên bang là nhằm nâng cao các nguồn có giá trị, để thiết lập các môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp rộng răi hơn và để thúc đẩy mối hợp tác vượt ra ngoài các ranh giới kỷ luật. Các nghệ sĩ đang làm việc và cả các nghệ sĩ chuyên nghiệp tồn tại trong các tổ chức giáo dục đă bày tỏ thái độ hoài nghi liên quan đến các cuộc cải tổ những tổ chức này.

4.2.9 Các vấn đề và các chính sách về di sản

Đă có một số cải cách trong lĩnh vực di sản văn hoá trong suốt những năm vừa qua. Một vài qúa tŕnh liên kết và các sáng kiến về hợp tác đă được áp dụng. Vào năm 2003, Cơ quan lưu trữ, Thư viện và Bảo tàng Na Uy đă được thành lập từ việc liên kết Ban quản lư các Thư viện công cộng Na Uy, Cơ quan bảo tàng Na Uy và Văn pḥng Tư liệu nghiên cứu quốc gia, Học viện và các thư viện chuyên dụng. Các chính quyền công cộng duy tŕ các cơ quan lưu trữ, các thư viện và các bảo tàng (ALM) đóng một vai tṛ quan trọng trong nền dân chủ và trong việc quảng bá kể cả xă hội bởi v́ họ lựa chọn, bảo quản và tạo sự thuận tiện trong việc sử dụng trong hàng loạt các nguồn tri thức và thông tin. Liên kết này được hợp pháp hoá ở một mức độ nào đó bởi trong thực tế đại đa số các nguồn này được sử dụng tất cả qua các tổ chức ALM và bao gồm nghệ thuật, âm thanh, chụp ảnh, điện ảnh, tài liệu lưu trữ và văn học. Hơn nữa, nó được nhấn mạnh rằng các mối quan tâm chung của 3 thành phần đă được làm mạnh thêm bởi việc sử dụng thông tin và công nghệ truyền thông (ICT), và ICT đă cung cấp cách tiếp cận với các loại nguồn, đă được đơn giản hoá và cũng đă vượt qua khỏi ranh giới truyền thống.

Một cuộc cải cách bảo tàng, với các mục đích nhằm giảm bớt các đơn vị bảo tàng ở cấp địa phương và tăng thêm sự tồn tại của các đơn vị quản lư chuyên nghiệp, việc này đă gây nên xôn xao dư luận. Quá tŕnh này, thường được giới hạn “việc thống nhất”, đă được thảo luận về các liên kết giữa các bảo tàng trong cùng các địa phương, và về việc thiết lập các mạng lưới quốc gia. Trong khi đó quá tŕnh này đă chứng minh bằng sự quan trọng của tính chuyên nghiệp và sức mạnh của quản lư các đơn vị bảo tàng, các nhà phê b́nh đă cảnh báo rằng có thể việc này dẫn đến sự đẳng cấu và mất đi quyền tự trị của địa phương trong lĩnh vực bảo tàng. Các băn khoăn khác của mối quan tâm hiện tại lại liên quan đến lĩnh vực bảo tàng là liệu có một hệ thống quản lư tự do các bảo tàng để thay thế hệ thống bán vé hiện hành hay không.

Đối với các vấn đề về lưu trữ, bản báo cáo mới nhất của chính phủ về vấn đề văn hoá (năm 2003) đă nhấn mạnh rằng chiến lược phát triển trong ngành lưu trữ nên được được thảo luận về việc sở hữu và cung cấp việc tiếp cận với các cơ quan lưu trữ nước ngoài. Nó được nhấn mạnh rằng đây là điều cần thiết để tạo sự thuận tiện tài liệu một cách đầy đủ của sự phát triển xă hội và các mong muốn này một sự cân bằng tốt hơn giữa chính phủ, thành phố và các cơ quan lưu trữ tư nhân, và với công cộng và các khu vực tư nhân có thể thấy được mối quan hệ đối với mỗi cơ quan liên quan, nhằm đánh giá nhiều hơn.