1. Khái quát lịch sử:  chính sách và thiết chế văn hoá

2.Thẩm quyền, ra quyết định và quản lư

3. các mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá

4. Vấn đề hiện nay trong phát triển chính sách văn hoá

5. Những quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

6. Cung cấp tài chính cho văn hoá

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác mới

8. Hỗ trợ và tham gia hoạt động sáng tạo

1. Khái quát lịch sử:  chính sách và thiết chế văn hoá

Ư là một quốc gia tương đối trẻ mà sự thống nhất mới chỉ  lập lại vào năm 1860.  Bộ luật đầu tiên về các vấn đề văn hoá được Nghị viện thông qua vào  năm 1902 và 1909, tập trung chủ yếu vào việc bảo vệ di sản.

Những năm 1920 và 1930, người ta đă chứng kiến một khoảng cách đáng kể so với xu hướng lâu đời này khi Ư là một trong những nước đầu tiên lập ra một bộ chuyên trách về lĩnh vực văn hoá. Phần lớn luật pháp văn hoá Ư quy đinh việc bảo vệ các di sản, ngoài ra c̣n có bộ luật bản quyền hay c̣n gọi “2% đối với các tác phẩm nghệ thuật trong các công tŕnh công cộng đều được ban hành trong những năm 1930”.

Năm 1917 việc chia tách các vùng đă đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách văn hoá khá tŕ trệ của Ư. Một số vùng  rất năng động trong lĩnh vực này khi họ Ư thức được tiềm năng của văn hoá và các tác phẩm nghệ thuật như một cách khẳng định bản sắc của ḿnh. Khoảng giữa thập niên 70, các thành phố tự trị đă theo đuổi cách thức này và việc khuyến khích phát triển văn hoá và tham gia rộng răi hơn đă trở thành  vấn đề quốc gia gây nhiều tranh căi.

Năm 1998, chính phủ cánh hữu  đă mở rộng phạm vi trách nhiệm của Bộ Di sản đối với nghệ thuật biểu diễn, chiếu phim và bản quyền mà trước đó phó thác cho Văn pḥng Thủ tướng. Bộ Di sản  và các hoạt động văn hoá đă có được một vị trí xứng đáng so với hầu hết các Bộ hiện có ở các nước châu Âu, chỉ có trách nhiệm trong lĩnh vực thông tin và giáo dục nghệ thuật vẫn nằm ngoài phạm vi của nó.

Thực tế, cho dù những thay đổi sâu sắc liên quan đến thu nhập của các đảng phái chính trị khác nhau, nhưng cơ quan quản lư văn hoá quốc gia Ư vẫn rất khó quản lư  chính quyền địa phương, hầu hết là chức năng quản lư trực tiếp trong các vấn đề chiến lược. Khoảng cách về cung cầu văn hoá giữa các vùng trung tâm, phía Bắc giàu có và phát triển c̣n miền Nam thực tế vẫn là một vấn đề nan giải. Theo cuốn “Rapporto sull’ Economia della Cultura in Italia (Bodo, Spada, 2004) (Báo cáo về t́nh h́nh phát triển kinh tế và văn hoá của Ư) trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 xuất bản gần đây cho thấy khoảng cách này đă trở nên rộng hơn. ở một số vùng đặc quyền về kinh tế  như Mezzogiorno, một vùng rất giàu các di sản và truyền thống văn hoá cũng như các tài năng nghệ thuật, đă phải chịu nhiều ảnh hưởng do thiếu các nguồn tài chính của nhà nước và tư nhân.

 

Trở về

2.Thẩm quyền, ra quyết định và quản lư

2.1. Tổng quát về hệ thống quản lư.

Ở Ư có bốn cấp quản lư: Nhà nước, vùng, tỉnh và đặc khu cùng chia sẻ trách nhiệm trong lĩnh vực văn hoá (xem phần 2.2). Hiện tại, chức năng quan trọng nhất trong cơ cấu quản lư của các chính sách văn hoá tập trung ở Nhà nước, chịu trách nhiệm phân bổ khoảng một nửa tổng kinh phí của chính phủ về văn hoá(xem phần 6.3).

Chính phủ

Ở cấp quốc gia, các chức năng quản lư chủ yếu được 5 Bộ thực hiện, nhất là Bộ Di sản chịu trách nhiệm về các di sản, thư viện, cơ quan lưu trữ, các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn và tŕnh chiếu, các viện văn hoá và bản quyền. Trách nhiệm về thông tin, phát thanh truyền h́nh, báo chí do Văn pḥng Thủ tướng chịu trách nhiệm về hỗ trợ tài chính cho báo chí và các dịch vụ nghe nh́n, c̣n Bộ Giao thông chịu trách nhiệm về các chức năng điều tiết trong toàn bộ hệ thống giao thông. Những luật đă được thông qua (Theo Hội đồng châu Âu/ERI Carts, Bảng tóm lược về các chính sách và xu hướng phát triển văn hoá ở Châu âu, xuất bản lần thứ 6, 2005 I-5 Ư) do cơ quan thanh tra giao thông có thẩm quyền độc lập giam sát. Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm về hoạt động hợp tác văn hoá quốc tế và Bộ Giáo dục th́ chlịu trách nhiệm về đào tạo nghệ sĩ.

Trong khi cơ cấu thể chế chính phủ tiền nhiệm vẫn không thay đổi, th́ cơ cấu tổ chức của Bộ Di sản và các hoạt động nghệ thuật, do nghị định 411/2000 điều chỉnh đă được sửa đổi bằng nghị định 3/2004.

Như đă đề cập ở phần 2.1, trong khi các chức năng liên quan đến chiến lược trước đây tập trung vào vị trí rất quan trọng th́ cơ quan của Bộ nay đă trở thành một cơ cấu quản lư hành chính. Các chức năng trước đây được phân bố lại giữa các lănh đạo của 4 cơ quan và giám sát hơn 10 uỷ ban chuyên trách.

Một thay đổi khác liên quan đến soprintendenze - vùng trước kia, các chi nhánh địa phương của Bộ cùng hoạt động như một cơ quan quản lư văn hoá vùng thống nhất, giờ đă chuyển thành 17 uỷ ban vùng (3 trong số 20 vùng, soprintendenze đă được Nhà nước chuyển giao cho các vùng. Vấn đề là  hầu hết các giám đốc trước đây đều là những chuyên gia rất giỏi trong lĩnh vực di sản (khảo cổ, sử học, nghệ thuật,…) th́ nay các tổng giám đốc vùng đều không đ̣i hỏi phải có bằng cấp kỹ thuật chuyên ngành hay bằng cấp quản lư nào. Nhưng trong tương lai các công chức gần hơn với quyền lực chính trị sẽ được giao phó những quyết định tế nhị tự do mà rất cần một tŕnh độ chuyên môn cao, ví dụ như xác định “hàng hoá liên quan đến văn hoá”.

Các chức năng lập pháp được tập trung ở Hạ viện và Thượng viện chủ yếu thông qua các Uỷ ban Văn hoá, việc thông qua luật ngân sách hàng năm của Nghị viện cũng đóng một vai tṛ trong hệ thống chi tiêu của Chính phủ. Các phiên họp của Nghị viện về luật này thường dẫn đến những cuộc thảo luận gay gắt trong việc chi tiêu của nhà nước cho văn hoá mà về mặt tiêu cực đôi khi dẫn đến những khoản cắt giảm ngân sách (các khoản trợ cấp cho nghệ thuật biểu diễn là một trong những mục tiêu đang được theo đuổi). Về mặt tích cực, nó có thể dẫn đến sự phối hợp giữa các khoản ngân sách văn hoá do luật quy định với việc bổ sung từ các nguồn khác như sổ xố, hay 3% từ các hoạt động đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng được dành cho các mục đích văn hoá (xem thêm chương 5.1.3)

2.3 Hợp tác liên Bộ hoặc giữa các cấp chính quyền

Trong quan hệ hợp tác liên Bộ theo chiều ngang từ tr­ước đến nay sự hợp tác giữa Bộ Di sản thực hiện với Bộ Ngoại giao trong các quan hệ văn hoá với nư­ớc ngoài (xem phần 2.4), và giữa Bộ Di sản với Bộ giáo dục trong vấn đề giáo dục và đào tạo nghệ thuật tại các trư­ờng học (xem 4.2.8).

Một diễn biến quan trọng gần đây là từ năm 1999 Bộ Di sản tham gia vào Uỷ ban liên bộ về kế hoạch kinh tế (CIPE) của Bộ Kinh tế. Thông qua sự tham gia vào Uỷ ban chiến lư­ợc này, cơ quan chịu trách nhiệm phân bổ Quỹ cơ cấu châu Âu, 2.7 tỉ euro (7.22% tổng nguồn sẵn có) đă đư­ợc phân bổ đến các Vùng Mục tiêu 1 ở miền Nam nư­ớc Ư để đầu t­ư vốn vào lĩnh vực văn hoá đă đ­ược nói đến trong kế hoạch 2000-2006.

Trong quan hệ theo chiều dọc giữa các cấp chính quyền, diễn biến quan trọng nhất trong những năm gần đây là mối quan tâm ngày càng tăng đến các hiệp định kế hoạch song phư­ơng (“accordi di programma”) trong lĩnh vực văn hoá. Trong các năm 1999-2000, các hiệp định thuộc loại này đă đ­ược bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá kƯ với mư­ời Vùng (bao gồm cả Lombardia, Piemonte, Toscana, Lazio và Campania) với khoản chi ư­ớc tính trên 1.1 tỉ euro (chủ yếu đầu t­ư vốn) và hơn 300 dự án. Mặc dù xu hư­ớng phổ biến là thúc đẩy các quan hệ đối tác trong việc quản lư di sản văn hoá, những dự án trong lĩnh vực nghệ thuật cũng đ­ược đư­a vào.

Cho đến nay, các thoả thuận kế hoạch song phư­ơng đ­ược nhà nước và các vùng thực hiện như­ là các công cụ đồng tài trợ, là cơ hội hợp tác thực tế với các đối tác khác nhau. Sự tham gia của các cơ quan địa phư­ơng và tổ chức công khác cũng như­ khối tư­ nhân chỉ diễn ra tại giai đoạn thực hiện của từng dự án riêng lẻ. T Điều này có thể thúc đẩy quá tŕnh ban hành quyết định th́ nó cũng dẫn đến sự hạn chế trong việc hoạch định mà ở đó tiềm năng của sự hợp tác không đư­ợc khai thác đầy đủ.

2.4 Hợp tác văn hoá quốc tế

Mặc dù cơ quan chủ đạo về hợp tác quốc tế là Vụ Hợp tác và phát triển Văn hoá thuộc Bộ Ngoại Giao, việc ban hành chính sách văn hoá đư­ợc thực hiện dựa trên sự đồng thuận với Bộ Di sản và hoạt động Văn hoá.

Các lĩnh vực hoạt động chính bao gồm:

A) Hợp tác văn hoá đa phư­ơng, chủ yếu bao gồm sự tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế như­ UNESCO (tập trung chính vào các di sản), Hội đồng châu Âu và Liên minh châu Âu (trong đó n­ước Ư đóng vai tṛ quan trọng về văn hoá trong chính sách của châu Âu)

B) Hợp tác văn hoá song phư­ơng, đư­ợc thực hiện thông qua:

- Viện văn hoá Ư ở n­ước ngoài: Cơ quan này có nhiệm vụ quảng bá văn hoá Ư. Các tổ chức thuộc Viện, đư­ợc luật quy định, chịu sự giám sát của quốc hội, đệ tŕnh lên quốc hội một số dự thảo luật sửa đổi.

- Thông qua sự gia tăng  thoả thuận văn hoá song phư­ơng thời gian gần đây. Chủ yếu liên quan đến hợp tác sản xuất phim và trao đổi các sự kiện, trong phạm vi quan tâm của các nư­ớc châu Âu và Hoa Kỳ.

- Thông qua trợ giúp kỹ thuật, đào tạo và hỗ trợ tài chính của Vụ hợp tác và phát triển thuộc Bộ Ngoại giao: thúc đẩy mạnh mẽ các quan hệ này. Đáng chú Ư là vị trí hàng đầu của nư­ớc Ư đ­ược thừa nhận về mặt quốc tế trong lĩnh vực di sản, đă diễn ra từ cuối những năm 90, với nhiệm vụ và phục hồi về khảo cổ đă tham gia tích cực vào các nư­ớc như­ ở Bắc Phi (Marốc, Libi, Aicập), ở Trung Đông (Siri, Irắc, Iran, Afghanistan), và ở Viễn Đông (Trung Quốc).

Các ư­u tiên chính của chính quyền hiện nay trong việc hợp tác văn hoá quốc tế đư­ợc nêu rơ trong một chỉ thị gần đây do Uỷ ban Quốc gia về quảng bá Văn hoá và ngôn ngữ Ư ở nư­ớc ngoài ban hành: Một cơ quan tư­ vấn liên bộ cũng đ­ược thành lập theo luật 401/1990. Các ư­u tiên bao gồm:

- Quảng bá hiệu quả hơn văn hoá và ngôn ngữ Ư tại các nư­ớc có các cộng đồng lớn những ngư­ời gốc Ư.

- Phát triển mạnh hơn các mối liên hệ giữa các hoạt động văn hoá và kinh tế ở nư­ớc ngoài (đặc biệt trong các lĩnh vực thời trang, thiết kế, cộng nghệ và nghệ thuật ẩm thực)

- Thúc đẩy hợp tác giữa khối nhà nư­ớc và tư­ nhân trong hợp tác văn hoá với nước ngoài (mà trư­ờng hợp đ­ược nói đến nhiều nhất là việc tổ chức vào năm 2000 và 2001 chư­ơng tŕnh Ư-Giappone, một loạt các triển lăm và các sự kiện đư­ợc các hội đoàn của nhà nư­ớc và tư­ nhân tổ chức ở Nhật Bản).

 

Trở về

3. các mục tiêu chung và nguyên tắc của chính sách văn hoá

3.1 Các yếu tố chính của mô h́nh chính sách văn hoá hiện nay

Mô h́nh chính sách văn hoá có thể đư­ợc xem xét trên quan điểm quản lư hành chính và trên quan điểm văn hoá.

 

Mô h́nh hành chính luôn là sự can thiệp hoặc tham gia của các cơ quan hành chính trong việc hỗ trợ các hoạt động văn hoá. Trong nhiều trư­ờng hợp, quản lư các tổ chức văn hoá (bảo tàng, nhà hát…), thông qua các bộ hoặc các ban ngành không thư­ờng trực tại các vùng, tỉnh và thành phố (“assessorati alla cultura”). Một vài cơ quan nhà nư­ớc độc lập cũng tồn tại ở cấp nhà nư­ớc, ví dụ nh­ư Venice Biennale, ETI (Viện Nhà hát Ư), Cơ quan truyền thông… nh­ưng đó là những ngoại lệ.

Mô h́nh hành chính có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống kinh tế phức tạp trong đó khối nhà nư­ớc là nguồn tài trợ chủ yếu cho các di sản và bảo tàng, lư­u trữ, thư­ viện, và ở một mức độ nhất định là nghệ thuật tŕnh diễn. Các ngành văn hoá(với ngoại lệ là RAI) chủ yếu đư­ợc hỗ trợ bởi hoạt động kinh doanh, trong trư­ờng hợp hoạt động kinh doanh yếu kém nhà nư­ớc sẽ hỗ trợ một phần. Sự hỗ trợ của nhà nước đối với báo chí đặc biệt tăng mạnh vào những năm của thập niên 90, để bù đắp thua lỗ trong kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế ngặt nghèo của ngân sách quốc gia, Chính phủ hiện đang thúc đẩy sự tham gia trực tiếp nhiều hơn của khối tư­ nhân, các nhà tài trợ, những ngư­ời ủng hộ, và cuối cùng như­ng không kém phần quan trọng đó là thị trư­ờng đang đư­ợc thúc đẩy mạnh mẽ để gia tăng sự đóng góp của họ cho các ngành văn hoá và các lĩnh vực thuộc di sản và nghệ thuật tŕnh diễn (xem thêm phần 5.15., phần 7.2, và 7.3).

3.2 Định nghĩa về văn hoá

Ở Ư không có định nghĩa chính thức về “văn hoá” cũng không có các ranh giới định rơ lĩnh vực văn hoá trong hoạt động của Chính phủ. Sự giải thích duy lư của hầu hết các cơ quan có thẩm quyền thuộc  bộ là kết quả của một quá tŕnh thực tiễn lâu dài (xem thêm phần 1).

Mặt khác nư­ớc Ư luôn tham gia tích cực vào  công việc của các tổ chức quốc tế (trư­ớc hết là của UNESCO, tiếp theo là EU) nhằm thiết lập một định nghĩa chung về văn hoá để hài hoà về mặt thống kê và tư­ơng đối giữa các nư­ớc khác nhau.

Định nghĩa hiện nay của Eurostat về văn hoá, đư­ợc chính phủ Ư cũng như­ các nư­ớc châu Âu khác chấp thuận, bao gồm các lĩnh vực sau đây: di sản, lư­u trữ, thư­ viện, nghệ thuật thị giác, kiến trúc, nghệ thuật tŕnh diễn, sách, báo, điện ảnh và lĩnh vực nghe nh́n.

3.3 Các mục tiêu chính sách văn hoá

Trong phạm vi Hiến pháp Ư (sắc luật 368/1998), các mục tiêu chi tiết đư­ợc xác định như­ sau:

a) Bảo vệ và phát triển các di sản;

b) Thúc đẩy việc đọc và phát triển các loại sách và thư­ viện;

c) Thúc đẩy văn hoá đô thị và kiến trúc;

d) Thúc đẩy các hoạt động văn hoá, với liên hệ cụ thể đến nghệ thuật tŕnh diễn, điện ảnh và nghệ thuật thị giác;

e) Hỗ trợ nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật;

f) Đào tạo nâng cao các kiến thức về văn hoá;

g) Truyền bá văn hoá và nghệ thuật Ư ở nư­ớc ngoài.

Mặc dù không có sự tư­ơng quan của những mục tiêu này với các nguyên tắc chính sách văn hoá của Hội đồng châu Âu, chúng ta cũng thấy rằng mục tiêu a) có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề bản sắc, và mục tiêu d) và e) liên quan đến vấn đề sáng tạo.

Mặt khác, sự nhấn mạnh, mặc dù thấp hơn, cũng đ­ược đặt ra đối với các vấn đề liên quan đến xă hội, như­ đa dạng văn hoá và sự tham gia vào đời sống văn hoá. Dường như­ có sự tŕ hoăn nào đó, đặc biệt ở cấp quốc gia, trong việc thừa nhận vai tṛ tiềm năng của chính sách văn hoá trong việc thúc đẩy sự gắn kết xă hội và hiểu biết lẫn nhau trong một xă hội đa văn hoá

 

Trở về

4. Vấn đề hiện nay trong phát triển chính sách văn hoá

4.1 Các vấn đề chính sách chủ yếu và những ưu tiên

Trong ṿng năm năm qua có hai liên minh chính phủ giám sát sau:

Những ư­u tiên chính của liên minh trung tả trong các năm từ 1995-2001 đư­ợc Bộ trư­ởng Walter Veltroni đề ra, và sau đó là Bộ trư­ởng Giovanna Melandri – có thể tóm tắt như­ sau:

- Đ­a chính sách văn hoá vào trọng tâm hoạt động kinh tế xă hội của chính phủ, mà đỉnh cao là việc thành lập Bộ chuyên trách về văn hoá vào năm 1998.

- Tăng cư­ờng mức chi tiêu của nhà nư­ớc đối với văn hoá, chủ yếu nhằm đạt được, mặc dù có những hạn chế về ngân sách, thông qua các nguồn tài trợ khác nhau (xổ số cho văn hoá, và sử dụng hiệu quả hơn các quỹ cơ cấu châu Âu, v.v..);

- Phát triển quan hệ đối tác nhà nư­ớc – tư­ nhân để hỗ trợ các hoạt động văn hoá thông qua những khuyến khích về tài chính cũng như­ sự t­ư nhân hoá và các biện pháp cải tổ

- Tập trung tăng cư­ờng vào các vấn đề như­ sáng tạo hiện đại và khán giả.

Đối với chính phủ trung hữu (lên nắm quyền từ mùa xuân 2001), việc cần có một bộ chuyên trách về văn hoá, và vai tṛ cao hơn của văn hoá trong sự phát triển kinh tế đư­ợc vị bộ trư­ởng mới, Giuliano Urbani nhắc đến nhiều lần. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức đ­ược thiết lập vào năm 2001 đối với Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá của chính phủ trư­ớc đó đă có những thay đổi đáng kể (xem phần 2.1).

Sự thay đổi cơ bản trong những ư­u tiên chính của chính phủ trong lĩnh vực văn hoá, rơ ràng hơn với tư­ t­ưởng “tự do mới’, đă trở nên rơ ràng trong thời gian gần đây. Luật văn hoá ban hành vào năm 2004 không có đư­ợc những thay đổi (xem phần 5), đáng chú Ư là những nguyên tắc sau:

- Mục tiêu hợp lư hoá và cải tổ hàng loạt luật (và các sửa đổi sau này) hiện nay điều chỉnh các vấn đề văn hoá khác nhau, di sản, điện ảnh, nghệ thuật tŕnh diễn, v.v..  bằng việc ban hành các luật có hệ thống và toàn diện để giải quyết mọi khía cạnh phức tạp của các lĩnh vực khác nhau;

- Nhấn mạnh hơn vai tṛ của khối tư­ nhân, cả về việc tạo lợi nhuận và phi lợi nhuận trong lĩnh vực văn hoá, cũng như­ các biện pháp thúc đẩy sự chuyển giao quản lư các định chế văn hoá cho các tổ chức t­ư nhân, hoặc các đặc quyền khi không phải là tài sản nhà nư­ớc đối với những tài sản lịch sử

- Trong phạm vi các ngành kinh doanh văn hoá, nới lỏng các hạn chế đ­ược nói đến trong luật chống độc quyền trư­ớc đây, bằng cách dỡ bỏ hạn mức đầu tư­ doanh nghiệp vào lĩnh vực truyền thông, và dỡ bỏ, mặc dù thực hiện từ năm 2009 trở đi, hạn chế về sở hữu chéo giữa báo viết và truyền h́nh.

Những thay đổi rộng răi và sâu sắc trong pháp luật đối với các vấn đề trọng tâm của nghệ thuật và văn hoá cũng như­ các chính sách truyền thông và thông tin kéo theo các cuộc tranh luật gay gắt tại Nghị viện cũng nh­ư trên báo chí và trong xă hội nói chung.

4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và các tranh căi

4.2.1 Quy định về văn hoá của cộng đồng thiểu số

Vấn đề văn hoá của dân tộc thiểu số không đ­ược tranh luận nhiều lắm ở í, và không có những biện pháp quan trọng nào đ­ược thực hiện trong thời gian gần đây để hỗ trợ văn hoá của dân tộc thiểu số.

Quyền của những ngư­ời bản địa, đ­ược chính thức xem như­ là văn hoá của người thiểu số (ng­ười Pháp ở Val d’ Aosta, ngư­ời Đức và Ladin ở Bolzano, ngư­ời Slovinia ở Friuli Venezia Giulia) đư­ợc bảo đảm khá tốt thông qua các luật của nhà nư­ớc và của vùng kể từ thời hậu chiến, và đư­ợc bảo đảm bởi Hiến pháp dân chủ mới (Điều 6).

Vấn đề xây dựng chính sách đổi mới nhằm hội nhập những cộng đồng nhập cư­ (con số chính thức là khoang 2.6 triệu ngư­ời năm 2004, như­ng thực tế lớn hơn rất nhiều) đă đư­ợc giải quyết ở cấp quốc gia, chỉ trong lĩnh vực giáo dục. Cho đến nay, vai tṛ của văn hoá và nghệ thuật c̣n bị bỏ ngỏ. Sự chuyển đổi từ một nư­ớc di cư­ thành một nư­ớc nhập quá nhanh chóng: quá nhiều đến mức mối quan tâm chủ yếu của chính phủ hiện nay là tập trung vào việc đư­a ra các biện pháp hạn chế nhập cư­ bất hợp pháp đang tăng nhanh, thay v́ tạo điều kiện hội nhập tốt hơn cho ngư­ời nhập cư­ hợp pháp.

Tuy nhiên, các dự án thí điểm liên quan đến hội nhập văn hoá của các cộng đồng ngư­ời nhập cư­ đang đ­ược thực hiện tại cấp địa phư­ơng. Tại đó các thành phố lớn (Rome, Milan, Rurin, Genoa) ngày càng nhận thức đư­ợc nhu cầu bức thiết để giải quyết vấn đề đa dạng văn hoá. Một trong các dự án thí điểm này là Trung tâm Văn hoá Ngoài châu Âu. Trung tâm này sẽ đư­ợc thành phố Milan thành lập tại một ngôi nhà xu­ởng cổ đ­ược khôi phục (Ansaldo). Trung tâm sẽ cung cấp các dịch vụ bảo tàng (với sự giới thiệu sinh động và hội nhập của các bộ sư­u tập về dân tộc học hiện có của thành phố) và dịch vụ văn hoá bao gồm pḥng nghe, các pḥng chung (cho nhiều mục đích), thư­ viện và trang bị đa phư­ơng diện (multimedia). Nó đ­ược xem là một trung tâm tham khảo cho những cộng động ngoài châu Âu đang sống ở Milan và vùng Lombardy: mục đích chính của nó là thúc đẩy đối thoại giữa các dân tộc.

4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hoá

 Xét từ quan điểm sự tham gia về văn hoá, phụ nữ đọc nhiều sách hơn nam giới và các thế hệ phụ nữ trẻ chiếm tỉ lệ cao trong số  khách viếng thăm bảo tàng, nhà hát và các buổi hoà nhạc (ISTAT, 2000). Tuy nhiên, các nghệ sĩ và trí thức nữ thường gặp khó khăn khi kiếm sống bằng nghề nghiệp liên quan đến văn hoá, trong đó thu nhập của họ  thấp hơn so với nam giới, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn. Trong khi họ tham gia tích cực trong lĩnh vực báo chí và các nghề nhân văn (quản lư bảo tàng, thư viện, v.v..), th́ điều đó lại không được tốt ở trong lĩnh vực âm nhạc. Tuy nhiên, t́nh trạng này đang dần được cải thiện, xu hướng nghề nghiệp của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá những năm gần đây rất khả quan: theo số liệu mới nhất (ISTAT, 2001) tỉ lệ tăng từ 34% phụ nữ làm việc về văn hoá năm 1993 đến 38% năm 1999 (so với 21% phụ nữ trong tổng dân số lao động trong cùng năm).

Vấn đề chính là số lượng phụ nữ vẫn c̣n chiếm tỉ lệ thấp trong vị trí quản lư tại các tổ chức văn hoá: trong số 65 giám đốc nghệ thuật của các nhà hát kịch chính, rạp hát, dàn nhạc năm 2002, chỉ có 5 người là phụ nữ.

Vấn đề b́nh đẳng giới cuối cùng cũng được giải quyết ở cấp Chính phủ trong Hội nghị Quốc gia lần thứ nhất về phụ nữ và nghệ thuật, được tổ chức bởi Ban Cơ hội b́nh đẳng (thuộc Văn pḥng Thủ tướng) vào tháng 02/ 2001 và có sự tham gia của nhiều đại diện phụ nữ trong các lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật. Theo hội nghị này, một cơ quan theo dơi về phụ nữ trong nghệ thuật và văn hoá được thành lập vào năm 2001, trực thuộc Ban Cơ hội B́nh đẳng, nhưng điều này chưa được thực hiện.

Mặt khác, một số sáng kiến rải rác cũng được các nghệ sĩ nữ thực hiện, ví dụ như “Donne in Musica”, một tổ chức nhằm hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động của phụ nữ trong lĩnh vực âm nhạc.

4.2.3  Ngôn ngữ và các chính sách

Trong việc áp dụng Điều 6 của Hiến pháp – “Nhà nước Cộng hoà bảo vệ ngôn ngữ cộng đồng thiểu số bằng những quy định đặc biệt”, luật quốc gia và khu vực đă được ban hành trong nhiều thập niên qua về vấn đề bảo vệ ngôn ngữ chính thức của các dân tộc thiểu số (xem chương 4.2.1), đặc biệt là các vùng tự trị biên giới. Năm 1971 cuốn song ngữ “pacchetto Alto Adige” của tỉnh Bolzano (nơi đa số dân phụ thuộc vào cộng đồng người nói tiếng Đức) được ban hành nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho những người phục vụ trong cơ quan nhà nước.

Ở các vùng tự trị, việc bảo vệ ngôn ngữ được thực hiện thông qua hệ thống giáo dục (với việc ban hành song ngữ trong trường học) và truyền thông: phát sóng các chương tŕnh đặc biệt cho các dân tộc thiểu số là một trong những nghĩa vụ của RAI ( hăng truyền h́nh Quốc gia) và được quy định trong “Hợp đồng dịch vụ công cộng”, được sửa đổi hàng năm.

Một trong những tổ chức văn hoá công quan trọng nhất trong việc hỗ trợ ngôn ngữ của người thiểu số là Nhà hát Slovenia ở Trieste (Slovensko Stalno Gledalishe). Nhà hát  được vùng tự trị Friuli Venezia Giulia thành lập, sử dụng tiếng Slovenia và là một trong số 15 “teatri stabili”- một loại nhà hát kịch được nhà nước bao cấp nhiều nhất.

4.2.4.Hệ thống đa dạng truyền thông

Ư là một trong số các nước  châu Âu đầu tiên phá vỡ độc quyền của công ty phát thanh truyền h́nh Quốc gia (1976). Kể từ đó, hệ thống truyền h́nh Ư h́nh thành nên mô h́nh hai nhóm độc quyền, một nhóm hoạt động dưới sự quản lư của ba mạng lưới  truyền h́nh nhà nước (RAI), doanh thu của các tổ chức này có được từ phí cấp phép và quảng cáo. Nhóm c̣n lại dưới sự quản lư của ba mạng lưới truyền h́nh tư nhân (Mediaset), nguồn tài chính chủ yếu có được thông qua quảng cáo. Sáu  mạng lưới truyền h́nh Quốc gia  cùng tồn tại với hàng trăm đài truyền h́nh địa phương, chiếm  92% lượng khán giả. Luật truyền h́nh đă được sửa đổi gần đây (Luật 112/2004, xem phần 5.3.8) đă thực sự bảo đảm cho cơ chế này. Hơn nữa, Thủ tướng hiện nay ( là chủ sở hữu tư nhân của Mediaset) kiểm soát cả mạng truyền h́nh quốc gia tư nhân và nhà nước, đang gây ra nhiều tranh căi gay gắt về sự tồn tại hay không tồn tại của cơ chế đa nguyên trong lĩnh vực truyền h́nh Ư. Việc ban hành Luật 215/2004 liên quan đến quy định về xung đột lợi ích, luật cấm Thủ tướng và các bộ khác tham gia trực tiếp vào quản lư các công ty, mặc dù cho phép họ không từ bỏ quyền sở hữu, cũng không  giảm bớt sự chỉ trích.

Đối với hệ thống thông tin nói chung, nếu cho rằng báo chí đang độc quyền và công ty lớn nhất về phát hành sách và các tạp chí định kỳ cũng  thuộc quyền sở hữu của Thủ tướng th́ mức độ tập trung cao của truyền thông đại chúng ở Ư được xem như là có một không hai ở châu Âu (xem thêm phần 5.3.8 và 4.1).

4.2.5 Kinh doanh văn hoá:

Thập niên 90 là giai đoạn khó khăn và thách thức đối với ngành kinh doanh văn hoá  Ư. So với các xu hướng tích cực về kinh tế và tài chính trong lĩnh vực di sản và các hoạt động văn hoá - nghệ thuật th́ xu hướng phát triển của ngành kinh doanh văn hoá bị tụt lại. Mặc dù hoạt động quảng cáo vẫn tốt, nhưng sự tŕ trệ nói chung trong chi tiêu thực tế của các hộ gia đ́nh đă cản trở sự phát triển của lĩnh vực này (xem phần 6.1 và 6.2, 6.3).

Đặc biệt sự khủng hoảng kinh tế này đă ảnh hưởng đến lĩnh vực báo chí. Thực tế, khi người Ư ít đọc báo hơn th́ một khoảng thâm hụt 21% trong doanh số bán hàng sẽ không thể bù đắp được bằng doanh thu tăng lên từ quảng cáo, đặc biệt tại một nước mà hầu hết khoản thu quảng cáo đều tập trung vào truyền h́nh. Điều này dẫn đến nhà nước phải tài trợ cho báo chí khoảng 480 triệu euro năm 2000.

Đối với ngành điện ảnh một thời thịnh vượng ở Ư, sản xuất phim cũng đă giảm sút đến mức không ngờ giữa thập niên 90.

Bên cạnh nhiều biện pháp được ban hành vào nửa cuối của thập niên 90 để nhà nước hỗ trợ tài chính cho ngành điện ảnh đang suy yếu, một đạo luật quan trọng (Luật 122/1996) yêu cầu phân bổ một phần nguồn tài chính của các hăng truyền h́nh lớn, không dưới 20% doanh thu phí cấp đối với RAI và không dưới 10% doanh thu quảng cáo đối với các hăng truyền h́nh thương mại để sản xuất và mua các phim của Ư và châu Âu hoặc các chương tŕnh nghe nh́n. Số tiền được chuyển từ mạng lưới truyền h́nh sang cho ngành điện ảnh và nghe nh́n ước tính hàng năm khoảng 200 tỉ euro.

Mặc dù việc thực hiện luật này bị lùi lại và có hiệu lực từ tháng 1/2000, hệ quả tích cực của nó trong việc thúc đẩy sản xuất phim truyện và các chương tŕnh truyền h́nh cũng như việc thuê các diễn viên và những người có chuyên môn trong lĩnh vực nghe nh́n được thực hiện trong giai đoạn chuyển giao 2 năm. Tuy nhiên, c̣n nhiều vấn đề tranh căi liên quan đến việc áp dụng luật này cần được giải quyết bởi Cơ quan giám sát truyền thông. Cũng trong những năm gần đây, cả RAI (hăng truyền h́nh Quốc gia) và Mediaset (truyền h́nh tư nhân) đă cắt giảm đầu tư của họ trong việc sản xuất các chương tŕnh nghe nh́n do gặp  khó khăn về ngân sách.

Mặc dù những biện pháp này đă được Chính phủ phe trung tả thông qua nhưng c̣n quá sớm để đánh giá ảnh hưởng của Luật 28/2004 về hoạt động điện ảnh Ư (xem phần 5.3.6) , hoặc Luật 112/2004 (xem phần 5.3.8) đối với hệ thống truyền thông nói chung.

4.2.6 Chính sách việc làm trong lĩnh vực văn hoá

EUROSTAT ước tính năm 2001 có 450000 người làm việc trong lĩnh vực văn hoá. Số liệu chính thức gần đây nhất của Viện thống kê Quốc gia Ư (ISTAT), dựa trên Cơ quan điều tra lực lượng lao động, ước tính mức độ việc làm trong lĩnh vực văn hoá (xác định rộng hơn, bao gồm thể thao và giải trí) khoảng 503 000 người vào năm 1999. Từ năm 1993, con số này tăng 24%, trong khi tỉ lệ tăng việc làm nói chung cùng thời kỳ này là 1%.

 

Nếu chú Ư đến con số (191000) là số lượng nghệ sĩ và những người có chuyên môn cao trong lĩnh vực văn hoá (các nhà báo, khảo cổ, lịch sử nghệ thuật, nghệ thuật tŕnh diễn,v.v..) và những chuyên gia kỹ thuật hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và di sản, th́ tỷ lệ tăng trong cùng giai đoạn (1993-1999) là 35%.

17% là tỷ lệ thống kê nói trên do cơ quan điều tra dân số thực hiện trong giai đoạn 1981-1991.

Nếu có điều ǵ rút ra từ số liệu này th́ có lẽ đó là chính sách văn hoá năng động như  đă thực hiện ở nửa sau của thập niên 90.  Việc nhấn mạnh sự đồng bộ cung và cầu trong các hoạt động nghệ thuật và sản xuất văn hoá cũng như đầu tư vốn phần lớn vào các công tŕnh, bảo tàng và các cơ sở văn hoá có thể thúc đẩy tăng trưởng việc làm cho ngành văn hoá. Thực tế, tỷ lệ tăng cao được nhắc đến trong lĩnh vực văn hoá, ví dụ như lĩnh vực di sản  cho thấy  chi tiêu của nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá. Điều này ủng hộ quan điểm cho rằng chi tiêu của nhà nước là một trong những yếu tố chính quyết định việc làm trong ngành văn hoá. Cho nên, không ngạc nhiên khi nhận thấy rằng có rất ít việc làm mới được tạo ra trong lĩnh vực nghệ thuật tŕnh diễn, nơi mà chi tiêu của nhà nước rất hạn chế.

4.2.7 Công nghệ mới và chính sách văn hoá

Mối quan tâm của Chính phủ Ư trong xă hội thông tin được đánh dấu vào năm 1999 bằng việc thành lập Uỷ ban Liên bộ điều phối các sáng kiến của các bộ khác nhau trong lĩnh vực văn hoá cùng các diễn đàn tư vấn rộng răi. Năm 2001, Chính phủ phe trung tả thành lập Bộ Đổi mới công nghệ nhằm thúc đẩy quá tŕnh hiện đại hoá  và hạ tầng kỹ thuật Quốc gia.

Một trong những thách thức về công nghệ mà  Ư phải đối mặt trong thời gian tới là sự chuyển đổi hệ thống truyền h́nh  sang hệ thống truyền h́nh số trên mặt đất: hạn chót cho quá tŕnh này là 2006, như Luật 112/2004 đă quy định.

Ở cấp địa phương, gồm các vùng phía Bắc như Lombardy và Emilia Romagna và các đô thị lớn đă đưa ra cam kết phát triển hệ thống kỹ thuật số để mở rộng cung cấp dịch vụ và thông tin đến người dân.

Một trong những đặc điểm riêng của Ư trong lĩnh vực này là tập trung vào sử dụng công nghệ mới trong bảo tồn và phát triển các di sản: số hoá hệ thống danh mục, dịch vụ thông tin cho công chúng và khách du lịch, v.v.. Đáng chú ư là Risk Map, dự án thí điểm về kỹ thuật trên diện rộng của Bộ Di sản. Dự án này xác lập bản đồ các trường hợp khẩn cấp về tự nhiên và con người như động đất, lũ lụt, ô nhiễm, v.v.. thường đe doạ  di tích trên các vùng địa lư khác nhau.

4.2.8 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và chính sách

Giáo dục nghệ thuật ở Ư không được hậu thuẫn một cách có hệ thống tại trường tiểu học và trung học. Ví dụ như, giáo dục âm nhạc chỉ được thực hiện ở cấp trung học, điều này được xem là thiếu hụt nếu so sánh với các nước láng giềng ( áo, Đức, Pháp) mặc dù Ư có truyền thống nổi tiếng trong lĩnh vực này.

Mặt khác, sự phong phú về các di sản nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật luật được đưa vào trong hệ thống giáo dục tại trường trung học chuyên về nghiên cứu cổ điển (“liceo classico”) và trong các môn nghệ thuật (“liceo artisco”), lĩnh vực được chú ư đặc biệt là đào tạo nghệ thuật thị giác.

Ngoài các môn học ở trường, Bộ Giáo dục và Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá gần đây đă kư một thoả thuận (1998) cùng thúc đẩy nhằm nâng cao kiến thức và sự nh́n nhận về di sản thông qua sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức trường học và các “soprintendenze” ở địa phương. Thoả thuận này gắn liền với việc nâng cao giáo dục nghệ thuật tŕnh diễn (đặc biệt là nhà hát và điện ảnh) được thực hiện trong thời gian dài giữa Bộ Giáo dục và AGIS (Hiệp hội nghệ thuật tŕnh diễn). Hiệp hội này đại diện cho các hiệp hội chuyên môn về sản xuất và phân phối trong lĩnh vực nghệ thuật tŕnh diễn.

4.2.9 Vấn đề di sản và các chính sách

 

Di sản luôn là trọng tâm trong chính sách văn hoá của Ư. Nhà nước Ư không chỉ có trách nhiệm đối với nhiệm vụ chiến lược liên quan đến bảo vệ hệ thống các di sản phong phú và đa dạng mà c̣n có nhiệm vụ quản lư trực tiếp một số lượng lớn các tổ chức di sản Quốc gia, bao gồm 270 bảo tàng, 225 công tŕnh di tích, 351 địa điểm khảo cổ, 71 thư viện và 168 pḥng lưu trữ.

Những vấn đề bức thiết nhất hiện nay đang c̣n tranh căi để quản lư và bảo vệ một lượng di sản đồ sộ như vậy là:

- Phân bổ lại trách nhiệm giữa các cấp chính quyền (xem phần 5.1.2);

- Quan hệ đối tác nhà nước – tư nhân trong việc quản lư các bảo tàng và tài sản lịch sử

- Việc ban hành gần đây và khả năng Chính phủ bán một phần di sản thuộc nhà nước để bù đắp thâm hụt của nhà nước ( xem phần 5.3.3).

 

Các quy định pháp luật gần đây về vùng tự trị Sicily, vùng này có trách nhiệm pháp lư độc lập về các di sản và thắng cảnh của ḿnh đă bị báo chí chỉ trích rất nhiều v́  có khả năng đe doạ sự nguyên vẹn của các tài sản vô giá về tự nhiên và lịch sử.

4.2.10 Các vấn đề liên quan

Trong những năm gần đây, một trong những vấn đề gây tranh căi nhất là nghịch lư của sự phi tập trung hoá đối với sự tập trung trách nhiệm của chính phủ trong lĩnh vực văn hoá (xem 5.1.2).

 

Trở về

5. Những quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hoá

5.1 Quy định chung

5.1.1 Hiến pháp

Các điều khoản trong Hiếp pháp Ư 1947 đề cập trực tiếp đến vấn đề văn hoá là Điều 9, 21, và 33 (xem thêm phần 1):

- Điều 9: “ Nhà nước Cộng hoà thúc đẩy sự phát triển của văn hoá …”;

- Điều 21 “Mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ư kiến của ḿnh bằng lời nói, viết, và bất cứ phương tiện nào khác…”

- Điều 33: “ Nghệ thuật và khoa học, cũng như việc giáo dục, là hoàn toàn tự do”.

Sắc luật 112/1971 để thực hiện điều 117 Hiến pháp đă đưa ra phạm vi rất hẹp về trách nhiệm của các vùng trong lĩnh vực văn hoá, trong đó “các bảo tàng và thư viện địa phương” thuộc danh mục trách nhiệm của địa phương.

5.1.2 Các cơ quan có thẩm quyền

“Phi tập trung và tập trung” là một vấn đề trong văn hoá và nghệ thuật luôn được tranh căi, mặc dù đa số đảng phái chính trị ở Ư tự tuyên bố rằng cần trao thêm thẩm quyền văn hoá cho các vùng. Luật do Chính phủ phái trung tải ban hành vào cuối thập niên 90 nhằm chuyển giao  hơn nữa thẩm quyền cho cấp địa phương vẫn chưa được thực thi.

Tuy nhiên, trong luật có một số điểm không đồng nhất, điều này tạo ra sự chia rẽ về các chức năng hành chính quan trọng là bảo vệ (tutela) và nâng cao (valorizzazione); chức năng thứ hai là chức năng quản lư để thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn, tham quan nhiều hơn các bảo tàng, di tích, các tổ chức triển lăm và sự kiện, v.v..

Trong đạo luật thứ nhất có tên “Luật chuyển giao thẩm quyền” (59/1997), chỉ có việc bảo vệ di tích (tutela) được đưa vào danh mục những trách nhiệm về văn hoá mà nhà nước c̣n duy tŕ, những thẩm quyền về văn hoá khác được chuyển giao cho chính quyền vùng và địa phương. Tuy nhiên, sắc luật sau đó (112/1998) là kết quả của một quá tŕnh vận động hành lang nhằm tập trung hoá đă mở rộng đáng kể phạm vi trách nhiệm của nhà nước.

Trách nhiệm quản lư di sản và nghệ thuật tŕnh diễn được chuyển lại cho nhà nước, do đó gây ra sự cùng tồn tại về thẩm quyền của nhà nước và các vùng trong lĩnh vực này. Sự việc gây tranh căi này được khẳng định lại trong sắc luật 112/1998 và cuối cùng được đưa vào trong Hiến pháp bởi một Đạo luật hiến pháp 3/2001. Đạo luật này khởi đầu cho sự sửa đổi tổng thể Hiến pháp Ư, mở ra cơ cấu tổ chức của Quốc gia  theo xu hướng cấu trúc liên bang.

Kể từ đó, sự thoả thuận giữa các cấp chính quyền về phạm vi và nội dung của nguyên tắc “cùng có thẩm quyền” trong lĩnh vực di sản và nghệ thuật dường như không thể đạt được. Do đó, những tranh căi giữa Nhà nước và vùng được giải quyết bởi Hội đồng Nhà nước hoặc Toà án Hiến pháp và việc quản lư văn hoá bị ứ đọng bởi nhiều tranh chấp. Thật đáng tiếc, Luật Di sản mới (41/2004), trong đó có điều 4 cho phép Bộ Di sản chịu trách nhiệm về chuyển giao thêm các chức năng cho vùng cũng không giúp giải quyết một cách đầy đủ vấn đề rắc rối này nhưng quy định rơ từng thoả thuận cụ thể (xem phần 5.3.3).

5.1.3 Phân bổ các quỹ của nhà nước

Nói chung, không có luật nào quy định về phân bổ nguồn tài chính của Chính phủ trong lĩnh vực văn hoá. Luật được thông qua gần đây cho phép phân bổ các khoản tiền bổ sung từ các nguồn khác cho lĩnh vực văn hoá để bù đắp các hạn chế về nguồn lực. Các quy định quan trọng là:

- Điều 3 Luật ngân sách 662/1996, quy định tỷ lệ nguồn thu từ xổ số Quốc gia được trích ra để bảo vệ và phục hồi các tài sản văn hoá;

- Điều 60 Luật ngân sách 289/2002, quy định rằng 3% chi tiêu vốn cho cơ sở hạ tầng sẽ được dành để hỗ trợ cho các tài sản và hoạt động văn hoá.

Cung cấp tài chính cho văn hoá thông qua khoản tiền từ xổ số

Cho đến cuối thập niên 90, Chính phủ đă thay đổi các nguồn tài chính để đối phó với các gánh nặng liên quan đến bảo vệ các di sản. Một phần của các chi phí liên quan sẽ được cung cấp bởi các nguồn thu từ xổ số Quốc gia.

Luật 662/1996 quy định một phần lợi nhuận từ chương tŕnh xổ số hôm thứ tư được bổ sung vào chương tŕnh xổ số thứ bảy sẽ được dành cho lĩnh vực văn hoá. Phần tiền này, khoảng 155 triệu euro mỗi năm, “được phân bổ cho Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá nhằm khôi phục và bảo tồn các tài sản văn hoá, khảo cổ, nghệ thuật, lưu trữ và thư viện”. Các quỹ xổ số, không giống như các quỹ luật định, được phân bổ trước và căn cứ vào các kế hoạch ba năm một lần, điều này tạo ra một cải thiện rất lớn trong khả năng hoạch định của Bộ.

Luật này bắt đầu áp dụng từ năm 1998. Tại cuối kế hoạch ba năm lần thứ ba, 2003, hơn 300 dự án khôi phục lớn và nhỏ liên quan đến các di tích, bảo tàng, khu khảo cổ, thư viện, v.v.. đă được hỗ trợ thông qua luật xổ số.

Tuy nhiên, do sự cắt giảm lớn trong ngân sách nhà nước đối với điện ảnh và nghệ thuật tŕnh diễn, luật xổ số đă được sửa đổi (310/2003) để đưa hoạt động văn hoá và nghệ thuật tŕnh diễn vào trong số các đối tượng nhận quỹ xổ số. Năm 2004, một vài công ty phim quốc gia cùng với nhà hát kịch La Scala được tài trợ một khoản tiền từ xổ số. Cũng như một số quốc gia châu Âu khác, quỹ xổ số cho văn hoá đă thay đổi từ một nguồn bổ sung thành nguồn chủ đạo.

Hỗ trợ cho văn hoá thông qua 3% chi tiêu vốn cho hạ tầng

Một công ty mới được thành lập (theo luật 291/2003) để quản lư các khoản thu theo quy định 3% (luật 289/2002): ARCUS / Societa’ per lo sviluppo dell’ Arte, della Cultura e dello Spettacolo.

Nhiệm vụ của công ty là “thúc đẩy, thông qua hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và quản lư, các dự án và hoạt động nhằm phục hồi các tài sản văn hoá và thúc đẩy các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và nghệ thuật tŕnh diễn”. Cổ đông góp vốn của công ty là Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá, được quy định là 8 triệu euro. Hội đồng Quản trị gồm 7 thành viên và hoàn toàn do Chính phủ chỉ định. Các chính quyền địa phương và vùng cũng được tham gia cổ đông với hạn chế về cổ phần là 60%. Cơ cấu tổ chức của ARCUS đă được thành lập theo Sẵc luật 72/2004. Bộ trưởng Urbani gần đây đă ước tính rằng trong 10 năm tới khoản tiền dành cho ARCUS là 3.7 tỉ euro, năm 2004 số tiền này là 57 triệu euro.

5.1.4 Hệ thống an sinh xă hội

Các nghệ sĩ và những người  làm việc trong lĩnh vực văn hoá, cũng giống như những công dân khác, được hưởng chế độ bảo hiểm y tế cơ bản trong Hệ thống y tế Quốc gia.

Các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác không có chế độ bảo hiểm đặc biệt nào.

Kể từ thập niên 1930, cũng như những người làm việc trong  nhà hát và các ngành nghệ thuật nghe-nh́n (phát thanh, truyền h́nh, điện ảnh, ghi âm) nhận được chế độ an sinh xă hội của ENPALS /Ente Nazionale Previdenza e Assestenza Lavoratori dello Spettacolo”).

5.1.5 Luật thuế

Luật nhằm thúc đẩy sự hỗ trợ đối với lĩnh vực văn hoá của khối tư nhân được ban hành vào thập niên 80.

Luật đầu tiên trong số đó (Luật số 582/82) cho phép tổng số tiền khấu trừ của thu nhập từ các khoản ủng hộ và tài trợ của các cá nhân và công ty, bao gồm cả việc phục hồi các công tŕnh di sản thuộc sở hữu tư nhân. Điều này dẫn đến một sự “bùng nổ” đầu tư vốn. Tuy nhiên, số tiền khuyến khích đó giảm một cách đáng kể bởi các luật ngân sách sau đó.

Sau gần 20 năm, các khoản ủng hộ  tư nhân một lần nữa được khấu trừ thuế hoàn toàn (Luật 342/2000), mặc dù biện pháp chính sách mới chỉ áp dụng đối với các khoản ủng hộ của các công ty và bị hạn chế trong phạm vi danh sách các tổ chức văn hoá do Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá thành lập. Những hạn chế đó có thể có ảnh hưởng việc thực hiện của luật vào năm 2001, vốn chỉ tạo ra được 15.5 triệu euro so với con số dự báo là 100-150 triệu.

Bước tiếp theo do chính phủ hiện nay vạch ra – bên cạnh sự đơn giản của luật 342, sẽ tăng các khuyến khích về thuế đối với các khoản ủng hộ của tư nhân. Biện pháp này  bị Bộ Kinh tế phản đối nên đă không đạt được thoả thuận nào với Bộ Di sản.

Tỷ suất thuế đối với các tài sản và hoạt động văn hoá thường thấp hơn tỷ lệ thông thường, nhưng điều này không áp dụng với ngành ghi âm, VHS và DVD.

Bảng 2: tỉ suất thuế VAT của các tài sản và hoạt động văn hoá

 

Lĩnh vực

tỉ suất thuế VAT

Điện ảnh

10%

Nhà hát

10%

Opera

10%

Múa

10%

Hoà nhạc

10%

Bảo tàng và triển lăm

10%

Sách

4%

Báo viết

4%

Ghi âm và nghe nh́n

20%

 

Trong quan hệ đối tác nhà nước và tư nhân, Luật 4/93 đă tạo ra sự thay đổi lớn đối việc quản lư các di sản văn hoá, luật cho phép khối tư nhân tham gia các hoạt động tại các bảo tàng Quốc gia trong hoạt động quản lư được gọi là “dịch vụ phụ trợ” (ví dụ như cửa hàng sách, quầy hàng tại bảo tàng, quán cà phê, buôn bán, v.v..). Các luật tài chính sau đó đă mở rộng phạm vi tham gia của tư nhân đến các hoạt động quan trọng của bảo tàng như giáo dục và triển lăm. Điều này gây ra rất nhiều tranh căi về sự gia tăng “thương mại hoá” các dịch vụ công truyền thống.

Sắc luật 368/98 đă tạo thêm cơ hội hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực di sản, cho phép Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá tạm thời tiếp nhận việc quản lư một số bảo tàng nhất định và các di sản khác để thành lập mới các Hội bảo trợ tư nhân. Một biện pháp gần đây (Luật ngân sách 2002) cho phép Bộ Di sản “tư nhân hoá” dịch vụ công nhằm tăng sự tham gia các di sản văn hoá. Tuy nhiên, các quy định để thực hiện những biện pháp này lại bị một số vùng phản đối. Họ cho rằng theo Luật hiến pháp 3/2001, nhà nước chỉ có trách nhiệm đối với chức năng quản lư liên quan đến bảo vệ di sản, trong khi trách nhiệm nâng cấp và phát triển lại chuyển giao cho vùng.

5.1.6 Quy định về bản quyền

Vấn đề bản quyền đă có ở Ư từ rất lâu. Luật 633, ban hành năm 1941 là luật toàn diện và liên quan đến nhiều lĩnh vực để bảo vệ các quyền tài sản của nhà văn, tác giả kịch, tác giả phim, nhạc sĩ, nghệ sĩ nghệ thuật thị giác (bao gồm cả quyền bán lại của tác giả đối với các nghệ sĩ nghệ thuật thị giác: mặc dù một phần của luật chưa bao giờ được thực hiện). Cơ quan chịu trách nhiệm thu tiền bản quyền nói ở trên là SIAE (Societa Italiana Autori Editori).

Sau này c̣n có một số luật khác, đặc biệt là các luật để thực hiện chỉ thị của châu Âu. Trong số đó là Luật 93/1992, đặt ra loại thuế đối với băng trắng ghi âm và ghi h́nh để bù đắp cho các tác giả và nhà sản xuất và cho các thiệt hại kinh tế mà họ phải chịu do việc sao chép bí mật.

Măi đến năm 2000 Luật (248/2000) mới được ban hành để cập nhật vấn đề bản quyền. Sự sửa đổi này thừa nhận những thay đổi đáng kể về công nghệ xảy ra trong hệ thống truyền thông và văn hoá đă trong 60 năm qua. Luật 248 cũng đă đưa ra những trừng phạt về h́nh sự và hành chính đối với việc vi phạm bản quyền, một hiện tượng rất phổ biến ở Ư. Ngoài ra luật c̣n là một nguồn luận điểm quan trọng cho các đối tác thương mại.

Luật về bản quyền được ban hành gần đây nhất là Sắc luật 72/2004, nhằm chống lại việc phân phối bất hợp pháp các phim và sản phẩm nghe nh́n trên mạng được luật bản quyền bảo vệ với những h́nh phạt rất nặng và các biện pháp trừng phạt hành chính.

5.1.7 Luật ngôn ngữ

Việc sử dụng ngôn ngữ của người thiểu số trong việc phát thanh – truyền h́nh là điều bắt buộc, mặc dù chỉ áp dụng đối với RAI (hăng phát thanh truyền h́nh nhà nước), trong Hợp đồng dịch vụ công (Điều 12 của hợp đồng mới được kƯ vào tháng 1-2003 giữa Bộ Truyền thông và RAI).

5.2 Pháp luật về văn hoá

Từ thời La mă, Ư đă có xu hướng quản lư bằng pháp luật hầu như mọi mặt của đời sống kinh tế xă hội, v́ thế trong phạm vi của báo cáo nhỏ này chỉ đề cập tóm tắt các quy định pháp luật của Ư trong lĩnh vực văn hoá ở cấp nhà nước và một số quy định quan trọng của cấp vùng. Chúng tôi sẽ hạn chế đến những quy định quan trọng trong vấn đề văn hoá.

Nh́n chung pháp luật được ban hành trong khoảng thời gian 1950-2000 thường liên quan đến:

Việc phân quyền (phi tập trung) các chức năng từ nhà nước xuống các vùng. Trong thập niên 70, ngay sau khi thành lập các vùng, Luật 216/1971 đă được ban hành, tiếp theo đó là sắc Luật 616/1977, trao cho chính quyền vùng một số trách nhiệm hạn chế trong lĩnh vực văn hoá (bảo tàng và thư viện địa phương, và sau đó là phát triển văn hoá liên quan đến lợi ích địa phương). Sau thời gian yên ắng của thập niên 80, quá tŕnh phi tập trung hoá có bước khởi động mới vào cuối thập niên 90 với việc ban hành Luật 59/1997, tiếp theo sau là sắc luật 147/1998. Sắc luật này đưa ra nhiều khái niệm hạn chế hơn về việc phi tập trung so với Luật 59 (xem phần 5.1.2). Khái niệm này sau đó lại được đưa vào Luật Hiến pháp 3/2001.

- Việc hợp lư hoá và sắp xếp thẩm quyền về văn hoá ở cấp nhà nước, được thực hiện chủ yếu thông qua 2 Luật: Sắc luật 803/1975, thành lập Bộ Di sản Văn hoá và Môi trường và sắc luật 368/1998, mở rộng trách nhiệm của Bộ đến các hoạt động văn hoá và nghệ thuật tŕnh diễn. Sắc luật 449/2001 tạo ra thay đổi trong cơ cấu tổ chức của Bộ.

Từ năm 2001, Chính phủ mới đă bày tỏ mong muốn sửa đổi toàn bộ quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề văn hoá.

Mong muốn này nhanh chóng trở nên rơ ràng với việc mở rộng một cách bất thường việc chuyển giao quyền lực từ Quốc hội sang Chính phủ để thay đổi luật văn hoá bằng đạo luật 137/2002 (một khung pháp lư cho việc tổ chức lại cơ cấu chính phủ). Điều 10, liên quan đến lĩnh vực văn hoá, quy định rằng “trong ṿng 18 tháng kể từ khi ban hành luật, Chính phủ được quyền ban hành một hoặc nhiều nghị định để tổ chức lại các lĩnh vực sau: a) di sản; b) điện ảnh; c) nhà hát, âm nhạc, múa; d) thể thao; e) bản quyền”.

Việc trao quyền như vậy cũng được mở rộng ra để cải tổ tất cả các cơ quan, công ty và cơ quan tư vấn, được giám sát bởi Bộ Di sản và Hoạt động Văn hoá: ETI, Cinecitta Holding, SIAE, v.v.. Hơn nữa, Điều 1 Luật 137/2002 cũng cho phép Chính phủ tiến hành những thay đổi sâu sắc hơn cơ cấu của Bộ. Cũng nên lưu Ư rằng khía cạnh gây tranh căi của quy định gần đây, liên quan đến các vấn đề như văn hoá và môi trường và Quốc hội  ít ảnh hưởng đến các luật này, nội dung của các luật này hoàn toàn do Chính phủ quyết định. Trong lĩnh vực văn hoá, các dự thảo chỉ được đệ tŕnh lên Uỷ ban Văn hoá đề tham vấn.

Bởi v́ có rất nhiều nội dung liên quan đến việc cải cách lĩnh vực văn hoá một cách tổng thể, thời hạn đă kết thúc mà nhiệm vụ khó khăn chưa thể hoàn thành. Bên cạnh đó việc cải tổ cơ cấu tổ chức của Bộ  (xem phần 2.2), một luật mới đầy đủ quy định vấn đề điện ảnh cũng đă được ban hành, cùng với việc sửa đổi toàn bộ luật di sản. Những đổi mới về pháp luật này sẽ được đề cập đến trong phần 5.3.6 và 5.3.3. Đối với các lĩnh vực khác, thời gian được gia hạn đến tháng 6 / 2006, và Bộ Di sản đang tích cực chuẩn bị cho luật mới đối với vấn đề biểu diễn trực tiếp nghệ thuật tŕnh diễn (âm nhạc, múa và nhà hát).

5.3 Các quy định cụ thể

5.3.1 Nghệ thuật thị giác và nghệ thuật ứng dụng

 Trong nửa cuối thế kỷ qua, biện pháp pháp lư duy nhất hỗ trợ hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác ở cấp Quốc gia là Luật 717/1949. Luật này quy định việc trích 2% chi phí đầu tư vốn của xây dựng công tŕnh cộng cộng, ngoại trừ xây dựng trường học, dành cho các tác phẩm của các nghệ sĩ nghệ thuật hiện đại, được lựa chọn thông qua các cuộc thi công khai (xem phần 8.1).

Biện pháp pháp lí quan trọng nhất được ban hành trong thời gian gần đây là Nghị định 449/2001 về việc tổ chức lại Bộ Di sản, quy định thành lập  Cơ quan kiến trúc và nghệ thuật hiện đại (DARC). Việc này đă chia tách những thẩm quyền liên quan của Cơ quan Di sản mà trước đây  có vai tṛ không quan trọng. Đây thực sự là một bước ngoặt của quốc gia mà chính sách văn hoá trước đây chỉ tập trung chủ yếu vào việc bảo tồn hơn là hoạt động sáng tạo đương đại. Thay đổi này cũng được Chính phủ phái trung hữu đồng t́nh.

5.3.2 Nghệ thuật tŕnh diễn và âm nhạc

Luật toàn diện đầu tiên quy định về nghệ thuật tŕnh diễn nói chung - âm nhạc, múa, nhà hát và điện ảnh là Luật 163/1985, đă thành lập Quỹ Hợp nhất về nghệ thuật tŕnh diễn (Fondo Unico per lo Spettacolo). Theo Luật 186/2004, Bộ Di sản được giao trách nhiệm thực hiện cải tổ mới và toàn diện hoạt động biểu diễn trực tiếp nghệ thuật tŕnh diễn cho đến tháng 7-2005, bởi v́ lĩnh vực này đang gặp bất ổn và khó khăn tài chính.

Luật năm 1985 được ban hành nhằm tăng cường các nguồn tài chính cho nghệ thuật tŕnh diễn. Để đạt được điều này, yêu cầu Bộ Di sản cần phải tŕnh bày minh bạch lên Quốc hội báo cáo chi tiết hàng năm về việc phân bổ nguồn vốn. Luật cũng thành lập một cơ quan giám sát về nghệ thuật tŕnh diễn, cơ quan này thuộc Bộ Di sản.

Tuy nhiên, Luật này không đưa ra các tiêu chuẩn để tài trợ, những tiêu chuẩn đă từng được xác định trong các luật trước đây (ví dụ như Luật 800/1967 về Âm nhạc) hoặc trong các Quy chế tạm thời của Bộ (giống như trường hợp đối với kịch sân khấu).

Các điều kiện cơ bản để phân bổ quỹ đối với các hoạt động kịch sân khấu, âm nhạc, múa và xiếc dựa trên sự kết hợp của hai yếu tố sau:

Bộ có quyền ra quyết định cuối cùng.

Ngoại lệ duy nhất cho hệ thống tài trợ này là 13 Nhà hát Kịch Chính (Enti Lirici). Đối với các trường hợp này, các điều kiện chi tiết đă được xác lập trong Luật 800 và các điều kiện được quy định trong Sắc Luật 367/1996 và rất nhiều nghị định sau này (xem phần 7.2). Điều kiện tài trợ cho những fondazioni liriche – vốn chủ yếu do nhà nước tài trợ - đă được sửa đổi lại theo Sắc luật 239/1999.

5.3.3 Di sản văn hoá

Các Luật về Di sản và thắng cảnh được ban hành qua Nghị định 42/2004 và Luật 137/2002 (xem phần 52).

Luật Di sản bao gồm 184 Điều, nhằm điều chỉnh toàn diện bằng cách quy định chi tiết các chức năng liên quan đến di sản, lưu trữ và thư viện – bảo vệ, nâng cấp, quản lư và việc lưu thông các tài sản văn hoá quốc gia, v.v.. – cũng như đối với thắng cảnh.

Về mặt tích cực, định nghĩa về tài sản văn hoá được mở rộng và cập nhật hơn, bao gồm cả tài sản vật chất.

Mặt khác, những thay đổi gây tranh căi nhất là những quy định liên quan đến:

·         Việc chuyển nhượng, đưa ra các điều kiện theo đó chính phủ có thể ra quy định bán tài sản văn hoá của nhà nước (các ư kiến khác nhau cho rằng những điều kiện này chưa thể hiện được mức độ bảo vệ đầy đủ);

·         Sự hạn chế khắt khe đối với nhiệm vụ quản lư nhà nước và việc mở rộng khả năng giao phó trách nhiệm cho các tổ chức tư nhân – cả lợi nhuận và phi lợi nhuận – việc quản lư các bảo tàng, các công tŕnh kỷ niệm và di tích.

·         Cũng cần nói thêm rằng, mặc dù có sự hợp lư hoá và xứng đáng về mặt khoa học, Luật mới cũng không giải quyết được vấn đề cấp bách và khó khăn nhất đang tác động đến việc quản lư lĩnh vực văn hoá: vẫn c̣n xung đột về thẩm quyền giữa các cấp chính quyền đối với vấn đề di sản (xem phần 5.1.2).

5.3.4 Văn học và Thư viện

Bên cạnh các quy định theo luật bản quyền, không có quy định pháp lư nào về việc hỗ trợ tài chính cho các nhà văn ở Ư, cũng như không có các biện pháp nào quy định về vấn đề quyền cho thuê lại.

Đối với vấn đề thư viện, chức năng quản lư các thư viện nhà nước ở địa phương đă được chuyển sang cho vùng vào năm 1972. Cơ cấu quản lư các thư viện nhà nước cũng đă được quy định trong các nghị định khác nhau về tổ chức và tổ chức lại Bộ Di sản và các Hoạt động Văn hoá.

5.3.5 Kiến trúc

Kiến trúc hiện đại là một nội dung mới trong chính sách văn hoá Ư liên quan trực tiếp đến việc thành lập mới Cơ quan  nghệ thuật và kiến trúc hiện đại (2001).

Vẫn chưa có đạo luật liên quan cụ thể nào được ban hành, mặc dù một số dự thảo luật đă được tŕnh lên Quốc hội trong những năm gần đây. Trong số các dự thảo đó có dự thảo luật về chất lượng kiến trúc, được đệ tŕnh lên Quốc hội vào tháng 3/ 2004.

5.3.6 Phim , video và nhiếp ảnh

Luật cơ bản quy định về điện ảnh được ban hành năm 1965 và sửa đổi theo Luật 135/1994, trong đó nhấn mạnh đến chất lượng các tác phẩm.

Mặc dù tất cả các giai đoạn, bao gồm phân phối, truyền tin và quảng bá ít nhiều nhận được sự hỗ trợ của nhà nước, nhưng phần lớn số tiền hỗ trợ được phân bổ cho việc sản xuất phim. Vốn tài trợ của nhà nước được phân bổ dưới dạng cho vay hoặc trợ cấp đối với giai đoạn trước sản xuất, hoặc dưới dạng giải thưởng đối với giai đoạn sau sản xuất, hoặc hưởng theo doanh số bán vé. Việc này được thực hiện dưới sự giám sát của 2 cơ quan (“Uỷ ban Điện ảnh” và “Uỷ ban per il credito cinematografico”). Uỷ ban Điện ảnh xem xét khía cạnh chất lượng, c̣n uỷ ban kia xem xét khía cạnh kinh tế.

Trước đây một số phim được phân loại là “v́ lợi ích quốc gia” có thể nhận được 80% tổng kinh phí sản xuất. Tuy nhiên những bộ phim như thế lại gây thất vọng  cho khán giả cũng như giới phê b́nh. Sau đó giữa chính phủ và các tổ chức chuyên môn đă có một thoả thuận quan trọng về vấn đề cần thiết phải sửa đổi các quy định này nhằm tránh lăng phí tiền bạc của nhà nước, nâng cao chất lượng và hiệu quả về kinh tế cũng như xă hội trong việc trợ cấp của nhà nước đối với ngành phim.

Vấn đề này đă được giải quyết theo Sắc Luật 28/2004 về hoạt động điện ảnh. Bên cạnh các quy định cải tổ, luật này cũng đưa ra những nội dung đổi mới, cụ thể như sau:

Luật mới thể hiện một bước tiến trong quá tŕnh hiện đại hoá sự tham gia của nhà nước vào ngành điện ảnh. Tuy nhiên, môt số ư kiến cho rằng việc ban hành hệ thống ưu đăi cứng nhắc như vậy có thể gây cản trở cho việc nhận sự hỗ trợ của các nhà sản xuất phim giỏi nhưng chưa nổi tiếng. Tính chất phi đa nguyên của Ban quản lư Cinecittà Holding (các thành viên do chính phủ chỉ định) cũng là vấn đề đáng quan tâm.

5.3.7 Kinh doanh văn hoá

Không có một khung pháp lư chung trong việc thúc đẩy ngành kinh doanh văn hoá Ư. Trách nhiệm pháp lư được phân chia giữa Bộ Truyền thông (phát thanh, truyền h́nh và Báo chí) và Bộ Di sản và các hoạt động Văn hoá (điện ảnh, âm nhạc và nghệ thuật tŕnh diễn).

Trong khi không có quy định pháp luật nào đối với ngành ghi âm, những quy định mới về điện ảnh đă được ban hành. Các thông tin cụ thể về phát thanh và truyền h́nh được tŕnh bày tại phần 5.3.6 và báo chí tại 5.3.8.

5.3.8 Truyền thông đại chúng

Phần này sẽ cùng đề cập đến phát thanh/truyền h́nh và báo chí: hai lĩnh vực thuộc trách nhiệm của Bộ Truyền thông, và Cơ quan Giám sát Truyền thông. Kể từ thập niên 90, các lĩnh vực này được điều chỉnh theo một hệ thống thống nhất.

Ư là một trong những quốc gia châu Âu đầu tiên băi bỏ (theo một quyết định của Toà án Hiến pháp) sự độc quyền của nhà nước đối với việc phát thanh và truyền h́nh ở địa phương. Sau một thời gian dài không được pháp luật điều chỉnh, khuyến khích sự nảy nở của các đài phát thanh truyền h́nh tư nhân, sau đó trở thành hệ thống mạng lưới quốc gia, Luật 223 đă được ban hành vào năm 1990 để điều chỉnh hệ thống phát thanh truyền h́nh nhà nước và tư nhân. Luật này không chỉ quy định chương tŕnh phát sóng radio, việc phân cấp phép giữa RAI (hăng phát thanh truyền h́nh nhà nước), mạng lưới tư nhân và các hăng truyền h́nh địa phương, thời lượng quảng cáo, v.v.. mà c̣n mở rộng phạm vi của nó ra hệ thống truyền thông nói chung (bao gồm cả báo chí) nhằm đưa ra các biện pháp chống độc quyền để ngăn cản sự lạm dụng (các chủ báo đang kiểm soát trên 8% hoặc 16% số báo đang lưu hành sẽ không được sở hữu trên 1 hoặc 2 giấy phép truyền h́nh, v.v..). Tuy nhiên, quy định này không tỏ ra hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự tập trung rất cao trong hệ thống truyền thông Ư (xem thêm phần 4.2.4).

Một đạo luật sau đó (249/1997), quy định thành lập Cơ quan giám sát truyền thông, một cơ quan độc lập của nhà nước có liên hệ với Bộ Truyền thông trong việc giám sát quyền hạn về hệ thống truyền thông thông tin nói chung (báo in, truyền h́nh, phát thanh và thông tin liên lạc bằng cáp). Luật cũng đề ra các biện pháp chống độc quyền, trong đó quy định không một tổ chức nào đang hoạt động trong lĩnh vực phát thanh, truyền h́nh và ngành xuất bản được chiếm trên 20% tổng nguồn tài chính, ví dụ như quảng cáo, tài trợ, phí cấp phép, v.v…

Báo chí Ư phụ thuộc rất lớn vào trợ cấp của nhà nước do doanh thu sụt giảm của việc bán báo và các tạp chí định kỳ. Luật đầu tiên quy định trợ cấp cho báo chí là Luật 122/1981, cho phép những khoản trợ cấp lớn dành cho các nhà xuất bản (vốn góp, vốn cho vay, hỗ trợ cước phí bưu điện, ưu đăi thuế đầu tư vốn, v.v..), cũng như các biện pháp chống độc quyền. Các biện pháp chống độc quyền trong luật này đă được sửa đổi theo Luật 112/2004, c̣n gọi là “Luật Gasparri”, đặt theo tên của Bộ trưởng Bộ Truyền thông.

Bên cạnh việc khởi đầu quá tŕnh tư nhân hoá một phần hăng RAI (hăng phát thanh truyền h́nh nhà nước), một mặt đạo luật gây tranh căi này thừa nhận t́nh trạng lưỡng độc quyền hiện nay trong hệ thống truyền h́nh (xem phần 4.2.4), mặt khác cũng thay đổi một cách căn bản luật chơi. Điều gây tranh căi nhất là luật mới quy định nới lỏng các điều kiện bị xem xét theo các biện pháp chống độc quyền. Điều đó tạo điều kiện cho việc bành trướng của cả RAI (hăng phát thanh truyền h́nh nhà nước) và Mediaset (Công ty tư nhân thuộc sở hữu của Thủ tướng) và làm giảm thị phần của các hăng truyền thông khác. Hơn nữa, kể từ năm 2009, tất cả các hạn chế liên kết sở hữu giữa mạng lưới báo chí và truyền h́nh sẽ bị dỡ bỏ.

 

Trở về

6. Cung cấp tài chính cho văn hoá

6.1 Tóm lược

Cũng như hầu hết các nước công nghiệp hoá khác, khía cạnh kinh tế của văn hoá ở Ư tuân theo mô h́nh kinh tế hỗn hợp (xem phần 3.1), trong đó cả khối nhà nước và tư nhân cùng có trách nhiệm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động và tài sản văn hoá. Tuy nhiên, sự hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân này đă có những thay đổi theo thời gian.

Chi tiêu của nhà nước được phân bổ theo bốn cấp chính quyền: nhà nước, các vùng, các tỉnh, và thành phố. Từ trước đến nay chi tiêu nhà nước là nguồn tài chính quan trọng đối với các di sản, thư viện, lưu trữ và nghệ thuật tŕnh diễn (âm nhạc, kịch sân khấu và múa). Mặt khác các ngành kinh doanh văn hoá, phát hành sách, báo chí, điện ảnh và nghệ thuật nghe nh́n  chủ yếu được khối tư nhân hỗ trợ, nghĩa là hoạt động theo thị trường: chi tiêu của các hộ gia đ́nh cho các hàng hoá và dịch vụ văn hoá, quảng cáo.

Tuy nhiên, ranh giới về việc nhà nước và tư nhân sẽ tài trợ cho lĩnh vực văn hoá nào càng ngày càng trở nên mờ nhạt. Ví dụ, điện ảnh hoặc báo chí hiện nay chủ yếu lệ thuộc vào trợ cấp của nhà nước, do hoạt động yếu kém trên thị trường. Kể từ thập niên 80, việc hỗ trợ tài chính của tư nhân đối với các di sản và bảo tàng ngày càng trở nên phổ biến.

Tổng chi tiêu cho văn hoá vào năm 2000 là khoảng 24 tỉ euro, trong đó khối tư nhân chiếm khoảng 3/4, với mức tăng chung là 32% (tăng thực tế) trong thập niên 90.

Kết quả bất ngờ nhất từ cuộc nghiên cứu là không giống như điều đă xảy ra vào thập niên 80, chi tiêu của nhà nước tăng ở mức cao hơn so với tư nhân  (+ 40% so với +30%) trong thập niên có những hạn chế về ngân sách nhà nước do phải tuân thủ các yêu cầu của EU. Thập niên này nhấn mạnh đến việc tăng sự đóng góp của khối tư nhân đối với văn hoá và nghệ thuật. Kết quả gây bất ngờ này là do xu hướng thay đổi trong các chính sách văn hoá và do chi tiêu trong những lĩnh vực có liên quan đặc biệt là chi tiêu của địa phương ở nửa sau thập niên. Mặt khác là sự đ́nh trệ trong chi tiêu của các hộ gia đ́nh cho các sản phẩm văn hóa, đă giảm từ 1.5% năm 1990 xuống 1.4% năm 2000. Xu hướng tích cực trong lĩnh vực quảng cáo và sự tăng trưởng các khoản tiền ủng hộ, chủ yếu là thông qua các quỹ bảo trợ mới được thành lập (xem thêm phần 7.3) cũng không thể bù đắp sự thiếu hụt về thu nhập từ các nguồn tài chính quan trọng của lĩnh vực văn hoá.

Động lực của chi tiêu trong các hộ gia đ́nh là một xu xướng nhị nguyên giữa chi tiêu cho các hàng hoá và dịch vụ văn hoá, chi tiêu cho các ngành văn hoá đă trở nên rơ ràng. Trong khi thu nhập từ việc bán vé tham quan bảo tàng và các di tích tăng 125%, th́ thu nhập từ việc bán báo và tạp chí định kỳ chỉ tăng 10%. Giữa các ngành kinh doanh văn hoá, chỉ có ngành truyền h́nh là tăng trưởng tốt, chủ yếu  do việc ra đời của dịch vụ truyền h́nh trả tiền.

6.2 Chi tiêu văn hoá tính theo đầu người

Ở Ư, chi tiêu nhà nước trong lĩnh vực văn hoá tính theo b́nh quân đầu người là 118 euro năm 2000. So với năm 1990, số tiền đă chi tăng 40%. Chi tiêu văn hoá chiếm 1,3% tổng chi tiêu của nhà nước (so với 0,62% năm 1990). Tính theo GDP, tỉ lệ này tăng từ 0,25% năm 1990 đến 0,57% năm 2000. Do đó, sự tăng trưởng chi tiêu trong lĩnh vực văn hoá vào những năm 90 cao hơn sự tăng trưởng kinh tế nói chung. Tuy nhiên, cũng cần lưu ư rằng Lễ kỷ niệm Rome năm 2000 có một ảnh hưởng nhất định đến “lạm phát” về chi tiêu trong năm đó, khi có một lượng lớn các công tŕnh được cải tạo và nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn hơn b́nh thường.

6.3 Thống kê chi tiêu của nhà nước theo cấp chính quyền

Bảng 5: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá: theo cấp chính quyền, triệu euro, năm 2000

 

Cấp chính quyền

Tổng chi tiêu

% trên tổng số

Nhà nước*

3 525

52.2

Vùng

984

14.6

Địa phương

Trong đó

Tỉnh

Thành phố

2 245

 

205.3

2 039.5

33.2

 

3.0

30.2

Tổng

6 754.2

100

 

(Nguồn: Rapporto sull’ Economia della Cultura in Italia 1990-2000

* Bao gồm cả giáo dục nghệ thuật)

Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá có thể xem là tập trung – với cấp nhà nước chiếm trên 50% tổng chi tiêu. Tuy nhiên, kể từ năm 1990, ở cấp địa phương cũng có sự tăng lên đáng kể, hiện nay chiếm khoảng một phần ba trên tổng số, trong đó chi tiêu tập trung vào các thành phố.

6.4 Thống kê theo lĩnh vực

Hiện nay không thể phân chia chi tiêu văn hoá theo từng lĩnh vực theo cấp chính quyền. Theo cách phân loại do EUROSTAT đề xuất th́ chỉ có thể áp dụng ở cấp nhà nước, thông qua điều tra do Associazione per l’ Economia della Cultura/EAC thực hiện đối với tất cả tài khoản ngân sách của các bộ.

Một cuộc điều tra tương tự của AEC về tài khoản ngân sách của tất cả các vùng không cho phép phân loại chi tiết theo từng lĩnh vực.

Số liệu ít thoả măn hơn là các số liệu về chi tiêu của các tỉnh và thành phố cho văn hoá. Các nguồn này được điều tra hàng năm do ISTAT thực hiện đối với ngân sách kế toán của thành phố và tỉnh: trong nghiên cứu này chi tiêu cho văn hoá được phân loại theo hai lĩnh vực chính: hàng hoá văn hoá và các lĩnh vực khác.

Bảng 6: Chi tiêu của nhà nước cho văn hoá, theo lĩnh vực (năm 2000, ngh́n euro)

 

Lĩnh vực

Chi trực tiếp

Qua các tổ chức

Qua chính quyền địa phương

Tổng chi

% trên tổng số

Hàng hoá văn hoá

1 450.6

213.5

183.7

1 847.8

52.4

Di sản văn hoá

1 081.3

204.1

183.7

1 469.1

41.7

Lưu trữ

191.

4.5

-

196.0

5.6

Thư viện

177.8

4.8

-

182.6

5.2

Nghệ thuật

6.1

110.3

352.4

468.7

13.3

Nghệ thuật thị giác và Kiến trúc

0.1

-

2.1

2.2

0.1

Nghệ thuật tŕnh diễn

6.0

110.3

350.4

466.6

13.2

Âm nhạc

-

-

81.8

81.8

2.3

Nhạc kịch

-

-

2508.

250.8

7.1

Kịch sân khấu

-

104.5

-

104.5

3.0

Khác

6.0

5.8

17.7

29.5

0.8

Truyền thông

61.7

5.8

17.7

29.5

0.8

Sách và báo

58.6

439.1

-

497.7

14.1

Sách

4.5

3.2

-

7.8

0.2

Báo

54.1

435.9

-

49.0

13.9

Nghe nh́n/ đa phương tiện

3.0

195.9

-

189.9

5.6

Điện ảnh

1.3

96.1

-

97.4

2.8

Phát thanh- truyền h́nh

-

99.2

-

99.2

2.8

Khác

1.8

0.5

-

2.3

0.1

Nhiều lĩnh vực

372.7

115.6

23.6

511.9

14.5

Tổ chức văn hoá

3.9

42.6

6.0

52.6

1.5

Quản lư/Khác

52.7

4.7

-

57.4

1.6

Quan hệ đối ngoại

33.5

68.2

17.5

119.3

3.4

Đào tạo

282.6

-

-

282.6

8.0

Tổng

1 981.0

1 074.4

559.7

3 525.1

100

 

Nguồn: Rapporto sull’ Economia della cultura in Italia 1990-2000

Nếu so với số liệu năm 1990, mặc dù chi tiêu của nhà nước vẫn chiếm phần lớn (52%), chi tiêu cho hàng hoá văn hoá vào năm 2000 tăng ít so với chi tiêu của các ngành kinh doanh văn hoá, đạt 20% trong cùng năm chủ yếu do nhà nước hỗ trợ đối với ngành xuất bản. Mặt khác, tỉ lệ chi tiêu của nghệ thuật tŕnh diễn trên tổng số chi tiêu (13%) có giảm xuống, do nhà nước cắt giảm chi tiêu (-11%) cho Quỹ thống nhất về nghệ thuật tŕnh diễn. Sự tăng chi tiêu của thành phố cho âm nhạc và kịch đă bù đắp một phần những giảm sút này.

 

Trở về

7. Các tổ chức văn hoá và những quan hệ đối tác mới

7.1 Phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước

 Từ giữa thập niên 90, xu hướng chủ đạo trong phân bổ lại trách nhiệm của nhà nước đă được “desétisation” (phi tập trung hoá) – nghĩa là, việc chuyển giao một số tổ chức văn hoá của nhà nước sang các tổ chức tư nhân, thường là chuyển sang quy chế các hiệp hội. Những tổ chức đă được đưa vào quá tŕnh chuyển đổi này gồm:

Sự hợp lư đằng sau những biện pháp này gồm hai phần:

a) Nhằm  quản lư hiệu quả hơn các tổ chức trước đây vốn bị tê liệt do nạn quan liêu.

b) Gỡ bỏ gánh nặng đối với nhà nước bằng cách thu hút sự hỗ trợ của khối tư nhân. Tuy nhiên, mục đích thứ hai chỉ đạt được một phần bởi hầu hết chi phí hoạt động của các tổ chức này do ngân sách Nhà nước hỗ trợ.

Tuy nhiên, so với mức độ độc lập của các tổ chức mới được tư nhân hoá gần đây – chủ yếu liên quan đến nghệ thuật tŕnh diễn, t́nh trạng của lĩnh vực di sản c̣n trầm trọng hơn. Trong lĩnh vực này, các bảo tàng và địa điểm khảo cổ học c̣n phụ thuộc nặng nề vào Bộ Di sản, họ không độc lập về ngân sách nên không thể độc lập trong chi tiêu.

Bước thực nghiệm đầu tiên, được tiến hành vào năm 1998 là trao quy chế độc lập và ngân sách cho Pompei, một địa điểm khảo cổ quan trọng. Thử nghiệm tương đối thành công này được mở rộng vào năm 2002 đối với bốn nhóm bảo tàng quốc gia (“poli museali nazionali”), bao gồm nhiều pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia ở Rome, Venice, Florence và Naples. Bước mở rộng tiếp theo được thực hiện vào năm 2004 bằng cách chuyển đổi Bảo tàng Ai Cập Quốc gia ở Turin thành hiệp hội. Nếu kết quả của những bước đầu này là tích cực, các bảo tàng quốc gia khác – không được đưa vào danh mục “poli museali nazionali” sẽ được chuyển thành các hiệp hội.

Một bước đi gây tranh căi hơn, hiện đang được chính phủ thảo luận, là sẽ chuyển giao quyền quản lư một số bảo tàng quốc gia và các di tích khác cho chính quyền địa phương hoặc các đối tác tư nhân kinh doanh hoặc phi lợi nhuận (xem phần 5.1.5), trong khi nhà nước vẫn duy tŕ chức năng quản lư đối với việc bảo vệ.

Tại cấp địa phương đang có xu hướng tư nhân hoá việc quản lư các bảo tàng, hầu hết các đối tác tư nhân của chính quyền địa phương là các tổ chức hoạt động v́ lợi nhuận. Trong khi nạn quan liêu đă gây cản trở việc thực hiện nhiều quy định ở cấp nhà nước th́ tại các thành phố lại có những đổi mới trong việc thực hiện những mô h́nh quan hệ đối tác giữa khối nhà nước và tư nhân. The Musei Capitolini của Rome và hệ thống Bảo tàng địa phương ở Venice là những trường hợp cần nghiên cứu thực hiện.

7.2 Vị trí/vai tṛ và sự phát triển của các cơ quan văn hoá quan trọng

Bước cải tổ sâu sắc nhất được thực hiện gần đây là việc chuyển đổi 13 nhà hát kịch độc lập thành các hiệp hội tư nhân.

Việc tài trợ của nhà nước cho các tổ chức đó, bao gồm La Scala ở Milan, nhà hát Opera Rome, La Fenice ở Venice, v.v.. chiếm khoảng 250 triệu euro hàng năm, bằng một nửa số tiền chi tiêu của nhà nước cho nghệ thuật tŕnh diễn và ngành phim. Hơn nữa, sự hạn chế trong việc tiếp cận đến các tầng lớp xă hội của các nhà hát này – chỉ có những người giàu có và được ưu tiên mới có thể mua vé. Điều này  gây nhiều tranh căi trong việc bù đắp cho những chi phí rất cao chủ yếu là  tiền thuế.

Năm 1996, theo Bộ trưởng mới được chỉ định, th́ giải pháp duy nhất là thu hút tiền từ khối tư nhân. Sắc luật 367/1996 được ban hành để cải tổ 13 nhà hát kịch bằng cách chuyển đổi chúng thành các hiệp hội tư nhân trước năm 1999, cũng như thu hút vốn tư nhân khoảng 40% tổng số vốn của nhà hát thông qua những ưu đăi về tài chính. Tuy nhiên, chỉ có La Scala có khả năng nhận được sự hỗ trợ của tư nhân, do đó một Luật mới (Sắc luật 134/1998) đă được ban hành để thúc đẩy quá tŕnh cải tổ này. Quy định mới bắt buộc chuyển đổi ngay lập tức các nhà hát kịch c̣n lại. Có một điều kiện được đặt ra: trong trường hợp nhà hát không thu hút được trên 12% vốn so với trợ cấp của nhà nước năm 1999, th́ số tiền trợ cấp của nhà nước trong năm tiếp theo sẽ không tăng lên. Mặc dù đưa ra biện pháp khắt khe như vậy, chỉ có ba hiệp hội mới được thành lập đúng thời hạn. Cho đến năm 2004, không một hiệp hội nào ở Rome có khả năng đáp ứng được yêu cầu 12%.

Tóm lại, sự phát triển quan hệ đối tác nhà nước – tư nhân trong việc quản lư các nhà hát kịch thực sự khó khăn hơn người ta dự kiến, đặc biệt là ở các vùng kém phát triển như “Mezzogiorno” (Miền Nam nước Ư). Hiện nay, người ta cho rằng cần phải có ngay những biện pháp để ngăn ngừa các tổ chức này khỏi bị đóng cửa.

7.3 Những quan hệ hợp tác hoặc đối tác mới

Trong số những quan hệ đối tác mới nhằm hỗ trợ cho lĩnh vực văn hoá, những hiệp hội mới được thành lập thông qua những ngân hàng tiết kiệm địa phương đóng một vai tṛ quan trọng.

Ở Ư việc hỗ trợ cho văn hoá nghệ thuật của các ngân hàng tiết kiệm địa phương đă có từ lâu, những ngân hàng này đă được tư nhân hoá trong thập niên vừa qua. Bước cải cách đầu tiên (theo Luật 218/1990) là chia tách nhiệm vụ phi lợi nhuận của tiền trợ cấp khỏi các hoạt động chủ chốt của ngân hàng. Bước tiếp theo (Luật 451/1998) là thành lập các hiệp hội tư nhân độc lập để hoàn toàn tập trung cho các mục tiêu của khối nhà nước và đầu tư cho văn hoá từ tiền bán các tài sản của ngân hàng. Trước năm 2005, các hiệp hội này phải bán các cổ phần thuộc quyền kiểm soát của ngân hàng, để đa dạng hoá tài sản của ḿnh và để tập trung tốt hơn vào nhiệm vụ phi lợi nhuận của ḿnh.

Mặc dù quá tŕnh này đang c̣n diễn ra, những tổ chức  (trước đây là các ngân hàng tiết kiệm) đă tăng cường chức năng tài trợ của ḿnh trong các lĩnh vực nghiên cứu, nghệ thuật và di sản, y tế và phúc lợi trong mấy năm qua (như quy định tại Luật 451). Năm 2000, tổng số tiền tài trợ đạt 258 triệu euro, trong số đó 35% (khoảng 183 triệu euro) cấp cho lĩnh vực di sản và các hoạt động văn hoá (đáng chú Ư là các nhà hát kịch).

Tuy nhiên, cũng nên lưu ư rằng các hiệp hội này chủ yếu phân bố ở miền Bắc và miền Trung, trong khi đó chỉ có 4% tổng số tiền tài trợ thuộc về khu vực phía Nam. Điều này phản ánh những khó khăn mà các tổ hiệp hội mới thành lập ở miền Nam gặp phải trong việc đáp ứng các yêu cầu về tư nhân hoá (xem phần 7.2).

Mặc dù mô h́nh ưu thế từ trước tới nay là tài trợ, những hiệp hội này cho thấy họ ngày càng tập trung vào phát triển những kế hoạch của riêng ḿnh, cũng như nâng cao vai tṛ của ḿnh như là những chất xúc tác trong lĩnh vực văn hoá (xem phần 5.1.5, Sắc Luật 368/98).

Một mô h́nh khác đáng chú ư là hiệp hội những đối tác có tên “fondazioni di partecipazione”, nó được thành lập theo các mô h́nh uỷ thác ở Anh và hiệp hội Bảo tàng ở Hà Lan. Các khoản tiền quyên góp của các hiệp hội được h́nh thành từ sự tham gia của các đối tác khác nhau – là cá nhân hoặc tổ chức, của nhà nước hoặc tư nhân. Đóng góp của họ có thể bằng tiền mặt hoặc bằng h́nh thức khác. Mô h́nh này đă được thực hiện tại một số bảo tàng, nhà hát, dàn nhạc và các tổ chức văn hoá khác.

 

Trở về

8. Hỗ trợ và tham gia hoạt động sáng tạo

8.1 Sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ

Hiện nay, các nghệ sĩ Ư không được hưởng một chế độ hỗ trợ trực tiếp đặc biệt nào. Quy định hiện có duy nhất (xem phần 5.2) là  luật “2% cho nghệ thuật”, quy định rằng 2% chi phí đầu tư cho các công tŕnh xây dựng công cộng (ngoại trừ trường học) sẽ được trích để đặt hàng tác phẩm nghệ thuật của một nghệ sĩ c̣n sống. Do có những nghi vấn về điều kiện đặt ra để lựa chọn nghệ sĩ phù hợp nên quy định này vẫn hầu như không có hiệu lực. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây quy định này được thực hiện thường xuyên hơn, đáng chú ư là trong các công tŕnh đường hầm, nhà tù và doanh trại quân đội.

Mặt khác sự hỗ trợ đối với các hoạt động sáng tạo được thực hiện thông qua 3 tổ chức triển lăm quốc gia về nghệ thuật nghe nh́n hiện đại: The Biennale di Venezia, The Triennale di Milano và The Quadriennale di Roma. Cả ba tổ chức này, theo quy định của luật, đă có những biện pháp cải tổ sâu sắc.

Tuy nhiên, có những tín hiệu cho thấy rằng một trong ba mục tiêu chính của Cơ quan kiến trúc và nghệ thuật hiện đại – DARC mới được thành lập, cũng như Bảo tàng Nghệ thuật thế kỷ 19 (MAXXI), sẽ được thành lập ở Rome trên cơ sở một doanh trại quân đội cũ. Đây sẽ là việc tăng hỗ trợ cho các nghệ sĩ và thúc đẩy phát triển nghệ thuật hiện đại.

8.1.1 Các quỹ đặc biệt cho nghệ sĩ

Ở cấp quốc gia không có một chương tŕnh tài trợ nào dành cho nghệ sĩ, mặc dù sự hỗ trợ đó lại có thể có trong một số trường hợp ở các vùng và thành phố.

8.1.2 Hỗ trợ cho các tổ chức hoặc hiệp hội nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Mặc dù ở Ư có rất nhiều tổ chức và hiệp hội nghệ thuật, nhưng họ không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào từ phía Chính phủ.

8.2 Xu hướng tham gia vào các  hoạt động văn hoá

Kể từ năm 1993, xu hướng tham gia vào các hoạt động văn hoá đă được ISTAT theo dơi hàng năm thông qua các cuộc điều tra mẫu, những cuộc điều tra này phù hợp với điều đă được thực hiện tại các quốc gia châu Âu. Các xu hướng thay đổi một cách đáng kể, phụ thuộc vào việc các hoạt động văn hoá diễn ra hoàn toàn “ngoài trời” hay ở “trong nhà”. Tuy nhiên, tổng dân số tham gia vào hoạt động ở các nhà hát (18.7%) và các buổi hoà nhạc (9%) vẫn thấp một cách đáng lo ngại.

Giới truyền thông có sự tham gia với tỷ lệ cao hơn, đặc biệt là phát thanh và truyền h́nh (xem Bảng 7). Nếu so sánh với các nước châu Âu khác th́ Ư – với tỉ lệ người đọc báo là 61%, và 41% đọc sách, cho thấy người dân không ham đọc sách báo. Mặt khác, lĩnh vực này trong khoảng từ 1993 đến 2000 có ít biến chuyển hơn nếu so sánh với xu hướng trong lĩnh vực bảo tàng và nghệ thuật tŕnh diễn: cụ thể, tỉ lệ người đọc báo và xem truyền h́nh đă giảm xuống trong thập kỷ qua.

8.3 Các chương tŕnh hoặc sáng kiến chính sách để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hoá

Từ giữa thập niên 90, nhiều sáng kiến đă được thực hiện để thúc đẩy sự tham gia, mặc dù chủ yếu là từ phía cung: việc mở cửa trở lại hoặc đóng cửa các bảo tàng, kéo dài thời gian mở cửa tại các bảo tàng và địa điểm di tích, nâng cấp các trang thiết bị cùng với hiện đại hoá các dịch vụ bảo tàng.

Tổ chức quảng cáo các tuần lễ và sự kiện, đưa ra nhiều h́nh thức bán vé xem kịch sân khấu, giảm giá khi xem phim vào buổi chiều, v.v.. cũng góp phần vào việc làm tăng tỉ lệ tham gia.

Tuy nhiên, hiện tại vẫn c̣n thiếu các hoật động chiến lược để khuyến khích sự tham gia của công chúng vào hoạt động văn hoá - không một nghiên cứu về khán giả hay những nghiên cứu chi tiết nào về các yếu tố quyết định đến nhu cầu, hoặc việc đưa ra các kỹ thuật marketing để làm tăng sự tham gia của công chúng được thực hiện thường xuyên.

 

 

 

8.4 Các tổ chức, trung tâm văn hoá và nghệ thuật không chuyên

8.4.1 Các nhà văn hoá hoặc câu lạc bộ văn hoá cộng đồng

Trong thập niên qua số lượng người tham gia vào các tổ chức văn hoá không chuyên đă tăng lên. Sự tăng lên này có thể là do Luật 266/1991 về t́nh nguyện, quy định rằng những tổ chức như vậy có thể nhận được những lợi ích và hỗ trợ về tài chính. Theo Báo cáo của ISTAT về các tổ chức không chuyên (1999), số người t́nh nguyện tham gia vào lĩnh vực văn hoá ở cấp địa phương là khoảng 77 000, c̣n ở cấp quốc gia là 13%. Khảo cổ, lịch sử địa phương, văn hoá dân gian và văn hoá đại chúng là các lĩnh vực nhận được nhiều lợi ích nhất từ hoạt động của các tổ chức văn hoá không chuyên.