
I. Chính sách và các thiết chế văn hoá Thái Lan
II. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
III.Các công cụ của chính sách văn hoá
IV. Chính sách về các lĩnh vực văn hoá
VI.Chương tŕnh phát triển văn hoá
I. Chính sách và các thiết chế văn hoá Thái Lan
Chính sách văn hóa quốc gia Thái Lan được công bố vào năm 1981 theo tinh thần của Điều luật thứ 114 của Hiến pháp Hoàng gia Vương quốc Thái Lan, trong đó ghi rơ “Nhà nước thúc đẩy và bảo tồn văn hóa quốc gia”. Cốt lơi của chính sách có thể tóm tắt như sau:

1. Hỗ trợ việc bảo tồn văn hóa Thái trong các lĩnh vực thông qua giáo dục, nghiên cứu, cổ vũ và phát triển để văn hóa có thể trở thành một công cụ quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề của đời sống cá nhân cũng như vấn đề phát triển xă hội, kinh tế, chính trị và tăng cường quyền độc lập tự chủ của quốc gia.
2. Phổ biến văn hóa cho nhân dân đất nước Thái để cho người dân hiểu, nhận thức đúng đắn các giá trị của văn hóa dân tộc và biến những giá trị này thành hành động. Nhận thức về văn hóa Thái sẽ mang lại cho quốc gia sự thống nhất và sự bảo đảm an toàn cũng như làm cho nhân dân trong nước hiểu biết lẫn nhau và nhân dân các nước khác trên thế giới có thể hiểu biết Thái Lan.
3. Thúc đẩy văn hóa truyền thống trong nước và văn hoá truyền thống của các dân tộc nhằm khắc sâu văn hóa truyền thống và văn hóa khu vực. Đồng thời kích thích sự hoà hợp dân tộc, làm cho cộng đồng dân tộc đa dạng trở thành một thể thống nhất trong ḥa b́nh.
4. Hỗ trợ và xúc tiến trao đổi văn hóa với khu vực và quốc tế với mục đích tạo ra hiểu biết quốc tế, làm cho văn hóa Thái có sự thay đổi mang tính chọn lọc và thu hút các nền văn hóa ngoại lai vào ḍng chảy của nền văn hóa Thái, tạo ra sự đoàn kết văn hóa trong toàn dân tộc.
5. Hỗ trợ và thúc đẩy việc hợp tác, cộng tác giữa các cơ quan chính phủ và các cơ quan tư nhân trong các hoạt động văn hóa. Mọi biện pháp và công cụ sẽ được thực hiện nhằm huy động mọi tài nguyên quốc gia để bảo tồn, thúc đẩy và phát triển văn hóa.
II. Thẩm quyền, ra quyết định và các cơ quan hành chính
1. Cơ quan hành chính công và bán công
Bộ Giáo dục
Bộ Giáo dục là Cơ quan quan trọng chịu trách nhiệm về các vấn đề văn hóa. Văn pḥng của ủy ban Văn hóa quốc gia được thành lập năm 1979 và trở thành một ban của Bộ Giáo dục. Chức năng của văn pḥng là phối hợp, xúc tiến và phát triển các hoạt động văn hóa của các cơ quan tư nhân và nhà nước ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Sau khi ủy ban này được thành lập, một mạng lưới các trung tâm văn hoá cũng được thành lập trên cả nước để tăng cường việc tiếp cận với các vấn đề văn hóa. Các trung tâm này có trách nhiệm đối với sự phát triển văn hóa ở phạm vi cấp tỉnh.
Các cơ quan trực thuộc ủy ban Văn hoá quốc gia
Cơ cấu của ủy ban Văn hóa quốc gia bao gồm:
1. Pḥng văn hoá tinh thần
2. Pḥng văn hoá hành vi
3. Pḥng nghệ thuật biểu diễn
4. Pḥng văn hoá văn học
5. Pḥng về vấn đề văn hoá cho phụ nữ

Ở phạm vi các tỉnh, cũng có các văn pḥng hay các chi nhánh của các trung tâm. ở một vài nơi, người ta báo cáo công việc trực tiếp về các trung tâm, một vài nơi khác không phải là trung tâm th́ có trách nhiệm báo cáo với lănh đạo tỉnh. Ví dụ Cơ quan Mỹ thuật địa phương báo cáo trưc tiếp cho Ban Tổng Giám đốc của trung tâm ở Bangkok, trong khi các Hội đồng nhánh của Uỷ ban Văn hóa quốc gia th́ báo cáo lănh đạo tỉnh đó. Các trung tâm văn hóa tỉnh và địa phương hầu hết nằm ở các trường Sư phạm và các trường đại học, trực tiếp đặt dưới sự giám sát của các hiệu trưởng và chủ tịch các cơ quan chủ quản. Sự phối hợp được điều khiển bởi văn pḥng Uỷ ban Văn hóa quốc gia.
Ban Mỹ thuật
Ban Mỹ thuật của Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm bảo tồn các Di sản văn hóa quốc gia bao gồm các bộ phận sau:
§ Ban Lưu trữ quốc gia: Bảo tồn và lưu giữ các tài liệu ở các dạng khác nhau;
§ Ban Thư viện quốc gia: Chịu trách nhiệm thu thập, tổ chức và bảo quản các tài liệu sách vở và các sản phẩm nghe nh́n. Ban này chỉnh lư việc thực hiện theo Đạo luật in ấn 1941 liên quan đến việc khoản tiền đặt cọc cho các tài liệu được xuất bản bởi các tổ chức cá nhân. Có 04 bộ phận chính của Thư viện quốc gia:
Bộ phận Bảo tàng quốc gia
Bộ phận Bảo tàng quốc gia chịu trách nhiệm sưu tập, bảo tồn và lưu giữ các công tŕnh nghệ thuật và các di vật khảo cổ. Bộ phận này cũng quy định việc thực hiện đạo luật bảo vệ di sản quốc gia, liên quan đến việc xuất khẩu các di vật khảo cổ học và mỹ thuật. Bộ phận này quản lư 32 bảo tàng trên toàn quốc.
Bộ phận Khảo cổ học: Chịu trách nhiệm bảo tồn và lưu giữ các di tích và các địa điểm mang tính lịch sử, khảo cổ học. Bộ phận này điều khiển 9 chi nhánh địa phương ngoài Bangkok.
Bộ phận Nghệ thuật truyền thống
Bộ phận Nghệ thuật truyền thống chịu trách nhiệm bảo tồn nghệ thuật, các nghề thủ công và công nghệ truyền thống.
Bộ phận Kiến trúc
Bộ phận Kiến trúc chịu trách nhiệm bảo tồn phong cách và công nghệ kiến trúc truyền thống. Đồng thời nghiên cứu và tiến hành thí nghiệm để hoà hợp phong cách truyền thống và hiện đại, tận dụng các công nghệ và các vật liệu xây dựng mới. Bộ phận này cũng hợp tác với Bộ phận khảo cổ học để chịu trách nhiệm bảo tồn và lưu giữ các toà nhà lịch sử.

Bộ phận Nghệ thuật biểu diễn
Bộ phận Nghệ thuật biểu diễn chịu trách nhiệm bảo tồn các điệu múa, âm nhạc và kịch truyền thống, cổ điển và của các dân tộc khác nhau. Bộ phận này duy tŕ hoạt động Nhà hát quốc gia ở Bangkok và chi nhánh của nó tại Chiangmai.
Ban Tôn giáo
Kể từ khi tôn giáo được xem là một phần của văn hóa Thái Lan, Ban Tôn giáo đă đề ra mục đích thúc đẩy các hoạt động văn hóa của tất cả giáo phái cũng như phổ biến các vấn đề dân tộc và đạo đức trong cộng đồng.
Sự phối hợp các hoạt động và chương tŕnh ở cấp Bộ được thực hiện bởi Hội đồng Bộ trưởng. Bên cạnh đó, cũng có những bộ phận bán công liên quan đến những lĩnh vực văn hóa nhất định ở cấp độ quốc gia như Tổ chức Truyền thống Thái Lan, Tổ chức Thể thao Thái Lan, Hội đồng Du lịch Thái Lan.
Ở Thái Lan những cơ quan và tổ chức phi Chính phủ liên quan đến hoạt động văn hóa rất nhiều. Đó chủ yếu là những hiệp hội hoạt động chuyên nghiệp, các câu lạc bộ, các quỹ từ thiện xă hội hay giáo dục. Văn pḥng của Uỷ ban Văn hóa quốc gia chịu trách nhiệm phối hợp giữa các tổ chức phi Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ.
Chính phủ Thái Lan hiện nay đă thông qua chính sách cải cách quan liêu để thay thế một hệ thống hành chính hiệu quả. Hệ thống này thích hợp với t́nh h́nh hiện nay và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế và xă hội quốc gia. Những biện pháp khẩn cấp v́ vậy đă được thực hiện để ban hành pháp chế để sắp xếp hợp lư hóa các bộ và các tổ chức để phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá cũng như phù hợp với những thay đổi kinh tế, xă hội. Việc cải cách quan liêu tập trung vào việc có được một tổ chức trong sạch hơn và thu được hiệu quả cao hơn. Tổ chức này phải có sự tham gia của nhân dân và xă hội. Các dự thảo ngân sách cũng được quan tâm để tiến hành cải cách… Chính chính sách cải cách này đă đưa đến kết quả là các Bộ và các tổ chức được tái cơ cấu. Theo đó, từ ngày 1 tháng 10 năm 2002, hệ thống hành chính của Thái Lan được chia ra thành 20 Bộ, trong đó Bộ Văn hóa được thành lập, tách riêng khỏi Bộ Giáo dục với cơ cấu như đă nói ở trên.
Tuy nhiên dù đă có những cố gắng của các tổ chức công và tư nhưng nền văn hoá Thái vẫn đang bị các nền văn hoá khác như: văn hoá Mỹ, văn hoá châu Âu và văn hoá Trung Quốc, Nhật Bản lấn át, đe doạ sự bảo tồn các giá trị văn hoá Thái. V́ vậy, Chính phủ cần phải liên tục quan tâm đến vấn đề văn hoá đối với thế hệ trẻ.
Ở Thái Lan, ngày càng có ít người đến đền thờ, tham gia vào các hoạt động tôn giáo và văn hoá. Nhiều môn nghệ thuật không có người quan tâm và ủng hộ. Một số gợi ư cho chính sách văn hoá nhằm thúc đẩy văn hoá Thái lan, xây dựng nhiều chiều hướng văn hoá trong bộ máy phát triển quốc gia. Để làm được điều này cần tuân thủ các bước sau:
§ Định nghĩa thuật ngữ văn hoá thật rơ ràng và ngắn gọn
§ Định nghĩa phạm vi và các hoạt động văn hoá rơ nét hơn
§ Hoạch định các chiến lược tự trang trải một cách tiết kiệm và mang tính xă hội nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài của văn hoá.
2. Bảo tàng và các cơ quan đặc biệt
Hiện tại, trên toàn đất nước Thái Lan có 32 bảo tàng quốc gia đặt dưới sự đỡ đầu của Ban Mỹ thuật. Những bảo tàng này được coi là những trung tâm nghệ thuật, khảo cổ và giáo dục lịch sử cho sinh viên và cộng đồng.
Trung tâm
Văn hóa Thái Lan - một trung tâm hiện đại được trang bị các thiết bị truyền
thống đa phương tiện được h́nh thành nhờ dự án hỗ trợ từ Chính phủ Nhật Bản,
thành lập năm 1987 để giúp cho nhiều người dân có cơ hội tham gia một cách hiệu
quả vào đời sống văn hóa bao gồm biểu diễn nghệ thuật, giáo dục và các hoạt động
giải trí xă hội.
3. Các tổ chức t́nh nguyện
Các tổ chức t́nh nguyện không thuộc Bộ Văn hóa, nhưng trừ một vài trường hợp ngoại lệ, tất cả các tổ chức t́nh nguyện đều được pháp luật yêu cầu phải chịu sự cấp phép và giám sát của Bộ Văn hóa. Có hai loại tổ chức t́nh nguyện: Các Hiệp hội và các Quỹ tài trợ. Khái niệm Hiệp hội được sử dụng cho các tổ chức có ít nhất 3 người được cấp phép và đăng kư tồn tại pháp lư nhằm mục đích thúc đẩy văn hóa, giáo dục và quỹ phúc lợi xă hội. Khái niệm Quỹ tài trợ dùng để chỉ tổ chức mà quỹ tài sản ít nhất là 100,000baht (xấp xỉ khoảng 4000$) được dành làm quỹ từ thiện và cũng phải đăng kư về mặt pháp lư. Tại Thái Lan có khoảng 12000 tổ chức từ thiện (với tốc độ phát triển mỗi năm 1000 tổ chức). Trong đó, một vài tổ chức tiêu biểu là:
- Hiệp hội các tín đồ Phật giáo dưới sự đỡ đầu của Đức vua với mục đích làm cho Phật giáo có được chỗ đứng và lớn mạnh trong giới trẻ Thái Lan.
- Hội đồng phúc lợi xă hội của Thái Lan dưới sự đỡ đầu của Đức vua, cung cấp thông tin về các dịch vụ xă hội, quản lư việc nghiên cứu các vấn đề xă hội và tăng cường các hoạt động dịch vụ xă hội cho cộng đồng trên khắp đất nước Thái Lan.
- Tổ chức xă hội Xiêm (tên gọi cũ của Thái Lan) dưới sự đỡ đầu của Hoàng gia chuyên về các vấn đề văn hóa và nghệ thuật của Thái Lan và Đông Nam á.
III. Các công cụ của chính sách văn hoá
1. Các chương tŕnh, kế hoạch hoạt động văn hóa

Mục đích của việc lập kế hoạch là chỉ ra hướng đi nhằm cân bằng sự phát triển của con người, xă hội và môi trường. V́ vậy, người ta cho rằng việc thực hiện các chính sách văn hóa trong tương lai cần nhấn mạnh vào hai vấn đề lớn:
§ Cân bằng điều kiện. Có nghĩa là sự phát triển số lượng, chất lượng và tiến tŕnh kinh tế cần dựa trên sự phối hợp kinh tế, khoa học, công nghệ và văn hóa.
§ Cơ sở văn hóa truyền thống. Trong khi hiện đại hóa là yêu cầu hiện tại, văn hóa truyền thống mà sự tồn tại của nó dựa vào quá khứ cũng không thể bị mất đi. Nó vẫn sống và là một quá tŕnh liên tục, mở ra những sự thích nghi mới.
Nội dung cơ sở và hướng thực hiện kế hoạch văn hóa gồm có 14 vấn đề là:
1. Chuyển tải được các giá trị và các đặc trưng của nhân dân;
2. Nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đ́nh;
3. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu di sản tinh thần dân gian;
4. Khuyến khích Nhà nước và nhân dân nhận thức và bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc ở cấp độ quốc gia và địa phương;
5. Mở rộng sự tham gia vào đời sống văn hóa;
6. Thúc đẩy trao đổi nghệ thuật và văn hóa ở cấp độ quốc gia và quốc tế;
7. Truyền tải thái độ, kiến thức và hiểu biết về tự nhiên;
8. Khuyến khích ư thức của mọi người về các di sản văn hóa như là các tài sản cần nâng niu;
9. Phối hợp với các cơ quan du lịch và văn hóa v́ lợi ích của mục tiêu trước sau như một;
10.Cung cấp cơ sở vật chất để cộng đồng có thể tham gia các hoạt động văn hóa;
11.Cải thiện giáo dục trong sự hoà hợp với văn hóa địa phương;
12. Khuyến khích phát triển Phật giáo;
13. Cải thiện các tổ chức và hiệu quả các cơ quan hành chính văn hóa;
14. Thành lập mạng lưới thông tin văn hóa;
2. Ngân sách cho các hoạt động văn hóa
Nhà nước hỗ trợ và giúp đỡ trong việc bảo tồn và xúc tiến văn hóa, để phân bổ ngân sách cho các chương tŕnh và hoạt động văn hóa. Vấn đề này đă được Hội đồng Bộ trưởng và Quốc hội thông qua hàng năm. Phần chia chính của khoản hỗ trợ tài chính cho việc đào tạo cán bộ văn hóa được cấp cho các trường có các khoá đào tạo văn hóa. Cũng có ngân sách chi cho việc đào tạo tại chức được cấp cho các tổ chức chính phủ có liên quan, như Ban Mỹ thuật, Ban tôn giáo, Ban giáo dục không chính quy, Bộ Giáo dục.
Các khu vực thương mại và công nghiệp tư nhân cũng đóng vai tṛ quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển đời sống văn hóa ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Ngân hàng Bangkok, Nhà máy bia Boonraud, Câu lạc Bộ Thái P.E.N, Công ty Shell… tổ chức các hoạt động để xúc tiến nghệ thuật (tranh, ảnh, tượng…), biểu diễn nghệ thuật, văn hóa và các lối sống. Tổ chức SUPPORT xúc tiến nghệ thuật dân gian để bảo tồn nghề thủ công truyền thống thông qua các chương tŕnh đào tạo. Thêm vào đó, các sản phẩm cũng được mang ra bán trên thị trường trong nước và nước ngoài, tích luỹ được cho nhà nước.
Phần lớn các tổ chức phi Chính phủ, như các Hiệp hội, các Câu lạc bộ giải trí, các Quỹ phúc lợi xă hội hoặc là Quỹ Giáo dục đều nhận được tiền trợ cấp từ các cá nhân, ngân hàng và công ty kinh doanh. Một vài tổ chức th́ tự túc kinh khí bằng lệ phí hội viên hay các chiến dịch gây quỹ. Các phần thưởng và học bổng cũng được các tổ chức trong nước và quốc tế cấp cho những tác giả. Quỹ Nghệ thuật quốc gia giúp đỡ trong việc xúc tiến quỹ phúc lợi của các nghệ sỹ. Ngoài ra c̣n có sự hợp tác tài chính với các tổ chức bên ngoài như ASEAN, SPAFA, và UNESCO.
3. Pháp chế
Trước khi có sự tuyên bố chính sách văn hóa quốc gia, Chính phủ đă đưa ra một số đạo luật, Nghị định và Sắc lệnh liên quan đến văn hóa. Trong số đó, có một vài quy định quan trọng đến nay vẫn c̣n có hiệu lực:
§ Đạo luật về Phát triển văn hóa (1940) và bản sửa đổi (1942)
§ Đạo luật về thành lập ủy ban Văn hóa quốc gia (1979)
Đạo luật Văn hóa quốc gia (1942) xác định “là cái tiêu biểu cho sự tiến bộ, trật tự, sự thống nhất và đạo đức của người dân”. Điều XI trong Đạo luật Văn hóa quốc gia sau đó (ban hành năm 1943) nêu ra rất tỉ mỉ công việc của Hội đồng Văn hóa quốc gia (sau này là Bộ Văn hóa) bao gồm:
§ Cơ quan thuộc lĩnh vực Văn hóa tinh thần
§ Cơ quan phụ trách Văn hóa hành vi
§ Cơ quan Nghệ thuật biểu diễn
§ Cơ quan Văn hóa văn học
§ Cơ quan Các vấn đề văn hóa của phụ nữ
Ngoài ra, c̣n có những quy định pháp chế riêng cho việc bảo vệ các di sản văn hóa và các tài sản trí tuệ.
IV. Chính sách về các lĩnh vực văn hoá
1. Đào tạo thu thập và phổ biến thông tin
Thủ thư thư viện, Công nghệ Thông tin, In ấn và Xuất bản là các ngành đào tạo ở các khoa Khoa học thư viện và thông tin ở 8 trường đại học và nhiều trường Sư phạm. Các khóa học in ấn và xuất bản ở các khoa Khoa học, Truyền thông đại chúng ở Đại học Chulalongkorn và Khoa Truyền thông trường Thammasart. Các trường Công nghệ và một vài trường Sư phạm cũng có các khóa học in ấn, nhiếp ảnh và sách.
2. Giảng dạy Nghệ thuật và Nghề thủ công trong nước
Các trường tư ở Thái Lan không nhiều và hầu hết các trường này quản lư các khóa học về kịch và âm nhạc của Thái và phương Tây. Có cả các khóa học cấp bằng cho trẻ em về một lĩnh vực nghệ thuật nào đó hoặc là mục đích giải trí.
3. Giảng dạy nghệ thuật văn chương
Các khoá học về tiếng Thái và Ngoại ngữ, văn học đương đại và cổ điển, các tác phẩm dịch thuật, phê b́nh văn học, ngôn ngữ học, các tác phẩm văn chương dân tộc và khu vực được giảng dạy ở các tŕnh độ khác nhau ở các khoa Nhân văn, khoa học xă hội và khoa Nghệ thuật văn chương ở các trường đại học Thái Lan và trong các trường Sư phạm.

Văn học Thái được đánh dấu bởi một bề dày của văn học viết, để lại nhiều điểm nhấn nhất tại thế kỷ 13 gồm nhiều tác phẩm văn học, trong đó, các tác phẩm thơ cho ta rơ nhất về niềm tin và những ảnh hưởng của chế độ quân chủ. Chẳng hạn bài thơ "Maha Chat Kham Luang" là một thiên sử thi nói về sự hoà nhập của đạo Phật (nhánh Jataka) vào đời sống văn hoá Thái, hay như Kotmai Tra Sam Duang, tác phẩm nói về luân thường đạo lư của đạo Phật. Kể từ triều đại Chakkri cuối thế kỷ XVIII, văn học viết được dùng cả trong triều lẫn trong đời sống thường nhật, khuynh hướng văn mới xuất hiện được định h́nh qua các tác phẩm Phra Aphai Mani của nhà thơ Sunthon Phu (1786-1855), phiên bản được viết theo trường phái sử thi lăng mạn có tên là Khun Chang Khun Phaen và Sang Thong trở thành tác phẩm tượng trưng của triều đại vua Loet La (Rama II, 1809-1824) trị v́. Sử kư và thơ được viết cho tới măi thế kỷ XX, khi vua Vajiravudh (Rama VI, 1910-1925) trị v́ mới xuất hiện thể loại mới trong nền văn học Thái: tiểu thuyết. Cuộc sống hiện đại là nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều tác phẩm ra đời như tác phẩm Phudi (tạm dịch là Trưởng giả) do Dotmai Sot (1905-1963) sáng tác, tác phẩm Shongkhram Chiwit (Cuộc chiến cuộc sống) do Si Burapha, một nhà văn trường phái hiện thực xă hội, (1905-1974) sáng tác.
Những suy biến trong xă hội cũng được phản ánh trong văn chương mà tác phẩm của nhà văn Khammaan Khonkhai, Khru Ban Nok, tạm dịch là Người thầy của lũ chó điên (dịch giả Genhan Wijeyeaardene) thể hiện những biến chuyển bất cân đối trong giáo dục. Trong tiến tŕnh đó cũng có những thay đổi và phát triển trong phong cách văn chương của các nhà văn như Chit Phumisak, Naovarat Pongpaiboon. Trong tiến tŕnh toàn cầu hoá văn hoá, sự du nhập văn hoá châu Mỹ ảnh hưởng mạnh tới các loại h́nh nghệ thuật của Thái Lan. Bên cạnh đó, trào lưu du học Thái đi nghiên cứu học tập tại Mỹ, sự quảng bá của điện ảnh Hollywood cũng là một tác nhân làm thay đổi bộ mặt văn hoá Thái. Những người thuộc lớp văn nghệ sỹ mới như Kamol Tassananchalee đem nhiều tư tưởng nghệ thuật mới châu Mỹ vào nền nghệ thuật Thái, chỉ ngay sau thời kỳ mà các nghệ sỹ của Sukhothai và Ayutthaya đưa văn hoá ấn/ Kh’mer vào phong cách sáng tạo nghệ thuật truyền thống của Thái Lan. Văn hoá nghệ thuật Thái Lan phát triển mạnh theo khuynh hướng hiện đại từ năm 1932, đây là thời điểm đánh dấu nghệ thuật truyền thống của Thái không c̣n ảnh hưởng nhiều tới đời sống văn hoá. Những ảnh hưởng mạnh nhất của trào lưu văn hoá hiện đại thời kỳ này phải kể đến các tác phẩm của tác giả gốc Italia, Silpa Bhirasri; Cùng đó là sự hiện diện của ngành công nghiệp điện ảnh với bộ phim đầu tiên do em trai đức vua Chulalongkorn dựng (năm 1900); Cho tới tận cuối những năm 1980, khoảng 3.000 bộ phim truyện mới được hoàn thành và thành lập 1 Trung tâm lưu trữ phim quốc gia. Mặc dù đă có một vài bộ phim được thế giới biết đến như Tong Pha Luang (tạm dịch là Thiên đường vàng, năm 1980) và Sut Thon Nun (Phía cuối con đường, 1985) nhưng trở ngại về ngôn ngữ làm ảnh hưởng tới chất lượng và phần nào hạn chế điện ảnh Thái Lan ra nhập làng phim ảnh quốc tế.
Về ngôn ngữ, các chính sách giáo dục và bảo tồn văn hoá ngôn ngữ Thái được chú trọng không chỉ trong các trường học mà c̣n cả tới các cộng đồng người Thái. Hiện Thái Lan được đánh giá là một trong những quốc gia có tỉ lệ dân số biết đọc biết viết cao nhất và là một trong những quốc gia có số lượng sách xuất bản trên đầu người cao nhất châu á. Số liệu thống kê được trong năm 1982 cho thấy Thái Lan có 5.645 đầu sách được xuất bản, hơn 7 triệu dân được nghe phát thanh, 830.000 chương tŕnh truyền h́nh được phát, 69 nhật báo và 175 báo xuất bản định kỳ. Thông thường, các sách có b́a tiếng Thái thường được dịch sang tiếng Anh hoặc những sách chỉ dẫn thu hút một khối lượng đọc giả lớn. Các sách của Nhà xuất bản Thái Kled chiếm 60% thị trường xuất bản của Thái.
4. Giáo dục Nghệ thuật biểu diễn
Kịch, Âm nhạc, Giảng dạy Kịch là các khóa học ở khoa Nghệ thuật, Đại học Chulalongkorn, và khoa Nghệ thuật Kịch, trường Đại học Công nghệ. Khoa Mỹ thuật, Bộ Giáo dục cũng chịu trách nhiệm đào tạo các nghệ sỹ biểu diễn. Khoa của trường Nghệ thuật biểu diễn ban đầu cũng đào tạo các nghệ sĩ để đáp ứng yêu cầu của khoa, nhưng về sau mở rộng quy mô. Hiện tại, các trường có 5 cơ sở đào tạo và cung cấp nhân lực cho các hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng như giảng dạy nghệ thuật trong các trường học. Các cơ sở đào tạo địa phương tập trung và việc nghiên cứu và học tập kịch, âm nhạc, văn hóa dân gian của dân tộc thuộc địa phương đó nhằm bảo tồn văn hóa khu vực.
Các khóa học về kịch đương đại và kịch phương Tây ở khoa Nghệ thuật tự do ở trường Đại học Thammasart và khoa Nghệ thuật Văn chương, Đại học Chulalongkorn. Các khóa học ở nhà hát của trẻ em nhằm giới thiệu các phương pháp được giảng dạy ở khoa Giáo dục, trường Đại học Silpakorn và Đại học Srinakharindrawirot.
5. Đào tạo các ngành nghệ thuật thị giác
Hội hoạ,
Điêu khắc, Kiến trúc, Trang trí nội thất, Thiết kế công nghiệp được dạy ở khoa
Kiến trúc và khoa Mỹ thuật của trường Đại học Chulalongkorn, khoa Kiến trúc,
khoa Trang trí nội thất và khoa nghệ thuật tạo h́nh, Điêu khắc và In ấn của
trường Đại học Silpakorn.
Ban Mỹ thuật, Bộ giáo dục cũng thành lập Trường cao đẳng Mỹ thuật để đào tạo các khoa học về nghệ thuật truyền thống và nghề thủ công cũng như nghệ thuật đương đại phương Tây.
Việc đưa các kiến trúc hiện đại vào thiết kế thời trang, kiến trúc, trang trí nội- ngoại thất, âm thanh, ánh sáng, và kiến trúc nhà hát kịch được kết hợp với cách kiến trúc truyền thống h́nh thành một phong cách mới trong kiến trúc Thái. Vua Mongkut là vị vua đầu tiên đưa các thiết kế hiện đại vào cung điện của ḿnh, tiếp đó, Vua Bhumibol là người kết hợp hai cách kiến trúc và đưa vào thiết kế tổng thể Vương quốc Thái Lan hiện nay.
6. Giáo dục bảo tồn Di sản văn hóa
Khảo cổ học, Nhân loại học văn hóa, Lịch sử, Truyền thống, Khoa học bảo tàng được giảng dạy ở khoa Nghệ thuật Văn chương, Viện nghiên cứu Thái, Đại học Chulalongkorn và khoa Khảo cổ học, Khoa Nhân văn học của Đại học Silpakorn, và Viện nghiên cứu Thái của Đại học Thammasart.
Để đảm bảo việc quản lư hiệu quả Bảo tàng quốc gia, Cơ quan lưu trữ quốc gia, các thư viện quốc gia, các nhà hát quốc gia và các di tích khảo cổ dưới sự giám sát của ban Mỹ thuật hàng năm tổ chức 1 hay 2 khóa đào tạo, mỗi khóa khoảng 4-5 ngày cho lănh đạo các bộ phận và đơn vị. Các khóa học bao gồm các môn học như là quản lư tài chính, ngân sách và ngân sách hành chính, các quy định và điều luật liên quan hành chính cá nhân, xây dựng bảo tàng và hệ thống an ninh cho bảo tàng, thủ tục yêu cầu các địa điểm , dự án, hợp tác, quản lư và sự uỷ thác trách nhiệm mới.

Thông tin văn hóa được phổ biến thông qua các phương tiện in ấn cũng như các phương tiện nghe nh́n, và thông qua các truyền thông đa phương tiện và truyền h́nh.
Sách, các tạp chí nghệ thuật và các vấn đề văn hóa được các cơ quan chính phủ, các viện, các hiệp hội cũng như các nhà xuất bản tư nhân. Các tạp chí hàng tuần, nửa tháng hoặc hàng tháng ngày càng nhiều ở Thái Lan. Các tạp chí liên quan trực tiếp đến văn hóa như tạp chí Nghệ thuật và Văn hóa, Tạp chí Văn hóa Thái, Silapakorn và nhiều tạp chí khác. Các tờ báo là một phương tiện truyền thông đại chúng đưa vào những ảnh hưởng đặc biệt. Các máy quay đĩa, các băng cassette các bài hát truyền thống và đương đại cũng được sản xuất.
Bộ phận Lịch sử và Văn học, Bộ phận Bảo tàng quốc gia và Đơn vị quan hệ công chúng của Ban Mỹ thuật xuất bản những tác phẩm văn học và các cuốn sách về chủ đề văn hóa. Người ta cũng tổ chức các cuộc triển lăm, sắp xếp các buổi chiếu phim, seminar, v.v…
Đài phát thanh Thái có xấp xỉ 300 trạm thu phát sóng trên cả nước. Phát thanh là một trong những phương tiện truyền thông hiệu quả nhất. Truyền h́nh cũng rất phổ biến ở Thái Lan. ở Bangkok có 4 đài truyền h́nh với 5 đài truyền h́nh phụ trợ rải rác ở các vùng khác đáp ứng yêu cầu của người dân vùng nông thôn. Máy video đóng vai tṛ như phương tiện truyền thông ở Thái Lan để chiếu các phim phương Tây.
Các trường Sư phạm trên cả nước tham gia hiệu quả vào chương tŕnh quốc gia phổ biến thông tin về văn hóa. Các trung tâm văn hóa được thành lập ở các trường và được coi là các chi nhánh địa phương của ủy ban văn hóa quốc gia để tổ chức các cuộc triển lăm, hội thảo, seminar cho các sinh viên cũng như là cho công chúng tham dự. Một vài trường cũng phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động văn hóa ở phạm vi quốc gia và tiểu vùng.
Các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm phổ biến thông tin văn hóa là: Ban Thông tin công chúng, Uỷ ban Bản sắc quốc gia, Ban Quan hệ công chúng của Uỷ ban Văn hóa quốc gia, Thư viện quốc gia và các chi nhánh, các thư viện công cộng, thư viện các trường học.
VI. Chương tŕnh phát triển văn hoá
Các môn văn hoá nghệ thuật được thêm vào trong chương tŕnh giảng dạy ở các trường học ở mọi cấp. Người ta nhấn mạnh đến việc học tiếng Thái, về khái niệm công dân, văn hóa và nghệ thuật Thái, phát triển của các nghệ thuật tiêu biểu, các kỹ năng trong việc thể hiện nghệ thuật. Bên cạnh các môn học cơ bản như môn vẽ, âm nhạc, điêu khắc, c̣n có rất nhiều môn học tuỳ chọn.
Do đó, các lớp học nghệ thuật và văn hóa được dạy ở tất cả các trường, bao gồm các lớp học cho người lớn. Giáo dục nghệ thuật và văn hóa cho cộng đồng cũng là công việc được quan tâm với các lớp học cơ động. Phát thanh và Truyền h́nh được các cơ quan chính phủ và bộ phận tư nhân sử dụng để giáo dục văn hóa, ví dụ như . Hầu hết các trường đại học đều có 1 đến 2 khóa học khái niệm chung về văn hóa Thái, đó có thể là khóa học tự chọn hoặc bắt buộc.
Có rất nhiều chương tŕnh đào tạo hệ thống hay đào tạo đặc biệt cho các nhà quản lư văn hóa. Tuy vậy, các viện của chính phủ cũng chịu trách nhiệm tổ chức các khóa học quản lư ở nhiều tŕnh độ khác nhau. Có khóa học kéo dài 4-6 tuần dành cho các chức danh giám đốc. Các môn học bao gồm quản lư công chúng, thủ tục hành chính, lập kế hoạch, hoạch định chính sách.
Việc đào tạo tại chỗ, các khóa học nâng cao tŕnh độ cũng được các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về các hoạt động văn hóa tổ chức để phục vụ cho các cán bộ chính phủ. Các trường đại học và cao đẳng cũng có những khóa học đặc biệt vào các kỳ nghỉ hè hoặc là vào buổi tối.
Các tổ chức phi chính phủ có thể tổ chức các hội thảo, seminar hay các khoá học ngắn cho thành viên của ḿnh hay là cho công chúng.
ở Thái Lan, không có hệ thống người t́nh nguyện có đăng kư. Tất cả họ đều đến từ các trung tâm văn hóa của các tỉnh. Công việc t́nh nguyện, và các hành động văn hóa mang tính xă hội hay phát triển cộng đồng là do các giảng viên ở các trường đại học thực hiện trong lĩnh vực nghiên cứu, các nhà sư, người già và các nghệ sỹ dân gian.
VII. Hợp tác quốc tế về văn hoá

Uỷ ban văn hoá quốc gia tổ chức đổi văn hóa trên cơ sở song phương với 15 nước có kư hiệp ước văn hóa: Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và các nước khác như Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, mặc dù nước này không tham gia vào Hiệp ước văn hóa. Những hoạt động trao đổi bao gồm trao đổi các cá nhân văn hóa giữa Thái Lan, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản. Trao đổi văn hóa ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Hội hoạ, Điêu khắc, Nghề thủ công, Múa cũng được tổ chức.
Hợp tác văn hóa với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) dựa trên mối quan hệ đa phương. Vai tṛ của Quỹ văn hóa ASEAN cũng quan trọng cho sự phát triển của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, tranh vẽ, hội họa và văn chương, phương tiện truyền thông, phim ảnh, phát thanh và truyền h́nh.
Thái Lan cũng tham gia đóng góp vào các chương tŕnh trong khu vực. Các chương tŕnh này được thực hiện theo thoả thuận song phương và đa phương và các tổ chức quốc tế và khu vực như là Dự án Seameo vể khảo cổ học và mỹ thuật (SPAFA), Diễn đàn văn hóa châu á để phát triển (ACFOD), Trung tâm văn hóa châu á của UNESCO và UNESCO…
(Nguồn: Culturelink)