![]() |
|
Chỉ bằng các hoạt động văn hóa th́ tư tưởng của một quốc gia mới được bộc lộ rơ nhất, v́ thế chính sách văn hóa ngoại giao giữ vai tṛ rất quan trọng trong hoạt động ngoại giao. Bên cạnh đó, chính sách văn hóa ngoại giao c̣n có thể nâng cao khả năng quan hệ chính trị bền vững, khéo léo và rộng mở của Mỹ. Thực tế lịch sử ghi lại nền văn hóa phong phú đa dạng của nước Mỹ đă đóng vai tṛ không kém ǵ hoạt động quân sự trong việc củng cố vai tṛ lănh đạo thế giới của đất nước này, ngay cả trong cuộc chiến chống khủng bố. Các giá trị nghệ thuật tư tưởng truyền thống đă tạo nên một bức tường thành chống lại các thế lực đen tối. Các giá trị tư tưởng của các vị lănh tụ được hàm chứa thiêng liêng trong Bản tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp, Chủ trương lập chế độ liên bang, và Bản tuyên ngôn nhân quyền đă mang đến một trang sử mới cho các giá trị nghệ thuật truyền thống đầy sức sống của Mỹ trên các lĩnh vực nghệ thuật, nhảy múa, làm phim, nhạc jazz, và văn chương. Các giá trị nghệ thuật này của Mỹ mang lại cho mọi người khắp nơi trên thế giới sự thích thú và đam mê bất kể có sự khác nhau về chính trị. Nhưng sau cuộc xâm chiếm Irắc của Mỹ, vụ ngược đăi tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib, và các cuộc tranh căi về việc giam giữ tù nhân ở Bagram và vịnh Guantánamo, nước Mỹ hầu như bị cả thế giới coi là một thế lực nguy hiểm cần phải chống đối chứ không c̣n có vai tṛ là người mở đường cho những hi vọng. Sự nh́n nhận này của thế giới với Mỹ xóa đi khả năng thành công trong cuộc chiến đấu của thế giới giành quyền tự do, dân chủ, và nhân phẩm cho các dân tộc- những tư tưởng vẫn đang thổi nguồn hi vọng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ḷng tin trong cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ được khôi phục nếu Mỹ làm được nhiều điều hơn là chỉ dùng quân sự hoặc các biện pháp về kinh tế để điều chỉnh cách nh́n nhận về Mỹ này của thế giới. Thực ra văn hóa có thể can thiệp được. Chính sách văn hóa ngoại giao thể hiện tâm hồn của một dân tộc, điều này có thể lư giải được sự phức tạp trong đời sống chính trị Mỹ: Khi đất nước này có chiến tranh, mọi phương pháp ngoại giao được sử dụng, bao gồm cả việc phát động các phong trào văn hóa. Nhưng khi ḥa b́nh lập lại, văn hóa lại ngày càng bị mai một v́ cố hữu nước Mỹ luôn thiếu sự ủng hộ của công chúng đối với nghệ thuật. Và bây giờ nếu Mỹ lại có chiến tranh lần nữa th́ nước này càng phải quan tâm nhiều hơn đến chính sách văn hóa ngoại giao. Hiện tại Mỹ nên tạo những cơ sở văn hóa vững chắc nhằm thực hiện chính sách văn hóa ngoại giao hiệu quả và phù hợp với cách nh́n nhận vai tṛ của văn hóa trong việc giữ vững an ninh quốc gia. Và như bà Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice phát biểu, nếu sự can thiệp của Mỹ tại Irắc cần "sự quan tâm của cả thế hệ" th́ các nỗ lực của chính sách văn hóa ngoại giao Mỹ cần có những yếu tố tương tự như các quỹ tài trợ, chuyên gia, trách nhiệm và thời gian.
Hội đồng tư vấn về chính sách văn hóa ngoại giao yêu cầu Ngoại trưởng Mỹ cần quan tâm đến những đề xuất sau:
Một chính sách văn hóa ngoại giao hiệu quả đ̣i hỏi những nỗ lực lâu dài mới giành được thiện cảm của công chúng thế giới. Bây giờ là lúc Mỹ tạo dựng các yếu tố cần thiết cho chính sách văn hóa ngoại giao và chính sách đối ngoại của ḿnh trong thể kỷ 21. Thực tế lịch sử ghi lại nền văn hóa phong phú đa dạng của nước Mỹ đă đóng vai tṛ không kém ǵ hoạt động quân sự trong việc củng cố vai tṛ lănh đạo thế giới của đất nước này, ngay cả trong cuộc chiến chống khủng bố. Các giá trị nghệ thuật tư tưởng truyền thống đă tạo nên một bức tường thành chống lại các thế lực đen tối. Và chính sách văn hóa ngoại giao thể hiện khả năng của các họa sĩ, những nghệ sĩ biểu diễn, và các nhà tư tưởng Mỹ trong việc củng cố an ninh nước Mỹ thông qua việc tạo dựng quan hệ chính trị bền vững, rộng mở và khéo léo nhờ chính sách văn hóa ngoại giao. Nhưng với nguồn lực có hạn và do thiếu sự quan tâm sâu sắc của chính phủ đă giới hạn những nỗ lực trong việc giành thiện cảm của nhân dân thế giới đối với Mỹ. Đây là lúc để thay đổi và điều chỉnh mục tiêu của chính sách văn hóa ngoại giao phù hợp với vị trí của Mỹ. Đây là điều mà Cựu Ngoại trưởng Mỹ Madeline Albright đă nói là "một tất yếu", là lúc cho thấy các giá trị mà Mỹ đă thuyết giáo trên vũ đài chính trị quốc tế được thể hiện thế nào trong nền văn hóa của nước này - và là lúc để lắng nghe những nền văn hóa khác trên thế giới nói về Mỹ.
Trong bản báo cáo của Hội đồng khoa học quốc pḥng về Các phương tiện liên lạc
chiến lược (Defense Science Board on Strategic Communications) vào tháng 9/2004
khẳng định rằng "các chính sách của Mỹ về các vấn đề Israe-Palestin và Irắc
trong năm 2003-2004 đă làm nước Mỹ không c̣n được các nước khác tin tưởng nữa." Chính sách văn hóa ngoại giao là một công cụ mà Mỹ có thể can thiệp và hóa giải những mối bất đồng này. Dường như Mỹ không bao giờ có thể khôi phục lại ḷng tin của thế giới dành cho ḿnh. Các cuộc điều tra ư kiến được thực hiện bởi một loạt các tổ chức, bao gồm tổ chức Zogby Quốc tế thuộc Trung tâm nghiên cứu Pew, và tổ chức Gallup (là CNN/Mỹ ngày nay), cho thấy thái độ phản đối của nhân dân thế giới đối với Mỹ và các chính sách của nước này, đặc biệt trong cuộc chiến tranh ở Irắc. Cuộc điều tra được tiến hành ở các nước đạo Hồi/A-rập, và đa số người dân các nước Ai Cập, Morocco, và A-rập Saudi coi George W.Bush là mối đe dọa đối với thế giới c̣n lớn hơn cả "trùm khủng bố" Osama bin Laden; ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Jordan th́ số người chống đối đă giảm xuống ổn định trong năm 2002, 2003, và 2004; một cuộc điều tra được tiến hành tại10 nước vào tháng 10/2004- tại Canada, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, úc, Hehico, Israel, và Nga: một số đồng minh thân cận nhất của Mỹ đă có xu hướng tương tự. Tuy cuộc điều tra gần đây cho thấy những nỗ lực hỗ trợ của Mỹ sau trận sóng thần ở Đông Nam á vào tháng 12/2004 đă xoa dịu được cơn thịnh nộ của thế giới với Mỹ, nhất là ở các nước đạo Hồi đông dân, Indonesia, nhưng thực tế c̣n rất nhiều các dân tộc trên thế giới đă mất niềm tin vào nước Mỹ. Một điều hiển nhiên trong quan hệ quốc tế là nước nào có thế lực càng lớn th́ nước đó sẽ càng bị hoài nghi về việc sử dụng sức mạnh của ḿnh có hợp lư hay không. Điều này tất nhiên đề cập đến trường hợp Mỹ xâm chiếm Irắc. Khi đó hầu như cả thế giới đă chắc rằng Mỹ sẽ quyết tâm tấn công nơi nào nước này đă nhắm tới và bất cứ khi nào mà không cần quan tâm đến "ư kiến của nhân loại" -như Ngài Thomas Jefferson nói. Nhưng một đất nước nếu chỉ chăm lo cho thế lực của ḿnh th́ cuối cùng sẽ không có một nước đồng minh nào. Và lịch sử chứng minh những đất nước bị cô lập sẽ sụp đổ. Chính sách văn hóa ngoại giao, được định nghĩa là "chính sách giao lưu các giá trị tư tưởng, chia sẻ thông tin, nghệ thuật và các khía cạnh khác trong văn hóa giữa các nước và các dân tộc nhằm nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau", là chính sách quan trọng trong chính sách ngoại giao; Các thành tựu của hệ thống giáo dục cao học của Mỹ làm nhiều nước trên thế giới phải đố kỵ mặc dù có rất nhiều khó khăn mà sinh viên nước ngoài phải đối mặt trong việc xin visa để được vào học ở các trường của Mỹ; các quỹ tài trợ phát triển tài năng (công và tư) là một phần trong chương tŕnh giao lưu văn hóa nằm trong chính sách văn hóa ngoại giao . Mọi người trên thế giới yêu thích văn hóa Mỹ là qua các tư tưởng của Mỹ- tư tưởng về tự do qua các sáng tác của Emerson và Thoreau, của Hemingway và Fitzgerald; các bản nhạc của Fitzgerald, Charlie Parker, và John Coltrane; các bức tranh của Jackson Pollock, Willem de Kooning, và Robert Motherwell; các điệu múa ballê của Martha Graham, Merce Cunningham, và Paul Taylor; các bộ phim của Woody Allen và Martin Scorsese. Tuy nhiên, một nhà chức trách người Mỹ đă nói về việc cắt giảm quỹ hỗ trợ cho các chương tŕnh văn hóa gần đây: "Nó giống như việc hút hết không khí trong 1 chiếc b́nh: nếu không có cách nào khác để khuyến khích chúng ta duy tŕ hoạt động nghệ thuật ngoài v́ mục đích chính trị th́ chúng ta sẽ thất bại." Khi cuộc Chiến tranh lạnh (Cold War) kết thúc và sau đó là việc giải tán Cơ quan thông tin Mỹ (USIA) vào năm 1999, th́ các chương tŕnh giao lưu văn hóa chính thức của Mỹ với nước ngoài giảm sút đáng kể; các chương tŕnh văn hóa giảm sút thậm chí trước thời điểm giải tán nhân sự của USIA theo mệnh lệnh của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (DOS) đă phá hủy những ǵ cần thiết cho việc duy tŕ các mối quan hệ về văn hóa. Những ǵ c̣n lại là một loạt các chương tŕnh đặc biệt cần được thực hiện thông qua ủy ban Giáo dục và Văn hóa (Bureau of Education and Cultural Affairs (ECA)) thuộc DOS, với nhân sự và ngân sách cắt giảm, vị trí bị phai mờ trong hệ thống ngoại giao, và mục tiêu của chính sách văn hóa ngoại giao không c̣n tương xứng với các giá trị tư tưởng Mỹ và mục tiêu của chính sách đối ngoại. Chính sách văn hóa ngoại giao là sự giao lưu 2 chiều: tác phẩm nghệ thuật Mỹ có thể gây cảm hứng cho nghệ sĩ nước ngoài và luôn có nghệ sĩ Mỹ chờ được khám phá các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc khác. Văn hóa được lưu truyền từ người này sang người khác, thường bằng một phương thức ngầm; trong các chương tŕnh giao lưu như Fulbright, Humphrey, và Muskie mọi người có cơ hội tiếp xúc và chia sẻ, giao lưu văn hóa.
Lắng nghe là yếu tố trung tâm trong nỗ lực ngoại giao. Để thực hiện chính sách văn hóa ngoại giao có hiệu quả, trước hết phải lắng nghe ư kiến của đối tác nước ngoài, t́m kiếm điểm chung với các nhà văn, nhà làm phim và đạo diễn ca múa kịch, biên đạo múa và các học giả- bởi v́ cùng với những người này chúng ta sẽ khám phá các giá trị tư tưởng về niềm tin và tự do. Trong hành tŕnh t́m kiếm những giá trị tinh thần chung của loài người mỗi nền văn hóa có một cách đi riêng. Nước Mỹ không nên áp đặt những giá trị tư tưởng của ḿnh đối với các dân tộc khác. Thực tế cho thấy lịch sử nghệ thuật và văn chương có mối quan hệ không thể tách rời. Và sự phong phú của nền văn hóa Mỹ có được là nhờ việc tiếp thu những giá trị nghệ thuật và trí tuệ từ các nền văn hóa khác. Những nghệ sĩ Mỹ đóng vai tṛ là những nhà ngoại giao văn hóa cống hiến không ngừng cho hoạt động ngoại giao Mỹ. Như ngài Joan Channick lưu ư:"Các nghệ sĩ tham gia giao lưu văn hóa không chỉ là người cải tổ các giá trị văn hóa của riêng họ mà c̣n học hỏi thêm được các truyền thống văn hóa khác, để khơi những nguồn cảm hướng sáng tạo mới, để khám phá những cách thức mới trong việc truyền bá, trao đổi các giá trị tư tưởng với những người có quan điểm, cách nh́n nhận thế giới khác với họ. Họ muốn được học hỏi nhiều hơn là thuyết giảng." V́ thế, họ nên lắng nghe. Và nhờ đó họ sẽ xóa được cách nh́n nhận cố hữu về nước Mỹ như một xă hội lạnh lùng v́ các chính sách đối ngoại của ḿnh. Bản báo cáo này tổng hợp những khám phá trong nghiên cứu về chính sách văn hóa ngoại giao và đối ngoại của Mỹ của các tổ chức của Mỹ; những thông tin mà Hội đồng tư vấn Mỹ thu lượm được từ chuyến công tác sang Oman, Ai Cập, và Anh vào mùa hè năm 2004 cũng như các chuyến thăm quan của các cá nhân trong Hội đồng được DOS tài trợ đến Ai Cập, Malaysia, và Na Uy; các cuộc phỏng vấn các hoạ sĩ, biên đạo múa, các nhà hoạt động văn hóa, các học giả, các nhà làm phim, các đạo diễn ca múa kịch, và các nhà văn trong nước và nước ngoài; các cuộc thảo luận với các nhà ngoại giao Mỹ, các trưởng ban chương tŕnh của DOS, và hàng loạt những quan chức nước ngoài, nhà báo, và các chuyên gia. Mỹ ngày càng thấy rơ hơn nguy cơ khủng hoảng về chính sách ngoại giao, đầu tiên là trong nhận thức của Mỹ và sau đó thể hiện ở các vấn đề ngoại giao cần được giải quyết: các mối quan hệ cần được lập lại và các mối quan hệ mới cấn được thiết lập. Nếu không đơn giản Mỹ sẽ không c̣n có được sự thiện chí của thế giới và điều này sẽ làm cho việc thi hành chính sách đối ngoại đang ngày càng trở nên khó khăn hơn. "Chúng ta đă từng yêu quư nước Mỹ", đó là tiêu đề của một cuộc hội thảo về lễ liên hoan văn chương thế giới tại thể hiện t́nh cảm của toàn thế giới đối với Mỹ trong 3 năm qua. Câu hỏi đặt ra lúc này là nước Mỹ cần làm ǵ để lấy lại được thiện cảm đó của thế giới dành cho ḿnh. Hội đồng tư vấn về chính sách văn hóa ngoại giao được Quốc hội Mỹ ủy nhiệm theo văn bản luật BL 107-228 tháng 3/2004. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Bộ ngoại giao Hoa Kỳ trong việc xây dựng các chương tŕnh và chính sách nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách văn hóa ngoại giao trong chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt quan tâm đến các hoạt động:1) tổ chức nhiều các cuộc biểu diễn, trưng bày triển lăm nghệ thuật của các nghệ sĩ Mỹ ở nước ngoài; 2) xây dựng các chiến dịch khuyến khích hợp tác tài trợ cho các chương tŕnh giao lưu văn hóa thu hút sự quan tâm của công chúng Mỹ. Như cựu Ngoại trưởng Mỹ George P. Shultz phát biểu, có thể ví chính sách văn hóa ngoại giao như việc làm vườn - "Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Ta cũng có thể xây dựng cơ sở niềm tin và sự hiểu biết. Nếu t́nh h́nh có xấu đi ta đă có một nền tảng vững chắc để giải quyết"- và vai tṛ của chính sách văn hóa ngoại giao là trồng những hạt giống- các tư tưởng và giá trị phi vật chất; các công cụ và các chiến dịch nghệ thuật ; các cuộc bàn luận chính trị và triết học; các ư niệm tinh thần; các cách nh́n nhận thế giới- những giá trị này có thể nảy nở ở các vùng đất khác trên thế giới. Chính sách văn hóa ngoại giao thể hiện tâm hồn của một quốc gia, điều này lư giải sự phức tạp trong đời sống chính trị Mỹ: Khi đất nước này có chiến tranh, mọi phương pháp ngoại giao được sử dụng, bao gồm cả việc phát động các phong trào văn hóa. Nhưng khi ḥa b́nh lập lại, văn hóa lại ngày càng bị mai một v́ cố hữu nước Mỹ luôn thiếu sự ủng hộ của công chúng đối với nghệ thuật. Và bây giờ nếu Mỹ lại có chiến tranh lần nữa th́ nước này càng phải quan tâm nhiều hơn đến chính sách văn hóa ngoại giao. Có thể hiện tại Mỹ nên tạo dựng những yếu tố, cơ sở văn hóa vững chắc cho việc thực hiện chính sách văn hóa ngoại giao hiệu quả và phù hợp với cách nh́n nhận vai tṛ của văn hóa trong việc giữ vững an ninh quốc gia. Nỗ lực đầu tiên trong chính sách văn hóa ngoại giao Mỹ có từ chiến tranh thế giới I, xuất phát các hoạt động văn hóa của Đảng quốc xă Đức ở châu Mỹ Latin, chứ không phải đến 1938 Bộ Ngoại giao Mỹ mới ư thức được vai tṛ của các quan hệ văn hóa. Chính phủ đă đồng ư hỗ trợ các chương tŕnh giao lưu văn hóa cho các sinh viên và các nghệ sĩ theo Nghị định 1936, nghị định hướng dẫn việc thúc đẩy các mối quan hệ văn hóa ngoại giao của Mỹ với các nước - mô h́nh tổ chức các chương tŕnh giao lưu là một phần trong chính sách đối ngoại trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh. Mục đích và mục tiêu của chương tŕnh này là "tạo điều kiện cho Chính phủ Hoa Kỳ hiểu biết hơn về các dân tộc khác và nâng cao mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Mỹ và nhân dân các nước khác." Trong số những cách thức có thể được sử dụng nhằm đạt được những mục tiêu này th́ có một biện pháp là giao lưu quốc tế về con người, kiến thức và kỹ năng. Giao lưu quốc tế về nhân lực và các dự án là một sách lược cần thiết để đạt được các mục tiêu của chương tŕnh giao lưu có tính chất giáo dục này. Những người tham gia vào các dự án này sẽ mang đến các nước khác cũng như mang lại cho đất nước ḿnh những thông tin, kiến thức và những quan điểm mới mà qua mỗi kinh nghiệm cá nhân và sự tác động của cá nhân sẽ nâng cao hơn sự hiểu biết của nước Mỹ về các nước cũng như sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Các chương tŕnh này đóng vai tṛ tiên phong và trực tiếp đóng góp cho các hoạt động giao lưu về kỹ thuật, tri thức và kỹ năng, chia sẻ thông tin về việc phát triển giáo dục, nghệ thuật , và khoa học. Sự truyền bá tri thức và văn hóa Mỹ- thành công của Mỹ trong cuộc chiến tranh tư tưởng với Liên Xô- có thể được đánh dấu bằng nhiều chương tŕnh văn hóa có ư nghĩa. Cơ quan trung tâm tri thức (The Central Intelligence Agency) đă tham gia hoạt động văn hóa vào những năm 50 thông qua việc hỗ trợ cho các cuộc trưng bày nghệ thuật Mỹ, tổ chức các tua lưu diễn nghệ thuật , và xuất bản tạp chí Encounter, là một trong những ấn phẩm nổi bật trong thời kỳ đó- nhưng hoạt động này đă chấm dứt vào năm 1967. Nhưng sau Cuộc chiến tranh lạnh, chính sách văn hóa ngoại giao không c̣n được ưu tiên, và ngân quỹ cho chính sách này giảm sút đáng kể. Như bà Juliet Antunes Sablosky báo cáo: "Kể từ năm 1993, ngân sách đă cắt giảm 30%, nhân sự của chính sách này giảm 30% ở nước ngoài và trong nước giảm 20%, và rất nhiều các trung tâm văn hóa, thư viện đă đóng cửa." Việc giải tán tổ chức UISA vào năm 1999 đă đánh dấu sự chấm hết của chính sách văn hóa ngoại giao chính thức và bắt đầu rút ra khỏi hoạt động văn hóa chung của thế giới. Dẫn chứng là, "từ năm 1995 đến 2001 số lượng các nghệ sĩ tham gia chương tŕnh giao lưu của ECA đă giảm từ 45,000 xuống c̣n 29,000." Thay cho các hoạt động văn hóa ở nước ngoài th́ các chương tŕnh chính trị, đặc biệt là các chương tŕnh chính trị cực đoan ở các nước đạo Hồi. Trong cuốn The First Resort of Kings, ghi lại lịch sử về chính sách văn hóa ngoại giao của Mỹ, ông Richard T. Arndt đă chỉ trích "ngày càng có sự thiếu hiểu biết về thế giới bên ngoài" trong chính sách ngoại giao Mỹ. "Tuy nhiên cũng có một số ít người đă đề xuất cần phải t́m ra nguyên nhân và biện pháp cho chính sách văn hóa ngoại giao đang xuống dốc. Nhưng rút cục chẳng ai quan tâm, bỏ mặc đất nước trước sự ảnh hưởng dữ dội của văn hóa đạo Hồi. Ngoài ra, việc thi hành các luật lệ nghiêm ngặt về việc cấp visa sau sự kiện 9/11 đă ảnh hưởng đến chính sách văn hóa ngoại giao. Nếu trong những năm 90, số lượng sinh viên nước ngoài học đại học ở Mỹ tăng 10%/năm th́ những yêu cầu nghiêm ngặt đối với việc nhập cảnh đă làm giảm tỉ lệ tăng này xuống thấp hơn cả 1% vào năm 2002 và 2003; những khó khăn trong việc xin visa đă đẩy sinh viên nước ngoài sang học các trường ở úc và các nước trong khối liên minh châu Âu. Thực sự rất nhiều sinh viên nước ngoài t́m đến đất Mỹ để học hỏi các kiến thức về khoa học kỹ thuật, các kỹ năng sư phạm và nghiên cứu (Theo báo cáo của Hội đồng khoa học quốc gia có 38% tiến sĩ trong đội ngũ kỹ sư và các nhà khoa học đều là người nước ngoài), những người quay trở lại quê hương cũng rất biết ơn công giáo dục và thường đóng vai tṛ là sứ giả của nước Mỹ. Họ thấm nhuần các giá trị văn hóa Mỹ, và cho thấy sự thiện chí của nước Mỹ. Ông Joseph S. Nye, Jr nhận xét: "Năm trước, số học lưu học sinh ở các trường đại học và cao đẳng Mỹ giảm lần đầu tiên kể từ năm 1971. Các báo cáo gần đây cho thấy tổng số lưu học sinh nhập học tại 2,700 trường đă giảm 2,4%, và ở các trường đại học nghiên cứu lớn th́ con số này c̣n giảm nhiều hơn nữa." Mỹ cũng không nên giảm ngân sách hỗ trợ cho các lưu học sinh: NAFSA, Tổ chức đào tạo quốc tế (the Association of International Educators) báo cáo rằng các lưu học sinh và gia đ́nh họ phải hỗ trợ thêm gần 13 tỷ $ mỗi năm, và trong năm 2003 con số này giảm đi hơn 300 triệu $. Theo cựu Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell đă phát biểu:"Không có tài sản nào giá trị hơn đối với đất nước chúng ta là t́nh hữu nghị của các lănh đạo thế giới trong tương lai, những người đă từng được đào tạo ở đây." Rơ ràng vấn đề lúc này đối với chính sách văn hóa ngoại giao là vấn đề về ngân sách. Ngân sách của DOS dành cho chính sách đối ngoại năm 2003 tổng cộng là 600 triệu $, 40% trong số đó được dành cho các chương tŕnh văn hóa và giáo dục. ECA, với ngân sách hàng năm là 245 triệu $ (khoảng 3 triệu $ được dành cho các hoạt động văn hóa), đă tổ chức rất nhiều các chương tŕnh, bao gồm các chương tŕnh giao lưu giáo dục, chương tŕnh giao lưu của thanh niên và giao lưu của các nghệ sĩ; hỗ trợ tổ chức các cuộc triển lăm tranh, tác phẩm điêu khắc, ảnh nghệ thuật và phim; tài trợ các chuyến lưu diễn của các nghệ sĩ; tài trợ cho các chuyên gia văn hóa tổ chức giảng dạy, tổ chức hội thảo. Trong những chương tŕnh đó nổi bật là: chương tŕnh giao lưu văn hóa CultureConnect đă đưa các h́nh tượng văn hóa nổi tiếng như Yo-Yo Ma, Wynton Marsalis, và Frank McCourt đến với công chúng nước ngoài, hướng vào các đối tượng từ 12 đến 25 để tăng cường sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau; Quỹ hỗ trợ bảo tồn di sản văn hóa (Ambassador’s Fund for Cultural Preservation) nhằm giúp các nước bảo tồn các khu di tích lịch sử và các di sản viết tay, đồ sưu tập của bảo tàng và các h́nh thức văn hóa truyền thống như âm nhạc, nhảy múa, và ngôn ngữ; Chương tŕnh giao lưu của các viện bảo tàng thế giới nhằm tăng cường sự liên kết giữa các viện bảo tàng ở Mỹ với nước ngoài; Chương tŕnh lưu diễn nhạc Jazz từ 4-6 tuần ở nước ngoài; và các chương tŕnh khác nhưng những chương tŕnh này đều sẽ không c̣n có nguồn tài trợ. Tất nhiên là vẫn c̣n một số hoạt động văn hóa quốc tế được tiến hành bởi các tổ chức tư nhân. Văn hóa Mỹ, nổi bật là phim và ca nhạc là một trong những lĩnh vực nghệ thuật mạnh nhất trên thế giới ngày nay. Tuy nhiên văn hóa Mỹ cũng rất phong phú và mỗi loại h́nh văn hóa lại tạo nên một h́nh ảnh mới cho đất nước này, và ủy ban giáo dục và văn hóa ECA là "tâm điểm đầu tiên trong kế hoạch thành lập các Hiệp hội hợp tác giữa các tổ chức tư nhân và tổ chức nhà nước", ECA đóng vai tṛ quan trọng trong việc tăng cường mối quan hệ giữa các họa sĩ, nhà văn, … của Mỹ với nước ngoài. 1,500 tổ chức tư nhân, các học viện cùng ECA hợp tác với Hội đồng du lịch quốc gia (the National Council of International Visitors) tổ chức các chương tŕnh văn hóa và giao lưu, duy tŕ mạng lưới gồm 80,000 t́nh nguyện viên Mỹ- những người giới thiệu nước Mỹ đến với các du khách nước ngoài. Họ làm việc trên lĩnh vực giải trí để đưa h́nh ảnh nước Mỹ đến với toàn cầu. Và kết quả của các chương tŕnh này là: các du khách đến Mỹ đă hiểu sâu sắc hơn về những biến đổi của xă hội Mỹ, bên cạnh đó người Mỹ cũng tự mở mang sự hiểu biết của ḿnh về thế giới. Giao lưu văn hóa giúp các dân tộc có những hiểu biết cơ bản về nhiều vùng đất khác trên thế giới. Hoạt động duy tŕ nghi lễ truyền thống ở Kelantan- một tỉnh miền Bắc Malaysia là một ví dụ điển h́nh về chính sách văn hóa ngoại giao trong thực tế. Với vốn tài trợ rất nhỏ từ Quỹ hỗ trợ bảo tồn di sản văn hóa (Ambassador’s Fund for Cultural Preservation) đă giúp tỉnh này bảo tồn các giá trị truyền thống cổ xưa như các điệu nhảy, múa rối, và các nghi thức chữa bệnh, đào tạo các thế hệ nghệ sĩ trẻ địa phương. Những hoạt động này không phân biệt tôn giáo và cũng có những ảnh hưởng đến chính trị: sau hơn 1 thập niên cấm tổ chức các hoạt động trên, trong các cuộc bầu cử gần đây các quan chức theo đạo Hồi ở địa phương (PAS) đă mất rất nhiều ghế tại Quốc hội v́ các quan chức đạo Hồi này theo như một nhà phê b́nh chính trị nói th́ chỉ biết cấm đoán mọi thứ. Vào tháng 6/2004, 6 thành viên của tổ chức ACCD đă tiến hành chuyến công tác t́m hiểu thực tế tại Muscat, Cairo, và London nhằm nghiên cứu vai tṛ của văn hóa và nghệ thuật trong chính sách đối ngoại; để đánh giá những tác động của việc tổ chức các chương tŕnh văn hóa nghệ thuật; để xem xét lại ngân quỹ dành cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật; để xem có thể kết hợp các chương tŕnh văn hóa nghệ thuật như thế nào; để DOS học hỏi cách thức hỗ trợ hữu hiệu nhất cho các chương tŕnh văn hóa nghệ thuật; để khám phá các chính sách nghệ thuật và văn hóa có thể nâng cao h́nh ảnh Mỹ ở nước ngoài như thế nào; và để bàn bạc cách hợp tác với các tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật tư nhân Mỹ. Một cuộc điều tra gần đây của ACCD đă cho kết luận: h́nh ảnh và danh tiếng của Mỹ ở nước ngoài hầu như không bị ảnh hưởng xấu đi. Nhưng dường như vẫn có một thế lực nào đó chống lại các chính sách và hoạt động của Mỹ. Mặc dù vậy, điều đó là cần thiết để Mỹ không coi thường các nước khác. Một số nhà b́nh luận ở Oman và Ai-cập đă phân tích rơ ràng các khía cạnh khác nhau về nước Mỹ, một mặt là các chính sách của Mỹ ở Trung Đông, mặt khác là hệ thống giáo dục cao học, khoa học, công nghệ và các giá trị tinh thần- tự do, dân chủ, và nhân phẩm. Nước Mỹ vẫn được coi là một nơi mà mọi chuyện có thể xảy ra, nơi mà người ta không ngại thay đổi: một đất nước của sự đa dạng, cởi mở, thẳng thắn và phóng khoáng. Điều cần nói ở đây là: chúng ta đang mở cửa và hội nhập- là điều kiện để hợp tác với các ngồn lực nước ngoài bao gồm cả trên lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật. Thực tế, Mỹ có thể tham gia thành công vào nền văn hóa thế giới nhưng dường như Mỹ vẫn đang "ẩn ḿnh". Mỹ nên sẵn sàng hội nhập lại nền văn hóa chung của thế giới. Tại Muscat, một quan chức cấp cao đă đưa ra một vấn đề quen thuộc cho Hội đồng: những giá trị của Mỹ đang dần bị phai mờ bởi các vấn đề bế tắc ở Israel và Palestin và cuộc chiến ở Irắc; vụ ngược đăi tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib-các bức tranh bằng chứng về các tù nhân bị trùm đầu và bị dí điện cùng các lính Mỹ đă được phát thường xuyên và truyền đi khắp thế giới qua mạng. Và tại đất nước nhỏ bé như Oman (2.3 triệu người) th́ các hoạt động trong chính sách văn hóa ngoại giao tất nhiên là rất ít: biểu diễn ḥa nhạc, chương tŕnh giao lưu văn hóa, các học bổng nhỏ dành cho việc đào tạo tiếng Anh; mở thư viện; hỗ trợ tổ chức các cuộc trưng bày triển lăm;… Một quan chức khác lại nêu ra vấn đề về dịch thuật cho thấy được hiện trạng là rất ít các sách tiếng Anh được dịch sang tiếng A-rập và ngược lại. Thực sự dịch thuật cũng có vai tṛ quan trọng trong bất kỳ sáng kiến nào của chính sách văn hóa ngoại giao; một số bất ḥa giữa các dân tộc có thể được giải quyết nhờ có sự giao lưu về văn chương và các giá trị tri thức truyền thống; một số nhà hoạch định chính sách và phê b́nh Mỹ không có sự hiểu biết rơ về các dân tộc khác trong một vài trường hợp có thể dàn xếp bằng các thông dịch viên từ nước ngoài.Và dịch thuật có thể đem lại sự hiểu biết văn hóa lẫn nhau. Nhưng cũng cần thiết lưu ư rằng trong các tác phẩm đă được dịch chiếm 25-45% sách được xuất bản hàng năm của một nước, con số này ở A-rập là 3%; trong 185,000 các tác phẩm tiếng Anh được xuất bản ở đây vào năm 2004 th́ chỉ có 874 là các tác phẩm văn chương được dịch. Bản báo cáo phát triển con người A-rập năm 2002 (The 2002 Arab Human Development Report) của Liên hiệp quốc lưu ư rằng: "Dịch thuật là một trong những công cụ quan trọng để quảng bá thông tin và giao tiếp với thế giới". Tuy nhiên hoạt động dịch thuật ở A-rập không có những chuyển biến tích cực. Tính trung b́nh, chỉ có 4.4 cuốn sách được dịch trên 1 triệu người được xuất bản trong 5 năm đầu của thập niên 80, trong khi đó ở Hungary con số này là 519 cuốn trên 1 triệu người và ở Tây Ban Nha là 920 cuốn."Dịch thuật là một h́nh thức giao lưu tiết kiệm, thành quả là sự truyền bá thông tin và các tư tưởng, sự in sâu các bản sắc của văn hóa nước ngoài, tăng cường sự hiểu biết và chia sẻ, thể hiện các giá trị nói chung của con người, và dịch thuật cũng lưu giữ được các giá trị và có tác động trong khoảng thời gian dài”. Một đề tài nổi bật thường được nhắc đến trong các chuyến đi của nhóm nghiên cứu ACCD là: nhu cầu cần được giao lưu hợp tác hơn nữa của các diễn viên, nhà làm phim hoạt h́nh, các họa sĩ, các đạo diễn, các nhà văn, các kỹ thuật viên sân khấu, và những người thiết kế trang web. Ngài Joseph S. Nye, Jr. gọi đây là "nguồn lực mềm", ông ta định nghĩa là "khả năng có được những ǵ bạn muốn nhờ việc thu hút và thuyết phục những người khác ủng hộ và hợp tác cùng bạn để thực hiện các mục tiêu," và nó cũng quan trọng giống như các giải pháp về kinh tế hay quân sự trong cuộc chiến chống khủng bố, và đặc biệt nó không tốn kém. Một nhà nhiếp ảnh nói:"Nếu chúng ta có thể liên kết với nhau trên cơ sở hiểu biết văn hóa, chúng ta có thể vượt qua những sự khác biệt về chính trị." Đề tài này đă được đưa ra trong một cuộc họp tại Cairo với một nhà quan chức cấp cao của Ai-cập. Ông ta vừa xuất bản một cuốn sách bằng tiếng A-rập trong đó đề xuất những cải tổ về chính trị và các giá trị tinh thần, điều này có thể làm cho một Nghị sĩ tức giận và t́m cách cấm xuất bản cuốn sách. Ông ta nói: "Chúng ta cần mở mang đầu óc của ḿnh nhờ những hiểu biết về thế giới xung quanh."
Có một bất ḥa cố hữu giữa thế giới phương Tây và thế giới đạo Hồi. Và khi Mỹ cắt giảm ngân sách cho các chương tŕnh văn hóa th́ những người A-rập coi đấy là mưu đồ chính trị của Mỹ; v́ vậy không có sự đáp trả về văn hóa nào đối với chính sách đối ngoại của Mỹ. Tại Trung tâm văn hóa quốc gia (the National Cultural Center) Ai-cập, Chính phủ Nhật đă xây dựng một khu liên hợp hoành tráng với các nhà hát, pḥng trưng bày, và các văn pḥng với tổng trị giá 60 triệu $ cho người Ai-cập, đây là kết quả của chính sách văn hóa ngoại giao. 700 tiết mục biểu diễn nghệ thuật hàng năm với 300,000 người đến xem, mỗi người trong số họ sẽ ghi lại trong góc nhỏ của tâm trí ḿnh người xây dựng một nơi mang lại cho họ niềm vui lư thú như thế này. Bảy thành viên của Bộ Văn hóa A-rập khẳng định rằng văn hóa có thể là giải pháp chống lại những thế lực đạo Hồi. Họ muốn sử dụng các tác phẩm nghệ thuật lên án các nhóm khủng bố đạo Hồi, văn hóa có thể đối chọi được với các thế lực cực đoan này. Và họ cũng đề xuất việc đào tạo trên một số lĩnh vực-kỹ thuật viên (âm thanh, ánh sáng), đạo diễn sân khấu (nghệ thuật và kỹ thuật), ca sĩ, diễn viên múa, nhạc sĩ; tài trợ mở thư viện âm nhạc, mua các trang thiết bị; lập quỹ hỗ trợ bảo tồn di sản âm nhạc A-rập, dự án này được thực hiện với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Hà Lan. Họ hi vọng sẽ có sự tham gia của Mỹ và Ai-cập. Và họ cũng phàn nàn về sự kém hiệu quả của các hoạt động văn hóa Mỹ: Một nhà chức trách phát biểu:"Bạn có thể tiếp cận với người khác nhờ có văn hóa và nghệ thuật. Nhưng dường như các hoạt động văn hóa không c̣n trên nước Mỹ nữa. Chúng tôi không thể làm được ǵ v́ chúng tôi không biết kế hoạch như thế nào, chúng tôi tổ chức một số hoạt động xiếc, làm cho mọi thứ như vẫn đang hoạt động và chờ cho đến khi có đủ kinh phí." Một số người cho rằng ECA có thể làm cho các chương tŕnh văn hóa có hiệu quả hơn nếu có nhiều kinh phí hơn. Khi làn sóng phản đối Mỹ lên cao, một nhà chức trách cấp cao phát biểu: "Để chiến thắng trong cuộc chiến ngoại giao về tư tưởng, chúng ta cần có nhiều bạn hơn kẻ thù. Nhưng dường như chúng ta ngày càng có nhiều kẻ thù hơn." Ông ta nêu ra một hiện tượng- sự nắm bắt rất nhanh của các chương tŕnh văn hóa, truyền thông, MTV của A-rập- điều này tạo cơ hội cho chúng ta thể hiện văn hóa. Tuy nhiên ông ta không thấy được truyền thông Washington đang bị bỏ quên và công chúng chuyển sang các thị trường truyền thông khác. Al Hura, đài truyền h́nh tiếng A-rập đă phát sự kiện 9/11, được thực hiện bởi Al Jazeera, Al Arabiya, và các đài vệ tinh khác. Ông ta cũng nói rằng: "Chúng ta cần tham gia hơn nữa vào nền văn hóa chung. V́ thế chúng ta cần nhiều trang thiết bị mới và tiến hành các chương tŕnh giao lưu." Một số các nghệ sĩ, diễn viên nhảy, các đạo diễn, nhà làm phim, nhạc sĩ và nhà văn không đồng t́nh về việc Mỹ tăng cường quân sự ở Ai-cập. Họ nói rằng họ không hứng thú với việc quảng bá h́nh ảnh nước Mỹ đến với thế giới A-rập; hơn nữa có thể cũng quá muộn để có thể cứu văn t́nh h́nh này. Nhưng họ vẫn hưởng ứng sự hỗ trợ về kỹ thuật của Mỹ. Một nhà làm phim nói:"Giao lưu là cách duy nhất để kết bạn. Hàng trăm lính Mỹ làm cho người Ai-cập giận dữ nhưng một hoạt động văn hóa có thể giải tỏa các mối bất ḥa và mở ra một t́nh hữu nghị." Có người cũng nói rằng:"Nghệ thuật là tấm gương soi của con người. Nó là một công cụ hoàn hảo mang con người đến gần nhau hơn." Một số nghệ sĩ và các quan chức Ai-cập đă nói về công việc của ACCD là một tṛ cười, Mỹ có vể đang đưa ra những sáng kiến về chính sách văn hóa và cố dùng văn hóa giải quyết mọi chuyện chính trị khi có rắc rối. Tuy nhiên sự can thiệp của văn hóa cũng là phù hợp nếu chính sách văn hóa ngoại giao này thành công. Một quan chức cấp cao Ai-cập phát biểu: "Chính sách văn hóa ngoại giao là cần thiết vào thời điểm khủng hoảng chính trị. Nhưng để thi hành chính sách này cần có một quá tŕnh lâu dài. Và điều một chính sách văn hóa ngoại giao cần làm là thể hiện sự tôn trọng đối với nền văn hóa và các giá trị tư tưởng của các nước khác. Đừng để cho nước khác phải lên tiếng với Mỹ rằng: Chúng tôi đă kư cam kết giao lưu văn hóa với Mỹ năm 1962, nhưng sao Mỹ không thực hiện? Và chúng tôi sẽ cho mọi người thấy bộ mặt thật của Mỹ. Mỹ có thể làm khác và chúng tôi cũng có quyền thay đổi. Hăy cho nhân dân Mỹ thấy rằng người Ai-cập không phải là những kẻ cuồng tín- đạo Hồi chỉ là một tôn giáo và có rất nhiều cách để thụ đạo. Tôi sẽ không v́ những ǵ xảy ra ở nhà tù Abu Ghraib mà thay đổi t́nh cảm của ḿnh dành cho nước Mỹ.
Những ư niệm của tôi về Mỹ là tượng Nữ thần tự do giang rộng bàn tay không bao giờ phai mờ. Người Mỹ không nên e ngại trong việc xây dựng các mối quan hệ với nước ngoài, họ cần mở rộng cánh cửa văn hóa. Không nên thu ḿnh vào vỏ ốc." Bài phát biểu này hiển nhiên sẽ có sự nghi ngờ. Nhưng sẽ không có ǵ đo được thành quả do văn hóa đem lại. Như ngài Milton Cummings lưu ư:"giá trị niềm tin được xây dựng là nhờ chính sách văn hóa ngoại giao." Cũng tương tự như vậy, ta không thể đo được giá trị nghệ thuật của 30 bài luận, bài báo, bài thơ mà một tác giả người Việt Nam đă sáng tác trong chương tŕnh sáng tác văn chương thế giới (the International Writing Program) tại trường Đại học Iowa được đăng trên báo hằng ngày ở Hà Nội sau sự kiện 9/11 đă nói rất nhiều về phản ứng của nước Mỹ sau bi kịch này. Tác giả này khi c̣n nhỏ đă sống trong những cuộc ném bom oanh tạc của Mỹ trên đất nước Việt Nam là một nhân chứng sống động đối với tội ác của Mỹ. Như bà Juliet Antunes Sablosky viết:"Một trong những mục tiêu chính của chính sách văn hóa ngoại giao là hướng về các giá trị nghệ thuật. Không dễ ǵ thấy được tác động của các giá trị này." Bà cũng nhắc đến chuyến đi thăm nước Mỹ do USIA tài trợ đă làm F.W. DeKlerk thay đổi quan điểm về sắc tộc. Với tư cách là thủ tướng của Nam Phi ông đă thả tự do cho Nelson Mandela và đưa đất nước của ḿnh trở thành một nước dân chủ đa chủng tộc, điều này chứng tỏ sự thành công trong chính sách văn hóa ngoại giao của Mỹ. Thành công của các chương tŕnh giao lưu văn hóa Mỹ c̣n thể hiện ở buổi họp tại Đại sứ quán Mỹ ở London, trong buổi họp này các nghệ sĩ tham gia chương tŕnh sáng tác văn chương quốc tế (the International Writing Program), chương tŕnh Fulbright, và chương tŕnh International Visitor Leadership đă chia sẻ những kinh nghiệm của họ tại Mỹ. Người th́ ca ngợi sự cởi mởi của các giám đốc viện bảo tàng, những người sẵn sàng chia sẻ thông tin tài chính và các kế hoạch hoạt động. Một nhà soạn nhạc đến từ Belfast nói rằng "văn hóa có thể đạt được những điều mà chính trị không làm được". Mỗi nghệ sĩ có một ấn tượng riêng về các giá trị văn hóa nước Mỹ và hiểu biết rơ hơn về nền văn hóa đa dạng của đất nước này. Theo cách nói ngoại giao họ cho rằng văn hóa là một điểm đến của những mối quan tâm chung, nó mở những cánh cửa đang khép v́ lư do chính trị. V́ vậy mà chính sách văn hóa ngoại giao có tác động lâu dài đến tiềm thức của con người-5, 10, 20 năm. Dưới đây là những đề xuất của ACCD lên Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
Việc thực hiện chính sách văn hóa ngoại giao không chỉ là vấn đề thuộc về ư chí chính trị. Bởi v́ trước hết Mỹ chưa có được các yếu tố cơ sở nền tảng cho các hoạt động nghệ thuật. Ngoài ra, kinh phí cho việc tổ chức các chương tŕnh cũng như cho nguồn nhân lực thực hiện chính sách văn hóa ngoại giao tại Washington cũng như tại các sứ quán của Mỹ ở nước ngoài không có đủ. CINET( Nguồn : State.gov)
|