1. Viễn cảnh lịch sử: chính sách văn hoá và các công cụ

Toà thánh Vatican tự coi ḿnh là nhà tài trợ và giám hộ về nghệ thuật và văn hoá. Từ khi được thành lập và thậm chí ngay trong những giai đoạn khủng bố, những công tŕnh nghệ thuật được sử dụng để tô điểm, trang hoàng cho những địa điểm thờ cúng. Tự do tôn giáo trong thế kỷ thứ 4 đă dẫn đến sự ra đời của nghệ thuật Cơ đốc giáo đặc trưng. Nét đặc trưng này được thể hiện qua những công tŕnh xây dựng tôn giáo và việc trang trí của chúng.

Trong thời Trung Cổ, nhà thờ, đặc biệt là nhà thờ La Mă trở thành người giám hộ và phương tiện thúc đẩy di sản văn hoá cổ đại. Những công tŕnh cổ đă được sao chép và lĩnh vực nghệ thuật đă được dạy trong các tu viện. Các trường đại học, sự sáng tạo đặc trưng của người Châu Âu đă được thành lập trong cấu trúc các nhà thờ. Tiếp sau đó là giai đoạn Khai sáng( thế kỷ 18 ở Châu Âu), sự khác biệt giữa các giáo hội và văn hoá tăng mạnh. Hội Đồng Vatican thứ hai trong những năm 1960 giáo hội đă chuyển tâm điểm của ḿnh từ những định nghĩa cổ điển về nhân loại  học, văn hoá sang tiêu điểm khác tập trung vào những khía cạnh nhân loại học. Hiến pháp về giáo hội trong thế giới hiện đại đă dành một chương quy định về mối quan hệ giữa văn hoá và các nền văn hoá. Từ năm 1965, Toà thành Vatican đă nhận thức được tầm quan trọng của các cuộc đối thoại giáo hội với văn hoá đương thời và mối quan hệ của nó với những nền văn hoá khác nhau.

Trong lĩnh vực văn hoá, Pope Benedict XVI đă kế tục những chính sách văn hoá của người tiền nhiệm, Pope John Paul II đă thúc đẩy cuộc đối thoại giữa giáo hội công giáo và văn hoá đương thời. Toà thành Vatican cũng tích cực tham gia vào những cuộc đối thoại đa văn hoá và tôn giáo.

  2. Cơ cấu tổ chức

2.1 Miêu tả chung về hệ thống

Một điều quan trọng chúng ta cần biết đến trước khi xem xét Toà thánh Vatican đó là có 2 thực thể liên quan, khác nhau về bản chất và chức năng: toà thánh Vatican và Thành phố độc lập Va-ti-can. Tuy nhiên Toà thánh Va-ti-can không phải là quốc gia nhưng là một thực thể có chủ quyền, những môn đồ của giáo hội sống ở chính đất nước của họ và tuân theo luật pháp quốc gia. Trong vấn đề liên quan đến chính sách văn hoá, Toà thánh Va-ti-can chỉ có thẩm quyền về tôn giáo cao hơn các cơ quan văn hoá khác của Giáo hội Thiên chúa. Thành phố độc lập Va-ti-can chỉ có trách nhiệm đối với những tổ chức văn hoá trong lănh thổ của ḿnh.

Toà thánh Va-ti-can

Toà thánh Va-ti-can là trụ sở của  bộ máy triều chính  Giáo hội Cơ đốc giáo La mă, Giáo Hoàng Giáo hội Cơ đốc giáo La mă và nhiều tổ chức khác hỗ trợ Giáo hoàng trong việc thực hiện sứ mệnh con chiên. Toà thánh Va-ti-can,  cơ quan quyền lực tối cao nhất của chính quyền Giáo hội Thiên Chúa là một thực thể pháp lư có thẩm quyền dưới Luật pháp quốc tế. Bộ máy triều chính  Giáo hội Cơ đốc giáo La mă là một tổ chức phức tạp bao gồm Ban thư kư nhà nước, Giáo đoàn, Toà án, Hội đồng Giáo hoàng, các cơ quan và cơ cấu khác. Những thể chế khác như là Viện lưu trữ những tài liệu lịch sử bí mật của Va-tican, bảo tàng Tông đồ Va-ti-can và nhiều tổ chức khoa học khác chịu sự quản lư của Toà thánh Va-ti-can.

Giáo Đoàn và các Hội đồng được h́nh thành bởi những Giáo chủ hồng y, tổng giám mục và tập hợp những giáo dân của Giáo hội Thiên chúa trên khắp thế giới và mỗi Giáo đoàn hay Hội đồng có một chủ tịch Giáo chủ hồng y làm chủ toạ và hỗ trợ bộ máy triều chính  Giáo hội Cơ đốc giáo La mă  thông qua uỷ viên tài phán có trách nhiệm trong nhiệm vụ quản lư của giáo hội. Thông qua tổ chức các nhà tư vấn với những kỹ năng và vốn kiến thức đặc biệt, mỗi hội đồng đều thực hiện tư vấn cho những sứ mệnh cụ thể. Trong phạm vi văn hoá, sứ mệnh của Hội đồng Giáo hoàng văn hoá do John Paul II thành lập năm 1982 là thúc đẩy cuộc đối thoại giữa vấn đề tâm linh và những người đóng vai tṛ quan trọng trong các cộng đồng văn hoá, nghệ thuật, khoa học, văn học và văn hoá- những cộng đồng không tin vào tâm linh và không mấy quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Hội đồng cũng kết hợp với những hoạt động văn hoá của Toà thánh Va-ti-can. Sứ mệnh của nó là một sự thúc đẩy-không có quyền lực ǵ hơn các thể chế văn hoá khác. Những Hội đồng này hoàn toàn tự trị và phụ thuộc vào Đức Giáo hoàng thông qua Ban thư kư nhà nước.

Những thể chế khác liên quan đến Toà thành Va-ti-can đóng vai tṛ quan trọng trong vấn đề văn hoá: Giới truyền thanh Va-ti-can, Giới Báo chí Va-ti-can, Nhà xuất bản, Cơ quan truyền h́nh TW Va-ti-can và tạp chí chính thức L'Osservatore Romano tất cả đều phục vụ cho đoàn mục sư Giáo hoàng. Công tŕnh xây dựng của chúa Peter cũng đóng vai tṛ quan trọng trong bối cảnh cuộc thảo luận của UNESCO về bảo vệ di sản và có nhiệm vụ quản lư và ǵn giữ La mă hoàng cung của thánh Peter và những di sản của nó.

Thành phố độc lập Va-ti-can

Thành phố độc lập Va-ti-can được thành lập năm 1929 dưới Hiệp ước Lateran giữa Italy và Toà thánh Va-ti-can. Bản Hiệp ước đóng vai tṛ như người bảo lănh cho nền độc lập của Toà thánh Va-ti-can và sử dụng chủ quyền trên khắp thành phố độc lập Va-ti-can. Tổ chức pháp lư của nó được quy định trong Hiến pháp cơ bản ( 2000). Giáo hoàng nắm trong tay quyền lập pháp, hành pháp trong thành phố tự trị Va-ti-can. Cùng với Ban thư kư nhà nước, Giáo hoàng cũng có trách nhiệm đối với việc hợp tác quốc tế. Quyền Lập pháp được Hội đồng Giáo hoàng của thành phố tự trị Va-ti-can thực hiện. Các Giáo chủ hồng y trong Hội đồng do Đức Giáo hoàng bổ nhiệm. Người đứng đầu trong các Giáo chủ hồng y cũng thực hiện quyền hành pháp thông qua Ban chính phủ của thành phố tự trị Va-ti-can. Ban này bao gồm ban lănh đạo, các cơ quan và dịch vụ liên quan đến việc quản lư những tài sản đương thời của Toà thánh Va-ti-can. Ban quản lư chung những pḥng trưng bày, bảo tàng và những công tŕnh lịch sử Giáo hoàng( Những bảo tàng Va-ti-can) và Đài quan sát Va-ti-can chịu sự quản lư của Ban lănh đạo. Hội đồng thường trực trông coi những công tŕnh lịch sử và nghệ thuật của Toà thánh Va-ti-can có trách nhiệm trong việc bảo vệ những công tŕnh nghệ thuật thuộc sự sở hữu của Toà thánh Va-ti-can trong thành phố và các khu vực lănh thổ khác .

2.2. Hợp tác liên bộ trưởng và liên chính phủ

Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá kể từ khi có sự can thiệp đáng kể của Pope Benedict XVI  vào tháng 3 năm 2006 đă có đồng chủ tịch với Hội đồng Giáo hoàng về đối thoại đa tôn giáo. Điều này đă dẫn đến việc hợp tác đầy ư nghĩa giữa 2 lĩnh vực riêng biệt của đối thoại đa văn hoá và đối thoại đa tôn giáo. Việc hợp tác về văn hoá cũng được thực hiện trong 4 Hội đồng với các nhóm đại diện bao gồm Hội đồng thư kư của Giáo đoàn  trong việc cảm hoá con người theo Công giáo, Hội đồng giáo hoàng thúc đẩy thực thể theo đạo Cơ-đốc, Hội đồng giáo hoàng về đối thoại đa tôn giáo và Hội đồng giáo hoàng về văn hoá.

Mục tiêu của các nhóm đại diện này là duy tŕ những mối quan hệ bền vững và hợp tác với các đối tác do đó những vấn đề quan tâm chung cùng được đưa ra  để giải quyết. Nhóm này cung cấp những tài liệu, xem xét và kêu gọi các cơ quan nghiên cứu khoa học, thúc đẩy những nhận xét phê phán của các mục sư và đề xuất những sáng kiến kết hợp, bằng cách ấy có thể phối hợp hài hoà những hoạt động của họ đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến đạo ngoài Cơ-đốc, môn phái và những xu hướng văn hoá đương thời. Nhóm này cũng giải quyết những vấn đề liên quan đến đối thoại đa văn hoá.

Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá có sứ mệnh giám sát và phối hợp những hoạt động của Học viện Giáo hoàng thông qua Hội đồng điều phối của những Học viện Giáo hoàng. Học viện Giáo khoa học giáo hoàng, Học viện khoa học xă hội và Học viện xă hội có một vị thế đặc biệt trong tổ chức. Một Hội đồng liên hội đồng đă thành lập để phối hợp những hoạt động chung của Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá và Hội đồng Giáo hoàng về những tài sản văn hoá của những Giáo hội.

Giáo đoàn đa văn hoá quốc tế và các Hội đồng Giáo hoàng với các thành viên từ tất cả các đại dương đă chỉ ra ư định trở thành công cụ liên lạc hiệu quả và lễ ban thánh thể giữa các Giáo hội địa phương trên khắp thế giới của bộ máy triều chính Giáo hội La mă. Điều này được coi là một trong hàng loạt những sáng kiến kết hợp. Những cuộc họp thường xuyên giữa các chủ tịch của các Hội đồng cùng với Đức Giáo hoàng đảm bảo sự thống nhất giữa các mục đích. Ban thư kư cũng có những cuộc họp liên Hội đồng không giới hạn.

Một phần trong những hoạt động của họ trong các Uỷ ban đại diện, các uỷ viên tài phán giáo hội của những hội đồng khác nhau nhận những tài liệu và tạp chí khác nhau, tham dự những sự kiện có những vấn đề quan tâm của hội đồng và trong phạm vi khả năng của ḿnh bất kỳ khi nào. Trong bối cảnh đó, Hội đồng Giáo hội về vấn đề di cư và hội đồng Giáo hội về văn hoá đă phát triển cách tiếp cận chung với những địa điểm diễn ra những cuộc đối thoại đa văn hoá và thúc đẩy sự việc duy tŕ những nét văn hoá của các cộng đồng thiểu số để đảm bảo rằng văn hoá của các cộng đồng dân tộc thiểu số phát triển mạnh.

2.3 Hợp tác văn hoá quốc tế

2.3.1 Tổng quan về cấu trúc chính và những xu hướng

Chúng ta đă chứng kiến sự hợp tác quốc tế phát triển rộng răi trong những thập kỷ gần đây. Sự tham gia của Toà Thánh Va-ti-can vào hàng loạt những sáng kiến, đặc biệt với UNESCO và Uỷ Ban Châu Âu tiếp tục tăng mạnh

2.3.2 Diễn viên công chúng và ngoại giao văn hoá

Toà thánh Va-ti-can thúc đẩy những sáng kiến địa phương và những cuộc họp giữa những người đóng vai tṛ trong lĩnh vực văn hoá. Nó tổ chức những cuộc họp quốc tế cho các học viện về nhiều lĩnh vực và những nhà thực tập điện ảnh, văn học, âm nhạc và nghệ thuật tạo h́nh,..Trong việc phối hợp với hội đồng giám mục địa phương, nó cũng khuyến khích các dự án và cung cấp những ư kiến đóng góp của giới chuyên môn và mạng lưới kết hợp.

Một số thể chế do toà thánh Va-ti-can uỷ quyền như Các trường đại học hoàng gia phát triển những nghiên cứu trong khoa học có thể áp dụng trong lĩnh vực văn hoá như là khoa học lịch sử, xă hội học và nghệ thuật. Nhờ những chính sách cụ thể của toà thánh Va-ti-can, công cụ chính của việc hợp tác quốc tế là sự hợp tác trong các cuộc họp tôn giáo và các Uỷ ban, do đó nó cung cấp những ư kiến đóng góp của giới chuyên môn, khuyến khích và tiếp cận với mạng lưới quan hệ mở rộng.

Những cuộc họp quốc tế của các chuyên gia đến từ các lĩnh vực chuyên môn khác nhau tập trung vào một chủ đề nhằm nâng cao hơn nữa vốn hiểu biết sâu về sự đa dạng văn hoá. Những địa điểm văn hoá trong các trường đại học do toà thánh Va-ti-can giám sát đă thay đổi nhanh chóng trong thập kỷ qua khi tập tài liệu thứ 2 của Hội đồng Giáo hội Gaudium et spes có một chương dành riêng cho các vấn đề văn hoá tiếp tục có hiệu lực thi hành. Nhiều trường đại học hiện nay có trung tâm văn hoá và văn hoá được coi là yếu tố quan trọng cần được tiếp cận thông qua những khoa và khoá học khác nhau. Nhiều khoá học cụ thể về văn hoá đă được h́nh thành. Hơn nữa với sự thay đổi nhanh của đội ngũ giáo viên dạy bằng sách giáo lư vấn đáp và các tăng lữ, nhiều trung tâm giáo dục địa phương đă được thành lập để giúp vấn đề “ đa văn hoá” được hiểu biết sâu, được tôn trọng, được sử dụng và thâm nhập vào phương thức sống văn hoá của địa phương. Từ Canada đến Nam Phi, Việt Nam đến Ailen đều phổ biến những ngôn ngữ và thành ngữ địa phương và giúp mọi người hiểu về văn hoá địa phương, lịch sử và biểu tượng

2.3.3. Châu Âu/ những nhà tham dự và chương tŕnh quốc tế

Toà thánh Va-ti-can tham gia vào hơn 60 Uỷ ban Châu Âu và cũng như nhiều nhóm hoạt động của UNESCO và duy tŕ mối quan hệ chủ động với các Bộ trưởng văn hoá và các cơ quan tương đương của nhiều quốc gia bằng việc sắp xếp những hoạt động hợp tác ở cả trong và ngoài nhà thờ La mă. Là cơ quan thúc đẩy việc công nhận những giáo hội Thiên chúa trên toàn cầu và thực hiện công ước của UNESCO về bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng trong việc thể hiện những nét văn hoá của Hội đồng Giáo hoàng về Văn hoá. Việc thi hành công ước được tiếp vận thông qua các thiết bị truyền thông khác nhau của Giáo hội, tất cả các bảo tàng, bộ sưu tập và những tài sản văn hoá.

2.3.4- Đối thoại đa văn hoá liên lănh thổ và hợp tác

Hội đồng Hoàng gia về văn hoá tổ chức những cuộc họp thường xuyên hướng tới những sứ mệnh văn hoá. Những cuộc họp này là một phần của hội nghị giám mục- những thể chế được thành lập trên phạm vi rộng từ phạm vi vùng, quốc gia đến quốc tế. Những cuộc hợp này được tổ chức ở các cấp độ lục địa nhằm củng cố mối quan hệ chặt chẽ và việc hợp tác giữa các thể chế văn hoá và thúc đẩy các cuộc đối thoại đa văn hoá. Những tổ chức địa phương do Giáo hội Thiên chúa quản lư với những sáng kiến địa phương nhằm thúc đẩy những cuộc đối thoại đa văn hoá và tôn giáo như là tổ chức Xu hướng Văn hoá ở Antelias.

Lebanon hay trung tâm nghiên cứu về Tôn giáo thế giới ở Bangladore (Ấn Độ) đang nỗ lực làm cho mọi người khám phá và tôn trọng văn hoá và tôn giáo của các nước láng giềng thông qua các cuộc đối thoại và thúc đẩy tính ṭ ṃ của con người. Toà thánh Va-ti-can tổ chức định kỳ ngày Thanh Niên thế giới, một tuần kỷ niệm, lễ cầu nguyện và buổi giáo lư đă thu hút được sự tham gia của hơn một triệu những người theo đạo Thiên chúa trẻ tuổi ngồi xung quanh Đức giáo hoàng. Một trong những tác động của sự kiện thế giới này là cuộc họp đa văn hoá, đối thoại và sự tác động lẫn nhau trong bối cảnh không thân mật. Giáo hội đă cung cấp nguồn vốn, đặc biệt thông qua các giáo khu địa phương và những nhà tài trợ chính thức cho các nghệ sỹ trong các lĩnh vực có đủ không gian và nguồn lực để trao tặng các món quà của ḿnh như là sự hỗ trợ cho hàng loạt các sự kiện.

  3. Những mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá

3.1 Những yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá đương thời

Những quy định cơ bản về hoạt động văn hoá của Giáo hội có thể được tóm tắt như sau:

Loài người là trung tâm của văn hoá. Văn hoá được định nghĩa trong mối quan hệ với xă hội loài người và tất cả những hoạt động văn hoá đều v́ con người. Văn hoá là những ǵ được thể hiện trong tiềm năng tương lai của loài người. Trong hội thảo chuyên đề “ Văn hoá, Lư do và Tự do” ( Tháng 5 năm 2005) đă đưa ra lời kêu gọi bằng việc mượn những thuật ngữ trong bài phát biểu của John Paul II năm 1980 ở trụ sở của UNESCO: “ Trong lĩnh vực văn hoá, con người luôn là yếu tố đầu tiên : con người có quyền lực tối cao và yếu tố cơ bản của văn hoá”; nền tảng chung của các loại h́nh văn hoá.

“ Những nền văn hoá khác nhau có những phương thức khác nhau trong việc giải quyết những thắc mắc về ư nghĩa của sự tồn tại xă hội loài người. Nói một cách chính xác ở đây là chúng ta phải t́m ra một nguồn gốc đáng được lưu tâm nhất v́ có rất nhiều nền văn hoá và nhiều quốc gia. Tất cả các nền văn hoá đều nỗ lực trong việc nghiên cứu sự huyền bí của thể giới và đặc biệt trong xă hội loài người. Đây là một phương thức thể hiện những góc độ siêu phàm của xă hội loài người. Trọng tâm của các nền văn hoá là cách tiếp cận của nó với tất cả những điều huyền bí vĩ đại nhất, sự huyền bí của chúa” ( John Paul II đă đề cập vấn đề này với tổ chức Liên hợp Quốc, ngày 5 tháng 10 năm 1995);

3.2 Định nghĩa quốc gia về văn hoá

Toà thánh Va-ti-can dựa vào định nghĩa về văn hoá trong Hội đồng Giáo hội thứ 2 “Thế giới văn hoá trong phạm vi chung thể hiện tất cả mọi vấn đề nhờ đó loài người có thể phát triển và hoàn thiện cả về thể chất và tâm hồn; họ nỗ lực hết ḿnh để nắm được tri thức của loài người và t́m cách kiểm soát ngay cả những người bạn láng giềng của ḿnh”. Con người thể hiện cuộc sống  xă hội mang tính chất của loài người trong cả gia đ́nh và cộng đồng đô thị thông qua việc cải tiến trang phục và các thể chế. Thông qua tiến tŕnh thời gian, con người thể hiện, truyền đạt và giữ ǵn những công tŕnh của ḿnh, những trải nghiệm tâm linh và những ước muốn có thể được hưởng những lợi ích của các sự kiện trong toàn bộ xă hội loài người”.

3.3 Những mục tiêu của chính sách văn hoá

Toà thánh Va-ti-can đă kư vào Tuyên bố của Châu Âu về những mục tiêu của văn hoá ( Berlin 1984) và tuân thủ chặt chẽ những quy định của Công ước Văn hoá Châu Âu. Nó coi tuyên bố này như là một bước cơ bản trong việc tạo ra những nhận thức chung cho các nhà hoạch định chính sách cho những hoạt động đă được lên kế hoạch trong lĩnh vực văn hoá. Bản tuyên bố có giá trị công bố kế hoạch hoạt động của toà thánh Va-ti-can. Từ thế kỷ 19 cho đến nay, Giáo hội Thiên chúa đă xây dựng học thuyết về cuộc sống xă hội và những vấn đề cơ bản của cuộc sống loài người. Những cam kết này bao gồm quyền tự do của loài người, tôn trọng chủ nghĩa cá nhân và nỗ lực đấu tranh chống lại tất cả các h́nh thức phân biệt đối xử. Những mục tiêu của toà thánh Va-ti-can được bao quát trong tài liệu về sự thành lập của Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá năm 1982:

Hội đồng cam kết đưa ra những sáng kiến phù hợp nhằm thúc đẩy những cuộc đối thoại giữa tâm linh và tôn giáo và giữa các nền văn hoá khác nhau. Tiếp sau đó là những sáng kiến của hàng loạt thể chế Giáo hội và việc kết hợp với những cuộc hội nghị của các giáo sĩ. Hội đồng tham gia vào các cuộc họp để kiểm tra những phương thức h́nh thành cuộc đối thoại với những người không tin vào chúa hoặc tuyên bố không theo bất kỳ loại h́nh tôn giáo nào bất kỳ khi nào họ thực sự cởi mở trong việc hợp tác.

Hội đồng cũng giám sát và sắp xếp những hoạt động của các Viện khoa học Giáo hoàng trong đó tôn trọng quyền tự trị của các Viện thành lập sau đối với những chương tŕnh nghiên cứu tương ứng của họ, thúc đẩy những nghiên cứu thuộc lĩnh vực thuật học và làm cho những hoạt động của họ được biết đến rộng răi.

Hội đồng điều phối sự tham gia của các thể chế văn hoá toà thánh Va-ti-can trong những hoạt động của các hội đồng.

Hội đồng thúc đẩy những cuộc đối thoại trong các hội nghị của các giáo sĩ v́ vậy toàn thể Giáo hội có thể được hưởng những lợi ích từ những nghiên cứu, sáng kiến, thành tựu và sáng tạo. Chính những lợi ích này giúp các Giáo hội địa phương đóng một vai tṛ quan trọng trong môi trường văn hoá riêng của ḿnh.

Hội đồng phối hợp với các tổ chức trí tuệ, nghệ thuật, khoa học, thần học, triết học, lịch sử, các trường đại học và các tổ chức Thiên chúa quốc tế và thúc đẩy việc hợp tác giữa các tổ chức đó.

Hội đồng giám sát (theo cách phù hợp với ḿnh nhất và cân nhắc thẩm quyền cũng như chuyên môn của các cơ quan quan trọng khác trong lĩnh vực này) những hoạt động của các tổ chức quốc tế- đặc biệt là UNESCO và Uỷ ban về vấn đề hợp tác văn hoá của Uỷ ban Châu Âu- và đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của toà thánh Va-ti-can trong hội nghị quốc tế về khoa học, văn hoá và giáo dục;

Giám sát những chính sách văn hoá và những hoạt động của các chính phủ trên khắp thế giới

Khuyến khích cuộc đối thoại giữa Giáo hội và văn hoá trong phạm vi các trường đại học, những trung tâm nghiên cứu và các tổ chức của các nghệ sỹ, nhà nghiên cứu, học giả và những chuyên gia khác và thúc đẩy những cuộc họp có ư nghĩa quan về những vấn đề trong lĩnh vực văn hoá.

Đón tiếp những đại diện văn hoá mong muốn t́m hiểu về những hoạt động của Giáo hội Thiên Chúa và t́m địa điểm giúp họ tổ chức những cuộc họp và các cuộc đối thoại ở nhà thờ La mă.

  4. Phát triển chính sách văn hoá và những cuộc thảo luận

4.1 Những vấn đề chính trong chính sách văn hoá và những ưu tiên

Trong những vấn đề chính của chính sách văn hoá  toà thánh Va-ti-can chúng tôi có thể liệt kê những vấn đề như sau:

Sự tương phản giữa sách Phúc âm, sự không quan tâm và tin vào tôn giáo, mối quan hệ giữa Giáo hội Thiên chúa và thế giới văn hoá đặc biệt chú trọng đến những cuộc đối thoại giữa các nền văn hoá. Việc khuyến khích công khai sách Phúc âm cho những cá nhân thực hiện những nghiên cứu khoa học, văn học và nghệ thuật được đặc biệt nhấn mạnh, Giáo hội Thiên chúa công nhận điều này khi loài người hết ḷng v́ cái đẹp, cái thiện và chân lư.

4.2.1. Văn hoá của cộng đồng dân tộc thiểu số, các nhóm và các cộng đồng

Đức Giáo hoàng và toà thánh Va-ti-can thường xuyên phát biểu trong cộng đồng các quốc gia, kêu gọi việc tôn trọng những quyền cơ bản của văn hoá dân tộc thiểu số, bắt đầu từ quyền được tồn tại và được tự do thể hiện những nét văn hoá riêng và ngôn ngữ riêng của ḿnh không với bất kỳ h́nh thức bạo lực nào. Những nguyên tắc của toà thánh Va-ti-can được tóm tắt trong bài diễn văn của John Paul II đệ tŕnh lên Liên Hợp Quốc vào ngày 5 tháng 10 năm 1995 và cũng được bao quát trong thông điệp của ông trong ngày Hoà b́nh thế giới vào ngày 1 tháng 1 năm 2001, Cuộc đối thoại văn hoá giữa các dân tộc về t́nh yêu thương và hoà b́nh “ Cuộc đối thoại giữa các nền văn hoá nổi lên như một yêu cầu cần thiết của bản chất loài người cũng như các nền văn hoá”

4.2.2. Vấn đề ngôn ngữ và chính sách

Ngôn ngữ chính thức của toà thánh Va-ti-can và thành phố độc lập Va-ti-can là tiếng La-tinh. Hiệp hội các nước nói tiếng La-tinh được thành lập trong thành phố Va-ti-can với mục đích thúc đẩy việc nghiên cứu và sử dụng tiếng La-tinh. Trong khi những thứ tiếng khác hiện nay được sử dụng rộng răi, tiếng La-tinh vẫn được sử dụng trong các nghi thức tế lễ và các tài liệu chính thức và những thành ngữ tiêu biểu bằng tiếng La-tinh vẫn được sử dụng phổ biến trong cuộc sống của toà thánh Va-ti-can.

Về phương diện lịch sử những đặc điểm đặc trưng của đoàn mục sư Giáo hoàng đă thúc đẩy việc sử dụng nhiều thứ tiếng khác nhau. V́ vị trí địa lư, tiếng Italy đă trở thành ngôn ngữ làm việc hàng ngày trong các cơ quan của toà thánh Va-ti-can và thành phố độc lập Va-ti-can. Tiếng Pháp và tiếng Anh cũng được sử dụng rộng răi. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ mẹ đẻ phổ biến nhất trong các Giáo hội trên thế giới. Tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ của Đức Giáo hoàng hiện nay. Giới báo chí Va-ti-can được thành lập đầu tiên vào thế kỷ 16, đă sử dụng nhiều thứ tiếng và nổi tiếng trên các báo, tạp chí và ấn bản trong thế kỷ 17 và nổi tiếng nhờ những ấn bản của ḿnh bằng ngôn ngữ thuộc phía Đông và Châu âu như là ả- Rập, Trung quốc và Thổ Nhĩ Kỳ

Những tài liệu chính của Đức giáo hoàng và Giáo đoàn được xuất bản trên giấy và đưa lên các trang web bằng tiếng Anh, Pháp, Đức, Italia, Ba lan, Thổ Nhĩ kỳ và Tây Ban Nha ( xem chương 9.2). Giáo đoàn về lễ tế thần thông qua 350 ngôn ngữ được sử dụng trong các nghi lễ tế lễ trên khắp thế giới.

4.2.3. Đối thoại đa văn hoá

Đối thoại đa văn hoá và đa tôn giáo là những vấn đề quan trọng của toà thánh Va-ti-can để đảm bảo việc hiểu biết sâu sắc của người dân. V́ lư do này, Đức giáo hoàng đă chỉ định chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá, giáo chủ hồng y như là chủ tịch của Hội đồng hoàng gia về đối thoại đa tôn giáo. Theo như bản ghi chính thức công bố việc bổ nhiệm th́ chức vụ này được lập nên với mục đích thúc đẩy cuộc đối thoại sâu rộng hơn giữa những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá và những diễn giả đến từ nhiều nền tôn giáo khác nhau.

Đối thoại đa văn hoá được coi trọng trong Hội đồng Giáo hoàng về xây dựng văn hoá bức thông điệp do John Paul II viết( Một trong những sứ mệnh quan trọng là thúc đẩy đối thoại đa văn hoá và nó khuyến khích tất cả những thực thể hợp tác với ḿnh trong việc thúc đẩy vấn đề này ( như là sứ mệnh của các giáo mục đối với văn hoá và những trung tâm văn hoá địa phương cần phải kết hợp với Giáo hội Thiên chúa. Mặc dù những hoạt động của Hội đồng giáo hoàng được tiến hành khắp nơi trên thế giới nhưng Hội đồng cũng có trách nhiệm trong việc thúc đẩy đối thoại đa văn hoá trong chính toà thánh Va-ti-can. Hội đồng làm được điều này thông qua những ấn bản riêng của ḿnh, bằng việc tổ chức những cuộc họp liên Hội đồng hàng năm, những đóng góp trong quá tŕnh tư vấn về các tài liệu của các thực thể trong tổ chức và bằng việc thúc đẩy những người đứng đầu, triển lăm và giải thưởng điện ảnh, ..Các thể chế khác tích cực tham gia vào cuộc đối thoại đa văn hoá này là những phương tiện truyền thông trực tiếp liên kết hoặc phụ thuộc vào Va-ti- van như là L'Osservatore

Romano, L'Editrice Vaticana (Nhà Xuất bản Va-ti-can), và giới truyền thanh Va-ti-can. Bởi vị thế đặc biệt của Va-ti-can nên không có một hoạt động tư nhân nào trong lĩnh vực văn hoá.

4.2.4. Sự đa dạng của các phương tiện truyền thông và sự đa dạng về nội dung

V́ Toà thánh và thành phố Va-ti-can có bản chất đặc biệt nên không có cơ sở nào cho sự đa dạng của các phương tiện truyền thông và sự đa dạng về nội dung. Sự đa dạng này chỉ xuất hiện trong các Giáo hội ở các cấp địa phương. Những phương tiện truyền thông hiện nay trực tiếp phụ thuộc vào toà thánh Va-ti-can là:

Truyền thanh Va-ti-can được thành lập năm 1931 để phát những câu nói, bài tŕnh bày của Giáo hoàng, nó là trạm truyền thanh duy nhất ở thành phố tự trị Va-ti-can. Mặc dù đài phát thanh có những chương tŕnh âm nhạc, giáo dục và văn hoá, mục đích chính vẫn là phát đi những bài giảng đạo của Giáo hoàng bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Podcasting và RSS là những chương tŕnh chính của nó được đưa lên các trang web. Trung tâm truyền h́nh Va-ti-can quay thành phim và chiếu những tài liệu về hoạt động của Giáo hoàng trên khắp thế giới và những sự kiện của giáo hội diễn ra trong thành phố độc lập Va-ti-can. Nó không phải là trạm truyền h́nh mà là một cơ quan thông tin truyền h́nh và do đó không có kế hoạch truyền h́nh thường xuyên. Sứ mệnh của nó cũng bao gồm việc bảo vệ các quyền về tài liệu lịch sử trong các bộ phim và kết hợp như một cơ quan truyền h́nh để hợp tác với các tổ chức khác như là hệ thống truyền h́nh Châu âu và RAI và bảo tàng điện ảnh Va-tican. Từ những rạp chiếu bóng cổ đă giữ những tài liệu phim về hàng loạt những hoạt động của Giáo hoàng và những sự kiện chính trong cuộc sống của Giáo hội. Trang Web Va-ti-can. Trang web trực tuyến này được lập năm 1995 bao gồm những bài phát biểu và tài liệu của Giáo hoàng cũng như của các cá nhân thuộc toà thánh và thành phố độc lập Va-ti-can, đặc biệt là các bảo tàng. Địa chỉ trang web là:

4.2.5. Công nghiệp văn hoá: những chính sách và chương tŕnh

Mặc dù việc tiếp cận với di sản văn hoá là quyền không thể chuyển nhượng của loài người, v́ bản chất đặc biệt của thành phố Va-ti-can nên tất cả những tài sản văn hoá và kỹ nghệ bên trong Va-ti-can thuộc toà thánh Va-ti-can, do đó làm cho chúng không mang lại lợi nhuận. Vẫn có một số chương tŕnh hợp tác liên quan đến các phương tiện truyền thông. Toà thánh Va-tican đă đưa ra chương tŕnh VTC tiếp đến năm 2000, hợp tác với trung tâm truyền thanh Va-ti-can ( VTC). Sáng kiến này nhằm phát đi những chương tŕnh truyền thanh và truyền h́nh vệ tinh giá rẻ nhưng có chất lượng cao đến các quốc gia và trạm thu phát sóng bao gồm những trạm thu phát địa phương nhỏ ở các nước thuộc thế giới thứ 3. Một dự án khác VTC hướng vào Mỹ bao gồm việc truyền trực tiếp qua vệ tinh những tài liệu cho những trạm của Giáo hội Thiên chúa địa phương ở Mỹ. Trong những năm gần đây, truyền thanh Vatican đă phát triển những chương tŕnh hợp tác với nhiều trạm thu phát sóng của Giáo hội Thiên chúa nhằm cung cấp những chương tŕnh phát sóng miễn phí các dịch vụ của nó ở cấp độ cơ sở.

4.2.6. Chính sách lao động đối với lĩnh vực văn hoá

V́ toà thánh và thành phố độc lập Va-ti-can có bản chất đặc biệt nên các nhà chức năng không có chiến lược khuyến khích lao động trong lĩnh vực văn hoá.

4.2.7. Những vấn đề di sản và chính sách

Toàn bộ thành phố Va-ti-can được đưa vào bản Danh sách quốc tế của Liên Hợp Quốc về những tài sản văn hoá được bảo vệ đặc biệt  như được quy định trong Công ước Hague ngày 14 tháng 5 năm 1954( do toà thánh Vatican kư vào ngày 24 tháng 2 năm 1958). Thành phố độc lập Va-ti-can nằm trong danh sách Di sản văn hoá của loài người ngày 31 tháng 10 năm 1984 sau khi toà thánh Va-ti-can tham gia vào Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên của loài người vào 16 tháng 11 năm 1972. Năm 1990 tất cả những tài sản  ngoài lănh thổ toà thánh Va-ti-can đều được đưa vào bản cam kết. Toà thánh Va-ti-can kư Công ước Uỷ ban Châu âu về việc bảo vệ những di sản khảo cổ vào ngày 16 tháng 1 năm 1992, phê chuẩn ngày 6 tháng 5 năm 1999. Vào ngày 25 tháng 7 năm 2001, bộ Luật về bảo vệ tài sản văn hoá đă được thông qua, sau khi cập nhất những thông tin mới nhất của pháp Luật cơ bản của thành phố tự trị Va-ti-can ngày 26 tháng 11 năm 2000. Văn bản pháp luật này đă đưa ra bản kiểm kê tất cả các tài sản văn hoá của toà thánh Va-ti-can và thành phố tự trị Vatican và quy định những thủ tục cụ thể trong việc quản lư tài sản. Hội đồng Giáo hoàng về tài sản văn hoá đă soạn thảo và gửi 4 thông tư đến các giáo sĩ về việc quản lư tài sản văn hoá:

Những văn kiện đó chỉ ra sự cần thiết của việc ghi vào danh sách những giáo khu di sản văn hoá, nghệ thuật và những nghi lễ tôn giáo vẫn chưa được thực hiện nhằm khuyến khích việc xây dựng cơ cấu bảo tồn và phát triển những tài sản đó(bảo tàng, cơ quan văn thư lưu trữ và bảo tàng) và nhấn mạnh sự cần thiết của việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lư những di sản này(tăng lữ, những người thế tục và t́nh nguyện) thông qua những chương tŕnh đào tạo đặc biệt.

4.2.10 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

Thông qua chính bản chất của giáo hội và sự khuyến khích của các giáo hoàng trong giai đoạn hiện nay, triều chính toà thánh xă hội La mă ngày càng được toàn cầu hoá. Hơn nữa, trong những năm gần đây chúng ta có thể hoạt động của các Giáo hội có sự tham gia đáng kể của một số lượng lớn những người thế tục.

Trong đội ngũ 2707 cán bộ hiện nay có 1078 thầy tu, 94 nữ tu và 1595 người ngoại đạo( 1199 nam giới và 396 nữ giới). Người ngoại đạo chiếm 58.9 trong tổng số. Có 471 phụ nữ bao gồm cả những người ngoại đạo và nữ tu chiếm 18.1 % trong tổng số lực lượng lao động.

Bảng 1: B́nh đẳng giới trong đội ngũ cán bộ nhân viên toà thánh Va-ti-can, 2005

 

Đàn ông

1 018

Đàn bà

94

Tổng số

1112

 

Nguồn: Bảng so sánh tỷ lệ cán bộ nhân viên trong toà thánh Va-ti-can năm 2005. Phụ nữ giữ các vị trí trong các cơ quan và thể chế văn hoá khác nhau của toà thánh Va-ti-can bao gồm: Bảo tàng Va-ti-can, Viện khoa học xă hội và Hội đồng Giáo hoàng về khảo cổ. Phái đoàn chính thức của toà thánh Va-ti-can đến những hội nghị quốc tế với con số đại biểu là phụ nữ tăng đáng kể. Ví dụ như trưởng đoàn của đoàn đại biểu toà thánh Vatican đến Hội nghị Quốc tế của Liên hợp Quốc về Phụ nữ ( Bắc kinh năm 1995) là bà Mary Ann Glendon. Bà Gledon sau đó được bổ nhiệm làm chủ tịch Viện khoa học xă hội hoàng gia ở La mă. Vào tháng 4 năm 2004 lần đầu tiên một phụ nữ được bổ nhiệm làm thứ trưởng của Giáo đoàn phật giáo Consecrated Life, Sister Enrica Rosanna.

Năm 1988, John Paul II đă soạn thảo một văn bản liên quan đến vai tṛ của phụ nữ trong Giáo hội Thiên chúa, Mulieris dignitatem. Đó không phải là một văn bản pháp luật nhưng nội dung của văn bản phản ánh và vạch ra những nguyên tắc chủ đạo đối với các hành vi cư xử. Bức thông điệp gửi phụ nữ cũng khuyến khích việc đổi mới và toàn cầu hoá nhận thức về giá trị của phụ nữ và tôn trọng những nét nữ tính của phụ nữ. Tài liệu khác liên quan đến vấn đềt́nh dục và b́nh đẳng giới đă được công bố năm 2004 thông qua giáo đoàn phật giáo và sau đó do Cardinal J. Ratzinger chủ tŕ. Về vấn đề hợp tác giữa phụ nữ và nam giới trong giáo hội và trên thế giới, tài liệu này thể hiện cân bằng giữa giá trị của phụ nữ và nam giới bao gồm những hiểu biết đúng đắn về việc kết hợp giữa phụ nữ và nam giới, tôn trọng những sự khác biệt về giới và tầm quan trọng của giá trị phụ nữ trong giáo hội và xă hội.

5. Những điều khoản pháp luật chính trong lĩnh vực văn hoá

5.1.1 Hiến pháp

Đức giáo hoàng ban hành bộ Luật tiêu chuẩn năm 1983 trong đó quy định khung pháp lư chung cho toàn bộ những hoạt động pháp lư của giáo hội và văn bản thứ 15 tập trung vào những tài sản đương thời. Bộ Luật tiêu chuẩn số 1254-1310 cung cấp những nguyên tắc chỉ đạo đối với việc tập hợp giáo hội, giữ ǵn, quản lư và chuyển nhượng tài sản bao gồm những tài sản văn hoá. Tiêu chuẩn 22 cho phép việc tiêu chuẩn hoá Luật dân sự trong một số trường hợp và những tiêu chuẩn đó phù hợp với những yêu cầu của giáo hội liên quan đến những tài sản đương thời và Luật dân sự 1274,Đ5; 1284,Đ2,2°- 3°; 1286,1°; 1290; 1299,Đ2; 1500.

Triều chính toà thánh giáo hội nhà thờ La mă được quy định trong hiến pháp tông đồ  Pastor Bonus ( 1988) trong đó quy định cụ thể số lượng, thẩm quyền và cơ cấu của các cơ quan khác nhau trong cơ quan triều chính toà thánh giáo hội nhà thờ La mă, Luật cơ bản được ban hành năm 2000 và có hiệu lực thi hành vào ngày 22 tháng 2 năm 2001.

5.1.2. Phân bổ nguồn vốn nhà nước

Nguồn ngân sách cho các thể chế toà thánh Va-ti-can được Ban thư kư nhà nước phê duyệt hàng năm. V́ bản chất đặc biệt của toà thánh Va-ti-can nên nguồn vốn nhà nước không được phân bổ cho các cơ quan tư nhân

5.1.3. Khung an ninh xă hội

Tất cả những cá nhân làm việc cho toà thánh Va-ti-can hoặc trong thành phố độc lập Va-ti-cn được hệ thống an ninh xă hội - Fondo Assistenza Sanitaria bảo vệ, hệ thống này bao quát toàn bộ việc chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ xă hội.

5.1.4.Những quy định về thuế

Những hoạt động kinh doanh hoặc thu nhập ở thành phố tự trị Va-ti-can không bị đánh thuế. Tuy nhiên, những cam kết với các công ty nhà nước và tư nhân nước ngoài hoặc các tổ chức văn hoá được Giáo hội coi như là những nhân tố tích cực, với điều kiện là những công ty hoặc tổ chức tôn trọng bản chất tôn giáo đặc biệt của toà thánh Va-ti-can.

Những nguyên tắc hợp tác với các công ty và tổ chức trong việc khôi phục những tài sản văn hoá và nghệ thuật thuộc toà thánh Va-ti-can được quy định trong bộ Luật về bảo vệ tài sản văn hoá ngày 25 tháng 7 năm 2001 ( xem phần 4.2.9). Quyền tập hợp những tài liệu h́nh về Đức Giáo hoàng, toà thánh hay thành phố độc lập Va-ti-can đ̣i hỏi phải được sự cho phép của Hội đồng hoàng gia về truyền thông xă hội và bản hợp đồng với trung tâm truyền h́nh Va-ti-can.

5.1.5 Những quy định về ngôn ngữ

Bởi toà thánh Va-ti-can và thành phố Va-ti-can có bản chất đặc biệt nên không có quy định cụ thể nào về vấn đề ngôn ngữ trong lĩnh vực văn hoá.

5.2 Pháp luật về văn hoá

Thành phố độc lập Va-ti-can có bản chất đặc biệt, chỉ Đức Giáo hoàng có thẩm quyền xây dựng, sửa chữa hoặc cấm hoạt động những thể chế văn hoá trong khi đó ở mỗi khu vực giáo khu, giáo sĩ với sự giúp đỡ của các mục sư có quyền tự quyết những vấn đề văn hoá, luôn luôn tôn trọng quyền của các tín đồ sùng đạo để thành lập những cơ sở văn hoá. Như một tổ chức của sự hợp tác và thúc đẩy, Hội đồng văn hoá hoàng gia không có thẩm quyền pháp lư ǵ hơn những thể chế văn hoá của toà thánh Va-ti-can.

5.3 Di sản văn hoá

Theo điều khoản của Luật tiêu chuẩn, cho dù đó là giáo khu, chính giáo, xứ đạo, loại h́nh tôn giáo hay các hội đều là chủ sở hữu hợp pháp những tài sản văn hoá của họ. Nhiều tổ chức trong đó, tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo quốc gia đă đạt được những cam kết đặc biệt với các cơ quan thẩm quyền về pháp luật và hành chính của đất nước trong đó chúng hoạt động như những cơ quan bảo vệ và giữ ǵn những tài sản văn hoá của giáo hội, đặc biệt khi những tài sản đó được đưa vào danh sách những công tŕnh kỷ niệm quốc gia. Quyền tự quyết liên quan đến nhà nước làm cho các tổ chức có thể đưa ra cái nh́n tổng quan về pháp luật ở vùng đó. Hội đồng hoàng gia về tài sản văn hoá của giáo hội được thành lập với mong muốn khuyến khích sự quan tâm đến hoạt động bảo tồn di sản văn hoá của những giáo hội địa phương thông qua những hội đồng chiến lược và việc xuất bản những văn kiện chỉ đạo ( xem phần 4.2.9)

Đối với thành phố tự trị Va-ti-can, Uỷ ban thường trực quản lư những công tŕnh nghệ thuật và lịch sử của toà thánh Va-ti-can có trách nhiệm đối với việc bảo vệ và bảo tồn những tài sản là di sản văn hoá của toà thánh Va-ti-can. Không có một tài sản văn hoá tư nhân nào ở Va-ti-can

5.4 Phương tiện truyền thông

Phương tiện truyền thông gắn với toà thánh Va-ti-can ( Trạm truyền h́nh Va-ti-can, trạm truyền thanh Va-ti-can, Nhà xuất bản Va-ti-can và Báo chí Va-ti-can) là những phương tiện truyền giáo của Giáo hoàng và toà thánh Va-ti-can.

5.5.Những quy định đối với những nghệ sỹ tự do

Không có quy định cụ thể nào đối với những nghệ sỹ. Tuy nhiên, thông điệp của John Paul II trong năm 2000 gửi các nghệ sỹ bao gồm bản tuyên bố về những nguyên tắc trong mối quan hệ giữa giáo hội và các nghệ sỹ.

6. Cung cấp về tài chính cho lĩnh vực văn hoá

Khó có thể đưa ra cái nh́n tổng quan toàn diện nhất về việc chi tiêu của toà thánh Va-ti-can trong lĩnh vực văn hoá. Tuy nhiên những con số của 4 thể chế văn hoá gắn với toà thánh Va-ti-can- đài quan sát, truyền thanh, truyền h́nh, nhà xuất bản Va-ti-can có thể thống kê được và những bảo tàng và đài quan sát thiên văn cũng vậy.

7. Những thể chế văn hoá và những đối tác mới

7.1 Phân chia lại trách nhiệm của nhà nước

Thành phố độc lập Va-ti-can được thành lập để đảm bảo sự độc lập hoàn toàn của toà thánh Va-ti-can, đảm bảo nó như một nền chủ quyền được công nhận trên b́nh diện quốc tế không thể chối căi được. Do đó, Giáo hoàng, là người có thẩm quyền tối cao trong thành phố tự trị Va-ti-can, hoàn toàn có quyền tự do sử dụng quyền lực của ḿnh với hơn một tỷ người theo đạo Thiên chúa trên thế giới. Trong khi giáo hoàng sử dụng thẩm quyền trực tiếp ở những đơn vị giáo khu của riêng ḿnh. Giáo hoàng không thống trị trực tiếp toàn bộ các cơ quan giáo hội địa phương hoạt động trên khắp thế giới nhưng chủ tŕ toàn bộ lễ ban thánh thể như là người bảo hộ của các đơn vị thống nhất. Để thực hiện sứ mệnh cụ thể và toàn cầu này, giáo hoàng nhận được sự giúp đỡ của các tổ chức thuộc toà thánh Va-ti-can, phối hợp hoạt động h́nh thành triều chính toà giáo hội L a mă.

7.2 Vị thế/ vai tṛ và sự phát triển của các thể chế văn hoá chính

Học viện Giáo hoàng Benedict XVI khẳng định lại mục tiêu của những Học viện giáo hoàng trong một thông điệp gửi các thành viên năm 2005: “xây dựng dự án đổi mới chủ nghĩa nhân đạo đúng theo tâm niệm của chúa cho các giáo hội cũng như thế giới nghệ thuật và văn hoá. Dự án này rất có ư nghĩa và hữu ích đối với nam giới  cũng như phụ nữ trong thiên niên kỷ thứ”. Ông cũng nói thêm: “ Những việc làm như vậy là một nhiệm vụ khó khăn, một sứ mệnh cao quư, đem Chúa cứu thế đến cho loài người theo quan điểm của ông như là phương thức đem lại ấm no và hạnh phúc cho loài người”.

Học viện Khoa học Giáo hoàng là Viện dei Lince trước đây được xây dựng ở thành La mă vào năm 1603 và trong đó Galileo là một thành viên. Học viện này được Pius IX khôi phục năm 1847, được chính quyền Italy quốc hữu hoá sau khi chiếm được thành La mă năm 1870 và sau đó được Pius IV thiết lập lại. Học viện này được đặt tại khu vườn thành Va-ti-can ở Casina của Pius IV. 80 thành viên đă được lựa chọn không phụ thuộc vào dân tộc hay tôn giáo của học viện  và 40 người trong số đó là những người đă đoạt giải Nobel có sứ mệnh là tôn vinh giá trị của khoa học, đảm bảo sự độc lập của viện và khuyến khích nghiên cứu. Học viện này được toà thánh Va-ti-can hỗ trợ về tài chính.

Gần đây nhất, Học viện giáo hoàng về khoa học xă hội được thành lập năm 1994 với mục đích thúc đẩy những ngành khoa học con người. Viện Giáo hoàng về đời sống hàng ngày được xâu dựng năm 1984 và có 7 học viện là một phần của Uỷ ban hợp tác của các Học viện Giáo hoàng. Học viện cổ nhất là Học viện giáo hoàng về đồ cổ ở Pantheon được thành lập năm 1542. Trong những năm gần đây nhiều học viện đă tiến hành quá tŕnh hiện đại hoá bằng việc cập nhật những đạo luật và đổi mới những điểm trọng tâm. Những học viện này được toà thánh hỗ trợ về vốn và và nhiều loại h́nh hỗ trợ vốn mới đang được t́m kiếm.

Những bảo tàng toà thánh Va-ti-can

Giáo hoàng Clement XIV và Pius VII là những người sáng lập bảo tàng giáo hoàng và pḥng triển lăm của toà thánh Va-ti-can. Pḥng triễn lăm Nghệ thuật, bảo tàng Ai-cập, bảo tàng Etruscan, nhà thờ Sistine và pḥng Raphel hoặc những căn hộ Borgia nổi tiếng nhất trong những bảo tàng của toà thánh Va-ti-can. John XXIII đă xây dựng 3 bảo tàng Lateran- Bảo tàng chúa trời và trần thế, bảo tàng thần thánh, bảo tàng truyền giáo dân tộc học trong một công tŕnh xây dựng hiện đại mới mở cửa cho công chúng thăm quan từ năm 1970. Năm 1973, Paul VI đă xâu dựng bảo tàng Nghệ thuật tôn giáo hiện đại.

Lượng du khách tăng liên tục dẫn đến việc mở ra những điểm tiếp cận đối với các bảo tàng. Năm 1982, Hội nghệ thuật đă có người bảo trợ vào năm 1982, và cùng với những người Mỹ theo đạo Thiên chúa ( gồm cả những người theo đạo khác)  họ đă hỗ trợ về tài chínhcho việc khôi phục và bảo tồn những bảo tàng của toà thánh Va-ti-can. Bảo tàng Ai-cập đă được đổi mới hoàn toàn nhờ vào sự hỗ trợ như vậy. Việc khôi phục những bức tranh vẽ trên tường nhà thờ Sistine đă được tiến hành dưới sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ của các công ty Nhật bản.

Công tŕnh của thánh Peter

Tổ chức này có niên đại từ thời Giáo hoàng Julius II và có trách nhiệm với tất cả những ǵ liên quan đến hoàng cung La mă của thánh Peter- việc bảo tồn, trang trí cũng như tổ chức bảo vệ và thăm quan bên trong. Việc khôi phục những công tŕnh này cần một lượng tiền lớn dẫn đến việc cần t́m kiếm những nguồn hỗ trợ vốn từ bên ngoài. Do đó, La mă hoàng cung của thánh Peter và những hàng cây xung quanh Quảng trường thánh Peter được khôi phục và dọn dẹp sạch sẽ chuẩn bị cho lễ kỷ niệm ngày lễ đại xá năm 2000, một hoạt động có thể được thực hiện thông qua sự đóng góp của các nhà tài trợ. Họ là những người cung cấp hoàn toàn về tài chính. Những kết quả đạt được tạo ra niềm hi vọng về sự hợp tác mới trong tương lai. Công tŕnh của thánh Peter cũng có phân xưởng đồ khảm.

Những trung tâm giáo dục và đào tạo

Toà thánh Va-ti-can không có trung tâm đào tạo nào trong thành phố tự trị Va-tican. Tuy nhiên, một mạng lưới rộng các trường đại học Giáo hoàng chủ động về nguồn tài chính và quản lư dưới quyền của Giáo đoàn giáo dục Công giáo đối với việc chọn lựa những chuyên gia khoa học và phê duyệt những chương tŕnh. Có 9 trường đại học Giáo hoàng ở thành La mă, 4 khoa thần học giáo hoàng, 3 Viện Giáo hoàng đặc biệt( Viện thánh ca giáo hoàng, Viện Khảo cổ về những hiện vật của thần thánh giáo hoàng, Viện Giáo hoàng nghiên cứu về đạo Hồi và tiếng ả- rập), trong khi đó một mạng lưới rộng lớn những trường đại học Thiên chúa tồn tại khắp nơi trên thế giới. Trường đại học giáo hoàng của thành La mă trong những năm gần đây đă xây dựng một mạng lưới thông tin phối hợp với tất cả các bảo tàng giáo hội của thành La mă với tổng số hơn 3500000 quyển sách( xem phần 9.2- địa chỉ các trang web)

7.3 Những đối tác mới

Uỷ ban TW của ngày đại lễ đại xá được thành lập trong khi chuẩn bị cho hoạt động kỷ niệm ngày đại lễ đại xá năm 2000, đă đạt được nhiều cam kết hợp tác với những công ty khác nhau trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ để hỗ trợ cho những chi phí phát sinh trong những sự kiện của ngày lễ đại xá. Những hiệp ước song phương tương tự cũng được kư kết với nhiều công ty trong những hoạt động can thiệp cụ thể, đặc biệt là hoạt động khôi phục ( ví như, nhà thờ Sistine, La mă hoàng cung của thánh Peter và những hàng cây xung quanh quảng trường thánh Peter). Xu hướng hiện nay là nhằm vào các cá nhân riêng biệt trong từng chương tŕnh hợp tác hơn là hiệp ước toàn cầu.

  8. Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo và sự tham gia

8.1 Sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp đối với các nghệ sỹ

Một trong những mục tiêu của Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá là hỗ trợ những hoạt động sáng tạo nghệ thuật trong tất cả các lĩnh vực. Trong những năm gần đây những hội đồng nghệ thuật đă tăng đáng kể ở những giáo khu. Những trở ngại chính đối với hoạt động sáng tạo đó là việc  thiếu những cuộc đối thoại cụ thể giữa hoạt động nghệ thuật và những hoạt động của các giáo hội và những khó khăn trong việc huy động vốn.

8.1.1 Những nguồn vốn hỗ trợ đặc biệt của các nghệ sỹ

Không có nguồn vốn hỗ trợ cụ thể nào cho các nghệ sỹ v́ toà thánh Va-ti-can và thành phố độc lập Va-ti-can có bản chất đặc biệt.

Một giải thưởng hàng năm của các học viện Giáo hoàng đă được đưa ra nhằm khuyến khích những hoạt động văn hoá và thúc đẩy những hoạt động sáng tạo. Giải thưởng này được Đức giáo hoàng trao hàng năm cho các nhà nghiên cứu hoặc nghệ sỹ đến từ những tổ chức đặc biệt hoặc trao cho những thể chế độc lập. Giải thưởng này như là sự ghi nhận cho những đóng góp đặc biệt đối với sự phát triển của khoa học tôn giáo, chủ nghĩa nhân đạo tôn giáo và sự những đặc điểm nghệ thuật của chúng. Giải thưởng này có tổng giá trị là 30 000 euro cho các sự kiện văn hoá, xuất bản hoặc là các suất học bổng. Hàng năm 7 học viện chọn một ứng cử viên trong một lĩnh vực lần lượt từ 4 ngành: triết học và thần học, ngành nghiên cứu Đức mẹ, lịch sử và khảo cổ, mỹ thuật và văn học. Những người đoạt giải được chọ dựa trên cơ sở thẩm định của các viện văn hoá và sự bổ nhiệm của các Hội đồng. Hội đồng nghệ thuật và văn hoá của đại lễ đại xá được thành lập trong suốt lễ kỷ niệm của ngày lế đại xá năm 2000 với nhiệm vụ đánh giá những sự kiện âm nhạc, nghệ thuật, điện ảnh và kịch được tŕnh diễn trong suốt lễ đại xá. Hội đồng này có quyền sử dụng những biểu tượng chính thức của ngày lễ đại xá. Hội đồng tổ chức một cuộc thi để chọn bài thánh ca chính thức cho lễ đại xá. Hiện nay, không có một chương tŕnh cụ thể nào cho hội đồng về những công tŕnh nghệ thuật mới ở thành phố độc lập Va-ti-can và công tŕnh của thánh Peter.

8.2 Việc tham gia và thưởng thức văn hoá

8.2.1 Những xu hướng và con số thống kê

Bởi toà thánh Va-ti-can có bản chất đặc biệt nên không có con số thống kế cụ thể về sự tham gia vào những sự kiện văn hoá cũng như không có bất kỳ cuộc điều tra nào giám sát sự tham gia của những người dân thiểu số. Tuy nhiên, những dữ liệu về số du khách đến thăm 2 thể chế văn hoá là những bảo tàng Va-ti-can và La mă hoàng cung thánh Peter đă được thống kê. Những con số thống kê này cho thấy số du khách tăng liên tục hàng năm.

Năm 2005 Bảo tàng Va-ti-can đón tổng số khách du lịch tới thăm là 3 822 234, so với 3 528 042 năm 200 trong lễ đại xá. Con số này chứng tỏ sự ổn định về lượng du khách. B́nh quân số du khách hàng tháng năm 2004 là 318 520 người và số du khách hàng ngày là 12410. Con số du khách đông nhất là vào tháng 5 với 424 628 người ( Nguồn: Cơ quan báo chí, bảo tàng Va-ti-can). Con số du khách b́nh quân đến La mă hoàng cung của thánh Peter năm 1999 theo ước tính là 10 000 người mỗi ngày, trong khi trong năm 2000 số du khách b́nh quân là 20 000. Có 1 900 000 du khách đến thăm kiến trúc mái ṿm thánh Peter năm 1998, 870 00 năm 1999 và 1 100 000 người năm 2000. Năm 2004, Có khoảng 50 817 tới thăm khu khảo cổ của khu nghĩa địa thành Va-ti-can dưới La mă hoàng cung, tăng 6 472 people, cân bằng với 12.07% so với năm 2003. (Nguồn: Attività della Santa Sede 2004).

8.2.2 Những chính sách và chương tŕnh

Trong những năm gần đây, ngày chủ nhật cuối cùng của mỗi tháng là ngày vào cửa Bảo tàng thành Va-ti-can tự do và những nhóm học sinh cũng có thể vào thăm bảo tàng một cách dễ dàng. Mối liên hệ giữa văn hoá, sự phát triển của xă hội văn minh và sự cấu kết xă hội đă được các Giáo hoàng nhấn mạnh. Tuy nhiên không có mối liên hệ rơ ràng giữa thông điệp cần thiết đó và chính sách văn hóa của toà thánh hay thành phố tự trị Va-ti-can

8.3 Giáo dục văn hoá và nghệ thuật

8.3.1 Giáo dục nghệ thuật

Một vài thể chế kết hợp với toà thánh Va-ti-can đă tổ chức những hoạt động đào tạo đặc biệt trong lĩnh vực văn thư lưu trữ. Mặc dù những tài liệu bí mật của toà thánh Va-ti-can đầu tiên và trước hết là phục vụ cho chính toà thánh này nhưng kể từ thời giáo hoàng Benedict XV các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận với các nguồn tài liệu này. Một ngôi trường ở Va-ti-can về Văn thư và lưu trữ học đă đi vào hoạt động từ đầu thế kỷ 20 và đă tổ chức các khoá học hàng năm cho các chuyên viên lưu trữ văn thư từ năm 1923. Từ năm 1934, Bảo tàng tông đồ đă có một trường học về khoa học bảo tàng tổ chức các khoá học hàng năm. Viện giáo hoàng về thánh ca là một trung tâm tiêu biểu đưa ra những khoá học giáo dục La mă tiêu biểu nhất về nghệ thuật thánh ca. Học viện này sắp xếp những lớp học âm nhạc trực tiếp và chính sách trong giáo khu trên thế giới. Tác động của quá tŕnh Bolona về giáo dục công giáo được coi là phiên bản của những chương tŕnh nghiên cứu toà thánh Va-ti-can ở Sapientia Christiana. Toà thánh Va-ti-can cũng thúc đẩy và khuyến khích những hoạt động Nâng cao và đảm bảo chất lượng trong khi cân nhắc những quyết định cuối cùng đối với vấn đề nội bộ. Những nguyên tắc chỉ đạo đối với đánh giá nội bộ đă được h́nh thành và thay thế. Toà thánh Va-ti-can cũng có những đóng góp đáng kể trong việc thành lập “ Khu vực giáo dục đại học Châu âu’ bằng việc đặt ra những thách thức đương thời về văn hoá liên quan đến những giá trị cơ bản và di sản văn hoá. Những vấn đề này cũng được đưa vào các trường đại học Châu âu. Các Giáo hội tiếp tục thách thức việc thành lập những cơ sở giáo dục tham dự vào quá tŕnh Bologna để nâng cao giá trị con người, thúc đẩy sự công bằng và giữ ǵn hoà b́nh.

8.3.2 Giáo dục đa văn hoá

Bản chất của chính sách giáo dục của toà thánh Va-ti-can là đa văn hoá. Những khoa giáo sĩ cấp bằng theo tiêu chuẩn và quy tắc của giáo hội cho các giáo sĩ sau khi tốt nghiệp và mặc dù vẫn c̣n nhiều quốc gia khác nhau tin tưởng vào Giáo đoàn toà thánh Va-ti-can về giáo dục. Giáo đoàn này có những đặc điểm đa văn hoá: khi ở giai đoạn đầu của giáo dục đa văn hoá họ bảo vệ và phát triển những đặc điểm của đạo Thiên chúa của riêng ḿnh trong khuôn khổ pháp lư được ghi trong văn bản Sapientia Christiana; sau đó hoà nhập với môi trường văn hoá địa phương, họ có những điểm hoà nhập nhất định vào hệ thống văn hoá quốc gia. Cũng như vậy, nhiều thể chế đa văn hoá, các nhóm nghiên cứu, nhóm chuyên gia cố vấn và những hiệp hội có kinh nghiệm đă thành lập hoặc liên kết vơi những trường đại học Thiên chúa khác nhau. Như là Ex Corde Ecclesiae, một tài liệu bao quát những thể chế giáo dục như vậy, trong đó có quy định bắt buộc các trường đại học Thiên chúa liên kết với giới học thuật, khoa học văn hoá của vùng. Những trung tâm văn hoá, học thuật và khoa học này được xây dựng nhằm thúc đẩy những các h́nh thức đối thoại và hợp tác phù hợp với bối cảnh văn hoá địa phương.

8.4 Những nghệ sĩ nghiệp dư, các tổ chức văn hoá và trung tâm cộng đồng

8.4.1 Những nghệ sĩ nghiệp dư

Thành phố độc lập Va-ti-can không có một hội văn hoá nghệ sĩ phi lợi nhuận nào.

8.4.2 Nhà văn hoá và các câu lạc bộ văn hóa cộng đồng

Hội đồng Giáo hoàng về văn hoá đă thực hiện một cuộc thống kê về những trung tâm văn hoá của đạo Thiên Chúa khắp nơi trên thế giới. Những thể chế đa dạng và giàu có như vậy đă được đưa vào danh sách với tiêu đề “ Trung tâm văn hóa Thiên chúa”. Chúng ta có thể thấy được điều đó không chỉ thông qua phạm vi của tiêu đề ( trung tâm văn hoá, học viện, các thể chế đại học, các trường cao đẳng) và những lĩnh vực đặc biệt đặc