
1. Giới thiệu chung về đất
nước Nhật Bản

Đất nước Nhật Bản là một quần đảo hình cánh cung nằm cạnh đông đại lục Âu - á phía Tây bắc Thái bình dương, với chiều dài Bắc - nam là 2500 km do nhiều đảo nhỏ tạo nên. Các đảo chính là : Hokkaido, Honsnhu, Kyushu, Okinawa. Nằm trong vùng khí hậu ôn đới nên khí hậu nói chung là ôn hoà và có 4 mùa rõ rệt, màu xuân và mùa thu khí hậu rất dễ chịu, mùa hè ( tháng 6,7,8 ) khí hậu nóng và oi bức, mùa đông ( tháng 12, thánh 1 và 2 ) rất lạnh có nhiều tuyết. Trừ Hokkado ra vào mùa mưa ( tháng 6 ) các đảo đều có nhiều ngày mưa. Có diện tích là 377. 835 km2, dân số 126,281 triệu ngươời, xếp thứ 7 thế giới, thủ đô TOKYO, ngày quốc khánh là ngày 23 tháng 12, ngôn ngữ chính tiếng Nhật, tín ngưỡng là đạo thần Nhật Bản, đơn vị tiền tệ : Yên
Nhật Bản - đất nước mặt trời mọc - đã từng được biết đến với một nền văn hoá đa dạng, đặc sắc. Một đất nước có hoa anh đào ngập sắc xuân với những cô gái duyên dáng trong bộ KIMONO truyền thống, những bàn tay thanh thoát khéo léo trong nghệ thuật trà đạo độc đáo, nghệ thuật cắm hoa IKEBANA, nghệ thuật gấp giấy ORIGAM.
Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về văn hoá giao thiệp. Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi . Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay lên đó. Trong việc giao thiệp, người Nhật thường không thích trực tiếp và vì thế, việc trung gian đóng một vai trò quan trọng để giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn.
2. Cơ cấu tổ chức
ngành văn hoá
Cơ quan quản lý cao nhất đối với lĩnh vực văn hoá của Nhật Bản là Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ. Với phạm vi hoạt động rộng lớn, Bộ này được tổ chức thành 10 cơ quan trực thuộc gồm: Ban Thư ký Bộ trưởng, Văn phòng Tổng giám đốc đặc trách các vấn đề quốc tế, Cục Chính sách Giáo dục Thường xuyên, Cục Đào tạo Tiểu học và Phổ thông, Cục Giáo dục Trung học, Cục Chính sách Khoa học và Công nghệ, Cục Xúc tiến Nghiên cứu, Cục Nghiên cứu và Phát triển, Cục Thanh niên và Thể thao, và Cơ quan Quản lý Văn hoá.
Trong cơ cấu này, cơ quan quản lý văn hoá có trách nhiệm theo dõi, quản lý và thúc đẩy phát triển để Nhật trở thành một đất nước văn hiến. Những giải pháp này bao gồm công tác khuyến khích nghệ sĩ và hỗ trợ những hoạt động nghệ thuật sáng tạo; công tác duy trì và tạo dựng những cơ sở văn hoá, hỗ trợ cho những hoạt động định hướng văn hoá, quy hoạch những tài sản quốc gia, cơ sở văn hoá trọng yếu, những địa danh lịch sử và những khu vực có phong cảnh đẹp, thiên nhiên kỳ vĩ; Bảo tồn và duy trì những tài sản văn hoá vô hình; Duy trì và phổ biến hệ thống bảo hộ bản quyền, cải tiến và duy trì tiếng Nhật Bản và dạy tiếng Nhật theo quan niệm là một ngoại ngữ. Cơ quan này cũng chịu trách nhiệm đối với hoạt động công tác tôn giáo.
3. Định
nghĩa về văn hoá

Văn hoá, với những chức năng và vai trò của nó trong xã hội ngày nay, đóng vai trò quan trọng với nhiều yếu tố:
(1) yếu tố nuôi dưỡng để con người sống cuộc đời nhân bản;
(2) đóng vai trò nền tảng của một xã hội để chúng ta cùng chung sống;
(3) tạo lập hoạt động kinh tế chất lượng cao;
(4) góp phần phát triển sự thực nhân văn, và
(5) là nền tảng cho hoà bình thế giới.
Vì nguyên nhân đó, Cơ quan quản lý văn hoá hỗ trợ những giải pháp khuyến khích văn hoá căn cứ trên luật cơ bản về Khuyến khích Văn hoá, Nghệ thuật và Chính sách cơ bản, nhằm khuyến khích văn hoá và nghệ thuật.
* Luật cơ bản về Khuyến khích Văn hoá và Nghệ thuật.
Luật cơ bản về Khuyến khích Văn hoá và Nghệ thuật được ban hành và có hiệu lực từ 7/12/2001. Bộ luật này được đánh giá là kết quả là một phần của dự luật được đưa ra để thông qua tháng 11/2001 nhằm nâng cao tầm quan trọng của văn hoá và nghệ thuật cũng như nhu cầu ngày càng tăng của nó trong những năm gần đây.
Bộ luật này trình bày những quan niệm cơ bản về khuyến khích văn hoá và nghệ thuật, định nghĩa rõ những trách nhiệm của Chính phủ trung ương và địa phương, quy định những điều khoản đặt nền móng cho các giải pháp khuyến khích văn hoá và nghệ thuật quốc gia.. Do đó, Bộ luật hỗ trợ cho những giải pháp toàn diện liên quan tới khuyến khích văn hoá và nghệ thuật, nhằm tiêu chí đóng góp tích cực cho một xã hội năng động và một lối sống phong phú về tinh thần của người dân Nhật. Về nội dung của Bộ luật này, tổng hoà những khái niệm cơ bản về khuyến khích văn hoá và nghệ thuật, cũng như nhiệm vụ của Chính phủ trung ương và địa phương trong lời tựa và điều 1, trình bày rõ về chính sách cơ bản của Chính phủ ở điều 2, cũng như những giải pháp khuyến khích văn hoá và nghệ thuật ở điều 3 - 35, là những trụ cột của chính sách văn hoá Nhật Bản.
* Chính sách cơ bản về khuyến khích văn hoá và nghệ thuật
Căn cứ trên Luật Cơ bản về Khuyến khích Văn hoá và Nghệ thuật, Chính phủ giải thích rõ Chính sách Cơ bản về Khuyến khích Văn hoá và Nghệ thuật để hỗ trợ toàn diện cho những giải pháp liên quan tới khuyến khích văn hoá và nghệ thuật. Nội các đã thông qua chấp thuận Chính sách Cơ bản này ngày 10/12/2002.
Trong khi giải thích về Chính sách Cơ bản này, một buổi nghe và lấy ý kiến của Hội đồng Công tác Văn hoá, lập ra một ban trực thuộc Cơ quan quản lý văn hoá tháng 1/2001. Theo yêu cầu của Bộ giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ, Hội đồng Công tác Văn hoá đã thu thập ý kiến rộng rãi từ những tổ chức văn hoá và xã hội và tiến hành những cuộc thảo luận. Thông báo được đệ trình ngày 5/12/2002 có tựa đề "Chính sách cơ bản về khuyến khích văn hoá và nghệ thuật" và Chính sách Cơ bản này được giải thích rõ trong thông báo này.
Chính sách Cơ bản này có một thời gian trải nghiệm 5 năm. Như nó được giải thích để có được sự ủng hộ toàn diện cho những giải pháp khuyến khích văn hoá và nghệ thuật, nó phải đề ra những phương hướng cơ bản về khuyến khích văn hoá và nghệ thuật bao hàm trong 107 giải pháp.
4
Chính sách,
ngân sách và hệ thống thuế đối với công tác bảo vệ tài sản văn hoá
v Những giải pháp về ngân sách
Ngân sách 2003 dành cho Cơ quan quản lý văn hoá là 100.3 tỷ yên (cứ sau mỗi năm lại tăng 1.9%), thời gian đầu được thông qua là 100 tỷ yên. Ngân sách của cơ quan này đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm, tính từ năm 1992 lúc đó mới chỉ 49.6 tỷ yên. Những khoản chủ yếu của ngân sách gồm đề án kế hoạch mới "Những hấp dẫn của văn hoá Nhật Bản" Tạo lập Phát hiện và Phổ biến, và một đồ án Nhật Bản với vai trò Xây dựng Dân tộc về Văn hoá và Nghệ thuật có kinh phí 4.9 tỷ yên. Một hạng mục khác là hỗ trợ cho Kế hoạch Nghệ thuật Thế kỷ mới được thành lập trong năm ngoái. Quỹ ngân sách cũng được chuẩn chi để phát triển hạ tầng cơ sở cho những công trình văn hoá, trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
v Hệ thống thuế
Được ưu đãi đặc biệt và đa dạng về thuế để hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá và nghệ thuật. Cũng lưu ý rằng giải pháp thuế này có liên quan tới những đóng góp bởi các cá nhân và công ty, sử dụng hệ thống doanh nghiệp khuyến khích quyền lợi công cộng đặc biệt, khuyến khích bằng các giải pháp thuế đối với những đóng góp thông qua Hiệp hội Hỗ trợ của Doanh nghiệp đối với Nghệ thuật.
v Chính sách tài chính
Kể từ năm 2003, một phương pháp của Ngân hàng phát triển Nhật Bản để cung cấp tài chính cho những công tác liên quan tới văn hoá, một hệ thống cho vay được tạo lập để trang trải những chi phí duy tu bảo dưỡng cho những lĩnh vực:
(1) các nhà hát và cơ sở vật chất biểu diễn âm nhạc;
(2) các cơ sở vật chất triển lãm nghệ thuật và các viện bảo tàng khác. Bằng cách này, công tác hỗ trợ tư nhân được cung ứng liên quan tới các hoạt động sáng tạo trong văn hoá và nghệ thuật.
5. Khuyến khích
văn hoá và nghệ thuật

Khuyến khích văn hoá và nghệ thuật, cần thiết phải phát triển một môi trường khả dĩ cho các nghệ sĩ và nhóm nghệ sĩ vì những hoạt động sáng tạo của họ dựa trên tự do tư tưởng, để làm cho những hoạt động văn hoá này có khả năng thâm nhập quần chúng.
Căn cứ trên ý tưởng này, Cơ quan quản lý văn hoá mở rộng và tái tạo những giải pháp hỗ trợ cũ và khởi sự Kế hoạch Nghệ thuật Thế kỷ mới (một chương trình khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật) trong năm 2002 , mà tiếp nối của nó là năm 2003. Kế hoạch Nghệ thuật Thế kỷ mới gồm:
- Tạo lập nghệ thuật cấp cao
Sự tạo lập nghệ thuật cấp cao nhờ có hỗ trợ tập trung trong những loại hình nghệ thuật chủ yếu như opera, múa ba lê và kịch nói.
Hỗ trợ cho nghệ thuật nhà hát hiện đại, nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật phổ cập như dàn nhạc giao hưởng, opera, múa ba lê và những sự kiện như các liên hoan quốc tế về nghệ thuật nhà hát.
- Khuyến khích những nghệ sĩ đang thịnh hành
Tạo cơ hội cho những nghệ sĩ tương lai, những người sẽ thành công trên trường quốc tế, những người theo đuổi nền văn hoá Nhật Bản và học tập ở nước ngoài cũng như ở Nhật Bản, củng cố điều kiện để họ trình diện những tác phẩm của mình và mời những nghệ sĩ nước ngoài.
- Khuyến khích những hoạt động văn hoá và nghệ thuật cho trẻ em
Thực hiện những giải pháp tạo điều kiện cho trẻ em được dễ dàng trải nghiệm về văn hoá và nghệ thuật.
Bên cạnh những giải pháp như vậy, Kế hoạch Nghệ thuật Thế kỷ mới này cũng trợ giúp cho những hoạt động đa dạng thông qua Quỹ nghệ thuật Nhật Bản của Hội đồng Nghệ thuật Nhật Bản, khuyến khích nghệ thuật truyền thông như phim hoạt hình và đồ hoạ máy tính (CG), khuyến khích các buổi trình diễn lưu động và "Liên hoan nghệ thuật" để cho phép công chúng được thưởng thức những kiệt tác của Nhật Bản và nước ngoài.
- Lập quỹ nghệ thuật Nhật Bản
Quỹ nghệ thuật Nhật Bản trợ giúp cho những hoạt động văn hoá và nghệ thuật đa dạng.
- Khuyến khích nghệ thuật truyền thống
Các buổi liên hoan nghệ thuật truyền thông được tổ chức để nghệ thuật truyền thông cao cấp và thông tin về chúng được phổ cập.
- Khuyến khích trình diễn lưu động
Trình diễn lưu động là nghệ thuật tổng hợp các dạng hình nghệ thuật như văn hoá, kịch nghệ, âm nhạc, tranh và kiến trúc. Để khuyến khích trình diễn lưu động, gốc của nghệ thuật truyền thông, sự trợ giúp là để nhằm tạo lập và trình diện loại hình trình diễn lưu động.
Hơn nữa, với "Hội nghị khuyến khích trình diễn lưu động", loại hình này được thành lập trong tháng 5/2002 bởi Cơ quan quản lý văn hoá, "Khuyến khích trong tương lai cho trình diễn lưu động Nhật Bản" (đề nghị) đã được giới thiệu. Những nỗ lực đến giới thiệu nội dung của đề nghị này là nhằm kêu gọi sự hợp tác của các Bộ và cơ quan khác.
- Liên hoan nghệ thuật hàng năm
Một liên hoan nghệ thuật được tổ chức hàng năm vào tháng 10 là một cơ hội để giới thiệu với công chúng những kiệt tác nghệ thuật của cả Nhật Bản và nước ngoài.
- Khuyến khích văn hoá địa phương
"Khuyến khích những hoạt động văn hoá và nghệ thuật cho trẻ em" nằm trong Kế hoạch Nghệ thuật Thế kỷ mới (một chương trình khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật), chương trình "Trợ giúp cho các cộng đồng sáng tạo về văn hoá và nghệ thuật" cũng như "Liên hoan văn hoá quốc gia cho những trường phổ thông trung học" và "Liên hoan văn hoá quốc gia" đợc tổ chức để khuyến khích những hoạt động văn hoá tại những cộng đồng địa phương.
- Trợ giúp cho các cộng đồng sáng tạo thông qua văn hoá và nghệ thuật
Để cải thiện tiêu chuẩn văn hoá quốc gia, những giải pháp được phát triển để tạo lập môi trường và nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho những hoạt động văn hoá và nghệ thuật tại những cộng đồng địa phương, và để làm tươi mới những hoạt động văn hoá trong trẻ em, thế hệ kế cận, để họ có thể tham gia.
- Liên hoa văn hoá quốc gia
Để cải thiện tiêu chuẩn các hoạt động văn hoá của quần chúng nói chung, liên hoan được tổ chức hàng năm, của nhân dân các quận huyện.
- Liên hoan văn hoá quốc gia cho các trường phổ thông trung học
Với tiêu chí cải thiện các hoạt động văn hoá và khuyến khích trao đổi giữa sinh viên các trường phổ thông trung học, những liên hoan như vậy được tổ chức tại câc quận huyện và tại Liên hiệp Văn hoá các trường phổ thông trung học toàn Nhật Bản.
6. Bảo tồn
và sử dụng các cơ sở văn hoá

Các cơ sở văn hoá được phổ cập để công chúng hiểu được lịch sử và văn hoá Nhật Bản một cách đúng đắn. Điều này quan trọng, cho nên, để bảo tồn và sử dụng di sản chung này ở Nhật Bản là nhiệm vụ cập nhật cũng như cho những thế hệ tương lai.
Bộ văn hoá, giáo dục, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản (MEXT) khuyến khích việc định hình những cơ sở văn hoá như Tài sản Quốc gia, Những cơ sở Văn hoá Quan trọng, Những cơ sở Văn hoá Vô hình Quan trọng, Những cơ sở Văn hoá Dân gian Vô hình / Hữu hình Quan trọng, các Di tích Lịch sử, các Cảnh quan đẹp và Tự nhiên Kỳ vĩ, để tuân thủ Luật bảo vệ các Cơ sở Văn hoá được bảo vệ như là những tài sản văn hoá có giá trị. MEXT cũng có trách nhiệm bảo tồn, phục chế và có giải pháp ngăn ngừa thiên tai đa dạng cho những cơ sở văn hoá này, nó cũng tiến hành khai quật và nghiên cứu những di tích văn hoá đã bị vùi lấp, mua lại những di vật giá trị và bảo dưỡng khu di tích lịch sử.
Liên quan tới những công trình và di tích lịch sử, văn hoá. Bộ văn hoá, giáo dục, thể thao, khoa học và công nghệ cũng đang làm việc để đa dạng hoá các phương pháp bảo tồn cho các di tích văn hoá thông qua một hệ thống đăng ký với những quy định phong phú hơn để thực thi chức năng hệ thống định hình công trình này.
Ngoài ra, MEXT đang thực hiện những nỗ lực để bảo tồn những di tích văn hoá vô hình, như kịch, âm nhạc, những kỹ thuật thủ công và những di tích văn hoá dân gian như những lễ hội hàng năm và nghệ thuật trình diễn dân gian, cũng như những hoạt động khuyến khích cho những thế hệ tương lai kế cận về những lĩnh vực này.
Các cơ sở văn hoá đã được Chính phủ Nhật Bản chấp nhận
|
|
Các cơ sở văn hoá quan trọng: - Mỹ thuật và nghệ thuật - Công trình |
10.076 2.230 |
Tài sản quốc gia: - Mỹ thuật và nghệ thuật - Công trình |
852 211 |
|
Thiết kế |
Các di tích lịch sử, cảnh đẹp và tự nhiên kỳ vĩ: - Các di tích lịch sử - Các điểm có cảnh đẹp - Các điểm tự nhiên kỳ vĩ |
1.475 285 925 |
Các di tích lịch sử, cảnh đẹp và tự nhiên kỳ vĩ: - Các di tích lịch sử quan trọng - Các điểm có cảnh đẹp đặc biệt - Các điểm tự nhiên kỳ vĩ dặc biệt |
60 29 72 |
|
|
Các cơ sở văn hoá dân gian hữu hình quan trọng Các cơ sở văn hoá dân gian vô hình quan trọng Các cơ sở văn hoá vô hình quan trọng: - Nghệ thuật dàn dựng - Các kỹ thuật thủ công |
200
219
(cá nhân) 52 55(54) |
|
|
|
Lựa chọn |
Các huyện bảo tồn quan trọng cho các nhóm công trình lịch sử Các kỹ thuật bảo tồn được lựa chọn |
(cá nhân) |
61 khu vực
49 (nhóm) 24 (22) |
|
|
Đăng ký |
Các cơ sở văn hoá hữu hình được đăng ký |
3144 |
|
|
Chú thích:
1. Số liệu "các cơ sở văn hoá quan trọng" bao gồm những hạng mục được hoạch định như Tài sản Quốc gia.
2. Số liệu "Các địa điểm lịch sử, địa danh cảnh đẹp và thiên nhiên kỳ vĩ" gồm các địa điểm lịch sử quan trọng, các địa danh cảnh đẹp đặc biệt và các thiên nhiên kỳ vĩ đặc biệt.
3. Số liệu "các cơ sở văn hoá vô hình quan trọng" và "các kỹ thuật bảo tồn được lựa chọn" giới thiệu số lượng những cá nhân và nhóm đã đăng ký (số "các kỹ thuật được bảo tồn được lựa chọn" cho thấy số lượng của các nhóm bảo tồn).
4. Các cá nhân và nhóm được liệt kê là "các tài sản văn hoá vô hình quan trọng" và "các kỹ thuật bảo tồn được lựa chọn" gồm cả những thẩm quyền dư. Con số thực tế là ở trong ngoặc đơn.
7. Khuyến khích trao
đổi văn hoá quốc tế
v Trao đổi văn hoá và nghệ thuật

Khuyến khích trao đổi quốc tế về nghệ thuật là quan trọng để không chỉ quảng bá về văn hoá và nghệ thuật trong phạm vi Nhật Bản mà còn là đóng góp của Nhật Bản cho việc phát triển văn hoá và nghệ thuật trên toàn thế giới
Trong Kế hoạch Nghệ thuật Thế kỷ mới, Cơ quan quản lý văn hoá khuyến khích các hoạt động sáng tạo quốc tế tổ chức các liên hoan trình diễn quốc tế có sự tham dự của các nghệ sĩ và các nhóm nghệ thuật từ các nơi trên thế giới, nó cũng hỗ trợ khuyến khích sự trao đổi song phương, sự tham dự quốc tế trong các vở opera và các tiết mục khác, các cuộc liên hoan nghệ thuật trên thế giới. Cơ quan này cũng tổ chức việc gửi đi và mời đến các nghệ sĩ đang nổi tiếng.
v Trao đổi và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Bảo tồn Tài sản Văn hoá
Nhận thức rõ ý nghĩa các tài sản văn hoá trên thế giới là tài sản chung của nhân loại, Cơ quan quản lý văn hoá có sự hợp tác quốc tế về công tác bảo tồn và phục chế các tài sản văn hoá. Để khuyến khích sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước, cơ quan này đang tổ chức những cuộc triển lãm quốc tế về nghệ thuật Nhật Bản kinh điển, bao gồm cả Tài sản Quốc gia và các Tài sản Văn hoá Quan trọng, và tăng cường hiểu biết về lịch sử và văn hoá Nhật Bản thông qua các tài sản văn hoá được biết tiếng. Hơn nữa cơ quan này đang khuyến khích sự hợp tác quốc tế thông qua UNESCO được sự bảo vệ của Di sản Văn hoá Thế giới và Di sản Vô hình.
8. Bản quyền
1. Phác thảo và giới thiệu hệ thống bản quyền
§ Giống như "tinh thần biến đi", một trình diễn lưu động đoạt giải thưởng kinh viện, công tác bản quyền được giới thiệu ở Nhật Bản đang gây được chú ý quốc tế. Một cơ chế công nghiệp Nhật Bản toàn diện đang trong quá trình thay đổi quyết liệt từ trọng tâm "các cái" thành trọng tâm "kiến thức".
§ Để bổ sung cho "nội dung (các tác phẩm có bản quyền)", có những sản phẩm khác được sáng tạo bởi kiến thức của con người, như " các phát minh" và "các loại thiết bị mới". Những sản phẩm như vậy được gọi chung là "sở hữu trí tuệ". Để khuyến khích việc sáng tạo những sản phẩm như vậy và cho phép người ta hưởng lợi từ chúng, cần phải thành lập những điều luật như "ngăn ngừa việc sao chép chưa có phép".
§ Những tài sản trí tuệ, như được đề cập ở trên, được bảo vệ đối với việc sử dụng trái phép, là khái niệm "bản quyền", "quyền phát minh", và "quyền của người gây dựng". Về những quyền này, MEXT chịu trách nhiệm về "bản quyền" được giải thích để bảo vệ "nội dung".

§ Luật bản quyền bao hàm cả những nhà sáng tạo về phim hoạt hình, phần mềm trò chơi điện tử, CD, Video, DVD, các chương trình máy tính, dữ liệu và nội dung truyền phát "quyền ngăn chặn việc sử dụng trái phép". Gồm các giải pháp cho Internet (quyền hợp pháp ngăn chặn việc truyền phát trái phép thông qua internet), đặc biệt là, hệ thống pháp luật Nhật Bản về bản quyền có tiêu chuẩn cao nhất trên thế giới.
§ Trong quá khứ, "những nhà sáng tạo" và "những người sử dụng" trong công nghiệp và kinh tế bị giới hạn đối với một số ngành nghề, công nghệ. Tuy nhiên khái niệm mở rộng gần đây về "các ý nghĩa về sáng tạo" và "các ý nghĩa về sử dụng" như các máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại cellular, máy tính cá nhân và internet đã đưa chúng ta tới một thời kỳ mà "mỗi người đều là nhà sáng tạo" và "mỗi người đều là người sử dụng".
§ Vì nguyên nhân này, nên cần phải "mọi người" đều "trong khuôn khổ luật định", "có khả năng tự điều chỉnh theo luật định", "đủ kiến thức để làm một hợp đồng thích ứng", và "nhận được trợ giúp từ cảnh sát và toà án". Đáp ứng với tính cần thiết trong lĩnh vực bản quyền, MEXT (Bộ văn hoá, giáo dục, thể thao, khoa học và công nghệ) đang phát triển các giải pháp ở nhiều lĩnh vực khác nhau như "các luật định của pháp luật", "các mô hình kinh doanh", "các giải pháp chống hàng giả hàng nhái trên toàn thế giới", "giáo dục về bản quyền" và "một hệ thống xử lý hành pháp".
§ Ví dụ, giáo dục về bản quyền, MEXT đã thay đổi hướng dẫn giảng dạy tại các trường về giao dục bản quyền trong những khoá học mới, và MEXT cũng cung cấp cho người lớn thong tin khả dĩ có liên quan thông qua những hội nghị chuyên đề và trên Internet.
§ Để bổ sung, liên quan tới những mô hình kinh doanh, những trợ giúp được thực hiện để xây dựng các hệ thống hợp đồng mà mọi người đều có thể sử dụng dễ dàng. Ví dụ, "chaku - mero (các cuộc gọi tới theo tín hiệu melody)" trên điện thoại di động đã gây được chú ý quốc tế như một loại hình mới cho kinh doanh nội dung Nhật Bản.
§ Hơn nữa, MEXT đã khuyến khích việc sử dụng "Điểm Tiền tác quyền " trên internet. Những nhà sáng tạo sử dụng biểu tượng này để phát triển nội dung của họ có thể được sử dụng tự do.
2. ý nghĩa mở rộng của bảo vệ bản quyền quốc tế
· Sự tiến bộ của kỹ thuật số hoá và hệ thống mạng đã làm cho việc vi phạm bản quyền trở thành một vấn đề toàn cầu.

· Đặc biệt là ở khu vực châu á, nơi mà quyền lợi của âm nhạc, phần mềm trò chơi và những lĩnh vực nội dung khác của Nhật Bản, việc sản xuất và phân phối những sản phẩm ăn cắp, bản quyền đó (việc sao chép bất hợp pháp) đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Cuộc chiến chống lại tệ nạn sao chép lậu trên toàn thế giới, là rất cần thiết để phát triển môi trường cho phép những người có bản quyền Nhật Bản có thứ vũ khí phản công, sử dụng một cách độc lập thông qua những thủ tục dân sự và hình sự chống lại việc vi phạm này. Vì mục đích đó, MEXT đang hối thúc các nước có hiện tượng ăn cắp bản quyền phải thường xuyên củng cố cuộc chiến quyết liệt song phương và đa phương chống lại tệ nạn này. Cùng lúc, phải bao gồm những nỗ lực phòng chống kết hợp giữa khu vực công cộng và tư nhân nữa, MEXT đang khuyến khích toàn diện các giải pháp chống ăn cắp bản quyền trong việc hợp tác với Hiệp hội phân phối công nghiệp nôi dung quốc tế", một tổ chức tư nhân được thành lập tháng 8 năm ngoái. Thêm nữa, với việc sử dụng internet ngày càng phổ cập, cũng cần phải thành lập những luật định quốc tế mới để bảo vệ bản quyền. Nhật Bản đang có một vai trò hành động tích cực để hối thúc những nước châu á khác thi hành Hiệp định Bản quyền (WCT), Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (WIPO) và Hiệp định Biểu diễn và Sao chép WIPO (WPPT). Nhật Bản cũng đang tích cực khuyến khích những cuộc thảo luận về một Hiệp định mới cho những biểu diễn và truyền phát nghe nhìn đang được WIPO xem xét.
9. Cải tiến và quảng
bá tiếng Nhật

· Hội đồng Ngôn ngữ Quốc gia là tổ chức quan trọng điều hành các vấn đề ngôn ngữ Nhật Bản và đã có những cải tiến đa dạng. Cơ quan quản lý văn hoá đang làm việc để phổ biến những vấn đề hiện nay, để những ý tưởng của chúng có thể được hiện thực hoá. Những vấn đề được thông báo tháng 12/2000 bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt, các đặc điểm của loại kanji không được liệt kê ở bảng Joyo Kanji về xử lý ngôn từ, vai trò lý tưởng của tiếng Nhật trong kỷ nguyên thống nhất quốc tế, việc chấp nhận ngày càng tăng các từ vay mượn nước ngoài và các ngoại ngữ, việc la tinh hoá tiếng Nhật và tên họ.
· Việc giải tán Hội đồng Ngôn ngữ Quốc gia, Phân viện Ngôn ngữ Quốc gia của Hội đồng quản lý văn hoá cũng là một đề tài cân nhắc đối với những vấn đề về tiếngNhật.
· Ngoài ra, vì số lượng người nước ngoài học tiếng Nhật ở Nhật Bản và trên thế giới đang tăng, những chương trình đa dạng và những hoạt động nghiên cứu cũng đang được tiến hành để khuyến khích việc giáo dục tiếng Nhật.
Culturalpolicies