1. Bối cảnh lịch sử: Chính sách và các thiết chế văn hoá

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí

3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá quốc gia

4. Những vấn đề chính sách văn hoá hiện nay và các tranh luận

5. Quy định của pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác

8. Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá

 

 

1. Bối cảnh lịch sử: Chính sách và các thiết chế văn hoá

    Lịch sử của các chính sách văn hoá ở Pháp, từ thế kỉ 16 cho đến nay, được đánh dấu bởi vai tṛ trung tâm của nhà nước trong việc quảng bá các lĩnh vực tri thức (College de France, Thư viện Quốc gia), nghệ thuật (Comédie- Francaise, Bảo tàng Louvre) và văn hoá, và việc triển khai dần dần các cơ quan hành chính và ngân sách nhà nước (việc thành lập Ban Thư kí Mĩ thuật từ thế kỉ 19, và việc tách riêng Bộ Văn hoá từ năm 1959). Là Bộ trưởng Văn hoá đầu tiên, Andre Malraux đă mở ra con đường mà những người kế nhiệm ông sau này đă đi theo, ngoại trừ có một vài thời điểm gián đoạn: bảo vệ di sản, sáng tạo nghệ thuật đương đại, tuyên truyền và đào tạo, điều tiết thị trường các ngành kinh doanh văn hoá, và phi tập trung (déconcentration) về mặt hành chính (chuyển giao quyền lực và các nguồn lực từ cấp Trung ương xuống cấp địa phương trong khi vẫn duy tŕ sự quản lí của Chính phủ).

Năm 1959 Bộ Văn hoá tách riêng

    Năm 1959, André Malraux đă thành lập Bộ Văn hoá từ Vụ Văn hoá thuộc Bộ Giáo dục và Trung tâm Phim Quốc gia (Bộ Công nghiệp). Các mục tiêu chủ yếu của Bộ Văn hoá là thúc đẩy sáng tạo trong mọi lĩnh vực nghệ thuật và tham gia rộng răi hơn vào các hoạt động văn hoá, đặc biệt trong các lĩnh vực kịch, âm nhạc và di sản. André Malraux muốn thành lập các Trung tâm Nghệ thuật (Maisons da la Culture) tại mỗi Tỉnh của nước Pháp để khuyến khích sáng tạo nghệ thuật đương đại và để truyền bá văn  hoá ở quy mô lớn (nước Pháp về mặt hành chính được chia ra làm 96 đơn vị lănh thổ, gọi là dépertement (tỉnh)). Tuy nhiên chỉ có 9 thành phố thành lập được loại trung tâm này. Trong quá tŕnh phi tập trung hoá, có 3 ban văn hoá vùng được thành lập vào năm 1969. Jacques Duhamel thực hiện đồng thời chính sách liên quan đến nhiều bộ và nhiều lĩnh vực nhằm đưa vấn đề văn hoá gắn liền với xă hội. Ông đă ban thành các thủ tục để thành lập quan hệ đối tác giữa Chính phủ và các tổ chức văn hoá (truyền h́nh, điện ảnh, các công ty kịch). Quỹ Dự án Văn hoá (Fond d’intervention Culture-FIC) được thành lập để thực hiện hỗ trợ tài chính cho các dự án hợp tác với các Bộ khác. Trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác, quy định 1% (theo đó 1% chi phí xây dựng các công tŕnh công phải được trích ra để mua tác phẩm nghệ thuật cho công tŕnh đó) được áp dụng cho tất cả các công tŕnh công. Bộ Văn hoá dưới thời André Malraux (1959 - 1969) và dưới thời Jacques Duhamel (1971 -1973).

Mặc dù vẫn theo đuổi chính sách văn hoá đă được André Malraux và Jacques Duhamel khởi xướng, sáu bộ trưởng văn hoá sau này đă đưa ra những thay đổi nhất định. Năm 1974, Michel Guy tạo ra một bước đột phá cho các nghệ sĩ trẻ và lĩnh vực nghệ thuật đương đại bằng cách kí một loạt các thoả thuận phát triển văn hoá với các thành phố và vùng (chartes culturelles). Sáu Bộ trưởng văn hoá sau này: Maurice Druon, Alain Peyrefitte, Michel Guy, Francoise Giroud, Michel d’Ornano, Jean-Philippe Lecat (1973-1981).

    Năm 1977, Trung tâm Nghệ thuật Quốc gia Georges Pompidou được thành lập, Luật Hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực Bảo tàng được ban hành năm 1978, và năm 1980 được chọn là “Năm Di sản Quốc gia”. Trong giai đoạn này, Bộ Văn hoá đă tiến thêm một bước trong quá tŕnh hiện đại hoá và trong việc tham gia vào xă hội đương đại. Các biện pháp bao gồm tăng hỗ trợ tài chính cho văn hoá; mở rộng phạm vi hoạt động của bộ bằng cách đưa vào các h́nh thức nghệ thuật mới; việc hội nhập văn hoá vào lĩnh vực kinh tế; phát triển truyền thông nghe nh́n. Bộ Văn hoá nhận được sự ủng hộ của Tổng thống, đă phê chuẩn một loạt các dự án xây dựng như “Grands Travaux’ (Arche de la Dèfense, Nhà hát Opera Bastile, the Grand Louvre, Thư viện Quốc gia, v.v..). Ngân sách của Bộ đă tăng lên gấp hai lần vào năm 1982, sau đó dần đạt đến mức 1% ngân sách nhà nước, tăng từ 2.6 tỉ franc năm 1981 đến 13.8 tỉ franc năm 1993. Quá tŕnh phi tập trung cũng có bước tiến với việc hoàn thành mạng lưới các ban quản lí văn hoá vùng. Chính sách liên quan đến hợp tác với chính quyền địa phương cũng được thực hiện. Một số tổ chức đào tạo được khôi phục lại hoặc thành lập mới:  Ecole nationale du patrimoine (trường Di sản Quốc gia), hiện nay là Institut national du patrimoine (Viện Di sản Quốc gia), hai Cơ quan Bảo tồn Quốc gia về âm nhạc (ở Paris và Lyon) và trường Louvre. Trong khoảng thời gian 12 năm, lĩnh vực văn hoá đă tạo ra hơn 8000 việc làm. Giáo dục nghệ thuật trong các trường học cũng được hiện đại hoá, những môn học mới được đưa vào giảng dạy (kịch, điện ảnh, lịch sử nghệ thuật v.v..), và hàng loạt chương tŕnh đă được triển khai nhằm nâng cao nhận thức cho trẻ em, ví dụ như các dự án nghệ thuật, cho học sinh t́m hiểu điện ảnh, dự án di sản, v.v.. Do những thay đổi kinh tế và sự phát triển của các hoạt động văn hoá tại gia đ́nh, Bộ Văn hoá bắt đầu nhấn mạnh đến các ngành kinh doanh văn hoá (sách, ghi âm, điện ảnh, nghe nh́n) nhằm điều tiết (quản lí) thị trường (cơ chế hỗ trợ cho ngành điện ảnh, quy định giá đối với các loại sách, hạn mức phát sóng về chương tŕnh âm nhạc bằng tiếng Pháp, v.v..). Sự kết hợp giữa văn hoá và kinh tế này cũng được phản ánh trong các biện pháp đă ban hành nhằm khuyến khích bảo trợ đối với nghệ thuật (giảm thuế, tài trợ cho nghệ thuật). Ba Bộ trưởng có thay đổi về phạm vi hoạt động: Francois Leotard, Jacques Toubon, Philippe Douste-Blazy (1986-1988 và 1993-1996).

    Trong các giai đoạn này, trách nhiệm về Truyền thông và Cộng đồng nói tiếng Pháp vừa thuộc lại vừa không thuộc phạm vi hoạt động của Bộ Văn hoá. Luật Ngôn ngữ được ban hành năm 1994. Một loại các sáng kiến nhằm khắc phục ‘các khó khăn’ tại một số vùng đă được ban hành. Vấn đề văn hoá cũng được đưa vào trong các sáng kiến phát triển vùng. Trong khoảng thời gian ba năm, Bộ trưởng Văn hoá thực hiện chính sách nhằm mở rộng sự tham gia vào đời sống văn hoá với việc nhấn mạnh về phát triển di sản, nghệ thuật biểu diễn, những công nghệ mới và sự phi tập trung – ví dụ như, chuyển giao trách nhiệm và các nguồn lực tài chính cho các cơ quan nhà nước ở vùng và địa phương, như Ban chỉ đạo văn hoá vùng (DRAC). Bộ Văn hoá dưới thời Catherine Trautmann (1997- tháng Ba 2000).

    Các sáng kiến của Catherine Tasca chủ yếu hướng vào phát triển đa dạng văn hoá, tiếp cận toàn diện với giáo dục nghệ thuật, và cải cách nhà nước thông qua sự phi tập trung. Trong nhiệm ḱ của ḿnh bà đặt ra các mục tiêu: thành lập quan hệ đối tác với các chính quyền địa phương và vùng nhằm thúc đẩy và bảo đảm các động lực sáng tạo trên toàn nước Pháp; làm giàu đời sống của mọi người bằng cách làm cho di sản trở nên dễ dàng tiếp cận hơn thông qua giáo dục; hỗ trợ các tổ chức quan trọng ở Paris và các vùng trong lĩnh vực thiết yếu. Đối với lĩnh vực nghe nh́n và truyền thông, bà muốn đẩy mạnh vai tṛ quản lí của Chính phủ và nâng cao chất lượng sản xuất sản phẩm văn hoá trên toàn nước Pháp mà không làm cản trở động lực của khối tư nhân. Bà cũng muốn phát triển một thị trường nghe nh́n châu Âu, làm cho nó linh hoạt hơn và có tính tương tác hơn để từ đó phát triển Catherine Tasca (tháng Ba 2000- tháng Năm 2000). Ngân sách phân bổ cho Bộ văn hoá năm 2002 vượt quá mức 1% tổng chi tiêu của nhà nước. Tháng Năm 2002, trong thành phần Chính phủ được thành lập khi ông Jacque Chirac tái đắc cử Tổng thống, Jean-Jacques Aillagon, cựu giám đốc Trung tâm Nghệ thuật Quốc gia Pompidou Georges, đă được chỉ định làm Bộ trưởng Văn hoá và Truyền thông. Trong một cuộc phỏng vấn ông nói “Phe cánh hữu, lưu tâm đến tính hiện đại, và có khả năng thực hiện một chính sách văn hoá sâu rộng.’ Jean-Jacques Aillagon (tháng Năm 2002-…)

 

    Trong suốt 40 năm qua, các chính quyền địa phương và vùng cũng đă tăng chi tiêu cho văn hoá. Trong nhiều năm các thành phố là chủ sở hữu của một số cơ sở văn hoá như bảo tàng, nhà hát thành phố, thư viện và trường nhạc. Hiện nay các chính quyền địa phương là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu cho lĩnh vực văn hoá. Được Bộ Văn hoá khuyến khích, và trong việc tăng cường tính độc lập về xây dựng chính sách văn hoá của riêng ḿnh, các thành phố, sau đó là các tỉnh và vùng, đă tham gia vào các hoạt động văn hoá ở mức độ vượt quá các nghĩa vụ đă được đề ra trong luật chuyển giao quyền lực năm 1982 và 1983. Sự phát triển của chuyển giao quyền lực trong lĩnh vực văn hoá.

 

Trở về

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí

2.1 Mô h́nh cơ cấu tổ chức

 2.2 Mô tả chung hệ thống

     Pháp là nhà nước dân chủ đại nghị (Tổng thống) mà các cơ quan đại diện chính (Cơ quan dân biểu) là Hạ viện và Thượng viện. Tổng thống chỉ định thủ tướng. Thủ

tướng có trách nhiệm thành lập Chính phủ, và Chính phủ là cơ quan đề ra và thực hiện các chính sách quốc gia. Chính phủ bao gồm các bộ trưởng, mỗi bộ trưởng có chức năng cụ thể, các chức năng đó được thực hiện thông qua các pḥng ban liên quan thuộc bộ. Trong chính phủ, Bộ trưởng Văn hoá tham gia vào việc xác định và thực hiện các chính sách quốc gia và chịu trách nhiệm cụ thể về các vấn đề văn hoá. Bộ Văn hoá lại thực thi quyền lực đối với các vụ và cơ quan khác của bộ. Nhiệm vụ của Bộ trưởng là xác định các ưu tiên và định hướng chung cho những sáng kiến của bộ. Theo đó, Bộ trưởng quyết định phân bổ tài chính như thế nào giữa các vụ và giám sát việc phân bổ đó. Việc phân bổ tài chính được xác định trong giai đoạn dự thảo ngân sách và phải tuân theo những định hướng chung do Chính phủ đề ra, và được quốc hội phê chuẩn. Bộ Văn hoá không phải là cơ quan Chính phủ duy nhất thực hiện công việc hỗ trợ tài chính cho văn hoá. Một số bộ khác cũng phân bổ nguồn tài chính đáng kể cho các hoạt động văn hoá. Nguồn tài chính này có thể phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đáng kể đến nhất là Bộ Thanh niên, Giáo dục và Nghiên cứu, Bộ Ngoại giao. Hàng loạt các dự án văn hoá do các bộ khác đề xuất: đào tạo nghệ thuật; bảo tồn các bảo tàng quốc gia, thư viện quốc gia, di sản, các cơ quan lưu trữ; các sáng kiến văn hoá bên ngoài nước Pháp; truyền thông. Bộ Thanh niên, Giáo dục và Nghiên cứu thực hiện giám sát, ví dụ như, đối với các bảo tàng lịch sử tự nhiên, Institut de France (Viện Pháp) và Viện Hàn lâm Nước Pháp. Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm về các vấn đề trao đổi văn hoá và ngôn ngữ, dạy tiếng Pháp ở ngoài phạm vi lănh thổ Pháp thông qua một mạng lưới các tổ chức văn hoá Pháp, các trường học của Pháp, Alliance Francaise (các trung tâm Alliance) và Cơ quan đào tạo tiếng Pháp. Các chính quyền địa phương do bầu cử trực tiếp (hội đồng vùng, hội đồng tỉnh và hội đồng thị trấn) chịu trách nhiệm về quản lí hành chính địa phương. Các cơ quan này không chịu trách nhiệm trước nhà nước trung ương, họ hoàn toàn độc lập trong việc quản lí các vấn đề của ḿnh, độc lập với nhau và phải phù hợp với các luật do nền cộng hoà ban hành. Luật chuyển giao quyền lực ở pháp quy định phạm vi hoạt động của mỗi hội đồng. Chính quyền địa phương – hội đồng thị trấn (và / hoặc thành phố) – có vai tṛ tích cực trong lĩnh vực văn hoá. Hội đồng thị trấn quản lí hầu hết các cơ sở văn hoá ở địa phương và tổ chức một số lượng lớn các sự kiện văn hoá trong địa phương ḿnh, một phần hợp tác với Bộ Văn hoá.

2.3 Hợp tác giữa các bộ và các cấp chính quyền

Hợp tác giữa Bộ Văn hoá với các chính quyền địa phương và vùng

    Chính phủ, thông qua Bộ Văn hoá, kiểm soát một số hoạt động văn hoá do các chính quyền vùng và địa phương thực hiện. Hoạt động kiểm soát này bao gồm duy tŕ các tài liệu lưu trữ, thực hiện thanh tra về khoa học và kĩ thuật đối với các bảo tàng và thư viện,  thanh tra về khoa học, kĩ thuật và giáo dục đối với các cơ sở đạo tạo về văn hoá và nghệ thuật (trường nhạc, trường nghệ thuật, v.v..). Một trong những đặc điểm chính của hoạt động văn hoá của khối công quyền ở Pháp là sự phối hợp hành động giữa các cơ quan tổ chức ở cấp trung ương, vùng và địa phương. Trong những hoạt động chung này các cơ quan tham gia đều có đóng góp tài chính,

giữa họ h́nh thành nên những quan hệ đối tác lâu dài. Có thể kể ra như: hiệp hội vùng về phát triển âm nhạc, và biên đạo múa (đôi khi là kịch); viện âm nhạc và múa, các trung tâm đào tạo giáo viên; trung tâm nghệ thuật đương đại; các cơ quan hợp tác vùng trong lĩnh vực sách; trung tâm trùng tu di sản, v.v… Tiềm năng tài chính của các cơ quan hoạt động văn hoá công thay đổi tuỳ theo bản chất của mỗi cơ quan, và đôi khi giữa các tổ chức cùng loại với nhau. Một số biện pháp cụ thể đă được ban hành: Fonds régionaux d’acquisition des musées (FRAM: Quỹ vùng về hỗ trợ cho việc mua sắm tại các Bảo tàng) và Fonds régionaux d’acquisition des bibliothèques (FRAB: Quỹ vùng về hỗ trợ mua sắm tại các thư viện). Các quỹ này thực hiện trợ giúp việc mua sắm các tác phẩm nghệ thuật và mở rộng các bộ sưu tập của các bảo tàng và thư viện thuộc quản lí của các chính quyền vùng và địa phương. Quỹ FRAC (Fonds régionaux d’art contemporain: Quỹ vùng về nghệ thuật đương đại) đă được thành lập để xây dựng các bộ sưu tập nghệ thuật đương đại tại mỗi vùng và tiến hành các hoạt động nhằm truyền bá nâng cao nhận thực trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại. Ngoài ra, những thoả thuận hợp tác cụ thể giữa Bộ Văn hoá với các chính quyền vùng và địa phương cũng được kí kết nhằm thực hiện hoạt động phát triển văn hoá ở cấp vùng: ‘thoả thuận phát triển văn hoá’- có phạm vi rộng nhất - hỗ trợ đối với việc xác định và thực hiện các dự án văn hoá vùng; các thoả thuận ‘villes d’art’ (thành phố nghệ thuật) và ‘villes et pays d’art et d’histoire” (thành phố và vùng văn hoá lịch sử); các thoả thuận liên quan đến di sản và dân tộc nhằm phát triển di sản; các thoả thuận ‘ville-architecture’ (thành phố kiến trúc), ‘ville-lecture (sách), và ‘ville-cinéma’ (điện ảnh). Ngoài ra cũng có các quan hệ đối tác ở cấp độ rộng hơn gồm sự tham gia của chính quyền trung ương và địa phương, ví dụ như thoả thuận hợp tác nhà nước/ vùng và thoả thuận hợp tác thành phố. Các thoả thuận hợp tác này xác định những ưu tiên về những hoạt động đầu tư chung trong khoảng thời gian 7 năm, và hướng vào việc phát triển kinh tế, xă hội và văn hoá của các vùng. Thoả thuận thành phố bao gồm những sáng kiến chung giữa các bộ và các hội đồng thành phố nhằm khắc phục những vấn đề khó khăn về kinh tế, xă hội và đô thị. Dự án nhà nước/ vùng và các thoả thuận thành phố thường bao gồm những nội dung lớn về văn hoá, ví dụ như, giáo dục nghệ thuật, đào tạo nghề, phát triển văn hoá vùng. Luật về hợp tác giữa các thành phố (ngày 25 tháng Sáu 1999) và phát triển vùng (ngày 12 tháng Bảy 1999) quy định thành lập các cơ quan mới về hợp tác giữa các thành phố và những cơ chế để Bộ Văn hoá khuyến khích đưa khía cạnh văn hoá vào trong các chương tŕnh hoạt động.

Hợp tác giữa Bộ Văn hoá và các bộ khác

    Các bộ khác (ngoài Bộ văn hoá) cũng tham gia trực tiếp vào việc phát triển văn hoá. Các bộ này thường tham gia vào những sáng kiến chung thực hiện cùng bộ văn hoá, và thường là thực hiện theo những thoả thuận hợp tác giữa các bộ. Bộ Giáo dục và Bộ văn hoá đang xây dựng một kế hoạch chung về vấn đề nghệ thuật và văn hoá trong các trường học (xem thêm phần 4.2.8). Kế hoạch này được thực hiện bằng một thoả thuận được kí ngày 31 tháng 10 năm 2001, giữa Bộ Văn hoá và Bộ Thanh niên và Thể thao, theo đó xác nhận một nỗ lực chung của hai bộ nhằm thực hiện hỗ trợ cho các hoạt động nghệ thuật, và (cam kết) phát triển hài hoà các dự án giáo dục nhằm đưa văn hoá nghệ thuật đến với các đối tượng trẻ em và thanh niên. Về hợp tác văn hoá quốc tế, Bộ ngoại giao chịu trách nhiệm thúc đẩy các hoạt động trao đổi văn hoá và nghệ thuật, và việc sử dụng tiếng Pháp trên toàn thế giới. Association francaise d’action artistique (AFAA: Hiệp hội Hoạt động nghệ thuật Nước Pháp) là cơ quan được Bộ ngoại giao và Bộ Văn hoá giao cho trách nhiệm giám sát hoạt động trao đổi văn hoá quốc tế và hỗ trợ phát triển (xem thêm phần 2.4). Các thoả thuận được kí giữa Bộ Văn hoá và các bộ khác: Bộ Nông nghiệp (về phát triển giáo dục văn hoá - xă hội tại các cơ sở giáo dục về nông nghiệp); Bộ Du lịch, Y tế (ví dụ như văn hoá tại các bệnh viện); Bộ Tư pháp (về phát triển các hoạt động văn hoá tại các trại giam).

2.4 Hợp tác văn hoá quốc tế

    Bên cạnh biện pháp dài hạn nhằm phát triển văn hoá Pháp ở nước ngoài, nước Pháp cũng đang xây dựng một chính sách hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy sự đa nguyên và đa dạng về văn hoá. Một số cơ quan của Chính phủ và các chính quyền địa phương chia sẻ trách nhiệm trong việc thực hiện các chính sách này.

Phát triển văn hoá Pháp bên ngoài nước Pháp.

     Phát triển văn hoá Pháp ở nước ngoài là một trong các yếu tố lâu đời nhất của chính sách ngoại giao Pháp. Yếu tố này bao gồm hàng loạt các hoạt động phát triển

sử dụng tiếng Pháp, trao đổi giáo dục và học thuật, hợp tác khoa học kĩ thuật, trao đổi trong các lĩnh vực nghệ thuật, sách, và quảng bá phim ảnh, phát thanh và truyền

h́nh Pháp. Các chính sách do Bộ Ngoại giao đề ra sẽ được thực hiện bởi một mạng lưới hoạt động hợp tác văn hoá ở nước ngoài bao gồm các cơ quan tại đại sứ quán và lănh sự quán, các trung tâm và tổ chức văn hoá Pháp (khoảng 150 trung tâm), 25 trung tâm nghiên cứu khoa học xă hội và nhân văn, và các Trung tâm Alliance (khoảng 1000 trung tâm với quy mô khác nhau). Bộ Văn hoá đóng vai tṛ chủ chốt trong lĩnh vực xuất khẩu văn hoá thông qua các tổ chức được tại trợ một phần bởi Bộ Ngoại giao và các ngành kinh doanh văn hoá (Tổ chức Unifrance về điện ảnh, tổ chức France Edition về sách, Trung tâm xuất khẩu âm nhạc Pháp, và Hiệp hội Hoạt động nghệ thuật nước Pháp – AFAA). Được thành lập năm 1922, AFAA thúc đẩy việc thực hiện các chính sách trao đổi văn hoá do Bộ ngoại giao đề ra, với sự phối hợp của Bộ văn hoá. AFAA cũng có quan hệ đối tác với các chính quyền cấp vùng và địa phương (thành phố, tỉnh và vùng). Nó cũng thực hiện hoạt động hợp tác, điều phối, thực hiện các dự án đào tạo trên toàn thế giới.

 

Quảng bá văn hoá ngoại quốc ở nước Pháp.

    Để thúc đẩy sự hiện diện của các nền văn hoá khác, Bộ Văn hoá khuyến khích các cơ quan hoạt động văn hoá thực hiện các biện pháp nhằm làm cho người dân Pháp có cơ hội tiếp cận các sản phẩm văn hoá nước ngoài. Với sự phối hợp của Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá tham gia tích cực vào việc tổ chức các ‘mùa’ văn hoá nước ngoài và ủng hộ cho rất nhiều tổ chức mà trong chương tŕnh hoạt động của họ có nhấn mạnh đến yếu tố văn hoá nước ngoài (Maison des cultures du monde: Nhà văn hoá thế giới) trên toàn nước Pháp.

Hợp tác văn hoá.

    Sự sống c̣n của văn hoá Pháp và kinh nghiệm của quốc gia này trong quản lư văn hoá đă làm nảy sinh nhu cầu thiết yếu về sự hợp tác với các chính phủ nước ngoài và các cơ quan hoạt động văn hoá của nước ngoài. Bên cạnh các chương tŕnh ‘Courants’ và ‘Đào tạo Văn hoá Quốc tế’, th́ các vụ và cơ quan khác của Bộ Văn hoá cũng thực hiện đào tạo đối với các chuyên gia nước ngoài, và rất nhiều các hoạt động văn hoá (có sự tham gia của các chuyên gia) cũng được tổ chức hàng năm.

Hợp tác đa phương.

    Bộ Văn hoá tham gia vào các hoạt động thương thảo (đàm phán) của Cộng đồng châu Âu về các vấn đề liên quan đến văn hoá. Thông qua đó nó sẽ cung cấp cho các tổ chức hoạt động văn hoá của Pháp các thông tin về việc cung cấp tài chính của EU, việc hỗ trợ đối với một số mạng lưới ở châu Âu, và sự tham gia vào các hoạt động của Hội đồng châu Âu và của UNESCO. Bộ Văn hoá cũng dành quan tâm đặc biệt đối với các vấn đề đa dạng văn hoá được đề xướng bởi các định chế đa phương (đặc biệt là của WTO và OECD).

 

Trở về

3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá quốc gia

3.1 Những yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá quốc gia hiện nay

    Đặc điểm của mô h́nh chính sách văn hoá Pháp là sự tham gia… của các cơ quan công quyền. Bên cạnh các khía cạnh pháp lư liên quan đến văn hoá do nhà nước quản lí, th́ các chính quyền địa phương cũng có phần đóng góp quan trọng về tài chính cho các hoạt động văn hoá. Các hoạt động này được ghi nhận trong những mục tiêu chung của chính sách văn hoá quốc gia và chủ yếu được quản lí bởi các cơ quan chuyên trách. Quyền của công dân trong việc b́nh đẳng tiếp cận đối với văn hoá được ghi nhận trong hiến pháp: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm rằng mọi người dân phải được tham gia vào đời sống văn hoá. Hơn nữa, điều được thừa nhận rộng răi ở Pháp là văn hoá là yếu tố không thể thiếu trong quá tŕnh phát triển nói chung (bao gồm cả phát triển kinh tế và xă hội). Do đó, văn hoá là yếu tố chủ chốt trong việc đảm bảo chất lượng sống và sự hoàn thiện của mọi cá nhân. Đă có nhiều chính sách được ban hành ra nhằm khắc phục những sự không b́nh đẳng do các yếu tố địa lí, kinh tế và xă hội gây ảnh hưởng đến sự tham gia vào đời sống kinh tế của người dân. Các chính sách này nhằm mở rộng và đa dạng hoá các đối tượng thưởng thức văn hoá, và thúc đẩy phát triển, với khả năng lớn nhất có thể, các hoạt động văn hoá nghệ thuật trong mọi lĩnh vực. Những chính sách này được thể hiện qua những sáng kiến mang lại lợi ích cho một bộ phận dân cư và những vùng kém thuận lợi về mặt địa lí. Theo quy định của luật, hoạt động của Chính phủ, một mặt c̣n bao gồm việc bảo vệ, di tu, bảo dưỡng, phát triển, quảng bá và cải thiện các di sản văn hoá nghệ thuật được xem là những tài sản chung của quốc gia, và mặt khác là việc bảo vệ, quảng bá, thúc đẩy, hỗ trợ và tuyên truyền về các hoạt động sáng tạo văn hoá nghệ thuật. Trong những hoạt động này, hỗ trợ của Chính phủ nhằm vào việc ngăn ngừa và khắc phục những khuyết tật cố hữu mà kinh tế thị trường gây ra: đó là sự biến mất – do thiếu tính khả thi trong ngắn hạn, sự tập trung và chuẩn hoá - những sản phẩm văn hoá, vốn không được xem là những hàng hoá để đem bán trên thị trường. Hơn nữa, Chính phủ cũng có trách nhiệm trong việc giáo dục và đào tạo về văn hoá và nghệ thuật với mức độ tương tự như trách nhiệm của Chính phủ về giáo dục phổ cập. Khía cạnh giáo dục trong hoạt động về văn hoá của Chính phủ có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề tiếp cận và tham gia vào đời sống văn hoá của các cá nhân. Bộ văn hoá có trách nhiệm thực hiện các kế hoạch hành động do chính phủ đề xướng trong lĩnh vực văn hoá trên phạm vi toàn nước Pháp. Các bộ khác cũng có trách nhiệm trong một số lĩnh vực cụ thể của chính sách văn hoá (ví dụ như Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục). Các chính quyền địa phương và vùng cũng có trách nhiệm thực hiện các chính sách văn hoá trong phạm vi của ḿnh (thành phố, giữa các thành phố, vùng); chính sách văn hoá được thực hiện bởi các cơ quan công quyền thường nảy sinh sự chồng chéo, cho nên phải có sự phối hợp thực hiện. Bộ Văn hoá thực hiện các chính sách theo hai cách: Bằng các quy định (thông qua các văn bản pháp luật do nghị viện ban hành) và trực tiếp bằng ngân sách nhà nước được phân bổ cho Bộ Văn hoá theo quy định tại ngân sách quốc gia.

 

    Quy định: Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm thực hiện và giám sát thực hiện các luật và quy định liên quan đến lĩnh vực văn hoá. Ví dụ như, các quy định pháp lí về bảo vệ di sản, trách nhiệm và các tiêu chuẩn khoa học kĩ thuật đối với các tư liệu lưu trữ, các bộ sưu tập, các tác phẩm văn học nghệ thuật, phúc lợi dành cho nghệ sĩ, các quy định về thuế và phí đối với một số tổ chức hoạt động văn hoá (điện ảnh, giải trí), việc sản xuất bắt buộc và hạn mức phát sóng chương tŕnh. Những quy định này không đồng nghĩa với việc Chính phủ nhận trách nhiệm cung cấp ngân sách. Mặt khác, chúng có thể gây ra hệ quả quan trọng về mặt tài chính đối với các chính quyền địa phương, vùng và những tổ chức hoạt động văn hoá (những mạng lưới truyền h́nh tư nhân, chủ sở hữu các hàng hoá di sản văn hoá, v.v..). Quy định của Bộ Văn hoá c̣n bao gồm: các sáng kiến nhằm hậu thuận cho chất lượng, tính chuyên nghiệp và sự hợp nhất các hoạt động đă được nói đến trong các mục tiêu chính sách văn hoá - ví dụ như, tuyên bố chúng được nhà nước chấp nhận (lợi ích chung).

    Hoạt động trực tiếp. Một trong các hoạt động trực tiếp của Bộ Văn hoá là việc quản lí trực tiếp các tổ chức văn hoá công duy tŕ và phát triển các di sản văn hoá, lịch sử và nghệ thuật, công tŕnh nghệ thuật. Phân bổ nguồn tài chính cho các tổ chức, và cho các chính quyền vùng, địa phương để họ thực hiện các sáng kiến văn hoá. Sự can thiệp của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá được mở rộng đối với tất cả các loại h́nh, h́nh thức nghệ thuật và mĩ học, không chỉ hạn chế trong “mĩ thuật”. Nhà nước loại bỏ phương pháp mang tính can thiệp đối với việc quảng bá văn hoá nghệ thuật ‘chính thống’ để tránh sự kiểm soát, kiểm duyệt. Các quyết định liên quan đến trợ cấp, phân bổ tiền của nhà nước, bảo vệ các di sản, và thuê (tuyển dụng) các chuyên gia trong lĩnh vực văn hoá, thường được thực hiện với sự cố vấn của các cơ quan tư vấn, những cơ quan này bao gồm các chuyên gia đă được công nhận trong các lĩnh vực phù hợp. Chính phủ trung ương (Đặc biệt là Bộ văn hoá) không giữ thế độc quyền đối với các hoạt động văn hoá - điều này cũng tương tự đối với các chính quyền vùng và địa phương. Trong khi khối nhà nước đóng vai tṛ chính trong việc hỗ trợ cho văn hoá, th́ một nguồn hỗ trợ đáng kể cũng đến từ phía khối tư nhân. Cũng cần lưu ư rằng, phần lớn các hoạt động được nhà nước hỗ trợ lại do khối tư nhân tổ chức.

Vai tṛ của chính quyền vùng và địa phương

Luật chuyển giao quyền lực

    Các Hội đồng của các thành phố và đô thị lớn ở Pháp đă và đang tham gia tích cực vào các hoạt động văn hoá trong nhiều năm qua. Từ thế kỉ 19, rất nhiều thành phố đă quản lí và cung cấp tài chính cho các thư viện, bảo tàng, nhà hát và nhạc viện, trợ cấp cho các hiệp hội văn hoá, tổ chức giáo dục. Từ những năm 1960, những thành phố nhỏ cũng bắt đầu xây dựng chính sách văn hoá của ḿnh. Luật chuyển giao quyền lực năm 1982 và 1983 đă thừa nhận vai tṛ của chính quyền địa phương, vùng và thúc đẩy họ có các sáng kiến nhằm hỗ trợ cho các Ban Quản lư Văn hoá Vùng (DRAC, là những cơ quan thuộc Bộ Văn hoá). Thẩm quyền quản lí các thư viện trung ương và các cơ quan lưu trữ của tỉnh được cũng được chuyển giao cho các tỉnh theo quy định của các luật này.

 

    Phạm vi thẩm quyền của các thành phố, tỉnh và vùng: Các chính quyền địa phương, vùng có toàn quyền thực hiện các vấn đề trong phạm vi lănh thổ của ḿnh, trong đó có vấn đề văn hoá. Giữa việc phi tập trung của các cơ quan chính phủ và việc chuyển giao quyền lực, đây là một cách thức mới của hoạt động công dựa trên quan hệ hợp tác tối ưu. Trong khi Chính phủ trung ương vẫn tiếp tục đóng vai tṛ quan trọng về hỗ trợ tài chính, th́ đóng góp của các chính quyền địa phương, vùng (thành phố, tỉnh, vùng) cũng tăng lên đáng kể, và hiện nay chiếm đến 60% tổng hỗ trợ tài chính. Các thành phố có thể tiến hành hoạt động trên mọi lĩnh vực văn hoá - bảo tồn và giới thiệu di sản, sản xuất và truyền bá về nghệ thuật biểu diễn, phát triển sách và văn hoá đọc, giáo dục nghệ thuật. Về mặt này, (từ giai đoạn 1960-1970) ngày càng có nhiều thành phố có các đại diện do bầu cử được giao trách nhiệm về các vấn đề văn hoá, và thành lập những cơ quan văn hoá hoạt động có hiệu quả. Mức độ các thành phố đầu tư cho văn hoá phụ thuộc hoàn toàn vào mong muốn chính trị của họ, (ngoại lệ: đối với trường hợp các cơ quan lưu trữ công th́ việc đầu tư là bắt buộc nhằm lưu giữ và tạo điều kiện tiếp cận cho các nhà nghiên cứu và công chúng nói chung). Quy tŕnh can thiệp vào văn hoá là phạm vi thuộc thẩm quyền quy định của trung ương.

    Các quan hệ đối tác

    Hợp tác giữa khối nhà nước và tư nhân được thực hiện theo rất nhiều các thoả thuận với nhiều mức độ chuyên môn khác nhau: thoả thuận phát triển văn hoá, các thoả thuận “Thành phố và vùng nghệ thuật và lịch sử’, ‘Thành phố điện ảnh’ ‘Thành phố nghệ thuật thị giác’, ‘Dự án đô thị lớn’ ‘Thoả thuận quy hoạch nhà nước-vùng’. Với việc gia tăng các thoả thuận và đôi khi xảy ra sự chồng chéo, những biện pháp (thoả thuận) này thường rất khó khăn để thực hiện.

    Thực tế. Một số lượng lớn các thành phố và thị trấn là những đối tác của cơ quan trung ương trong việc thực hiện chính sách văn hoá do Chính phủ trung ương đề xuất. Tuy nhiên, khi dần đi vào thực tế của mỗi địa phương, th́ chính quyền địa phương cũng cố gắng nâng cao tầm bao quát về văn hoá trong lănh thổ của ḿnh bằng cách phát triển giáo dục nghệ thuật, hỗ trợ cho các sự kiện văn hoá (lễ hội, v.v..) và bằng cách bảo vệ và phát triển di sản. Chính quyền địa phương cũng thực hiện hỗ trợ chủ yếu, và đôi khi là duy nhất, cho các hiệp hội văn hoá, tổ chức văn hoá không chuyên, và những hoạt động văn hoá nghệ thuật mới nổi lên.

    Tương lai của việc chuyển giao quyền lực Có hai xu hướng chính có thể dẫn đến những thay đổi quan trọng trong việc hỗ trợ của nhà nước trong những năm tới: Thứ nhất là xự xuất hiện ‘quan hệ hợp tác giữa các thành phố điều này cuối cùng cũng sẽ ảnh hưởng đến lĩnh vực văn hoá. Và thứ hai là khả năng chuyển giao quyền lực ngày càng tăng, đặc biệt là trong các lĩnh vực di sản và giáo dục nghệ thuật (các hoạt động thí điểm hiện đang được thảo luận).

3.2 Định nghĩa văn hoá

    Trong chính sách văn hoá của Pháp, văn hoá được xác định theo nghĩa rộng hơn so với nghĩa hẹp thông thường mà từ này chỉ đến. Chính sách văn hoá của pháp dựa trên nhiệm vụ toàn diện và tầm nh́n phổ quát về hiện tượng văn hoá. Điều này được rút ra từ nhiệm vụ của Bộ Văn hoá: “Bộ văn hoá chịu trách nhiệm làm cho các thành tựu quan trọng của loài người trở nên dễ dàng tiếp cận cho tất cả người dân, đặc biệt nhấn mạnh đến thành tựu của nước Pháp.’ Theo đó, Bộ trưởng Văn hóa thực hiện một chính sách nhằm ‘bảo vệ và phát triển mọi khía cạnh của di sản văn hoá, khuyến khích sáng tạo nghệ thuật và những hoạt động sáng tạo khác, và thúc đẩy phát triển việc đào tạo nghệ thuật và các hoạt động.’ (Nghị định 15 tháng Năm, 2002, Điều 1). Trái với một số chế độ trước đây, chính sách văn hoá Pháp hiện nay không đưa ra hạn chế, phạm vi của văn hoá. Tuy nhiên, các chính sách lại đề ra các mục tiêu: thúc đẩy sáng tạo; bảo vệ di sản quốc gia; phát triển các ngành kinh doanh văn hoá; mở rộng sự tiếp cận đến các hoạt động văn hoá; thúc đẩy đa dạng văn hoá.

 

 

3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá

    Theo quan điểm của Chính phủ Pháp, đa dạng văn hoá phải được xem xét trong mối quan hệ với toàn cầu hoá. Khía cạnh đa dạng văn hoá trước tiên là một vấn đề của bản sắc văn hoá. ‘Các hàng hoá và dịch vụ văn hoá có vai tṛ thiết yếu trong việc bảo vệ bản sắc của dân tộc và xă hội. Chúng làm cơ sở cho các giá trị, ư tưởng và ư nghĩa. Bản chất đặc biệt của chúng phải được thừa nhận. Chúng không phải là hàng hoá có thể mua bán như những sản phẩm khác’ (Catherine Trautmann, Bộ trưởng Văn hoá, tại một bài diễn văn ở UNESCO, 1990. Xác nhận tầm quan trọng của đa dạng văn hoá cũng là nói đến nhu cầu kinh tế cơ bản để thúc đẩy các ngành kinh doanh văn hoá châu Âu. Hơn nữa, coi trọng đa dạng văn hoá cũng phù hợp với một yêu cầu chính trị quan trọng, bởi v́ đa dạng văn hoá có ảnh hưởng đối với tính đa nguyên của các tư tưởng và sự biểu thị nghệ thuật. Đa dạng văn hoá và sự ngoại lệ trong lĩnh vực văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. ‘Ngoại lệ văn hoá không phải là khái niệm ‘đặc thù Pháp’, mà nó tương quan với mong muốn bảo vệ mọi nền văn hoá. Theo quan điểm này, nó là cơ sở cho đa dạng văn hoá.’ (Jean-Jacques Aillagon, Minister of Culture, May 2002). Quyền tự do thể hiện, tự do lập hội và tự do bày tỏ ư kiến (Công ước châu Âu về nhân quyền) được xác nhận trong những đạo luật quan trọng của Pháp: Luật về tự do báo chí (ngày 29 tháng Bảy, 1881); Luật tự do hội họp, đă băi bỏ quy định trước đó về việc phải xin phép (1881); Luật về việc lập hội (1/7/1901). Những xung đột xung quanh vấn đề tự do thể hiện ở Pháp đă hoàn toàn chuyển từ báo chí và điện ảnh (mặc dù đă có đề nghị về việc cấm tŕnh chiếu phim Amen Costa Gravas, và phim Scream đối với lứa tuổi thanh thiếu niên vào năm 2002) sang lĩnh vực Internet. Các ư kiến kêu gọi quản lí nội dung các trang web ngày càng gia tăng (các trang web nhằm biện minh cho chủ nghĩa khủng bố, phát xít mới, chủ nghĩa xét lại và trang web về phân biệt chủng tộc, trang web của các giáo phái, những kẻ quan hệ t́nh dục với trẻ em, v.v..). Làm thế nào để dung hoà quyền tự do thể hiện với việc tôn trọng các quyền cơ bản khác (ví dụ như, bảo vệ thiểu số)? Nh́n chung, phát triển sự tham gia vào các hoạt động văn hoá và mở rộng sự tiếp cận đến văn hoá là mục tiêu chính sách văn hoá chủ yếu. Trong phần mở đầu bài phát biểu vào năm 2002, Bộ trưởng Văn hoá đă nói rằng: ‘Bộ Văn hoá chịu trách nhiệm về việc làm cho các thành tựu quan trọng của loài người trở nên dễ dàng tiếp cận cho mọi người dân, đặc biệt nhấn mạnh đến thành tựu của người Pháp.’ Điều này cũng được thể hiện nguyên văn trong nghị định 1959 về thành lập Bộ Văn hoá.

    Các kết quả của những hoạt động nhằm dân chủ hoá lĩnh vực văn hoá vừa phức tạp lại đáng thất vọng. Các điều tra về hoạt động văn hoá ở Pháp (xem tại phần 9.1) đă chỉ ra, ví dụ, đặc điểm văn hoá- xă hội của nhóm khán giả tại các nhà hát và bảo tàng rất ổn định. Những hoạt động văn hoá mới xuất hiện lại không thu hút được nhiều người quan tâm. Bên cạnh ‘sự đa dạng hoá các cách thức tiếp cận đến văn hoá nghệ thuật gắn liền với sự tăng trưởng ngành kinh doanh nghe-nh́n (Oliver Donnat), sự đa dạng hoá này có liên quan đến các hoạt động lễ hội đường phố, biểu diễn ngoài trời và các sự kiện du lịch, và sự tăng trưởng nói chung của các hoạt động nghệ thuật không chuyên.

 

Trở về

4. Những vấn đề chính sách văn hoá hiện nay và các tranh luận

4.1 Vấn đề chính sách văn hoá quan trọng và những ưu tiên

Trong 5 năm qua, chính sách văn hoá ở Pháp mang đặc điểm

·    Bảo vệ đa dạng văn hoá (xem thêm phần 3.3);

·    Chuyển giao quyền lực cho địa phương, và sự phi tập trung (xem thêm phần 3);

·    Các hoạt động nhằm thúc đẩy giáo dục nghệ thuật, và đặc biệt là trong Kế hoạch 5 năm về Nghệ thuật và Văn hóa trong các trường học (2000) (xem thêm phần 4.2.8).

   Jean-Jacques Aillagon, Bộ trưởng Văn hoá từ tháng 6 năm 2002, đă tuyên bố ư định của ông về việc tiếp tục những chính sách này và mở rộng việc chuyển giao quyền lực. Vai tṛ của Chính phủ và các chính quyền vùng, địa phương sẽ được phân chia rơ ràng. “ở cấp vùng, Chính phủ cũng tập trung vào các cơ sở phát thanh truyền h́nh, các chương tŕnh (đặc biệt là những chương tŕnh nhằm thu hút những đối tượng khán giả mới), và để khắc phục những sai sót trong quá tŕnh phát triển văn hoá vùng.” Những sáng kiến mới nhằm tăng tính độc lập và tăng trách nhiệm của các cơ quan công quyền thuộc sự giám sát của Bộ Văn hoá. Các cơ quan công quyền sẽ được trao nhiều quyền độc lập về mặt quản lí hơn trong phạm vi các thoả thuận của Chính phủ nhằm xác định các mục tiêu (của chính sách) và phương tiện thực hiện. Các cơ quan công quyền cũng sẽ phát triển một chính sách linh hoạt hơn để thu hút mọi người tham gia vào đời sống văn hoá, đặc biệt chú trọng vào tầng lớp thanh niên và những người khuyết tật.

4.2 Các vấn đề chính sách gần đây và những tranh luận

4.2.1 quy định đối với văn hoá của người thiểu số

    Chính phủ đă khẳng định rằng nước Pháp không thừa nhận các cộng đồng thiểu số, cho dù họ có các đặc điểm riêng về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hay yếu tố khác. Theo luật của nước Pháp, mọi công dân đều có quyền b́nh đẳng, và pháp luật không dành quyền đặc biệt cho một ‘nhóm’ nào đó được xác định dựa trên xuất xứ, văn hoá, tín ngưỡng, ngôn ngữ, màu da. Ví dụ như, vấn đề ngôn ngữ của người thiểu số không tạo ra các quyền hoặc điều đó có nghĩa là có sự tồn tại của một nhóm dân tộc cụ thể. Cộng đồng dân cư Pháp được h́nh thành từ những người có xuất xứ và truyền thống văn hoá khác nhau. Phát triển văn hoá, vốn phải dựa vào những yếu tố di sản, hoạt động nghệ thuật, và đặc biệt là ngôn ngữ - cho dù chúng là ngôn ngữ của các vùng hay là ngôn ngữ của những người nhập cư, là một biện pháp quan trọng và cần được ưu tiên để tạo ra bản sắc và thúc đẩy trao đổi giữa các cộng đồng trên toàn nước Pháp nói chung. Theo quan điểm chung, nước Pháp từ nhiều năm qua đă cam kết phát triển đa ngôn ngữ, đặc biệt là việc tăng số lượng các cơ sở giảng dạy ngôn ngữ. Có thể kể ra một vài ví dụ sau:

·         Đối với ngôn ngữ không phải tiếng Pháp, th́ tiếng Arab và tiếng Berber là phổ biến nhất. Hai ngôn ngữ này được giảng dạy cho hàng ngh́n sinh viên ở các cấp giáo dục khác nhau và được đưa vào trong Chương tŕnh thi tốt nghiệp trung học (baccalaureat);

·         Tại Thư viện thông tin của Trung tâm Georges Pompidou ở Paris, đă đề nghị phương pháp tự học với hơn 120 thứ tiếng. Ngoài ra c̣n một hệ thống các thư viện có các tài liệu bằng ngôn ngữ của các vùng và ngôn ngữ của người nhập cư đang được sử dụng;

·         Các chương tŕnh dạy tiếng Pháp trên đài phát thanh (RFI) được thực hiện bằng tiếng Pháp và những ngôn ngữ khác;

·         Có các cuộc hội thảo về đọc và viết, với sự tham gia của Nhà hát kịch Quốc gia Colline và những người phụ nữ nhập cư.

 

    Các cuộc giao lưu và lễ hội như ‘Les Belles Etrangeres’ và các diễn đàn ngôn ngữ (tại nhiều thành phố lớn) cùng với nhiều cuộc hội ngộ văn hoá ở địa phương, với sự hỗ trợ của các chính quyền vùng và địa phương, và các Ban quản lí văn hoá vùng (quản lư về các lĩnh vực như điện ảnh, biểu diễn trực tiếp, công nghệ thông tin và viễn thông, nghệ thuật thị giác và bảo tàng, kiến trúc và di sản, và lưu trữ) đă diễn ra nhằm giao lưu hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hoá. Pḥng Pháp ngữ và các ngôn ngữ của Pháp (thuộc Bộ Văn hoá) cùng phối hợp với Agence nationale de lutte contre l’illettrisme (ANLCI: Cơ quan quốc gia đấu tranh chống nạn mù chữ) đă thành lập một nhóm hoạt động liên ngành nhằm thống nhất việc giảng dạy ngôn ngữ cho công chúng. Các văn bản pháp lí và hành chính đều tránh gọi các cộng đồng dân theo nguồn gốc dân tộc của họ, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc loại bỏ lối sống và hoạt động xă hội của mỗi cá nhân, ví dụ như những người sống không theo nơi cư trú cố định (người ‘du mục’). Đây là cách khác để đặt vấn đề b́nh đẳng của mọi công dân. Một số sáng kiến muốn góp phần vào việc tái lập lại cảm nhận về bản sắc tại nhiều khu vực hành chính lănh thổ của nước Pháp bằng cách phát triển và khôi phục lại các kí ức và câu chuyện của những người nhập cư từ  trong và ngoài nước Pháp. Một số tổ chức vùng hoặc liên ngành thực hiện giám sát và hỗ trợ, ví dụ như: Commission départementale d'accès à la citoyenneté (CODAC: Uỷ ban Phụ trách về quyền tiếp cận của công dân), the Groupe d'étude et de lutte contre les discriminations (GELD '114': Nhóm nghiên cứu và đấu tranh chống nạn phân biệt đối xử), the Agence nationale de lutte contre l'illettrisme (ANLCI: Cơ quan Quốc gia đấu tranh chống nạn mù chữ), the Fonds d'action et de soutien pour l'intộgration et la lutte contre les discriminations (FASILD: Quỹ hoạt động ủng hộ việc hội nhập và đấu tranh chống nạn phân biệt đối xử), the Association pour le développement des relations interculturelles (ADRI: Hiệp hội phát triển quan hệ đa văn hoá), v.v.. Từ những điều ở trên có thể kết luận rằng đâu đó giữa các mô h́nh cộng đồng dân tộc và những cộng đồng đă đồng hoá/ hội nhập đang h́nh thành nên một phương pháp thứ ba (trong chính sách về người thiểu số).

4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

    Tháng 3 năm 2001, phụ nữ chiếm 45% lực lượng lao động trong ngành văn hoá (đây cũng là tỉ lệ của lao động nữ trên toàn bộ lực lượng lao động). Các lĩnh vực có tỉ lệ gần với mức b́nh quân này là: quản lí di sản văn hoá, xuất bản sách, phát thanh, nghệ thuật và các công việc phụ trợ trong ngành giải trí. Các lĩnh vực mà phụ nữ chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới: xuất bản tạp chí; buôn bán lẻ; quản lí các địa điểm giải trí, và thư viện (phụ nữ chiếm 75% số lao động trong ngành này). Tuy nhiên trong một số lĩnh vực khác nam giới lại hoàn toàn chiếm ưu thế. Nam giới chiếm gần 2/3 lực lượng lao động trong các lĩnh vực xuất bản báo; sản xuất và phát sóng truyền h́nh; kiến trúc và các cơ quan báo chí. Một nghiên cứu thực hiện trong lĩnh vực âm nhạc đă cho thấy rằng đa số các nhạc sĩ/ nhạc công (nghệ sĩ âm nhạc) là nam giới. Năm 1999, Caisse des congés spectacles ( Một chương tŕnh phúc lợi dành cho các nghệ sĩ biểu diễn) cho thấy chỉ có 24% các nghệ sĩ biểu diễn là nữ. Tỉ lệ này lại biến đổi rất đáng kể trong loại h́nh âm nhạc và chuyên môn của các nghệ sĩ: tỉ lệ nữ thấp nhất (17%) là trong các loại h́nh ‘phi cổ điển’ (nhạc jazz, rock, nhạc nhẹ, múa…), nhưng chiếm tỉ lệ tương đối cao (43%) trong thế giới ‘cổ điển’ (nhạc cổ điển, opera và nhạc đương đại). tuy nhiên, phụ nữ lại được trả thù lao thấp hơn so với các đồng nghiệp nam.

Hầu hết các công ty lớn của Pháp đều có các chương tŕnh nhằm thúc đẩy b́nh đẳng giới. Do bản chất h́nh thành của các công ty này, lĩnh vực văn hoá không bị ảnh hưởng bởi các chương tŕnh này.

 

4.2.3 Ngôn ngữ và chính sách về ngôn ngữ

    Tiếng Pháp, ngôn ngữ chính thức của nước Pháp, đóng vai tṛ là yếu tố gắn kết trên toàn nước Pháp và được hơn 100 triệu người thuộc cộng đồng francophone sử dụng. Trước quá tŕnh toàn cầu hoá và sự xuất hiện của những hệ thống truyền thông mới, việc bảo vệ tiếng Pháp và duy tŕ vị trí của nó như là một ngôn ngữ quốc tế lại trở thành một ưu tiên. Do đó, chính sách với cộng đồng francophone (cộng đồng Pháp ngữ) đă được đẩy mạnh trong hơn 15 năm qua, và hiện nay chính sách đó c̣n bao gồm các yếu tố đa ngôn ngữ và đa dạng văn hoá (xem thêm phần 2.4 và 3.3). Trong phạm vi Bộ Văn hoá, Văn pḥng Pháp ngữ và các Ngôn ngữ Vùng của Pháp (Délégation générale à la langue francaise et aux langues de France – DGLF-LF) là cơ quan chịu trách nhiệm phát triển (làm phong phú, làm giàu) tiếng Pháp trong nước Pháp và cộng đồng Pháp ngữ, thúc đẩy thực hiện chính sách đa ngôn ngữ Vụ Sách và Văn hoá đọc thực hiện hỗ trợ đối với các loại sách, báo, tạp chí và ấn phẩm khoa học bằng pháp ngữ; Ban quản lí Văn hoá Vùng (Directions régionales des affaires culturelles – DRAC) hỗ trợ cho những sáng kiến nhằm thúc đẩy hiểu biết về tiếng Pháp, đặc biệt là các sáng kiến liên quan đến đa ngôn ngữ và nhận thức của du khách nước ngoài. Vào ngày 15 tháng 7 năm 1999, Pháp đă phê chuẩn Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ của cộng động thiểu số, và đồng thời cũng ban hành Bản tuyên bố về việc giải thích Hiến chương. Trong hiến chương, những từ chỉ ‘nhóm’ những người sử dụng một thứ ngôn ngữ nhất định không phù hợp với lời nói đầu trong hiến pháp của Pháp, rằng ‘bảo vệ quyền b́nh đẳng của mọi công dân trước pháp luật và thừa nhận một dân tộc Pháp duy nhất bao gồm tất cả các công dân Pháp bất kể nguồn gốc, sắc tộc và tôn giáo của họ.’ (Bản tuyên bố). Tuyên bố này cũng quy định nghĩa vụ sử dụng tiếng Pháp của các cơ quan nhà nước, các dịch vụ công và những người sử dụng dịch vụ công; việc giảng dạy ngôn ngữ của cộng đồng thiểu số là tuỳ nghi (không bắt buộc), và tất cả các văn bản pháp luật chính thức phải được xuất bản bằng tiếng Pháp. Ngôn ngữ là vấn đề cực ḱ nhạy cảm và nó đă dẫn đến những giải thích khác nhau đối với những khái niệm như ‘nhà nước’ (state), ‘châu Âu’ và ‘vùng’. Tháng 5/ 2002, Bộ trưởng Bộ giáo dục đă soạn thảo một quy định nhằm sáp nhập hệ thống các trường Diwan vào hệ thống giáo dục quốc gia (Đây là một hiệp hội gồm các trường học giảng dạy toàn bộ các chương tŕnh học ở Breton). Tuy nhiên quy định đó đă bị Hội đồng Nhà nước đ́nh chỉ thực hiện vào tháng 10 năm 2001.

4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

     Việc cung cấp và tiêu dùng các chương tŕnh nghe nh́n đă gia tăng nhanh chóng trong ṿng 20 năm qua. Ví dụ, năm 1980, Pháp có 3 mạng lưới truyền h́nh nhà nước; ngày nay con số đó đă lên trên 100. Luật ngày 30 /9/1986 đă quy định chấm dứt sự độc quyền của nhà nước đối với ngành phát thanh truyền h́nh. Luật c̣n cho phép tư nhân hoá hăng truyền h́nh Télévision Francaise 1. Dịch vụ phát thanh truyền h́nh của khối công bao gồm các công ty như, Radio-France, Réseau France-Outremer và Radio Frace International, các công ty truyền h́nh như France Television  và Arte France. Institut national de l’audiovisuel (Viện Quốc gia về Nghe nh́n) là cơ quan chịu trách nhiệm bảo tồn và phát triển các di sản nghe nh́n của quốc gia.

Có 4 hệ thống truyền h́nh nhà nước, và 3 trong số đó đă được hợp nhất thành công ty France Television. Hệ thống thứ 4 là Arte France.  Theo quy định của luật, các công ty quốc gia phải tuân thủ thực hiện các nhiệm vụ v́ lợi ích chung: thúc đẩy tranh luận dân chủ, sự hoà nhập xă hội, và quyền công dân; quảng bá tiếng Pháp và phát triển các di sản văn hoá và ngôn ngữ theo sự tính đa dạng của các vùng và địa phương; hoạt động theo hướng phát triển và truyền bá các sáng tạo nghệ thuật và tri thức, các hiểu biết về kinh tế, xă hội, khoa học và kĩ thuật, và giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông nghe nh́n. Phí cấp phép phát thanh truyền h́nh là nguồn tài chính chủ yếu của các công ty phát thanh truyền h́nh. Truyền h́nh có thu phí bao gồm ba hệ thống truyền h́nh trên mặt đất và nhiều mạng lưới các kênh truyền h́nh theo chuyên đề được phát qua cable và vệ tinh. Hội đồng sát lĩnh vực nghe nh́n (Conseil supérieur de l'audiovisuel) là cơ quan có trách nhiệm bảo đảm chất lượng và sự đa dạng của các chương tŕnh, phát triển việc sản xuất các chương tŕnh truyền h́nh, bảo vệ và truyền bá ngôn ngữ và văn hoá Pháp. Cơ quan này có thể đưa ra các đề nghị cho việc nâng cấp các chương tŕnh và nâng cao chất lượng nội dung. Về nghĩa vụ của các đài phát thanh truyền h́nh (đầu tư vào các sản phẩm nghe nh́n, phân phối các sản phẩm nghe nh́n của Pháp và châu Âu, và phát sóng các bài hát tiếng Pháp) xem thêm phần 5.3.1 và 5.3.3. Việc đóng góp cho các sáng kiến văn hoá, có tính giáo dục và bảo vệ người tiêu dùng được quy định rơ đối với các công ty phát thanh truyền h́nh.

4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và những quan hệ đối tác

    Ở Pháp, các ngành kinh doanh văn hoá được định nghĩa rất rộng, trong đó bao gồm cả các hàng hoá văn hoá có thể tái tạo được và việc mở rộng các đối tượng thưởng thức văn hoá. Nó bao gồm một chuỗi sáng tạo - sản xuất – và tiêu thụ với các sản phẩm sau: sách, báo, máy nghe nhạc, VCRs, điện ảnh, sản phẩm đa phương tiện, tṛ chơi và các sản phẩm phụ. Phạm vi ngành kinh doanh văn hoá hạn chế hơn so với ngành kinh doanh ‘nội dung’ và không bao gồm cơ sở dữ liệu, thiết kế, thời trang và quảng cáo hoặc sản xuất các sản phẩm tư liệu và nội dung cho các tác phẩm nghệ thuật. Các ngành kinh doanh văn hoá đă có những thay đổi lớn trong trong 25 năm qua. Phạm vi các sản phẩm liên lục mở rộng (sách, bản ghi, phim, video, đĩa CD, CD-ROM, v.v..). Việc sản xuất và phân phối đă tập trung hơn và mang tính quốc tế, các chính sách thương mại ngày càng phức tạp hơn. Trước sự cạnh tranh ngày càng tăng, các sáng kiến của Chính phủ nhằm bảo đảm phạm vi rộng của các việc sản xuất các sản phẩm văn hoá và phân phối chúng rộng nhất trong phạm vi có thể, thông qua các biện pháp sau:

·    Ưu đăi thuế (giảm thuế VAT đối với sách, báo, phim và các sản phẩm nghe nh́n);

·    Quy định giá sách cố định;

·    Các biện pháp mang tính quản lí như hạn mức phát sóng đối với các kênh tiếng Pháp. (xem thêm phần 5.3.1).

    Trong hơn 15 năm qua, ngành kinh doanh nghe nh́n (phát thanh và truyền h́nh) đă tăng trưởng nhanh chóng về số lượng các đài truyền h́nh (các kênh truyền h́nh tổng hợp, theo chủ đề, truyền h́nh qua vệ tinh, truyền h́nh trên mặt đất và truyền h́nh cáp). Chính phủ hiện đang tham gia ở ba mức độ: điều tiết ngành này thông qua cơ quan quản lí (thông qua Hội đồng giám sát về nghe nh́n –CSA); hỗ trợ cho các công ty truyền h́nh nhà nước (thông qua phí cấp phép) và định hướng việc cấp phép; các biện pháp quản lí: hạn mức nội dung phát thanh và chương tŕnh chiếu phim trên truyền h́nh.

 

4.2.6 Chính sách lao động đối với lĩnh vực văn hoá

    Năm 2001, có 464 000 người làm việc trong lĩnh vực văn hoá (ví dụ như, hoạt động sáng tạo, công việc hành chính hoặc kĩ thuật trong các tổ chức mà các hoạt động chủ yếu có liên quan trực tiếp đến văn hoá). Ngành kinh doanh văn hoá (sách, báo, nghe nh́n) sử dụng đến 246 000 người trong số 464000 nói trên. Hoạt động giải trí (biểu diễn, quản lí các tụ điểm giải trí, các dịch vụ có liên quan, v.v..) sử dụng đến khoảng 25% tổng lực lượng lao động của lĩnh vực văn hoá (123 000). Đặc điểm nổi bật của việc làm trong lĩnh vực văn hoá là tỉ lệ phần trăm của những người không hưởng thu nhập theo lương (101 000 người, chiếm 22%), gấp 2 lần tỉ lệ phần trăm những người lao động không hưởng thụ nhập theo lương của toàn bộ dân số (11%, tính theo b́nh quân của toàn bộ lực lượng lao động). Giải trí, kiến trúc, xuất bản và bán sách là các lĩnh vực sử dụng nhiều người lao động theo h́nh thức cộng tác viên. Trong vài năm qua, có sự gia tăng đáng kể loại h́nh việc làm không thường xuyên – một kiểu công việc đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá và áp dụng đối với các nghệ sĩ, kĩ thuật viên tại các nhà hát, rạp chiếu bóng, truyền h́nh và hăng giải trí. Theo điều kiện hợp đồng, quy chế làm việc này cho phép các nghệ sĩ và kĩ thuật viên làm việc với nhiều người chủ (bên thuê lao động) khác nhau và, khi họ đă hoàn thành số giờ làm việc trong một năm (507 giờ), th́ họ được hưởng phúc lợi thất nghiệp. Việc nhân rộng cơ chế làm việc này đă làm tăng trưởng việc làm trong lĩnh vực giải trí, nhưng kèm theo đó là việc gia tăng sự bấp bênh trong công ăn việc làm (có sự giảm sút về giờ lao động b́nh quân hàng năm của mỗi cá nhân và kèm theo đó là giảm thu nhập). Một loạt chính sách chung của Chính phủ đă có ảnh hưởng đến việc làm trong lĩnh vực văn hoá. Ví dụ như Chương tŕnh việc làm cho thanh niên (Nouveaux services-emplois jeunes), đă thực hiện từ năm 1997 để hỗ trợ cho những hoạt động của thanh niên bằng cách hỗ trợ từ nguồn tài chính của Chính phủ trong thời gian 5 năm. Chương tŕnh này đă tạo việc làm cho hơn 20 000 thanh niên trong các tổ chức thuộc lĩnh vực văn hoá.

4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá

    Việc số hoá các bộ sưu tập thuộc sở hữu của nhà nước: các bản thảo cổ, bản đồ cổ, các sơ đồ, bức tranh, bộ phim, các câu truyện và bài hát,v.v.. Có gần 2 triệu tư liệu và những tư liệu ghi âm dài hơn 1300 tiếng đồng hồ đă được số hoá trong giai đoạn từ 1998-2000. Từ năm 2000, Bộ Văn hoá cũng thực hiện hỗ trợ cho các dự án số hoá của các chính quyền vùng và địa phương, và các tổ chức văn hoá. Pháp đóng một vai tṛ tích cực trong hợp tác của châu Âu trong lĩnh vực truyền bá các sản phẩm văn hoá đă được số hoá. Pháp đă tham gia vào một số chương tŕnh của châu Âu nhằm hài hoà và truyền bá các sản phẩm văn hoá dưới dạng kĩ thuật số (các chương tŕnh như Minerva, EMII-DCF, và dự án Strabon). Việc truyền bá các sản phẩm văn hoá đă được số hoá phải tính đến sự đa dạng của những người tiếp nhận (các chuyên gia, công chúng, giáo viên, sinh viên) và phương thức truyền bá: CD-Rom, cơ sở dữ liệu, các sản phẩm có tính tương tác và có thể tiếp cận được thông qua internet. Nhiều hoạt động nghiên cứu đă được thực hiện nhằm nâng cấp quá tŕnh số hoá, danh mục tư liệu và các nội dung đă số hoá. Việc ban hành các quy tắc điều chính việc mô tả các tư liệu bằng cách sử dụng tiêu chuẩn XML là nhằm đảm bảo tính tương thích giữa các hệ thống thông tin khác nhau. V́ internet là một mạng lưới toàn cầu (50% các kết nối đến cơ sở dữ liệu Joconde là từ bên ngoài nước Pháp), nên cần phải có một chính sách lâu dài về vấn đề đa ngôn ngữ của các trang web phổ biến các di sản văn hoá. (xem thêm phần 9.2). Bộ Văn hoá và các cơ quan hữu trách – đặc biệt là Thư viện Quốc gia Pháp và Viện Nghe-nh́n - đang phối hợp để đưa ra các mục tiêu và quy tŕnh cho việc đưa lên mạng các tư liệu nhằm thiết lập một cơ quan lưu trữ trên mạng, mà các nội dung được giữ theo định dạng (format) sao cho có thể khôi phục được bằng nhiều cách khác nhau. ECM (Chương tŕnh không gian văn hoá đa phương tiện) được thành lập trong phạm vi các tổ chức văn hoá - xă hội nhằm cải thiện việc tiếp cận với các nội dung văn hoá thông qua đa phương tiện (multimedia) và giới thiệu những sáng tạo mới nhất trong lĩnh vực văn hoá. Chúng thúc đẩy việc thử nghiệm các công nghệ đa phương tiện. Hiện tại trên toàn nước Pháp có đến 150 ECM đang hoạt động. Các biện pháp này nằm trong một chính sách rộng lớn hơn nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận dễ dàng hơn với đa phương tiện. Việc ban hành các quy định pháp luật về phát triển các nội dung kĩ thuật số được đề cập tại phần 5.4.1. Trợ cấp đối với lĩnh vực sản xuất các sản phẩm đa phương tiện được đề cập tại phần 5.3.3

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh

    Luật số 88-20, ngày 6 tháng 1 năm 1988 quy định về giáo dục nghệ thuật: các quy định về giáo dục nghệ thuật tại các trường trung học cơ sở và phổ thông; phương thức cấp chứng chỉ đối với các cơ sở giáo dục nghệ thuật và chứng chỉ tú tài. (giáo dục nghệ thuật ở bậc đại học và đào tạo nghề cho

các nghệ sĩ không đề cập trong phần này.) Giáo dục nghệ thuật là lĩnh vực mà mọi cơ quan thực hiện chính sách văn hoá đều tham gia. Lĩnh vực này bao gồm giáo dục nghệ thuật trong các trường học, trong đó nhà nước (chính quyền trung ương) chịu trách nhiệm chính, và giáo dục nghệ thuật trong thời gian nhàn rỗi, mà trách nhiệm một phần hoặc hoàn toàn thuộc về chính quyền địa phương và vùng, trong đó trách nhiệm chủ yếu thuộc về các thành phố. Mối quan hệ giữa các bộ với nhau, và giữa các bộ với các chính quyền địa phương được đặc biệt chú trọng. Mọi trẻ em Pháp đều được hưởng giáo dục cơ bản về nghệ thuật trong chương tŕnh giáo dục phổ cập do Bộ Giáo dục quy định. Bộ Giáo dục quyết định chương tŕnh giảng dạy cho mọi cơ sở giáo dục công và tư. Giáo dục nghệ thuật là môn học bắt buộc tại các trường tiểu học (6 đến 11tuổi) và trung học cơ sở (11 đến 15 tuổi). ở trường trung học phổ thông (15 đến 18 tuổi) th́ giáo dục nghệ thuật là tuỳ chọn. Tầm quan trọng của giáo dục nghệ thuật trong giáo dục phổ cập đă được ghi nhận trong Luật ngày 6 tháng 1 năm 1988. Năm 2000, kế hoạch 5 năm cho nghệ thuật và văn hoá trong trường học, do Bộ Văn hoá và Bộ giáo dục phối hợp ban hành, trong đó đă đưa ra các ưu tiên đối với giáo dục nghệ thuật và văn hoá trong chính sách giáo dục. Trong nhiều năm ưu tiên cho việc phát triển cái được coi là giáo dục ‘cơ bản hơn’, hiện nay nghệ thuật và văn  hoá có vai tṛ trung tâm trong hệ thống giáo dục, các trường học đă được công nhận là nơi lí tưởng để mang nghệ thuật đến cho mọi người và nâng cao tính dễ tiếp cận của nghệ thuật. Từ năm 1983, Bộ Văn hoá đă ph̔