1. Bối cảnh lịch sử: chính sách và các thiết chế văn hoá
Từ những năm 1930 trở đi, mô h́nh phúc lợi xă hội của Thụy Điển c̣n bao gồm cả nghệ thuật, và dần dần đưa lĩnh vực truyền thông vào hệ thống trách nhiệm của nhà nước về văn hoá. Có thể nhận thấy các chính sách luôn tập trung vào việc hỗ trợ sản xuất, thúc đẩy và tiếp cận văn hoá, tri thức, và các chương tŕnh có chất lượng. Một trong những đặc điểm đáng chú ư nhất của Nhà nước Phúc lợi, vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, là cảm nhận chung về đoàn kết dân tộc và về di sản chung, cảm nhận đó được chia sẻ rộng răi trong lĩnh vực văn hoá. Các tổ chức đă có th́ được hiện đại hoá, ví dụ như các bảo tàng và thư viện, một số tổ chức mới được thành lập như Viện phim, trường kịch, trường nhạc, Hội đồng kịch và âm nhạc, các chương tŕnh triển lăm lưu động, biểu diễn kịch và hoà nhạc lưu động.
Chính
sách văn hoá được đưa ra thảo luận rộng răi vào những năm 1960. Người ta kêu gọi
dân chúng tham gia tích cực hơn, và kêu gọi Chính phủ phi tập trung hoá trách
nhiệm của ḿnh và tăng hỗ trợ đối với các nhà hát độc lập, các h́nh thức văn hoá
đại chúng. Đại diện của các nhóm nghệ sĩ, nhà văn, và những giới khác đă thành
công trong việc gây ảnh
hưởng khiến Chính phủ phải chấp nhận các yêu cầu này. Một uỷ ban được thành lập
để nghiên
cứu các mục tiêu, việc phân chia trách nhiệm, các h́nh thức đóng góp cũng như
việc thành lập các tổ chức văn hoá quốc gia. Kết quả ban đầu là dự luật văn hoá
năm 1974. Nghị viện Thụy Điển đă thông qua dự luật này, mặc dù các đảng phái c̣n
chưa thống nhất với nhau về tầm quan trọng của hỗ trợ kinh tế cho văn hoá. Bên
cạnh việc chấp nhận thành lập một số tổ chức văn hoá quốc gia, Nghị viện cũng
xác định 8 nguyên tắc/mục tiêu để xây dựng
chiến lược quốc gia cho phát triển và hỗ trợ. Quyết định năm 1974 đề cập đến tầm
quan trọng của văn hoá, kinh tế và b́nh đẳng xă hội. Các biện pháp chính sách
phải chú ư nhiều hơn đến đời sống, việc làm, các điều kiện và nhu cầu của nhân
dân. Chính quyền
Trung ương có trách nhiệm xây dựng các chiến lược và thực hiện hỗ trợ cho các tổ
chức văn hoá, các hoạt động văn hoá giống như các hội đồng của các vùng và địa
phương đă nằm trong phạm vi trách nhiệm này.
Năm 1989, các mục tiêu và hiệu quả của chính sách văn hoá quốc gia được đánh giá. Kết quả đă được chứng minh là tích cực. Năm 1996, Nghị viện đă đồng ư có một vài thay đổi nhỏ trong các mục tiêu đă ban hành năm 1974, và dành quan tâm đến cơ sở cho sự phát triển xă hội, bao gồm cả phát triển công nghệ. Năm 1998, Nghị viện thông qua 3 dự luật: để thúc đẩy văn học và văn hoá đọc; cải thiện các điều kiện cho nghệ sĩ; và nhấn mạnh lĩnh vực kiến trúc và thiết kế. Văn học cho trẻ em, giáo dục thông qua h́nh thức bảo tàng, và múa là những lĩnh vực được ưu tiên hỗ trợ kể từ năm 2000. Trong những năm vừa qua, các vấn đề phát triển vùng, sự đa dạng văn hoá của các dân tộc, và các quan hệ quốc tế ngày càng đóng vai tṛ quan trọng. Thụy Điển ngày càng liên kết chặt chẽ với thế giới – không chỉ do các hệ quả của toàn cầu hoá mà c̣n liên quan đến việc quốc gia này là thành viên EU. Sự hiện diện của người Thụy Điển ở mọi nơi trên thế giới làm cho Thụy Điển trở thành một xă hội đa văn hoá.
Từ cuối những năm 1980, tại Thụy Điển cũng như nhiều nước khác- việc xuất hiện của Truyền h́nh qua vệ tinh, video, internet và các phương tiện truyền thông khác đă tạo ra những thay đổi trong kết cấu tiêu dùng (các sản phẩm văn hoá). Những diễn biến này tiếp tục có ảnh hưởng đến các chương tŕnh và biện pháp chính sách văn hoá sau này.
2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và cơ quan quản lí
2.1 Mô tả chung hệ thống
Các chính quyền Trung ương, vùng và thành phố chia sẻ trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho văn hoá. Mặc dù chia sẻ chung tất cả các mục tiêu mà chính sách văn hoá bao hàm (xem thêm phần 3.1, 7.1 và 7.2), các cấp chính quyền tự đặt ra cho ḿnh các quyết định, mục tiêu, ngân sách, chương tŕnh, và các hoạt động cụ thể. Nguyên tắc độc lập được áp dụng đối với mối quan hệ giữa các cơ quan chính trị và tổ chức văn hoá trong các vấn đề liên quan đến các chương tŕnh giáo dục và nghệ thuật của các tổ chức này tại các cấp chính quyền.
Các Thành phố gồm 209 đơn vị, là các đơn vị hành chính có quyền đánh thuế, và là các cơ quan được thành lập do bầu cử, ví dụ như các hội đồng địa phương. Thành phố chịu trách nhiệm về các thư viện công và hoạt động văn hoá như các trường nhạc, nhà hát, pḥng trưng bày nghệ thuật, bảo tàng, cũng như các chi nhánh tại địa phương của các tổ chức giáo dục người lớn. Nguồn tài chính được cung cấp chủ yếu từ nguồn thu của thành phố, chủ yếu là thuế (các nguồn bổ sung khác bao gồm ngân sách từ chính quyền Trung ương và cấp vùng rót xuống).
Hội đồng Hạt gồm 18 hạt và 2 liên minh vùng, cũng là những đơn vị có quyền đánh thuế và các cơ quan được thành lập do bầu cử, về mặt địa lí bao gồm các thành phố lân cận nhau. Trách nhiệm chính của các hạt là thực hiện các dịch vụ y tế trong phạm vi của ḿnh, ngoài ra c̣n thực hiện hỗ trợ đối với các nhà hát, giàn giao hưởng, bảo tàng, thư viện.

Hiệp hội các chính quyền địa phương và các vùng: Hiệp hội các chính quyền địa phương và Liên đoàn các hội đồng hạt, đại diện cho lợi lích của chính quyền, giới nghề nghiệp và những người sử dụng lao động của 290 chính quyền địa phương của Thụy Điển, 18 hội đồng hạt, và 2 vùng và thúc đẩy sự tự trị của các chính quyền địa phương/ vùng. Từ tháng 1 năm 2005, Hiệp hội các chính quyền địa phương (SALA) và Liên đoàn các hội đồng hạt (FCC) đă phối hợp thành lập một cơ quan quản lí chung – Hiệp hội các chính quyền địa phương và các vùng (SALAR). Năm 2007, hai tổ chức (SALA và FCC) sẽ sáp nhập thành một liên đoàn chung. Nguồn tài chính để thực hiện các hoạt động của hai tổ chức này chủ yếu là lệ phí thành viên.
Uỷ ban Hành chính Tỉnh số lượng lên đến 21, có thể trùng hợp với lănh thổ các hạt, nhưng đây là các cơ quan vùng của chính quyền trung ương. Mỗi tỉnh có người đứng đầu là tỉnh trưởng, do chính quyền trung ương chỉ định. Nhằm mở rộng quy mô của các tỉnh cho tương ứng với các vùng ở các nước châu Âu, một số cơ quan đă được tổ chức lại. Các cơ quan vùng có trách nhiệm đặc biệt về vấn đề môi trường tự nhiên và di sản văn hoá. Một số cơ quan giữ vai tṛ điều phối với các quỹ cơ cấu EU, trong đó có các vấn đề liên quan đến hoạt động văn hoá.
Nghị viện quyết định vấn đề ngân sách cho các tổ chức và cơ quan trung ương/ quốc gia trong lĩnh vực văn hoá, ví dụ như Opera quốc gia, Bảo tàng nghệ thuật hiện đại, Quỹ Nhà văn.
Trách nhiệm chính của chính quyền trung ương được thể hiện trong sự phối hợp và việc lập kế hoạch dài hạn của chính sách văn hoá thông qua các bộ và cơ quan liên quan và trong việc tŕnh các dự luật lên Nghị viện hàng năm.
Bộ Giáo dục, nghiên cứu và văn hoá: Tháng 10 năm 2004 trong Chính phủ đă diễn ra cải tổ một phần. Bộ Văn hoá, từ năm 1994 là một bộ riêng, nhưng từ năm 2005 sẽ được nhập với Bộ Giáo dục vốn đang đảm nhận các trách nhiệm về các chính sách liên quan đến phim, truyền thông, tôn giáo và giải trí. Bộ mới thành lập là Bộ Giáo dục, nghiên cứu và văn hoá có trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến giáo dục trước tuổi đến trường và chăm sóc trẻ em đang độ tuổi đi học, các lớp học của trẻ em ở độ tuổi trước khi đến trường, các trường học phổ thông và tương đương, trường cấp ba, đại học, cao đẳng, cơ quan nghiên cứu, hỗ trợ học tập, các vấn đề xă hội của học sinh-sinh viên, chính sách thanh niên, văn hoá và truyền thông. Các sở vụ chính sách văn hoá chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến di sản văn hoá, kịch, múa, âm nhạc, hoạt động nghệ thuật, kiến trúc, thiết kế, điện ảnh, di sản và văn hoá đọc, v.v.. Các vụ chính sách truyền thông chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến phát thanh và truyền h́nh của nhà nước, báo viết, việc tập trung truyền thông (sáp nhập để tiến tới độc quyền), hành động để chống lại các h́nh ảnh bạo lực trên báo chí, bao gồm kiểm duyệt phim, truyền thông mới và các công nghệ mới.
Hội đồng Quốc gia các vấn đề văn hoá (Statens kulturrad, hoặc Hội đồng văn hoá Quốc gia) chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách văn hoá quốc gia. Các cơ quan của hội đồng hoạt động trong mọi lĩnh vực văn hoá, ngoại trừ điện ảnh, phát thanh truyền h́nh và các h́nh thức truyền thông khác. Trách nhiệm chính về di sản văn hoá thuộc về Uỷ ban di sản quốc gia. Các khoản tiền và những h́nh thức tài chính khác được phân bổ cho các tổ chức của vùng, cho các nhóm dự án và các tổ chức về các hoạt động đa văn hoá và phát triển. Hội đồng thu thập các thông tin và dữ liệu về các sự kiện và những xu hướng trong đời sống văn hoá thông qua các cuộc điều tra và các ấn phẩm. Trách nhiệm về các thống kê văn hoá chính thức thuộc về hội đồng, ngoài ra hội đồng cũng có vai tṛ điều phối với các cơ quan đại diện văn hoá của EU ở Thụy Điển cùng với Uỷ ban di sản Quốc gia.
Uỷ ban Di sản Quốc gia quản lí thực hiện các luật di sản văn hoá và những vấn đề liên quan đến luật này, bao gồm cả di sản được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Uỷ ban cũng làm việc với các cơ quan di sản vùng thuộc uỷ ban hành chính hạt; Uỷ ban hành chính hạt hợp tác với các hội đồng hạt, bảo tàng vùng và các thành phố về các dự án, lập các tài liệu và các chiến lược dài hạn để ǵn giữ và tiếp cận thông tin liên quan đến di sản văn hoá.
Cơ quan lưu trữ Quốc gia chịu trách nhiệm về các tư liệu lưu trữ của quốc gia, thực hiện ǵn giữ các tư liệu này trên phạm vi toàn quốc thông qua các cơ quan lưu trữ vùng và những vấn đề có liên quan, bao gồm cả việc ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến và tạo điều kiện cho sự tiếp cận của công chúng.
Uỷ ban Hỗ trợ Nghệ thuật Quỹ Nhà văn được tŕnh bày chi tiết tại phần 8.1.3.
Hội đồng nghệ thuật quốc gia được tŕnh bày chi tiết tại phần 8.1.
Viện phim Thụy Điển chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách quốc gia về điện ảnh. Chính sách này được quy định trong thoả thuận tài chính giữa nhà nước và ngành kinh doanh phim và video. Mục tiêu chính của chính sách điện ảnh là sản xuất và phân phối rộng răi các bộ phim có chất lượng cho trẻ em và thanh niên, và tạo điều kiện cho người khuyết tật có điều kiện tiếp cận tốt hơn. Trong thập niên vừa qua có 17 trung tâm phim vùng đă được thành lập trong thập niên vừa qua. Các trung tâm này có đóng góp tích cực cho làn sóng mới về làm phim tại Thụy Điển, cũng như góp phần thúc đẩy việc sản xuất phim của phụ nữ và những nhóm dân tộc thiểu số.
Các tổ chức liên quan đến văn hoá thuộc các bộ khác
Viện Thụy Điển cùng với Hội đồng văn hoá Quốc gia, chịu trách nhiệm hỗ trợ và thực hiện các sáng kiến thúc đẩy trao đổi văn hoá quốc tế. Viện này c̣n có trách nhiệm quảng bá các thông tin về Thụy Điển ra nước ngoài và thúc đẩy trao đổi trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu và đời sống cộng đồng nói chung. Viện Thụy Điển thuộc Bộ ngoại giao, và phối hợp với các đại sứ quán, lănh sự quán Thụy Điển trên toàn thế giới.
Hội đồng người Sami: thuộc quản lí của Bộ nông nghiệp. Việc Nhà nước xem xét các quyền của người Sami được đề xuất vào đầu những năm 1980 đă dẫn đến quyết định của Nghị viện về thành lập Hội đồng người Sami cho những người Sami sinh sống ở Thụy Điển vào tháng 12/ 1992. Người Sami c̣n có các cơ quan liên vùng rất phát triển. Hội đồng người Sami được thành lập nhằm mục đích nâng cao tầm ảnh hưởng của người Sami và tăng cường tính tự quyết đối với các vấn đề liên quan đến phát triển các kĩ năng nghề nghiệp, văn hoá và ngôn ngữ. Tiêu chí hoạt động của Hội đồng được quyết định bởi Nghị viện Thụy Điển và được quy định trong luật.
2.3 Hợp tác giữa các bộ ngành và các cấp chính quyền
Trong vài năm qua, chính quyền đă tăng cường hoạt động phối hợp theo chiều ngang đối với các vấn đề chính sách dài hạn. Điều này đă dẫn đến những thay đổi, ví dụ như giữa lĩnh vực văn hoá và giáo dục đă dẫn đến việc thành lập Bộ mới là Bộ Giáo dục, nghiên cứu và văn hoá. Hợp tác cũng diễn ra giữa Hội đồng các Vấn đề Văn hoá và các cơ quan ngành khác.
· Văn hoá và học tập: Việc sáp nhập thành Bộ Giáo dục, nghiên cứu và văn hoá được ḱ vọng sẽ thúc đẩy vị thế của nghệ thuật trong hệ thống giáo dục. Các thư viện trường học và nhu cầu của các thư viện này đă được giải quyết trong ngân sách năm 2003, theo đó ngân sẽ được phân bổ thêm. Các trung tâm giáo dục cho người lớn được liên kết với các thư viện công để hỗ trợ người dân t́m được các sách tài liệu, trang web và những nguồn thông tin khác.
· Môi trường: Bộ giáo dục, nghiên cứu và văn hoá, Bộ Môi trường, Bộ Công nghiệp, lao động và truyền thông đă đệ tŕnh một chính sách quốc gia về kiến trúc, kiểu dáng và thiết kế. Trong năm 2004, một Uỷ ban kiến trúc, kiểu dáng, và thiết kế đă được thành lập, và uỷ ban này đă bắt đầu các công việc chuẩn bị cho năm 2005 (được lựa chọn là năm thiết kế). Svensk Form, đă thành lập một diễn đàn về thiết kế vào năm 2001, là cơ quan điều phối tổ chức thực hiện năm thiết kế.
· Văn hoá cho việc phát triển vùng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển, đời sống công cộng, các nghệ sĩ, và ngành kinh doanh văn hoá là các vấn đề đang được Hội đồng văn hoá Quốc gia và Bộ Công nghiệp, lao động và truyền thông hợp tác nghiên cứu. Văn hoá và du lịch, các ngành kinh doanh văn hoá của vùng và các lễ hội văn hoá được thúc đẩy phát triển với sự tham gia của các nghệ sĩ, doanh nghiệp của các vùng. ảnh hưởng của các Quỹ Cơ cấu châu Âu trong lĩnh vực văn hoá đang được đánh giá.
· Điều kiện xă hội cho các nghệ sĩ, ví dụ như thuế, bản quyền, hưu trí và các quy định về lao động, tiếp tục được đưa vào chương tŕnh hoạt động của Bộ Giáo dục, nghiên cứu và Văn hoá, Bộ Tài chính, Bộ Các vấn đề xă hội, Bộ Tư pháp, và Bộ Công nghiệp, lao động và truyền thông, và cũng nằm trong chương tŕnh đối thoại giữa các hiệp hội nghệ sĩ và các tổ chức văn hoá.
· Văn hoá và y tế. Những mục tiêu mới nhằm thúc đẩy y tế công cộng và sức khoẻ người dân (về thể chất, tinh thần) đă được Nghị viện quyết định vào năm 2003, và đang được Bộ Các vấn đề xă hội và Viện Y tế công cộng thực hiện. Các cộng đồng ở vùng và địa phương cũng đang thực hiện các kế hoạch nhằm phát triển y tế. Báo cáo đánh giá toàn diện sẽ được Viện Y tế công cộng tŕnh lên Chính phủ trong tháng Mười năm 2005, và trong đó sẽ đề cập đến các yếu tố y tế và xă hội, bao gồm cả điều kiện văn hoá, sự tiếp cận đến văn hoá. Một “ban cải cách” đă được Bộ Các vấn đề xă hội với 18 cơ quan quốc gia, và bao gồm cả đại diện của Hội đồng văn hoá Quốc gia, và Bộ Giáo dục, nghiên cứu và văn hoá.
· Quan hệ quốc tế. Một nghiên cứu chung do Bộ Văn hoá (trước đây) và Bộ Ngoại giao cùng phối hợp thực hiện, trong đó xem xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực văn hoá năm 2002/2003. Những đường lối mới và việc phân chia trách nhiệm, vấn đề ngân sách sẽ được tŕnh lên Nghị viện vào quí I năm 2005 (xem thêm phần 2.4).
· Từ Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về xoá bỏ t́nh trạng cực nghèo, Chính phủ đă kêu gọi các cơ quan chính quyền tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch hành động đối phó với các vấn đề tiêu dùng, ô nhiễm, truyền thông, và di cư và vấn đề toàn cầu hoá. Tương tự, một chính sách tổng thể bao bao gồm rất nhiều các vấn đề đă được Chính phủ ban hành, trong đó có đề ra các mục tiêu và biện pháp cần thiết bảo đảm cho xă hội phát triển bền vững.
2.4 Hợp tác quốc tế về văn hoá
Thụy Điển đă vận động tích cực cho quyết định của Liên hợp quốc về thành lập Uỷ ban thế giới về văn hoá và phát triển, cũng như các chương tŕnh của Uỷ ban này liên quan đến thập kỉ Văn hoá và phát triển (1987-1997). Năm 1998, Thụy Điển tổ chức hội nghị UNESCO liên chính phủ với chủ đề Sức mạnh của văn hoá. Tại hội nghị này, các báo cáo về “tính đa dạng sáng tạo” của UNESCO và báo cáo “những ưu điểm trong vấn đề hợp tác quốc tế về văn hoá” của Hội đồng châu Âu đă được đem ra thảo luận. Kế hoạch hành động cho các chính sách văn hoá và phát triển đă được đề xuất cho các chính phủ, thường được viện dẫn đến trong các cuộc thảo luận về chính sách quốc gia, trong các vấn đề có liên quan đến đời sống, văn hoá và môi trường ở địa phương. Để đánh giá việc thực thi và ảnh hưởng của Kế hoạch hành động này, Uỷ ban UNESCO Thụy Điển đă mời các đối tác UNESCO và các nhà nghiên cứu chính sách văn hoá trên toàn thế giới tham gia vào hội thảo “Stockhom + 5” được tổ chức vào năm 2003.

Tư cách thành viên trong EU cũng mang lại nhiều khả năng và triển vọng về hợp tác văn hoá quốc tế cũng như để thực hiện các dự án văn hoá tại các vùng có ít dân cư sinh sống của Thụy Điển thông qua các quỹ cơ cấu EU. Hội đồng Văn hoá Quốc gia và Uỷ ban Di sản Quốc gia đóng vai tṛ là các cơ quan liên lạc của các chương tŕnh văn hoá trong khuôn khổ EU, và từ năm 1998 đă trở thành cơ quan đại diện chính thức về văn hoá của EU tại Thụy Điển, cùng với Cơ quan lưu trữ Quốc gia và Viện điện ảnh Thụy Điển.
Các tổ chức văn hoá Thụy Điển tích cực hợp tác và trao đổi với các tổ chức văn hoá của các nước khác và đă cũng tham gia vào các tổ chức và mạng lưới quốc tế về văn hoá. Hội đồng Quốc gia các vấn đề văn hoá có hỗ trợ tài chính cho các chương tŕnh giao lưu văn hoá quốc tế, ví dụ như các chương tŕnh biểu diễn, các cuộc toạ đàm, thực hiện hỗ trợ đối với các uỷ ban quốc gia các tổ chức phi chính phủ về văn hoá. Chương tŕnh Studio dành cho các nghệ sĩ quốc tế ở Thụy Điển (IASPIS) thực hiện các hỗ trợ đối với nghệ sĩ nước ngoài đang sinh sống tại Thụy Điển cũng như hỗ trợ cho nghệ sĩ ở Thụy Điển tham gia triển lăm ở nước ngoài. Chương tŕnh này có liên kết với Viện Hàn lâm nghệ thuật Thụy Điển ở Stockhom và ở các thành phố khác của Thụy Điển như Gotenborg, Malmo và Umea. Bên cạnh Quỹ Văn hoá của Các Bộ trưởng vùng Bắc Âu đặt trụ ở tại Copenhagen c̣n có các quỹ song phương giúp cho các nước Bắc Âu thực hiện các dự án chung. Một số biện pháp của Chính phủ đang được thực hiện nhằm thúc đẩy các tổ chức văn hoá và những người hoạt động văn hoá ở Thụy Điển mở rộng phạm vi của ḿnh lên tầm quốc tế. Từ năm 2002, Hội đồng Quốc gia các Vấn đề Văn hoá đă thực hiện hỗ trợ cho một mạng lưới các cơ quan tư vấn văn hoá vùng để thúc đẩy phát triển đa dạng văn hoá.
Thụy Điển là một thành viên tích cực trong Ban Tổ chức Ars Baltica. Đây là tổ chức được thành lập năm 1988 để thúc đẩy trao đổi văn hoá và hợp tác giữa các nước thuộc vùng Biển Baltic. Nhiệm ḱ Chủ tịch Uỷ ban là 2 năm.
Sida (Cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển) là cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao và có trách nhiệm đối với hầu hết các hoạt động của Thụy Điển về hợp tác phát triển quốc tế. Mục tiêu của Sida là thúc đẩy nâng cao mức sống của người nghèo và trong dài hạn, là xoá nghèo. Sida có vai tṛ rất quan trọng trong việc phát triển các dự án hỗ trợ và trao đổi về văn hoá là những dự án có mối liên quan chặt chẽ đến việc hỗ trợ nói chung cho các nước thuộc thế giới thứ ba và các nước Đông Âu. Trong nhiều năm qua, Sida đă hỗ trợ cho nhiều dự án trao đổi văn hoá lớn, xây dựng quan hệ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ như Chương tŕnh bảo tàng Thụy Điển-châu Phi (SAMP). Từ năm 2004, các nguồn lực được dành cho một chương tŕnh trao đổi và hỗ trợ dài hạn hơn với Nam Phi, sẽ được chuyển từ Sida cho Hội đồng Văn hoá Quốc gia. Nguồn tài chính này được tăng lên do đóng góp của phía Nam Phi, và sẽ được đầu tư để tiếp tục sự hợp tác với Bộ Văn hoá Nam Phi. Các lĩnh vực được ưu tiên là phát triển các tổ chức về sáng tạo và văn hoá ở cả hai quốc gia thông qua quan hệ đối tác song phương giữa các tổ chức, các nghệ sĩ v.v..
Với sự bảo trợ của Chính phủ Thụy Điển, một nghiên cứu đă được tiến hành nhằm đánh giá các hoạt động văn hoá quốc tế, quan hệ văn hoá quốc tế của Thụy Điển. Nghiên cứu này đă đưa ra cái nh́n tổng quan về các cơ quan, tổ chức, tổ chức phi chính phủ và bao gồm cả các lĩnh vực liên quan như ngoại giao, thương mại và chương tŕnh phát triển thế giới thứ ba. Nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề cung cấp tài chính, trách nhiệm và nhu cầu hợp tác. Báo cáo được công bố vào mùa thu năm 2003 và sẽ tŕnh lên Nghị viện một dự luật vào mùa xuân 2005.
3. Các mục tiêu và nguyên tắc của chính sách văn hoá
3.1 Các mục tiêu chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay
Nguyên tắc cơ bản của chính sách và hoạt động văn hoá Thụy Điển được Nghị viện ban hành năm 1974.
Những cuộc thảo luận về chính sách văn hoá mới bắt đầu từ cuối những năm 1980 trong bối cảnh chương tŕnh của Hội đồng châu Âu về “Đánh giá chính sách Văn hoá Quốc gia.” Sau khi nghiên cứu ‘mô h́nh của Thụy Điển’, các chuyên gia nước ngoài đă ủng hộ việc ban hành một lộ tŕnh mới, trong đó đưa ra các ưu tiên rơ ràng hơn và các mối quan hệ với cơ quan vùng/ địa phương. Ngoài ra c̣n có khuyến nghị thành lập một mối quan hệ đối tác cân bằng hơn và rộng răi hơn với nghệ thuật, bao gồm sự trải nghiệm nhiều hơn về mặt quốc tế, và “sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực liên quan đến mục đích đă được thoả thuận”. Các khuyến nghị này đă được đưa ra sau một “cuộc đối thoại trên tinh thần xây dựng” với các tổ chức văn hoá nhằm làm cho các dịch vụ văn hoá “trở nên có ư nghĩa hơn đối với các nhu cầu của cá nhân người tiêu dùng”. Trong hai mươi năm qua, yếu tố này đă trở thành những phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá.
Mùa thu năm 1996, Chính phủ tŕnh một dự luật mới lên nghị viện, dựa trên đề xuất của một uỷ ban nghị viện. Nghị viện đă xem xét các nguyên tắc chính sách trước đây, để sửa đổi hệ thống hỗ trợ các hoạt động của vùng (các nhà hát, tổ chức về múa và âm nhạc, bảo tàng, thư viện, các trung tâm phim và video, cơ quan tư vấn nghệ thuật vùng); và ban hành luật mới về thư viện công. Trong luật mới cũng quy định một h́nh thức hỗ trợ mới đối với việc các thư viện trường học và thư viện công mua sách cho trẻ em và thanh niên.
Nghị viện đă thông qua các mục tiêu quốc gia về chính sách văn hoá năm 1996 như sau:
Các mục tiêu này bao trùm lên mọi ưu tiên trong công tác và các hoạt động của tổ chức văn hoá nhận hỗ trợ của nhà nước. Đối với cấp vùng và thành phố, các mục tiêu này áp dụng cho các khoản trợ cấp của nhà nước và được kết hợp với các mục tiêu của các cấp này về văn hoá, và khi phù hợp c̣n áp dụng đối với giáo dục, phúc lợi và y tế.
Khi thực hiện chính sách văn hoá của ḿnh, Chính phủ đă dựa trên sự tương tác giữa các cấp chính quyền và các cơ quan tổ chức khác. Ngân sách quốc gia thường được dành cho các tổ chức vùng. Sau 30 năm kể từ khi các nguyên tắc cơ bản đầu tiên được ban hành, các khoản ngân sách đă giúp thành lập, thông qua các nỗ lực hỗn hợp, một hệ thống trên toàn quốc các tổ chức văn hoá, và các tổ chức này được cấp vùng và địa phương cùng chịu trách nhiêm quản lí. ở các vùng miền Nam và miền Tây của Thụy Điển, các tổ chức mới được thành lập, các tổ chức được mở rộng, điều này sẽ có tác động đến việc cung cấp tài chính cho lĩnh vực văn hoá. Và sự thay đổi đó cũng có nghĩa là sẽ có những h́nh thức đối thoại mới và các kế hoạch dài hạn giữa các đối tác trung ương và địa phương. Trong năm 2005, Hội đồng Văn hoá Quốc gia đă tiến hành 5 hội thảo về mối quan hệ giữa nhà nước và vùng liên quan đến những thay đổi và sự phát triển trong chính sách văn hoá.
3.2 Định nghĩa văn hoá

Trong Dự luật năm 1974 của Chính phủ về văn hoá, chính sách văn hoá được xác định là biện pháp thực hiện trong phạm vi các lĩnh vực “ngôn ngữ, sân khấu, h́nh ảnh, âm thanh và truyền thông, bảo tồn và sử dụng các di sản văn hoá. Hơn nữa, nó c̣n bao gồm một số biện pháp trong lĩnh vực giáo dục cho người lớn và các tổ chức” (Dự luật của Chính phủ 1974:28, trang 287). Định nghĩa này vẫn c̣n có hiệu lực cho thế kỉ 21.
Văn hoá, truyền thông và hoạt động giải trí là một lĩnh vực sâu rộng. Các khách tham quan bảo tàng và những thành viên tích cực của các hiệp hội cũng như những người sử dụng các dịch vụ truyền thông và những người trẻ tuổi đang muốn t́m kiếm chỗ đứng cho riêng ḿnh cũng chịu ảnh hưởng của những chính sách mà Chính phủ theo đuổi trong các lĩnh vực này.
3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá
Các mục tiêu chính sách văn hoá của Thụy Điển đă được Nghị viện thông qua năm 1996. Chúng được liệt kê trong phần 3.1.
Các mục tiêu này dựa trên yêu cầu, tranh luận và đối thoại được đề xuất bởi các giới nghề nghiệp như quản lí bảo tàng, nhà thiết kế và bởi các tổ chức phi chính phủ và những tổ chức khác có liên quan.
Tiền ngày càng được dành nhiều hơn cho những nhà tổ chức các sự kiện âm nhạc và nghệ thuật thị giác, và sự hỗ trợ ngày càng tốt hơn đối với các nhóm biểu diễn lưu động về kịch, múa và âm nhạc.
Luật thư viện công được ban hành năm 1997 và sửa đổi năm 2002 để nhấn mạnh đến trách nhiệm của mỗi cộng đồng nhằm bảo đảm các dịch vụ công miễn phí và sự tiếp cận đến các thư viện vốn đă không thống nhất trong các cộng đồng.
Chính phủ cũng tập trung vào các mục tiêu lớn khác như:
· Vai tṛ của văn hoá như là một yếu tố của sự phát triển. Mỗi vùng đều đạt được một thoả thuận với Chính phủ về sự phát triển của vùng, trong đó văn hoá được xem là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển xă hội. Chính phủ nhấn mạnh rằng các hoạt động văn hoá có ảnh hưởng ngắn hạn dưới h́nh thức tăng việc làm, và ảnh hưởng dài hạn về nâng cao sự thu hút, sự sáng tạo và phát triển của bản sắc mỗi vùng: tương ứng với các mục tiêu đă được đặt ra bởi quỹ cơ cấu châu Âu.
· Vai tṛ quan trọng nhất của văn hoá là làm giàu và nâng cao chất lượng sống của người dân và thúc đẩy các giá trị chung, như ḷng khoan dung và dân chủ. Không nên xem văn hoá thuần tuư là một công cụ để phát triển kinh tế. Do đó, nhu cầu thúc đẩy sự tiếp cận tốt hơn về văn hoá và sáng tạo cho trẻ em và thanh niên, và những người có điều kiện khó khăn, ví dụ như những người khuyết tật, người già, người có thu nhập thấp được đặc biệt quan tâm.
· Công nghệ thông tin đang có tác dụng phát triển các dự án văn hoá và giáo dục. Mạng lưới văn hoá Thụy Điển cung cấp 7 000 kết nối đến trang web, cung cấp toàn cảnh đời sống văn hoá, các tổ chức và sự kiện văn hoá ở Thụy Điển. Cửa sổ Văn hoá là kết quả hợp tác giữa nghệ thuật và trường học. SUNET liên kết các thư viện và bảo tàng đến các trường đại học.
Ở cấp thành phố có một xu hướng mới là chuyển các chức năng của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá sang cho các doanh nghiệp tư nhân trên quy mô lớn. Điều này đă gây ra một cuộc tranh căi sâu sắc trên trường chính trị cũng như trong truyền thông, cho rằng xă hội phải bảo đảm cơ sở cho văn hoá và hỗ trợ đối với các đối tượng như các nhóm kịch âm nhạc, các công ty xuất bản, v.v..
Trong ngân sách năm 2005, lĩnh vực sách và văn hoá đọc cho trẻ em và thanh niên vẫn tiếp tục được hỗ trợ thông qua việc cung cấp tài chính cho việc mua sắm và cho các dự án ở các thư viện công và thư viện trường học. Để tưởng niệm nhà văn nổi tiếng thế giới Astrid Lindgren và cả cuộc đời của bà đă cống hiến cho trẻ em và thanh thiếu niên, gia đ́nh Lindgren cùng với Chính phủ Thụy Điển đă thành lập một giải thưởng quốc tế và sẽ được trao hàng năm. Giải thưởng tưởng nhớ Astrid Lindgren (ALMA) trị giá 5 triệu SEK, được trao lần đầu tiên vào năm 2003 cho các nhà văn và những người hoạt động để thúc đẩy việc đọc sách ở trẻ em và thanh niên.
Các chương tŕnh hỗ trợ mới sẽ được ban hành nhằm thúc đẩy hơn nữa các chương tŕnh biểu diễn lưu động về kịch và âm nhạc trên toàn Thụy Điển.
Các bảo tàng quốc gia sẽ thực hiện cho vào cửa miễn phí từ năm 2005 đối với việc tham quan các gian trưng bày thường xuyên. Sau chương tŕnh thí điểm thành công với ba bảo tàng vào năm 2004, Chính phủ đă phân bổ một nguồn tài chính bổ sung để hỗ cho chương tŕnh vào cửa miễn phí tại một số bảo tàng quốc gia khác từ năm 2005 trở đi. Các bảo tàng này gồm, Bảo tàng văn hoá thế giới, một bảo tàng quốc gia đă khai trương toà nhà mới ở Gothenburg vào 1/ 2005. Hiệu quả mà sáng kiến này sẽ tạo ra về mức độ khách tham quan và sự quan tâm đến các bảo tàng sẽ được đánh giá sau này.
Bộ Giáo dục, nghiên cứu, Văn hoá và Bộ Tài chính đang đánh giá hệ quả của Luật thuế giá trị gia tăng đối với việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ văn hoá, bao gồm thói quen đọc và mua sách.
Một chính sách mới nhằm hỗ trợ các quan hệ văn hoá quốc tế và trao đổi văn hoá quốc tế sẽ do nghị viện quyết định trong mùa xuân 2005 (xem thêm phần 2.4).
4. Các vấn đề hiện nay trong xây dựng chính sách văn hoá và các tranh luận
4.1 Các vấn đề chính sách văn hoá và những ưu tiên
Trong những năm gần đây, Chính phủ đă dành ưu tiên cho nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm:
· · Văn học và văn hoá đọc (đặc biệt nhấn mạnh đến trẻ em và thanh niên);
· Việc tiếp cận đến văn hoá cho người khuyết tật;
· Sự hiện diện và biểu hiện của đa dạng văn hoá và đối thoại giữa các nền văn hoá;
· Vào cửa miễn phí tại các gian trưng bày thường xuyên của các bảo tàng quốc gia;
· Giáo dục về bảo tàng;
· Kiến trúc và thiết kế;
· Di sản;
· Nâng cao điều kiện làm việc cho các nghệ sĩ.
4.2 Các vấn đề chính sách gần đây và những tranh luận
4.2.1 Quy định đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Mục tiêu chính sách văn hoá của các nhóm dân tộc thiểu số đang sinh sống ở Thụy Điển được phản ánh trong các mục tiêu của Chính phủ nói chung, bao gồm các mục tiêu được quy định trong chính sách nhập cư. Có rất ít các chương tŕnh hỗ trợ tài chính được phát triển dành riêng cho các nhóm thiểu số. Các chương tŕnh chủ yếu hỗ trợ cho các dự án trong lĩnh vực ngôn ngữ, văn học, và các tạp chí định ḱ có nội dung văn hoá. Đa số các biện pháp được thực hiện ở cấp địa phương, như là một trách nhiệm của các thành phố, và thực hiện hỗ trợ cho các hiệp hội, các nhà hát, lĩnh vực âm nhạc và các lễ hội.
Các cộng đồng thiểu số được chính thức thừa nhận ở Thụy Điện bao gồm người Sami bản địa, người gốc Phần Lan, người Tornedal, người Roma và người Do Thái. Các ngôn ngữ được thừa nhận chính thức gồm tiếng Sami, tiếng Phần Lan, tiếng Meankieli, tiếng Rumani và tiếng Do Thái. Trong số đó, tiếng Sami, Phần Lan và Meankieli, về mặt lịch sử và địa lí đều thuộc khu vực Bắc Âu, nghĩa là các biện pháp cụ thể hơn được áp dụng để hỗ trợ cho những ngôn ngữ này và các hoạt động có liên quan. Mặt khác, những ngôn ngữ như Yiddish và Romani thuộc một hệ thống hỗ trợ khác rộng hơn.
Cộng đồng bản địa, người Sami, có khoảng 15-20000 người ở Thụy Điển. Ngoài ra người Sami c̣n có ở Phần Lan và Na Uy. Người Sami có quy chế đặc biệt so với các dân tộc khác. Hội đồng Sami nhận được hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động văn hoá, nghiên cứu và các dự án phát triển xă hội. Hợp tác trong vùng Bắc Âu giữa những dân tộc Sami, và giữa các Chính phủ liên quan về các vấn đề của người Sami cũng có tầm quan trọng rất lớn.
Tháng 1 năm 2000, Chính phủ Thụy Điển đă quyết định phê chuẩn Công ước khung của hội đồng châu Âu về bảo vệ các dân tộc thiểu số và Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ của các vùng và dân tộc thiểu số. Từ việc phê chuẩn hai điều ước này, một số biện pháp đă được đưa ra và nhằm vào nâng cao địa vị của các dân tộc thiểu số ở Thụy Điển, và thực hiện hỗ trợ cần thiết để ngôn ngữ của các dân tộc này có thể tồn tại (xem thêm 5.3.2).
4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá
Xu hướng chung là một trong những điểm khởi đầu trong các nỗ lực của Thụy Điển nhằm hướng đến b́nh đẳng giới. Ư tưởng này bao hàm sự minh bạch của trong các tổ chức và các quy định. Vấn đề giới trong chính sách văn hoá Thụy Điển được xem xét từ ba khía cạnh khác nhau: nghề nghiệp nghệ thuật và chính sách đối với nghệ sĩ; công dân với tư cách là người thưởng thức văn hoá nghệ thuật, công dân với tư cách là người tham gia thông qua hoạt động sáng tạo của riêng họ.
Các số liệu thống kê cho thấy rằng có nhiều phụ nữ làm việc trong lĩnh vực văn hoá nhưng nam giới vẫn chiếm ưu thế ở những chức vụ cao, các nhà hát đặc biệt tụt hậu về vấn đề này. Tuy nhiên, đang diễn ra sự thay đổi dần dần mà rơ ràng nhất là trong lĩnh vực chính trị và trong lĩnh vực bảo tàng và thư viện. Ví dụ, từ năm 2000, số lượng giám đốc là phụ nữ trong các ngành văn hoá đă tăng lên ở cấp quốc gia và vùng/ thành phố.
Cho đến nay, Thụy Điển chưa có một cuộc điều tra toàn diện nào về sự hiện diện của phụ nữ trong các tổ chức, cơ quan và uỷ ban. Uỷ ban hỗ trợ nghệ thuật đă có đóng góp vào cuộc tranh luận này bằng việc phân tích việc trao giải thưởng của Uỷ ban xét từ khía cạnh giới tính. Một dự án đặc biệt do Bộ Văn hoá (trước đây) thành lập tính đến khả năng để các bảo tàng đưa vào các vấn đề giới trong các bộ sưu tập, việc sao lập các dữ liệu và về nội dung và thiết kế việc trưng bày. Hiệp hội các chính quyền địa phương của Thụy Điển đă đặt vấn đề b́nh đẳng giới ở vị trí quan trọng trong chương tŕnh hoạt động của ḿnh.
4.2.3 Ngôn ngữ và chính sách
Có khoảng
10 triệu người sử dụng tiếng Thụy Điển: bao gồm, người dân Thụy Điển, cộng đồng
người Thụy Điển sống tại Phần Lan và các hậu duệ của người Thụy Điển nhập cư vào
Bắc Mĩ. Ngoài ra c̣n vài triệu người khác hiểu tiếng Thụy Điển, chủ yếu là ở
Nauy và Đan Mạch do sự tương đồng về ngôn ngữ và nhận thức. Năm 1999, 5 ngôn ngữ
của người thiểu số được thừa nhận tại Thụy Điển bao gồm tiếng Sami, tiếng Phần
Lan, tiếng Meankieli, tiếng Romani và tiếng Do Thái.
Mặc dù tiếng Thụy Điển là ngôn ngữ chính tại nước Thụy Điển, nó c̣n là thứ ngôn ngữ thiểu số xét trong phạm vi châu Âu và trên toàn cầu. Do đó, nó nhận được sự quan tâm lớn của các thư viện và các tổ chức nghiên cứu, và phát triển thông qua các giải thưởng văn học, hệ thống truyền thông và giáo dục. Trong vài năm gần đây Chính phủ chú trọng rất nhiều vào việc đọc và nói tiếng Thụy Điển của trẻ em bằng cách hỗ trợ việc mua sắm sách của các thư viện và phát động các chương tŕnh đọc sách.
Các vấn đề liên quan đến kĩ năng ngôn ngữ và đào tạo phải được xem xét trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự phát triển của truyền thông. Hơn nữa, do hiện tượng nhập cư gần đây, hiện nay ở Thụy Điển người ta sử dụng đến hơn 150 thứ tiếng – đây là một khó khăn về mặt văn hoá và giáo dục cho các trường học, chính quyền và giới truyền thông.
4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung
Mục tiêu tổng thể của các biện pháp mà Chính phủ Thụy Điển thực hiện trong lĩnh vực văn hoá và truyền thông là bảo đảm quyền tự do thể hiện, khả năng tiếp cận và sự đa dạng về nội dung.
Truyền h́nh và phát thanh ngày nay là nguồn quan trọng nhất trong việc cung cấp các thông tin về văn hoá. Các công ty dịch vụ phát thanh và truyền h́nh của nhà nước có một vị trí đặc biệt và nhiệm vụ của chúng bao gồm trách nhiệm trực tiếp về văn hoá, ví dụ như phát các chương tŕnh đề cập đến chủ đề văn hoá, các sự kiện văn hoá, các cuộc thảo luận về văn hoá, bao gồm cả vấn đề tôn giáo. Số lượng ngày càng tăng các kênh thương mại ở Thụy Điển và khả năng thu các kênh truyền h́nh từ mọi nơi trên thế giới thông qua hệ thống vệ tinh và truyền h́nh có thu phí, đă tạo ra nhiều thái độ, h́nh ảnh và biểu tượng. Điều đó đă gây ra rất nhiều khó khăn đối với việc quản lí các dịch vụ của nhà nước.
Viện phim Thụy Điển là cơ quan Trung ương chịu trách nhiệm trong lĩnh vực điện ảnh. Cơ quan này gần đây đă sáp nhập thêm các trung tâm phim của vùng. Những trung tâm này có chức năng đào tạo các thế hệ mới những diễn viên, nhà viết kịch, nhà sản xuất phim. Những bộ phim (do các trung tâm này sản xuất) ngày càng được công chúng đánh giá cao và nhận được nhiều giải thưởng tại các liên hoan phim trong nước cũng như quốc tế. Với cơ chế thoáng, việc sản xuất thể loại phim ngắn đang trên đà hồi phục. Các liên hoan phim ngắn quan trọng được tổ chức ở Stockholm và Goteborg hàng năm. Những liên hoan phim có quy mô nhỏ hơn với chủ đề về các quốc gia nhất định hoặc các vùng văn hoá nhất định cũng thường xuyên được tổ chức.
Bên cạnh truyền thông truyền thống, các h́nh thức mới của truyền thông và thông tin đă được phát triển (xem phần 4.2.7). Xă hội công nghệ thông tin mới (IST), và đặc biệt là internet, tạo thêm nhiều khả năng cho việc nâng cao sự tiếp cận của công chúng đối với hoạt động của các nghệ sĩ và tổ chức văn hoá. Một số lượng lớn các dự án đang được thực hiện, ví dụ như lưu số hoá các cơ quan lưu trữ và bảo tàng, thành lập mạng văn hoá Thụy Điển với hơn 7000 kết nối tới các trang web có nội dung văn hoá, và hỗ trợ cho các dự án nghệ thuật trên nền tảng IST của các tổ chức, hiệp hội. Thị trường các chương tŕnh ứng dụng của máy tính và tṛ chơi điện tử đang phát triển nhanh chóng và rất thành công, tuy nhiên nó cũng gây ra các vấn đề cho cá nhân cũng như xă hội. Việc tải nhạc bí mật được xem là bất hợp pháp. Các biện pháp pháp lí đă được ban hành để quy định về tội phạm và ngăn cấm việc truyền bá các h́nh ảnh mô tả về việc lạm dụng trẻ em.
4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hoá: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác
Cũng giống như ở các nước Bắc Âu, chính quyền Thụy Điển không có một chính sách đặc biệt nào đối với các ngành kinh doanh văn hoá. Tuy nhiên, các chương tŕnh đă được ban hành để hỗ trợ chất lượng sản xuất trong lĩnh vực xuất bản sách và các tạp chí định ḱ về nghệ thuật, âm nhạc và phim. hệ thống hỗ trợ này đóng một vai tṛ quan trọng trong chính sách văn hoá Thụy Điển. Ví dụ:
· Hỗ trợ của Chính phủ (2004) cho văn học, bao gồm xuất bản sách, trợ cấp cho các thư viện mua sách và thúc đẩy văn hoá đọc, lên đến 99.5 triệu SEK (khoảng 9 triệu euro);
· Cũng trong năm 2004 sản xuất và xuất bản các ấn phẩm định ḱ về nghệ thuật nhận được 20.5 triệu SEK (1.8 triệu euro) từ Chính phủ. Số tiền này đă bao gồm cả hỗ trợ cho các ấn phẩm phát hành bằng ngôn ngữ của người thiểu số và nhập cư, cho các hội thảo và thông tin;
· Hỗ trợ cho xuất bản sách và các ấn phẩm định ḱ sau khi đă có trợ cấp; để ngăn ngừa sự kiểm duyệt và để trao giải cho những tác phẩm có chất lượng một khi sách hoặc ấn phẩm được đem bán trên thị trường. Các khoản tiền bổ sung cũng được chi ra để hỗ trợ các sách và ấn phẩm thông qua các thư viện, kho sách và internet;
· Việc sản xuất các bản ghi âm/ CD do các nhà sản xuất, nghệ sĩ chuyên nghiệp thực hiện ở Thụy Điển năm 2004 đă nhận được tổng số tiền hỗ trợ lên đến 12.7 triệu SEK (1.1 tiệu euro);
· Hỗ trợ của nhà nước cho sản xuất và phân phối phim năm 2004 là 235 triệu SEK (21.1 triệu euro).
Viện sáng tạo là cơ quan nhà nước thực hiện hỗ trợ tài chính cho các dự án về tư tưởng sáng tạo, là các dự án được đề xuất bởi các nghệ sĩ, học giả, các đối tác trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại.
Một mục tiêu mới của chính sách văn hoá vùng là thúc đẩy, thông qua việc kết hợp hỗ trợ tài chính của quốc gia và vùng, việc thành lập các trung tâm phát triển các ngành kinh doanh (ví dụ như trong lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh, nghề thủ công, thiết kế), tại các vùng chiến lược của Thụy Điển.
4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

Một điều tra của Chính phủ về “Việc làm cho các nghệ sĩ” thực hiện năm 1997, cho thấy có sự không nhất quán, thậm chí đôi khi c̣n xung đột giữa các mục tiêu chính sách trong lĩnh vực việc làm với những mục tiêu chính sách trong lĩnh vực văn hoá. Do đó hai lĩnh vực này cần phải có khái niệm chung về nghề nghiệp nghệ thuật, và thị trường lao động nói chung. Trong những năm gần đây có sự chuyển giao tài chính từ “ngân sách nhà nước dành cho thất nghiệp” sang lĩnh vực văn hoá để thực hiện các chương tŕnh hỗ trợ cho các nghệ sĩ. Ví dụ như dự án hỗ trợ các nhà hát được đồng tài trợ bởi Chính phủ để thực hiện đào tạo cho những nghệ sĩ làm công ăn lương, và hỗ trợ cơ sở vật chất cho các nghệ sĩ diễn tập. Năm 2002, các vũ công và nhóm múa được chú ư đến và việc nâng cải thiện t́nh trạng việc làm của họ đă được thực hiện năm 2003.
Những người quản lí trong các tổ chức văn hoá hoặc cơ quan chính quyền đă thành công trong việc đạt được một mức lương hợp lí bằng cách so sánh mức tiêu chuẩn của họ với những nhóm nhân viên được trả lương khác. Vấn đề chính là hiện tượng thiếu việc làm cho những người c̣n trẻ muốn gia nhập vào lĩnh vực văn hoá.
Mặt khác, khi chúng ta xem xét nghề nghiệp nghệ thuật, bức tranh lại có vẻ khác: tiền lương rất thấp. Trong vài năm qua, nghiệp đoàn của các nghệ sĩ đă đàm phán với Chính phủ và / hoặc với các chính quyền địa phương để cải thiện tiêu chuẩn, mức lương và phúc lợi hưu trí. Trong năm 2004, an sinh xă hội cho các nghệ sĩ được xem xét sửa đổi. Vào cuối năm 2004, theo quy định mới, các tổ chức văn hoá quốc gia về âm nhạc và kịch sẽ được bù đắp thêm các khoản trợ cấp trong những năm tiếp theo.
4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá
Ưu tiên chính của Chính phủ về xă hội thông tin là giáo dục ở mọi cấp. Việc hỗ trợ đặc biệt các trang thiết bị, hỗ trợ cho ác dự án đă được thực hiện với các trường học nói chung và cho các chương tŕnh giáo dục tại bảo tàng và những tổ chức văn hoá khác.
Công nghệ thông tin (IT) đă trở thành một công cụ hữu hiệu trong công việc hàng ngày của mọi tổ chức, cho dù đó là các trang web, việc số hoá các catalogue và việc cho thuê sách trên mạng, việc sưu tập các bộ sưu tập có trong bảo tàng, sử dụng các thiết bị số để dàn cảnh sân khấu và những buổi biểu diễn âm nhạc, bán vé, v.v.. Công nghệ thông tin c̣n trở thành phương tiện để giao tiếp, thiết lập mạng lưới và để thể hiện ư tưởng sáng tạo giữa các nghệ sĩ trong các dự án văn hoá hoặc kết hợp các h́nh thức thể hiện truyền thống và hiện đại.
Chính phủ đang cho thành lập một “chính quyền” 24 giờ, cho phép công dân truy cập thông tin và các form mẫu; Hội đồng quốc gia các vấn đề văn hoá cũng tham gia vào ư tưởng này.
Mạng lưới văn hoá Thụy Điển là một cổng giao tiếp điện tử tại đó cung cấp các thông tin văn hoá của quốc gia cũng như địa phương. Mạng lưới này, là một diễn đàn đa chiều về văn hoá Thụy Điển – ban đầu là một cơ quan của Chính phủ và sau này được chuyển về quyền quản lí của Hội đồng Quốc gia các vấn đề văn hoá từ tháng 1/ 2000 đến năm 2005. Những người sử dụng mạng lưới này có thể kết nối đến hơn 7 000 trang web của Thụy Điển chuyên về văn hoá của Thụy Điển. Các pḥng lưu trữ, thư viện, bảo tàng, và những tổ chức văn hoá khác đóng góp nhiều nhất các thông tin văn hoá, ngoài ra c̣n có các thông tin đề cập đến những người hoạt động văn hoá độc lập, các hiệp hội, công ty hoạt động về văn hoá. Từ năm 2005, mạng lưới văn hoá Thụy Điển không c̣n thuộc quản lư của Hội đồng Quốc gia các vấn đề văn hoá, nên phải t́m kiếm các đối tác mới và những nguồn tài chính mới.
Mặc dù internet đă mang lại nhiều thuận lợi cho việc thúc đẩy tiếp cận thông tin về đời sống văn hoá ở Thụy Điển, Chính phủ vẫn đang quan tâm đến các vấn đề pháp lí để hạn chế nhiều hoạt động sai trái thông qua Internet về tự do thể hiện và bản quyền, các trang web bất hợp pháp về lạm dụng trẻ em, tải nhạc và phim bất hợp pháp.
4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh
Sự tham gia và tiếp cận với văn hoá, vốn được xem là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong chính sách văn hoá Thụy Điển, có mối liên quan chặt chẽ với giáo dục nghệ thuật, là một phương thức nhằm nâng cao sự sáng tạo và để cho công chúng tiếp xúc được những cái mới. Chính sách giáo dục và văn hoá đă được đưa vào trong hệ thống các môn học dành của các chương tŕnh đào tạo cho diễn viên, nghệ sĩ ở cấp đại học.
Tất cả các tổ chức văn hoá của nhà nước hợp tác tích cực với các trường học thông qua các hội thảo, các buổi biểu diễn đặc biệt, các trang web, các dự án chung.
Các mạng lưới và cơ quan ở địa phương có vai tṛ quan trọng trong việc thực hiện đào tạo ngôn ngữ, tổ chức các hội thảo về sáng tạo, mời các đoàn kịch về biểu diễn, tổ chức các buổi thuyết tŕnh về nghệ thuật, v.v.. Thậm chí trong thời đại công nghệ thông tin, các cơ quan này có thể thu hút nhiều “sinh viên lớn tuổi” thuộc nhiều tầng lớp xă hội khác nhau. Văn hoá trong đời sống lao động là một sáng kiến hỗ trợ dài hạn do công đoàn và những người lao động phát động.
Chương tŕnh “tư vấn cho các nghệ sĩ vùng”, chủ yếu trong lĩnh vực múa và nghệ thuật thị giác, đă đạt được thành công lớn kể từ khi nó bắt đầu cách đây 10 năm. Mô h́nh này, có xuất xứ từ Phần Lan, dựa trên các thoả thuận lâu dài, được tài trợ bởi vùng và một phần từ Chính phủ thông qua hội đồng quốc gia các vấn đề văn hoá. Những cơ quan tư vấn vùng đóng vai tṛ quan trọng trong việc phát triển các lĩnh vực nghệ thuật và chịu trách nhiệm đề xuất sự hợp tác giữa các trường học, cá nhân các nghệ sĩ và các tổ chức văn hoá tham gia vào các dự án. Các “cơ quan tư vấn” c̣n có thể dựa vào một mạng lưới các cơ quan tư vấn được thiết lập trên toàn quốc, và qua những chương tŕnh trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp. Một mô h́nh tương tự cũng đang được áp dụng nhằm tạo điều kiện để các “cơ quan tư vấn” tham gia vào các hoạt động phát triển đa dạng văn hoá.
4.2.9 Di sản và chính sách văn hoá
Mùa xuân năm 2002, Chính phủ đă tiến hành những biện pháp để ngăn chặn việc buôn bán bất hợp pháp các vật phẩm văn hoá di dời được và ngày càng tăng cường hỗ trợ cho các tổ chức văn hoá trong việc hợp tác với cơ quan hải quan. Một nghiên cứu để cải thiện pháp luật và thủ tục xuất khẩu và các hoạt động thông tin ra công chúng bắt đầu thực hiện năm 2002.
Các bảo tàng có tầm quan trọng quốc gia đă được xây dựng hoặc xây dựng lại từ năm 1998 bao gồm Bảo tàng nghệ thuật hiện đại (1998), Bảo tàng hàng hải ở Karlskrona và Bảo tàng văn hoá thế giới ở Goteborg (2004). Có hơn 20 vùng đă xây mới hoặc tu sửa lại các bảo tàng chính của ḿnh và những bảo tàng quan trọng khác như Bảo tàng khắc đá Tanum và một số bảo tàng nghệ thuật ở các thành phố nhỏ. Thông tin về các bộ sưu tập hoặc các di tích đă được lưu số vào máy tính.
Việc tham quan các gian trưng bày thường xuyên tại các bảo tàng quốc gia sau đây được miễn phí: Bảo tàng nghệ thuật hiện đại, Bảo tàng kiến trúc và Bảo tàng viễn đông. Dự kiến năm 2005, Bảo tàng văn hoá thế giới và 12 bảo tàng khác sẽ thực hiện sáng kiến này. Ngân sách cho các bảo tàng này sẽ được bù đắp để tăng cường cho an ninh và những chi phí khác liên quan do số lượng khách tham quan tăng lên.
Bộ trưởng Văn hoá các nước vùng biển Baltic đă thiết lập một chương tŕnh nhằm thúc đẩy di sản và du lịch trong khu vực. Sự điều phối trong giai đoạn đầu của chương tŕnh này do Uỷ ban di sản quốc gia Thụy Điển đảm nhận.
4.2.10 Những vấn đề khác
Đa dạng văn hoá sẽ trở thành vấn đề chính trong các mục tiêu và chiến lược chính sách về văn hoá. Sự hợp tác đang diễn ra giữa các cấp bộ nhằm xác định các mục tiêu và dự án chung , ví dụ như để cải thiện các điều kiện và môi trường cho các cộng đồng thiểu số sống tại vùng ngoại ô, và các vùng có nhiều dân tộc sinh sống.
Nhà nước chia sẻ chi phí với các vùng trong việc chu cấp cho các cơ quan tư vấn nghệ sĩ, mà nhiệm vụ của họ là thúc đẩy sự quan tâm về các hoạt động nghệ thuật như là múa, nghệ thuật thị giác. Một chương tŕnh với các tư vấn vùng hoạt động trong lĩnh vực đa dạng văn hoá đă được thành lập với một khoản ngân sách cố định. Năm 2006 là năm mà sự chú tâm đặc biệt được dành cho vấn đề da dạng văn hoá và sự gắn kết xă hội.
Văn hoá và y tế là hai lĩnh vực được đưa vào chương tŕnh hoạt động của Chính phủ, và mối quan tâm đến hai lĩnh vực này ngày càng gia tăng trong những năm vừa qua. Năm 2003, Nghị viện tuyên bố y tế công cộng là một trong các mục tiêu chính của ḿnh và nhấn mạnh mối liên hệ đến các mục tiêu trong chính sách văn hoá. Nó nhấn mạnh đến sự tham gia vào đời sống văn hoá và sáng tạo, như là một yếu tố quan trọng của y tế góp phần vào t́nh trạng sức khoẻ (thể chất và tinh thần) của mỗi cá nhân. Mối quan hệ giữa văn hoá và y tế đă trở thành một vấn đề quan tâm không chỉ ở cấp địa phương và vùng, mà c̣n ở cấp khu vực Bắc Âu.
Sự ưu tiên quan trọng được dành cho việc thúc đẩy văn hoá đọc giữa trẻ em và thanh niên. Nhà nước đă bổ sung ngân sách cho các thư viện thành phố để mua sách văn học cho trẻ em. Các thư viện đă đề ra các chiến lược nhằm hướng tới các đối tượng trẻ em thông qua các thư viện, trường học bán trú. Từ năm 1999, mỗi năm sẽ có một catalogue liệt kê những sách văn học mới xuất bản dành cho trẻ em, và cuốn sách được ưa thích nhất được lựa chọn bởi một hội đồng bao gồm những thanh thiếu niên. Một giải thưởng quốc tế đặc biệt cho văn học trẻ em. Giải thưởng này do Chính phủ và gia đ́nh của các nhà văn nổi tiếng Astrid Lindgen cùng thành lập để tưởng nhớ đến đóng góp quan trọng của bà trong việc phát triển văn hoá đọc của trẻ em. Giải thưởng được trao lần đầu tiên vào năm 2003.
Một chương tŕnh thông tin cũng đă được xây dựng nhằm thúc đẩy sự tham gia và tiếp cận của những người khuyết tật vào đời sống văn hoá. Chương tŕnh này nhằm vào các tổ chức văn hoá và những người làm việc trong tổ chức này, và quy định các trang bị cần thiết trong các tổ chức đó nhằm thúc đẩy việc đi lại của những người khuyết tật, cũng như những thiết bị liên lạc dành cho những người có nhu cầu đặc biệt (ví dụ như người khiếm thính hoặc khiếm thị).
Do những thay đổi về mặt dân số, và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng, nên phải có những cách thức mới, phương pháp mới trong các vấn đề liên quan đến hoạt động văn hoá. Các ưu tiên chính sách mới phải được xem xét và quy định trong một dự luật của Chính phủ vào năm 2005.
5. Các quy định pháp luật quan trọng trong lĩnh vực văn hoá
5.1 Quy định chung
5.1.1 Hiến pháp

Trong tiếng Thụy Điển, Grundlagen có nghĩa là hiến pháp, là đạo luật cơ bản. ở hầu hết các nước, hiến pháp được ban hành trong một văn bản duy nhất. Tuy nhiên, Thụy Điển lại có đến bốn đạo luật cơ bản: Luật Tổ chức nhà nước, Luật Kế vị, Luật Tự do báo chí, và Luật Tự do thể hiện. Các quy định chủ chốt đều nằm trong Luật Tổ chức nhà nước, và văn bản này tương ứng với Hiến pháp của các quốc gia khác. Luật Nghị viện (RA) không phải là luật cơ bản: tuy nhiên các quy tắc cơ bản lại điều chỉnh việc sửa đổi văn bản này.
Đáng chú ư là tại Điều 2, về nguyên tắc cơ bản của nhà nước (chương 1):
“Quyền lực công sẽ được thực thi b́nh đẳng đối với mọi người, trên cơ sở tôn trọng sự tự do và phẩm hạnh của cá nhân.
Sự bảo đảm về riêng tư, kinh tế và văn hoá của cá nhân phải là mục đích cơ bản của các hoạt động công. Đặc biệt, mục đích đó được đặt ra đối với các định chế công để bảo đảm các quyền về sức khỏe, việc làm, nhà ở, giáo dục, và để thúc đẩy sự chăm lo cho xă hội và an sinh xă hội.
Các định chế công phải thúc đẩy sự phát triển ổn định nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho các thế hệ hiện tại và trong tương lai.
Các định chế công phải phát huy các tư tưởng dân chủ, xem nó là đường lối chỉ đạo trong mọi lĩnh vực của xă hội, và bảo vệ cuộc sống riêng tư và gia đ́nh của mọi cá nhân. Các định chế công phải tạo các cơ hội cho mọi người tham gia vào đời sống xă hội và có được sự b́nh đẳng trong xă hội. Các định chế công phải chống lại sự phân biệt đối với các cá nhân do giới tính, màu da, dân tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo, khuyết tật, xu hướng t́nh dục, tuổi tác, hoặc các yếu tố khác có ảnh hưởng đến cá nhân.
Các cơ hội phải được dành cho các cộng đồng thiểu số (về dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ) nhằm ǵn giữ và phát triển đời sống văn hoá và xă hội của ḿnh.”
Bên cạnh các quy định về quyền tự do dân chủ và tự do thể hiện, tự do thông tin, tự do tôn giáo, tự do hội họp, c̣n có Điều 19 quy định cụ thể đối với nghệ sĩ:
“Nhà văn, nghệ sĩ và nhà nhiếp ảnh có quyền sở hữu đối với tác phẩm của ḿnh theo các quy định của pháp luật”.
Các quy định trong Luật Tự do báo chí (1766) áp dụng đối với quyền tự do báo chí và các quyền tương ứng về tự do thể hiện trong các h́nh thức radio, truyền h́nh và các h́nh thức phát sóng tương tự, cũng như trong các h́nh thức điện ảnh, ghi h́nh, ghi âm, và các h́nh ghi khác. Luật này cũng quy định quyền tiếp cận đến các tài liệu chính thức.
5.1.2 Phân chia thẩm quyền
Toà án tối cao là toà án có thẩm quyền cao nhất về mặt tư pháp nói chung, Toà hành chính tối cao là toà án có thẩm quyền cao nhất về mặt hành chính. Quyền xét xử của Toà tối cao và Toà hành chính tối cao bị hạn chế trong luật. Một người có thể trở thành thành viên của Toà tối cao hoặc Toà hành chính tối cao nếu người đó hiện tại hoặc trước đó được bổ nhiệm là viên chức hưởng lương tại toà.
Các toà khác ngoài Toà tối cao và Toà hành chính Tối cao được thành lập căn cứ vào quy định của pháp luật. Không một cơ quan công quyền nào, kể cả Nghị viện, có quyền quyết định toà án phải xét xử như thế nào trong một vụ án cụ thể, hoặc không áp dụng các quy định do luật đề ra đối với một vụ việc cụ thể.
Bộ trưởng Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao và các uỷ ban hành chính Trung ương, các uỷ ban hành chính hạt đều thuộc Chính phủ. Các cơ quan hành chính nhà nước khác đều thuộc Chính phủ, trừ khi các cơ quan đó thuộc Nghị viện theo quy định trong Luật Tổ chức nhà nước hoặc theo quy định của các luật khác.
Các chức năng hành chính có thể được giao cho chính quyền địa phương hoặc uỷ nhiệm cho các công ty trách nhiệm hữu hạn, hiệp hội, tập thể, cộng đồng tôn giáo hoặc đơn vị của các tổ chức đó, hoặc cho một cá nhân. Nếu chức năng đó liên quan đến việc thực thi quyền lực công, th́ việc uỷ nhiệm đó phải được thực hiện theo quy định của luật. Xem phần 5.2.
5.1.3 Phân bổ ngân sách nhà nước
Hội đồng Văn hoá Quốc gia là cơ quan của Chính phủ quản lí nguồn ngân sách nhà nước dành cho các tổ chức văn hoá của vùng và địa phương, mà quy chế của các tổ chức này có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, hiệp hội hoặc cơ quan nhà nước. Những tổ chức này nhận nguồn tài chính từ Trung ương và các chính quyền vùng/ hoặc địa phương ngoài nguồn thu mà họ tự kiếm được.
5.1.4 Quy định về an sinh xă hội
Ở Thụy Điển không có một khung pháp lí toàn diện nào dành cho các nghệ sĩ. Các nguyên tắc chung về an sinh xă hội và thuế được áp dụng cho các nghệ sĩ không phải bao giờ cũng phù hợp với điều kiện làm việc của họ (ví dụ như người tự doanh hoặc thất nghiệp).
Có một số hiệp hội nghệ sĩ, và những tổ chức này đại diện cho các thành viên của ḿnh trong các cuộc đàm phán trên thị trường lao động và chúng cũng có chức năng là những nhóm hoạt động để gây sức ép với Chính phủ và cơ quan công quyền.
Thông thường, những nghệ sĩ có thu nhập thấp hơn mức trung b́nh sẽ gặp khó khăn về an sinh xă hội. Những nghệ sĩ tự doanh gặp khó khăn đặc biệt về bảo hiểm y tế, lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp, bởi v́ “việc làm ăn” của họ thường ở quy mô nhỏ, và nó không thể so sánh với việc kinh doanh hay buôn bán.
Một số khoản tiền trợ cấp của Trung ương hoặc vùng dành cho các nghệ sĩ không bị đánh thuế (đó là học bổng một năm hoặc hai năm) và do đó không được đưa vào thu nhập trọn đời để tính lương hưu của họ.
Tuy nhiên, có một số dự án thí điểm đang được thực hiện bởi các trung tâm dịch vụ việc làm. Hỗ trợ được thực hiện đối với các trung tâm việc làm trong các lĩnh vực kịch, âm nhạc, nhiếp ảnh và phim, đối với các ngân hàng dữ liệu và đối với các cơ sở đào tạo cho các vũ công và diễn viên chuyên nghiệp trong khoảng thời gian thực hiện hợp đồng lao động. Việc thí điểm đang được thực hiện để đưa ra được các tiêu chuẩn việc làm chặt chẽ hơn (xem thêm phần 4.2.6).
5.1.5 Luật thuế
Vấn đề tài trợ của các doanh nghiệp đối với nghệ thuật rất ít được thảo luận, cả trong lĩnh vực truyền thông lẫn các diễn đàn chính trị. Văn hoá và kinh doanh là một diễn đàn được thành lập để tổ chức những cuộc trao đổi sâu sắc hơn, để đạt được các hợp đồng và kinh nghiệm từ các dự án chung, và để t́m các nguồn đóng góp tài chính từ giới kinh doanh. Cho đến nay không có một biện pháp khuyến khích về mặt pháp lí nào, ví dụ như giảm thuế, để thúc đẩy các nguồn tài trợ của tư nhân cho lĩnh vực văn hoá.
Năm 2001, sau những tranh luận căng thẳng, Nghị viện quyết định thuế suất VAT 25% đối với sách được giảm xuống c̣n 6%. Một uỷ ban đang phân tích những ảnh hưởng của thuế VAT đối với việc tiêu dùng sách, bao gồm cả mức mua sách và đọc sách. Báo cáo cuối cùng dự kiến sẽ được đưa ra vào năm 2005.
Hệ thống thuế chung được áp dụng đối với các nghệ sĩ. Điều này có nghĩa là mọi chi phí phải bỏ ra để có được thu nhập đều được khấu trừ, với điều kiện thu nhập được tạo ra từ các hoạt động nghề nghiệp. Khấu trừ thuế được quy định bởi các cơ quan thuế địa phương đôi khi lại có tầm quan trọng rất lớn đối với các nghệ sĩ.
Các nghệ sĩ tự doanh phải đối mặt với một số vấn đề trong hệ thống thuế: ví dụ, lương hưu cơ bản được tính dựa trên thu nhập trọn đời (thu nhập trong độ tuổi lao động), và do học bổng và các khoản tiền thưởng không bị đánh thuế nên chúng không được đưa vào thu nhập trọn đời.
Cơ chế thu nhập b́nh quân cũng được quy định trong luật thuế của Thụy Điển. Tiền nhuận bút của các nghệ sĩ và tác giả có mức thuế VAT là 6%.
5.1.6 Luật lao động
Dưới đây là danh mục các văn bản pháp luật lao động có liên quan đến lĩnh vực văn hoá:
· Luật Cấm phân biệt đối xử trong lao động do xu hướng t́nh dục (Đạo luật 1999:133);
· Luật Cấm phân biệt đối xử trong lao động đối với người tàn tật (Đạo luật 199:132);
· Luật Cấm phân biệt dối xử trong lao động dựa trên yếu tố dân tộc (Đạo luật 199:133);
· Luật Nghỉ phép đối với cha mẹ (Đạo luật 1995: 584);
· Luật Việc làm trong khối công (Đạo luật 1994: 260);
· Luật Các cơ hội b́nh đẳng (Đạo luật 1991: 433);
· Luật về giờ làm việc (Đạo luật 1982: 673);
· Luật Bảo vệ việc làm (Đạo luật 1982: 80);
· Sắc lệnh về môi trường làm việc (Đạo luật 1977: 1166);
· Luật Môi trường làm việc (Đạo luật 1988: 1160);
· Luật Nghỉ phép hàng năm (Đạo luật 1977: 480)
· Luật Việc làm (Đạo luật 1976: 580);
· Luật về Quyền của người lao động được nghỉ phép để học tập (Đạo luật 1974: 1981)
5.1.7 Quy định về bản quyền

Sự phát triển của vấn đề bản quyền trong lĩnh vực nghệ thuật đă từ lâu là một phần của các ưu tiên trong chính sách văn hoá quốc gia.
Ở Thụy Điển, các quy định cơ bản về bản quyền tương tự như quy định trong luật của các quốc gia châu Âu khác. Diễn biến quan trọng nhất về quyền tác giả có liên quan đến việc thực hiện các chỉ thị của EU trong lĩnh vực bản quyền nhằm làm hài hoà và thúc đẩy một thị trường chung. Thụy Điển đă thực thi những chỉ thị sau đây của EU:
Các biện pháp pháp lư chống lại sự vi phạm bản quyền đă được thắt chặt. Việc số hoá quá tŕnh sản xuất, việc tiếp cận và tiêu dùng các tác phẩm và buổi biểu diễn được bảo hộ liên tục tạo ra các khả năng mới và các vấn đề mới.
Kể từ năm 1998, người sở hữu quyền hợp pháp trong lĩnh vực âm nhạc đă nhận được sự bảo hộ về bản quyền dựa trên việc bồi thường bằng tiền cho những mất mát xảy ra do việc sao chép lậu các bản ghi âm, ví dụ như sao chép qua băng trắng. Các khoản thu ước tính khoảng 60 triệu SEK(1 SEK = 0.122067 $) mỗi năm, và được phân bổ cho tác giả, nghệ sĩ biểu diễn bởi những tổ chức thu phí có liên quan.
Các nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ nhận được tiền thù lao khi tác phẩm ghi âm của họ được sử dụng, và nhạc sĩ nhận được thù lao khi bản nhạc của họ được sử dụng. Đối với nhà văn, dịch giả và người vẽ minh hoạ sách, những khoản thù lao như thế đă được thực hiện từ những năm 1960.
5.1.8 Luật ngôn ngữ
Ở Thụy Điển không có luật cụ thể quy định về ngôn ngữ sử dụng trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, có các quy tắc chung về sử dụng tiếng Thụy Điển trong luật phát thanh và truyền h́nh, và tại các cơ quan hành chính công. Từ nhiều năm nay, đă có các nỗ lực nhằm ǵn giữ sự trong sáng của tiếng Thụy Điển, bao gồm việc giám sát sự phát triển của ngôn ngữ, định hướng để xác lập các tiêu chuẩn ngôn ngữ, và phát hành các giáo tŕnh và từ điển, và thúc đẩy các nghiên cứu có liên quan. Có ba tổ chức lớn chịu trách nhiệm về các hoạt động này: Hội đồng ngôn ngữ Thụy Điển, Trung tâm thuật ngữ kĩ thuật và Viện Hàn lâm Thụy Điển. Ngôn ngữ kí hiệu cũng được thừa nhận tuy nhiên vẫn c̣n rất hạn chế sử dụng, chủ yếu trong các bản tin và các cuộc tranh luận.
Do hiện tượng nhập cư vào Thụy Điển gần đây, các chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh bằng ngôn ngữ của những người nhập cư cũng nhận được hỗ trợ.
Năm 1999 Nghị viện đă ban hành luật cho phép các cá nhân sử dụng tiếng Sami, Phần Lan, và tiếng Meankieli khi làm việc với các cơ quan hành chính và toà án tại các địa phương mà những ngôn ngữ này vẫn được sử dụng. Luật cũng yêu cầu các thành phố trong khi thực hiện các hoạt động cho trẻ em ở độ tuổi trước khi đến trường và những người lớn tuổi phải chú ư đến vấn đề ngôn ngữ của người thiểu số.
5.2 Pháp luật về văn hoá
Có rất ít các văn bản điều chỉnh toàn bộ về lĩnh vực văn hoá. Chỉ có hai đạo luật cơ bản: thứ nhất là Luật về các thư viện công ở địa phương, và thứ hai là Luật về bảo tồn các di sản quốc gia. Luật thứ nhất được giám sát thực hiện bởi Hội đồng văn hoá Quốc gia và luật thứ hai được thực thi bởi Uỷ ban di sản Quốc gia thông qua các văn pḥng di sản vùng.
Bên cạnh các quy định chung do Nghị viện ban hành, có một lượng lớn các quy định do Chính phủ ban hành nhằm hướng dẫn các tổ chức ở trung ương sử dụng nguồn tài chính của Chính phủ trong các hoạt động văn hoá khác nhau.
5.3 Quy định cụ thể theo lĩnh vực
5.3.1 Di sản văn hoá
Luật Di sản Quốc gia (1988:950) điều chỉnh các vấn đề như các công tŕnh di tích cổ, các toà nhà có giá trị lịch sử, các công tŕnh về tôn giáo, việc xuất khẩu và việc khôi phục các vật phẩm văn hoá v.v.. Luật quy định rằng trách nhiệm về môi trường văn hoá thuộc về người dân Thụy Điển. Các cơ quan cũng như cá nhân phải thể hiện sự quan tâm và tôn trọng đối với môi trường văn hoá. Một số vấn đề được chú ư nhiều trong những năm gần đây bao gồm việc tiếp cận của công chúng, việc bảo vệ và sử dụng các di sản và và vận động, quảng bá để đưa các di sản của Thụy Điển vào danh mục các di sản thế giới. Các cơ quan và tổ chức sau đây có vai tṛ đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường văn hoá:
Uỷ ban Di sản Quốc gia (Riksantikvarieambetet) là cơ quan hành chính Trung ương. Ở cấp quốc gia, Uỷ ban chịu trách nhiệm chung trong việc tuyên truyền nhận thức về môi trường văn hoá và các chiến dịch thông tin và tiếp xúc với công chúng.
Uỷ ban hành chính hạt (Lanstyrelserna) có trách nhiệm về môi trường văn hoá ở cấp địa phương. Điều này có nghĩa là các uỷ ban có quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến Luật di sản Quốc gia, và chịu trách nhiệm bảo đảm rằng việc bảo vệ môi trường văn hoá được đưa vào trong quy hoạch và phát triển vùng. Các uỷ ban cũng phân bổ ngân sách nhà nước cho việc khôi phục các toà nhà có giá trị lịch sử, các di tích cổ và các thắng cảnh.
Các bảo tàng vùng, cùng với các uỷ ban hành chính hạt, chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động ở cấp vùng nhằm bảo vệ các tài nguyên di sản. Nhiệm vụ của họ bao gồm thu thập và tuyên truyền hiểu biết về di sản văn hoá trong phạm vi vùng. Các bảo tàng này cũng thường xuyên tham gia vào việc chăm sóc và khôi phục các toà nhà (có giá trị lịch sử), các di tích cổ và thắng cảnh.
Ở cấp địa phương, các thành phố chịu trách nhiệm bảo vệ và phát triển di sản văn hoá. Vai tṛ này được thể hiện, bên cạnh những lĩnh vực khác, trong việc thực hiện quy hoạch thành phố và thông qua thực hiện Luật Quy hoạch và xây dựng (1987: 10). Một số thành phố quản lí các bảo tàng thành phố và/ hoặc ǵn giữ các cổ vật của thành phố.
Các hoạt động t́nh nguyện nhằm ǵn giữ di sản văn hoá và môi trường văn hoá cũng đóng vai tṛ rất quan trọng. Hàng năm các hoạt động này đă góp phần ǵn giữ và tuyên truyền nhận thức về các di sản văn hoá. Hoạt động này bao gồm sự tham gia của các tổ chức về di sản ở địa phương, các hiệp hội, và các cá nhân.
5.3.4 Văn học và thư viện
Kể từ khi ban hành luật thư viện tháng 2 năm 1997, các thành phố đă thực hiện luật này bằng việc duy tŕ tại mỗi thành phố một thư viện công và hạn chế việc đánh bất ḱ loại phí trực tiếp nào khi các thư viện cho thành viên của ḿnh thuê tư liệu. Các quy định trên chính là điểm mới của luật, và người ta c̣n phải chờ xem liệu những quy định đó có làm thay đổi các dịch vụ thư viện ở Thụy Điển hay không – loại dịch vụ được các chuyên gia quốc tế đánh giá là được trang bị tốt nhất và tổ chức tốt nhất trên thế giới.
Tác giả của các tác phẩm văn học (nhà văn, dịch giả, người vẽ minh hoạ) được hưởng tiền bản quyền cho thuê sách thông qua Quỹ Nhà văn Thụy Điển. Quỹ này phân bổ tiền bù đắp của nhà nước cho bản quyền thuê sách tại thư viện. Một phần số tiền này được trả cho các tác giả theo tỉ lệ với số lần tác phẩm của tác giả này được mượn; phần khác được chuyển cho quỹ để cấp tiền thưởng và học bổng cho các nhà văn,v.v
5.3.5 Phim, video và nhiếp ảnh
Chính sách phim ở Thụy Điển được quy định trong thoả thuận giữa nhà nước, ngành phim và các công ty truyền h́nh; các công ty truyền h́nh bao gồm truyền h́nh Thụy Điển và kênh truyền h́nh TV4. Trong thoả thuận này có các quy định điều chỉnh về vấn đề đóng góp tài chính. Ba mục đích quan trọng nhất trong việc sử dụng tài chính là: hỗ trợ sản xuất phim Thụy Điển, hỗ trợ phân phối và tŕnh chiếu phim trên toàn quốc, và hỗ trợ các hoạt động văn hoá liên quan đến phim, ví dụ như đóng góp cho việc ǵn giữ và quảng bá các di sản phim của Thụy Điển. Thoả thuận gần đây nhất được kí vào tháng tư năm 1999 và áp dụng cho giai đoạn từ năm 2000 đến 2004.
5.3.6 Các ngành kinh doanh văn hoá
Không có khung pháp lí toàn diện điều chỉnh các ngành kinh doanh văn hoá ở Thụy Điển
5.3.7 Truyền thông đại chúng
Phát thanh và truyền h́nh không thông qua vệ tinh là đối tượng thuộc thoả thuận giữa Chính phủ và các công ty phát thanh truyền h́nh công, TV4, và một công ty độc lập. Cơ quan quản lí phát thanh truyền h́nh Thụy Điển, được thành lập năm 1994, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quy định đối với việc phát sóng qua vệ tinh và truyền h́nh có thu phí. Nó c̣n là cơ quan cấp phép và quản lí các đài phát thanh địa phương, đầu mối cung cấp tín hiệu truyền h́nh cable và qua vệ tinh, thu lệ phí của các đài phát thanh địa phương và các kênh truyền h́nh có thu phí ở Thụy Điển.
Luật Phát thanh và truyền h́nh áp dụng đối với các công ty truyền h́nh trên lănh thổ Thụy Điển. Luật này có các quy định phù hợp với Điều 4 và 5 của chỉ thị của Liên minh châu Âu về phát thanh truyền h́nh, theo đó trên một nửa thời lượng phát sóng hàng năm, hoặc ít nhất 10% phải dành cho các chương tŕnh có xuất xứ từ châu Âu, và ít nhất 10% thời lượng phát sóng hàng năm hoặc ít nhất 10% ngân sách dành cho các chương tŕnh. Phần lớn các chương tŕnh đó phải được sản xuất trong ṿng 5 năm gần đây. Các công ty truyền h́nh hàng năm phải báo cáo lên cơ quan quản lí phát thanh truyền h́nh Thụy Điển về việc chấp hành các quy định này.
5.3.9 Pháp luật đối với nghệ sĩ tự doanh
Cải thiện các điều kiện pháp lí, kinh tế và xă hội cho các nghệ sĩ là một trong các ưu tiên chính sách của Chính phủ. Năm 1996, Chính phủ đă tŕnh Dự luật chính sách văn hoá, trong đó đáng chú ư nhất là chương tŕnh bao gồm các biện pháp nhằm cải thiện các điều kiện làm việc cho các nghệ sĩ. Bốn uỷ ban đă thực hiện chương tŕnh này, với các nỗ lực nhằm làm cho các nghệ sĩ có được thù lao tốt hơn và để thúc đẩy thị trường lao động của các nghệ sĩ để làm tăng nhu cầu.
Hệ thống thuế chung cũng được áp dụng đối với các nghệ sĩ. Điều này có nghĩa là mọi chi phí bỏ ra để có được thu nhập đều được khấu trừ, với điều kiện các thu nhập đó được tạo ra từ các hoạt động nghề nghiệp. Khấu trừ thuế do các cơ quan thuế địa phương quy định đôi khi lại có tầm quan trọng rất lớn đối với các nghệ sĩ.
Các nghệ sĩ tự doanh phải đối mặt với một số khó khăn về hệ thống thuế hiện nay: ví dụ, lương hưu cơ bản được tính dựa trên thu nhập trọn đời, và do các khoản tiền thưởng và học bổng không bị đánh thuế nên chúng không được tính vào tổng thu nhập trọn đời.
Cơ chế thu nhập b́nh quân cũng được thực hiện trong luật thuế của Thụy Điển. Mức thuế VAT 6% cũng áp dụng đối với tiền bản quyền của các nghệ sĩ, và nhà văn.
6. Hỗ trợ tài chính cho văn hoá
6.1 Tổng quan
Từ những năm 1930, hỗ trợ của nhà nước cho lĩnh vực nghệ thuật đă dẫn đến có các tổ chức phát triển mạnh: nhà hát, các công ty kịch cũng như các giàn giao hưởng, trường đại học, các thư viện công, bảo tàng và pḥng trưng bày. Chúng cùng tồn tại với các nhà hát và nhóm kịch của tư nhân, pḥng hoà nhạc, và các lễ hội.
Chính quyền Trung ương thực hiện hỗ trợ trực tiếp đối với các tổ chức văn hoá quốc gia, đa số các tổ chức này có trụ sở tại Stockholm (ví dụ như Royal Opera, Royal Dramatic Theatre và rất nhiều bảo tàng). Các vùng và thành phố thực hiện hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức văn hoá và hoạt động văn hoá trong lănh thổ của ḿnh từ các nguồn thu thuế. Ngoài ra chính phủ Trung ương c̣n cung cấp các khoản tiền bổ sung cho các hoạt động văn hoá của vùng và thành phố thông qua các tổ chức như Hội đồng văn hoá Quốc gia, Uỷ ban di sản Quốc gia, Uỷ ban Quốc gia về nhà ở, Xây dựng và quy hoạch, Cơ quan lao động Thụy Điển, Uỷ ban Quốc gia về thanh niên, Quỹ di sản Quốc gia và Quỹ hội văn hoá v́ tương lai.
Năm 2001-2002, tổng chi tiêu của cả nước cho văn hoá và truyền thông khoảng 55.7 tỉ SEK:
· 70% (38.2 tỉ SEK) là chi tiêu của các hộ gia đ́nh;
· 30% (17.4 tỉ SEK) là chi tiêu của khối nhà nước.
Trong chi tiêu của khối nhà nước, chính quyền Trung ương chiếm 8.05 tỉ SEK, tương đương 14% tổng chi tiêu cho văn hoá.
Các hộ gia đ́nh chi khoảng 38.219 tỉ SEK vào năm 2001.
Từ năm 1998, tài trợ cho văn hoá giảm 20%. Năm 2002, tổng số tiền tài trợ cho văn hóa là 93 tỉ SEK, một nửa trong số đó là tài trợ cho các bảo tàng và pḥng trưng bày nghệ thuật, số c̣n lại là cho lĩnh vực kịch và múa.
6.2 Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá theo b́nh quân đầu người
Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá tính theo b́nh quân đầu người vào năm 2000 là 1797 SEK (195.77 euro), tương ứng với 1.1% GDP.
6.3 chi tiêu của nhà nước cho văn hoá thống kê theo cấp chính quyền
Bảng1: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá: theo cấp chính quyền, 2002
|
Cấp chính quyền |
Tổng chi tiêu (tỉ SEK) |
Phần trăm trên tổng số |
||
|
2000 |
2002 |
2000 |
2002 |
|
|
Chính quyền trung ương |
7.565 |
8.050 |
47 |
46 |
|
Hội đồng hạt |
1.589 |
1.743 |
10 |
10 |
|
Thành phố |
6.919 |
7.640 |
43 |
44 |
|
Tổng |
||||
Nguồn: Hỗ trợ tài chính cho văn hoá 2004, Hội đồng văn hoá Quốc gia, Thụy Điển.
Chi tiêu của chính quyền Trung ương cho văn hoá, bao gồm cả truyền thông và giáo dục phổ cập là 8.050 tỉ SEK, hay 46% của tổng chi tiêu của nhà nước cho văn hoá.
Trong cùng giai đoạn này, chính quyền của 20 vùng/ hạt đă chi 1.743 tỉ SEK, hay 10%, và 290 chính quyền địa phương/ thành phố đă chi 7.640 tỉ SEK, hay 44%. Gần 40% chi tiêu của địa phương được dành cho các thư viện công, 30% dành cho các hoạt động văn hoá, và 9% dành cho các trường nhạc/ văn hoá và 8% dành cho giáo dục phổ cập. Chi tiêu của các vùng chủ yếu dành cho các nhà hát, bảo tàng và dàn giao hưởng.
Phần lớn số tiền chi cho văn hoá và truyền thông có nguồn gốc từ tiêu dùng của tư nhân bao gồm tiền bán vé, sách, báo và các thiết bị kĩ thuật số, tổng cộng lên đến 3.820 tỉ SEK vào năm 2002.
Sau nhiều năm ngân sách hạn chế trong giai đoạn thập niên 90 của thế kỉ 20, chi tiêu của các cấp chính quyền bắt đầu tăng trở lại. Chênh lệch chi tiêu giữa các vùng có thể là rất lớn.
7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác
7.1 Phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước

Từ trước đến nay nguyên tắc độc lập chỉ áp dụng cho mối quan hệ giữa chính quyền với các tổ chức văn hoá quốc gia như Royal Opera, Nhà hát kịch và các bảo tàng trung ương. Điều này có nghĩa là Chính phủ chỉ định một uỷ ban điều hành và một giám đốc, hỗ trợ cho các tổ chức đó về mặt tài chính và đề ra các mục tiêu hoạt động cho các tổ chức này phù hợp với các mục tiêu của chính sách văn hoá quốc gia. Tuy nhiên, Chính phủ không kiểm soát nội dung hoạt động của các tổ chức, ví dụ như việc lựa chọn tiết mục biểu diễn hoặc nghệ thuật thể hiện. Quá tŕnh tư nhân hoá, ví dụ như việc rút bỏ trách nhiệm của nhà nước trong các tổ chức văn hoá, không nằm trong các chương tŕnh hoạt động chính trị vào thời điểm hiện nay. Việc tài trợ ngày càng được lựa chọn nhiều hơn nhằm tăng nguồn tài chính. Các tổ chức văn hoá vùng và thành phố có quyền độc lập nhưng vẫn phụ thuộc vào chính quyền vùng (hoặc thành phố) về mặt tài chính, ngoại trừ các tổ chức của tư nhân.
Có một nguồn tài chính đặc biệt của Quỹ hội “Văn hoá v́ tương lai”. Quỹ này được Chính phủ Thụy Điển thành lập năm 1994, và được cấp vốn là 529 triệu Crown (Cua ron). Giám đốc và ban điều hành do Chính phủ chỉ định. Mục đích của quỹ là hỗ trợ tài chính cho các dự án văn hoá dài hạn và có tính cách tân. Một trong các mục tiêu quan trọng của dự án này là thúc đẩy khả tăng trưởng kinh tế và phát triển các vùng. Với nguồn tài chính dồi dào, quỹ này đă đóng góp rất nhiều cho các dự án trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật.
7.2 Vị trí/ vai tṛ và sự phát triển của các tổ chức văn hoá quan trọng
Ngoại trừ một vài nhà hát và bộ sưu tập của tư nhân, tất cả các tổ chức văn hoá lớn đều nhận hỗ trợ tài chính của chính quyền Trung ương hoặc của chính quyền vùng/ thành phố. Phần lớn các tổ chức văn hoá quốc gia đều tập trung ở thủ đô. Nhà nước cũng hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá vùng hoặc thành phố. Nhờ việc chia sẻ trách nhiệm tài chính này, một mạng lưới các tổ chức văn hoá có quy mô toàn quốc đă phát triển từ năm 1975, khi bắt đầu thực hiện chính sách văn hoá quốc gia.
Các tổ chức văn hoá quốc gia
Hầu hết các bảo tàng trung ương đều thuộc quản lí của nhà nước. Một vài trong số đó có quy chế pháp lí là quỹ hội, do đó có thể nhận được các khoản đóng góp hoặc hiến tặng. Tuy nhiên, không có sự khác biệt thực sự nào trong mối quan hệ giữa các tổ chức này với Chính phủ. Chính phủ quy định về quy chế, chỉ định các uỷ ban và chịu trách nhiệm hỗ trợ các tổ chức này về mặt tài chính. V́ lí do lịch sử, hầu hết các tổ chức văn hoá đều đặt tại thủ đô. Tuy nhiên, Bảo tàng văn hoá thế giới mới được thành lập đặt tại Goteborg và chịu trách nhiệm điều phối các hoạt động của ba bảo tàng khác đặt tại Stockholm: Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Địa Trung Hải và Bảo tàng viễn đông. Việc tham quan các gian trưng bày thường xuyên tại các bảo tàng sau đây được miễn phí: Bảo tàng nghệ thuật hiện đại, Bảo tàng kiến trúc và Bảo tàng viễn đông. Năm 2005, sáng kiến này (tham quan miễn phí) dự kiến sẽ được thực hiện đối với Bảo tàng văn hoá thế giới và 12 bảo tàng khác. Ngân sách cho các bảo tàng sẽ được bù đắp nhằm tăng cường an ninh và các chi phí khác liên quan đến việc khách tham quan tăng lên.
Hai nhà hát quốc gia, là Royal Opera và Royal Dramatic, có quy chế là công ty trách nhiệm hữu hạn mà nhà nước là cổ đông duy nhất. Là chủ sở hữu, Chính phủ chỉ định ban lănh đạo và giám đốc quản lí, quy định điều lệ tổ chức, thông qua báo cáo hàng năm, v.v.. Những công ty này không tự chủ về tài chính mà phụ thuộc 70-80% khoản phân bổ hàng năm từ ngân sách nhà nước cho văn hoá.
Các tổ chức của vùng và thành phố
Tổ chức văn hoá vùng hoạt động theo quy chế quỹ hội hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, mà chính quyền các hạt và/ hoặc thành phố là những chủ sở hữu. Tuy nhiên cũng có những trường hợp trong đó tổ chức văn hoá được nhập vào cơ quan quản lí hàng chính của hạt / hoặc thành phố. Cho dù cơ cấu tổ chức như thế nào th́ các hạt/ thành phố đều chịu trách nhiệm hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức này. Trong những năm gần đây, một vài nhà hát và thậm chí một bảo tàng đă chuyển sang h́nh thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Nhà nước cũng cung cấp một nguồn tài chính đáng kể cho các tổ chức văn hoá vùng. Tổng trợ cấp của nhà nước cho các hạt và thành phố b́nh quân tương đương với 80% nguồn thu hàng năm cho văn hoá của các hạt và thành phố.
Việc trông chờ vào các quỹ cơ cấu của EU và những cam kết giúp đỡ tài chính cho các dự án văn hoá ngày càng có tầm quan trọng đối với cấp vùng.
7.3 Các quan hệ đối tác
Tầm quan trọng của tài trợ tư nhân ngày càng gia tăng trong lĩnh vực văn hoá. Đối với những tổ chức văn hoá lớn, các khoản tài trợ vẫn c̣n là một phần nhỏ trong tổng thu nhập. Những ư kiến đồng t́nh và phản đối tài trợ vẫn đang được tranh luận trên truyền thông, báo chí trong những năm qua, nhưng Chính phủ và nghị viện vẫn chưa ra một quan điểm nào mang tính nguyên tắc đối với tài trợ, xem nó như là một phương tiện hỗ trợ tài chính, mặc dù cách nh́n nhận đối với h́nh thức này ngày càng cởi mở hơn, miễn là nó không can thiệp các hoạt động quan trọng, nội dung và sự độc lập của các tổ chức văn hoá.
8. Hỗ trợ hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hoá
8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ
Phạm vi hỗ trợ của Chính phủ cho cá nhân các nghệ sĩ rất rộng. Năm 2004, các khoản trợ cấp và tiền thưởng của nhà nước cho các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác, diễn viên và nhà văn lên đến 316 tỉ SEK (khoảng 28 tỉ euro) và 232 tỉ SEK (khoảng 21 triệu euro) cho các nhà làm phim
Hội đồng nghệ thuật Quốc gia (Statens konstrad), được thành lập năm 1937, chịu trách nhiệm mua các tác phẩm nghệ thuật hiện đại để trưng bày tại các cơ quan quốc gia, bao gồm cả trường đại học, uỷ ban vùng, toà án. Năm 2004, các tác phẩm nghệ thuật được mua với mức ngân sách hàng năm 41.2 triệu SEK (khoảng 37 triệu euro).

Để thúc đẩy sự quan tâm và nâng cao chất lượng của các hoạt động không chuyên, các khoản trợ cấp ba năm dành cho các tổ chức nghệ sĩ của vùng được chia sẻ bởi Hội đồng văn hoá quốc gia và các uỷ ban của vùng. Cho đến nay, có khoảng 40 nghệ sĩ, chủ yếu là các vũ công và nghệ sĩ nghệ thuật thị giác đă có việc làm thông qua chương tŕnh này. Ngoài ra họ c̣n xây dựng một mạng lưới trong phạm vi các vùng để hoàn thành vai tṛ giáo dục. Hội đồng cũng trợ cấp tiền cho các dự án chung của các nghệ sĩ ví dụ như các hội thảo, pḥng trưng bày. Năm 2003, một mô h́nh tương tự cũng được thực hiện nhằm thu hút sự tham gia của các cơ quan tư vấn nghệ sĩ vào hoạt động trong lĩnh vực đa dạng văn hoá trên các vùng khác nhau.
Một cách khác để hỗ trợ hoạt động sáng tạo từ phía chính quyền trung ương là phân bổ nguồn tài chính bổ sung cho các tổ chức, các dự án đă được chứng minh là thiết thực và có hiệu quả đặc biệt. Một triệu SEK được trao hàng năm cho tám dự án trong ṿng 3 năm để giúp các tổ chức, dự án này hoạt động như là mô h́nh tiêu biểu cho các lĩnh vực thiết kế, xiếc, kịch, phim, âm nhạc, di sản, trung tâm văn hoá cho trẻ em và trung tâm văn hoá cho thanh niên.
8.1.1 Các quỹ đặc biệt dành cho nghệ sĩ
Có một số biện pháp hỗ trợ giống nhau giành cho các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác, nhạc công/ nhạc sĩ và nhà văn như tiền trợ cấp 1 năm, 2 năm, 5 năm và 10 năm, bảo đảm về thu nhập, trợ cấp cho các dự án, trợ cấp tiền đi lại, trợ cấp hưu trí. Cũng có các chương tŕnh cụ thể cho từng lĩnh vực khác nhau, tuỳ thuộc vào bản chất và nhu cầu của từng h́nh thức nghệ thuật (xem thêm phần 8.1.3)
Hội đồng Văn hoá Quốc gia chịu trách nhiệm về:
· Phân bổ nguồn trợ cấp cho các nhà hát độc lập, các công ty, các nhóm nhạc và múa;
· Phân bổ trợ cấp cho các xưởng vẽ do các nghệ sĩ cùng hợp tác thành lập, và cho các pḥng trưng bày nghệ thuật của các nghệ sĩ;
· Trợ cấp cho các hoạ sĩ chuyên nghiệp khi trưng bày tác phẩm tại các pḥng trưng bày “có tính giáo dục”.
8.1.2 Tiền thưởng, giải thưởng, học bổng
Thông qua Quỹ nhà văn Thụy Điển (Sveriges forfattarfond) và Uỷ ban Trao thưởng nghệ thuật (Konstanarsnamnden) Chính phủ hỗ trợ về tài chính cho các nghệ sĩ bằng các h́nh thức trợ cấp khác nhau, để tạo cho họ có cơ hội phát triển tài năng nghệ thuật.
Quỹ Nhà văn hỗ trợ cho các nhà văn, dịch giả, người vẽ minh hoạ sách, và các nhà báo chuyên về chủ đề văn hoá. Quỹ phân bổ tiền bù đắp của nhà nước về bản quyền cho thuê sách tại các thư viện. Một phần của khoản tiền bù đắp này được trả cho các nhà văn theo tỉ lệ số lần mượn tác phẩm của người đó; phần khác được chuyển sang cho quỹ để trao thưởng và học bổng cho các nhà văn, v.v..
Uỷ ban trao thưởng nghệ thuật cấp chi phí đi lại, chi phí thực hiện dự án hoặc thu nhập cho một năm hoặc hơn cho các nghệ sĩ không được hưởng hỗ trợ từ Quỹ Nhà văn. Uỷ ban cũng thực hiện một chương tŕnh về studio (xưởng vẽ) cho các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác (IASPIS), nhằm phục vụ cho các nghệ sĩ Thụy Điển và nghệ sĩ nước ngoài.
Viện Thụy Điển thực hiện hỗ trợ cho các hoạt động trao đổi quốc tế trong các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học và truyền thông.
Ngoài ra c̣n có hệ thống bảo đảm thu nhập của nhà nước, qua đó khoảng 160 nghệ sĩ được bảo đảm thu nhập tối thiểu hàng năm , khoảng 180000 SEK vào năm 1999.
Hội đồng Văn hoá Quốc gia trợ cấp cho các nhóm, các dự án hợp tác, và cá nhân các nghệ sĩ (xem thêm phần 8.1.2).
ở cấp vùng/ địa phương, cũng có các chương tŕnh trợ cấp cho các nghệ sĩ
8.1.3 Hỗ trợ cho các hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp
Tiền trợ cấp không được trao cho các nghiệp đoàn hoặc tổ chức tương tự, bởi v́ họ là đại diện cho các nghệ sĩ trong các cuộc đàm phán với Chính phủ và cần duy tŕ chặt chẽ sự độc lập của họ với Chính phủ.
Các uỷ ban quốc gia của các tổ chức phi chính phủ như Hiệp hội quốc tế về nghệ sĩ (IAA), Hội đồng thế giới nghề thủ công (WCC), v.v.. hàng năm nhận được trợ cấp dưới h́nh thức phí tham gia để chi phí cho việc đi lại hoặc tổ chức hội thảo quốc tế.
8.2 Xu hướng tham gia và các số liệu

Một báo cáo thống kê về các thói quen trong văn hoá của Thụy Điển 1976-1999 được Hội đồng văn hoá Quốc gia công bố năm 2000, phúc lợi văn hoá, cho thấy rằng Thụy Điển có xu hướng tiêu thụ văn hoá nhiều hơn sản xuất ra các sản phẩm văn hoá.
Theo dữ liệu từ báo cáo này, hầu hết mọi người dưới 80 tuổi tham gia tích cực vào hoạt động văn hoá, ví dụ như tham quan một tổ chức văn hoá ít nhất mỗi năm một lần (hoà nhạc, phim, thư viện, bảo tàng, kịch, triển lăm nghệ thuật). Âm nhạc (đặc biệt là ở thanh niên), nhà hát (đặc biệt là ở phụ nữ trên 35 tuổi), thư viện, bảo tàng và triển lăm ngày càng được ưa chuộng. Khoảng một nửa dân số tham gia vào các hoạt động nghệ thuật, thường là tại các lớp học buổi tối.
Thói quen đọc ở những người lớn tăng lên, trong khi nhóm thanh niên lại có xu hướng giảm. Phụ nữ dường như quan tâm đến nghệ thuật nhiều hơn so với nam giới.
Thanh niên có truy cập Internet, các kênh truyền h́nh và phát thanh, và rất tích cực mua các sản phẩm CD, video, tạp chí và thiết bị máy tính. Chi tiêu của họ cho phim ảnh, các lễ hội và âm nhạc có thể tương đương với mức trợ cấp dành cho thư viện. Đây là một thách thức cho các cộng đồng địa phương và cho các tổ chức trong việc hỗ trợ cho các thị yếu của giới trẻ. Trong bối cảnh này, sự phi tập trung hoá đă không đáp ứng được với thách thức này.
Bảng 2: Tham gia đời sống văn hoá năm 2000, những người ở độ tuổi 16-84.
|
Lĩnh vực nghệ thuật |
% trên tổng số |
|
Xem kịch |
47 |
|
Nghe hoà nhạc |
57 |
|
Chơi nhạc cụ |
18 |
|
Hát đồng ca |
6 |
|
Tham quan bảo tàng |
47 |
|
Tham quan bảo tàng nghệ thuật |
43 |
|
Xem phim (chiếu bóng) |
64 |
|
Đến thư viện |
67 |
|
Tham gia các trung tâm học tập |
13 |
|
Đọc sách |
83 |
|
Tham gia các sự kiện thể thao |
53 |
Nguồn: Kulturbarometern 2000, Hội đồng Văn hoá Quốc gia, Thụy Điển
8.3 Chính sách thúc đẩy tham gia vào đời sống văn hoá
Yếu tố quan trọng để thúc đẩy công dân tham gia vào đời sống văn hoá, đặc biệt là trong các hoạt động nghệ thuật, là sự sẵn có các hoạt động giáo dục cả trong và ngoài trường học. Một chính sách mới về hệ thống các môn học bắt buộc trong trường học có hiệu lực từ mùa thu năm 1994, đă xác định các giá trị cơ sở và mục tiêu cơ bản, các định hướng cho hệ thống trường học. Theo đó, giáo dục âm nhạc và nghệ thuật có vai tṛ quan trọng ngang với, ví dụ như, các chương tŕnh học bằng tiếng Anh.
Các hiệp hội văn hoá đóng một vai tṛ quan trọng trong việc thúc đẩy tham gia vào đời sống văn hoá (xem phần 8.4). Trong các lĩnh vực kịch / âm nhạc, nghệ thuật thị giác và văn học, có những tổ chức đặc biệt được thành lập ra nhằm thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá. Sledebanan (kịch, âm nhạc) cung cấp các thông tin và vé thông qua các đại diện đặc biệt tại những nơi công sở. Những tổ chức này cũng tham gia vào các dự án trong các lĩnh vực văn hoá khác nhằm t́m kiếm các cách thức mới để đưa các giá trị văn hoá đến với những cộng đồng mới.
Konstframjandet (chủ yếu trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác) cũng có các đại diện có chức năng thúc đẩy việc mua các tác phẩm nghệ thuật chuyên nghiệp, chủ yếu là đồ hoạ, và tác phẩm văn học với mức giá ưu đăi. 2500 câu lạc bộ nghệ thuật có liên quan đến Sveriges Konstforeningars (nghệ thuật thị giác) với số thành viên lên đến 7000000 người, chủ yếu là các nghệ sĩ làm thuê, đă tham gia vào chương tŕnh sổ xố v́ nghệ thuật hiện đại.
Nhà xuất bản En bok for alla (“Sách cho mọi người”) đă xuất bản sách chất lượng cao với giá rẻ, nhận được trợ cấp của nhà nước.
Để thúc đẩy thói quen đọc, thuế VAT đối với sách được giảm từ 25% xuống c̣n 6% kể từ đầu năm 2001. Một báo cáo về ảnh hưởng của những thay đổi này vào việc mua sách và thói quen đọc sách sẽ được công bố vào năm 2005.
Hàng năm một cuốn catalogue được Hội đồng văn hoá Quốc gia phân phối, trong đó liệt kê những tác phẩm văn học mới dành cho trẻ em. Catalogue này có tác dụng thu hút sự quan tâm đến thói quen đọc bằng cách giới thiệu những sách mới và hấp dẫn mới được xuất bản. Catalogue này miễn phí và được phát cho các thư viện, hiệu sách và trường học.
Một cách quan trọng để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá là xây dựng các hoạt động văn hoá trong các môi trường khác nhau. Hội đồng Văn hoá Quốc gia dành một khoản ngân sách đặc biệt cho chương tŕnh “Văn hoá trong đời sống lao động”, nhằm thúc đẩy các hoạt động văn hoá tại nhiều nơi làm việc khác nhau thông qua các tổ chức công đoàn. Trong những năm gần đây, chương tŕnh này đă mở rộng phạm vi ảnh hưởng, bao gồm cả ảnh hưởng của văn hoá đến đời sống lao động như là một vấn đề giúp giữ ǵn sức khoẻ.
8.4 các tổ chức văn hoá nghệ thuật không chuyên
8.4.1 nghệ thuật không chuyên
Khoảng 90% dân số đều tham gia vào một tổ chức nhất định. 20% số người này tham gia vào các tổ chức văn hoá bao gồm: giáo dục cho người lớn, nghệ thuật không chuyên, các hoạt động cho trẻ em và thanh niên, v.v.. và các tổ chức này gắn bó rất mật thiết với các cộng đồng tại địa phương. Các tổ chức văn hoá là một công cụ quan trọng của chính sách phi tập trung. Họ cũng có phương pháp và các mối quan hệ cần thiết để tiếp cận đến bộ phận dân số không thường xuyên tham gia vào các hoạt động văn hoá. Một điều kiện chung là hoạt động cho trẻ em và thanh niên phải được dành ưu tiên.
8.4.2 Nhà văn hoá và các câu lạc bộ văn hoá cộng đồng
Các trung tâm văn hoá dành cho trẻ em nhận được hỗ trợ từ chính quyền cùng với các và các cơ quan tổ chức khác ở địa phương. Trong những năm gần đây, ngân sách cắt giảm của địa phương đă gây ra những khó khăn trong việc mở rộng và phát triển những trung tâm này. Hầu hết các cộng đồng địa phương đă có các thư viện được trang bị tốt, và chúng cũng đóng chức năng là nhà văn hoá với các triển lăm, pḥng học, trung tâm dành cho trẻ em, v.v... Các nhà văn hoá quan trọng, pḥng hoà nhạc và pḥng trưng bày nghệ thuật được xây dựng trong những năm gần đây, bởi những địa phương giàu có như Hassleholm, Vara, Mariefred và Skarhamn, và ở các vùng nông thôn như Trung tâm đa dạng văn hoá ở Botkyrka (Stockholm) và Ngôi nhà mơ ước ở Rosengard (Malmo).
(Nguồn: Culturalpolicies)