Đến và thăm miền văn hoá Quảng Ninh, mảnh đất nơi địa đầu Đông Bắc

                                                                                                                để nhớ, để yêu và để vấn vương …

 

Để nhớ : Quảng Ninh - từ những buổi b́nh minh của lịch sử

 

Thời kỳ tiền sử, Quảng Ninh là cái nôi cư trú của người Việt Cổ với ba nền văn hóa tiền sử kế tiếp nhau từ hậu kỳ đá cũ đến sơ kỳ kim khí cách ngày nay ít nhất một vạn năm. Tại đây, hàng ngàn hiện vật đă được t́m thấy trong các hang động của Quảng Ninh: những hiện vật của nền văn hoá Soi Nhụ, văn hoá Cái Bèo, văn hoá Hạ Long, tất cả đều chứng minh rơ ràng rằng: từ hàng ngh́n năm trước, trên đất Quảng Ninh này đă tồn tại một nền văn hoá ở vào "cửa ngơ" của nền văn minh Việt cổ.

Hang Sói Nhụ

Trước hết là ở hang Soi Nhụ thuộc huyện Vân Đồn, các nhà khảo cổ đă t́m thấy (năm 1967) trong khối vỏ ốc kết thành tầng dầy đă hoá đá những mảnh sọ, răng người, xương chi lẫn với những mảnh gốm thô, non, bàn mài, ŕu đá có vai và một xương chi ḅ rừng. Xếp những mảnh xương người có thể thấy đấy là di cốt của 5 người: 2 nam, 3 nữ. Phân tích độ cổ vỏ của các công cụ và chất lượng đồ gốm cùng quá tŕnh kết tầng hoá thạch lớp vỏ ốc, các nhà khảo cổ đều thống nhất đoán định rằng chủ nhân nơi này sống trong kỳ đồ đá mới, cách ngày nay từ 5 - 6 ngh́n năm đến trên một vạn năm.

Ngoài di chỉ Soi Nhụ, các nhà khảo cổ c̣n xếp các di chỉ sau đây: Mái Đá - Đồng Đăng, hang Hà Lùng - xă Sơn Dương; Mái Đá hang Dơi - xă Thống Nhất, huyện Hoành Bồ, hang Hà Giắt - xă Đoàn Kết, huyện Vân Đồn...cũng cùng thời kỳ đồ đá mới. Gần đây có ư kiến gọi tên nền văn hoá khảo cổ này là văn hoá Soi Nhụ, cũng có ư kiến gọi là "văn hoá Tiền Hạ Long".

Nối tiếp văn hoá Soi Nhụ là một nền văn hoá thời kỳ hậu đồ đá mới hàng loạt di chỉ được các nhà khảo cổ Pháp và Thuỵ Điển phát hiện từ những năm 1938, 1939. Sau ngày hoà b́nh lập lại, trên vùng biển vịnh Hạ Long và ven bờ, các nhà khảo cổ học Việt Nam đă phát hiện nhiều di chỉ tương tự . Gần đây trong quá tŕnh quản lư vịnh Hạ Long, lại có thêm nhiều hang động c̣n di tích cư trú của người tiền sử. Có người lấy tên di chỉ Ngọc Vừng gọi tên nền văn hoá này. Có người lấy loại công cụ đặc trưng là những chiến ŕu có vai có nấc gọi tên là "nền văn hoá ŕu có vai có nấc". Sau đó tên nền văn hoá được mọi người thống nhất gọi là "Nền văn hoá Hạ Long".

 Di chỉ khảo cổ của

nền Văn hoá Hạ Long

Trong nền văn hoá này, các nhà khảo cổ lại chia ra làm 2 giai đoạn sớm và muộn: Giai đoạn sớm cách nay chừng 5-6 ngh́n năm, gồm các di chỉ tiêu biểu: thoi giếng, thôn Mam, G̣ Mừng (xă Vạn Ninh), G̣ Mả Tổ, G̣ Bảo Quế (xă Hải Tiến), G̣ Miếu Cả, G̣ Quất Đông Nam (xă Hải Đông), đều ở huyện Hải Ninh... Giai đoạn muộn cách nay chừng 3 - 4 ngh́n năm, gồm các di chỉ tiêu biểu: Ngọc Vừng (huyện Vân Đồn), Xích Thổ (xă Thống Nhất, huyện Hoành Bồ), Đồng Mang (phường Giếng Đáy), Giáp Khẩu (phường Hà Lầm), Cái Lân (phường Băi Cháy), Cọc 8 (phường Hồng Hà)... thuộc thành phố Hạ Long.

Đến thời đại kim khí, trước hết là đồ đồng, trên đất Quảng Ninh lại t́m ra nhiều chứng tích. Trên núi Đầu Rằm thuộc xă Hoàng Tân, huyện Yên Hưng vừa phát hiện một di chỉ lớn (1998). ở đây ngoài công cụ đồ đá tinh xảo và những đồ gốm nung bền chắc c̣n t́m thấy nhiều công cụ binh khí bằng đồng, trong đó có những múi tên đồng, mũi dao đồng. Trên đồi chè hợp tác xă Quảng Lễ, xă Quảng Chính, năm 1965 phát hiện một trống đồng Đông Sơn trong văn hoá thời đại Hùng Vương. Trên cánh đồng Cầu Nam thuộc xă Phương Nam, thị xa Uông Bí phát hiện 7 ngôi mộ thuyền (mỗi quan tài là một khúc gỗ lớn khoét rỗng như một chiếc thuyền độc mộc). Trong mộ có nhiều hiện vật bằng đồng, thạp đồng, ŕu đồng cùng vải thô, chiếu cói và duy nhất một chiếc đục bằng sắt.

Trong hơn 1000 năm của thời kỳ Bắc thuộc, Quảng Ninh lần lượt mang tên các châu Quận: An Định, châu Hoàng, châu Lục, Ninh Hải, Ngọc Sơn.... Nhân dân phải nai lưng cực nhọc không ngừng đấu tranh chống ách đô hộ, chống đồng hoá, vẫn giữ tiếng Việt và các phong tục của cội nguồn con Lạc cháu Hồng.

Năm 905, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ đă đập tan ách thống trị chính quyền đô hộ nhà Đường. Đất nước được độc lập, tự chủ. Trải qua các triều đại Ngô, Lư, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn, vùng đất Đông Bắc này đều ghi dấu những biến động, những sự kiện lớn của lịch sử dân tộc.

Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đổ quân vào Băi Cháy, chính thức chiếm đóng vùng đất Quảng Ninh. Trong suốt thời kỳ đô hộ, thực dân Pháp luôn phải đối mặt với các phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc Quảng Ninh. Ngày 8-6-1945, Chiến khu Đông Triều Trần Hưng Đạo được thành lập, sau chuyển thành giải phóng quân tiến về giải phóng Hải Pḥng, Kiến An, Hải Dương, Ḥn Gai, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái.

Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Quảng Ninh đă đánh thắng ngay trận đầu, bắn rơi 3 máy bay phản lực, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên… Bên cạnh đó, Quảng Ninh vẫn không ngừng góp công, góp của, góp người cho tiền tuyến Miền Nam, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), gần 20 năm qua, Quảng Ninh đă có những bước tiến vượt bậc. Dân chủ được phát huy, các tiềm năng được khơi dậy, sức năng động được khai thác mang lại những thành quả rơ rệt.. Đến nay, chính trị ổn định, quốc pḥng được củng cố, an ninh được giữ vững, kinh tế phát triển toàn diện và đa dạng, đời sống văn hoá được nâng cao. Đặc biệt, hiện nay Quảng Ninh là một trong những địa phương đầu tiên trên cả nước đang nỗ lực từng bước xây dựng ngành công nghiệp văn hóa.  Đất nước đang  hội nhập sâu hơn vào đời sống quốc tế là tiền đề để Quảng Ninh tăng cường giao lưu với các nền văn hóa thế giới, hiện đại hóa ngành văn hóa trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng có của ḿnh.

 

Để yêu: Bản sắc văn hoá vùng đất mỏ

 

Thành phố Quảng Ninh

Quảng Ninh được cả nước cũng như thế giới biết đến không chỉ là một vùng công nghiệp than lớn nhất Việt Nam, mà c̣n bởi những di sản thiên nhiên, văn hoá quư báu, cả do thiên nhiên ban tặng và do con người sáng tạo nên.

Một nét đặc sắc trong văn hoá khiến Quảng Ninh khác biệt hẳn so với các vùng khác là bên cạnh những di sản văn hoá mang nét truyền thống,  Quảng Ninh c̣n có một nền “văn hoá công nhân mỏ” mang đậm hơi thở của cuộc sống công nghiệp hiện đại, góp phần làm cho kho di sản văn hoá của Quảng Ninh ngày càng thêm phong phú, đa dạng. Văn hóa công nhân vùng Mỏ được h́nh thành và phát triển gần 150 năm, gắn liền với quá tŕnh lao động, đấu tranh cách mạng. Văn hóa vùng Mỏ là sự kết hợp của hai yếu tố: những nét văn hóa truyền thống chắt lọc tinh hoa của khắp các vùng miền trong cả nước và văn hóa hiện đại ra đời từ cuộc sống công nghiệp. Nhiều loại h́nh văn hóa hiện đại đă được xây dựng như nghệ thuật biểu diễn cá Voi, công viên nhạc nước, ngắm cảnh Vịnh Hạ Long từ trên cao... Những hoạt động văn hóa truyền thống được biểu diễn chuyên nghiệp trên các phương tiện và sân khấu hiện đại, quy mô hoành tráng mang tầm cỡ quốc tế đă nâng cao giá trị nghệ thuật dân tộc.

Quảng Ninh c̣n là một trong những tỉnh có kho di sản văn hoá lớn nhất, phong phú, đa dạng nhất, với 541 di sản văn hoá vật thể là những đ́nh, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh và 2.848 hồ sơ di sản văn hoá phi vật thể là những phong tục, tập quán, tṛ chơi dân gian… Bảo tồn và phát huy giá trị những di sản văn hoá quư báu này chính là chiếc cầu nối quan trọng để Quảng Ninh cùng với cả nước bước vào hội nhập với thế giới.

Các di sản văn hoá của Quảng Ninh được trải dài theo cả thời gian: từ khi con người đặt chân đến đây ở giai đoạn đồ đá, đồ đồng (cách ngày nay hàng ngàn năm) đến các triều đại Lư, Trần, Lê, Nguyễn, giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ...và theo cả không gian, với sự phân bố từ miền núi tới hải đảo, từ Trà Cổ (Móng Cái) tới Đông Triều. Bên cạnh đó, Quảng Ninh có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có những bản sắc văn hoá riêng.

Thắng cảnh Yên Tử

Với địa h́nh đa dạng, phức tạp, hội tụ các dạng địa h́nh tiêu biểu của cả nước là biển đảo, đồng bằng, trung du và miền núi, Quảng Ninh có những điều kiện tự nhiên phong phú để tạo ra những thắng cảnh nổi tiếng mà ít địa phương nào trong cả nước có được. Thắng cảnh Quảng Ninh đa dạng về loại h́nh, có một số thắng cảnh có giá trị lớn nổi tiếng trong nước và thế giới. Dạng địa h́nh biển đảo là dạng địa h́nh đặc trưng, chi phối, tạo cho Quảng Ninh h́nh ảnh tự nhiên kỳ vĩ, không thể lẫn lộn, là nền tảng tạo nên Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, quần đảo Cô Tô, băi tắm Trà Cổ, rừng quốc gia Bái Tử Long… Dạng địa h́nh trung du có hồ Yên Lập (Hoành Bồ), hồ Yên Trung (Uông Bí), thác Lựng Xanh (Uông Bí), thác Mơ (Yên Hưng), rừng thông (Yên Hưng)... Dạng địa h́nh đồi núi có rừng nguyên sinh Yên Tử, trong đó nổi tiếng là đường tùng cổ thụ, rừng trúc “hoá rồng”, suối Ngự Dội vọt ra từ sườn núi...  Thắng cảnh Yên Tử gắn liền với khu di tích đặc biệt quan trọng, là thủ đô của thiền phái Phật giáo Trúc Lâm dưới thời Trần, Lê, bên cạnh giá trị cảnh quan có sức lôi cuốn người đời từ xưa đến nay, nơi này c̣n mang những giá trị lịch sử, văn hoá sâu sắc mang dấu ấn cả một thời dựng nước trải dài hàng trăm năm.

Trong ḷng thắng cảnh Hạ Long có một số lượng lớn các di tích khảo cổ và một số lượng đáng kể di tích lịch sử - văn hoá quan trọng. Di tích thương cảng Vân Đồn từ xa xưa đă nổi tiếng trong lịch sử, đă và đang trở thành đề tài nghiên cứu hấp dẫn của các nhà sử học trong và ngoài nước. Trận thắng Vân Đồn - Cửa Lục tháng 2-1288 là một chiến công mở đầu oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thế kỷ XIII mà di tích c̣n lại đến nay trên đảo Quan Lạn (Vân Đồn).

Những di tích lịch sử-văn hoá thời hiện đại khá dày đặc trên Vịnh Hạ Long như cụm di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích chống Mỹ cứu nước… khiến cho thắng cảnh và di tích đan xen, hoà trộn, lịch sử và tự nhiên gắn kết với nhau không thể tách rời như là một điều tất yếu.

Băi biển Trà Cổ

Trên băi tắm Trà Cổ lộng gió là đ́nh Trà Cổ và chùa Nam Thọ uy nghi, cổ kính như những cột mốc văn hoá dân tộc chói sáng ở địa đầu biên giới phía Bắc.

Sự gắn bó mật thiết giữa di tích lịch sử - văn hoá quan trọng và thắng cảnh nổi tiếng là một lợi thế đối với Quảng Ninh mà không phải tỉnh nào cũng có được để tạo nên các tuyến và điểm tham quan du lịch đa dạng, vừa trực quan vừa suy tưởng, khám phá có sức thu hút đối với du khách trong và ngoài nước…. ).

Dấu tích Thương cảng Vân Đồn xưa

Năm 1962, trong đợt xếp hạng di tích cấp quốc gia đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Vịnh Hạ Long và khu di tích đền thờ và lăng mộ các vua Trần ở An Sinh (Đông Triều) là hai di tích đầu tiên của Quảng Ninh đă được đặc cách xếp hạng cấp quốc gia (tức là xếp hạng trước, hoàn chỉnh hồ sơ sau) bởi những giá trị đặc biệt của nó về cảnh quan thiên nhiên và lịch sử, văn hoá. Kế đến đợt thứ 2, năm 1974 là quần thể khu di tích Yên Tử. Ngoài Vịnh Hạ Long đă mang tầm di sản thế giới và đang được đề cử là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, Quảng Ninh có 4 di tích được coi là trọng điểm của quốc gia, đó là khu đền thờ và lăng mộ các vua Trần ở An Sinh, cụm di tích Chiến thắng Bạch Đằng (Yên Hưng), di tích Thương cảng Vân Đồn và khu di tích Yên Tử.

Các lễ hội ở Quảng Ninh là những giá trị văn hóa phi vật thể quư báu tồn tại trong đời sống văn hóa tinh thần của người Quảng Ninh. Các lễ hội truyền thống ở đây mang đặc trưng của ba vùng: Vùng núi - dân tộc thiểu số, vùng biển và vùng đồng bằng.

Thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số c̣n lại tới nay không nhiều. Hiện chỉ c̣n ở một số địa phương mà tiêu biểu nhất là hội làng của đồng bào Dao ở xă Bằng Cả (Hoành Bồ), diễn ra 4 lần trong năm, trong đó ngày mở đầu (1-2 âm lịch) và ngày kết thúc (20-10 âm lịch) được tổ chức to nhất. Vào ngày hội làng, đại diện các gia đ́nh đều tập trung về nhà trưởng bản, mỗi người góp một con gà. Trưởng bản sắp một mâm lễ có thủ lợn, xôi, gà, rượu trắng cầu mong tổ tiên, thần linh phù hộ cho dân làng mạnh khỏe, mưa thuận gió ḥa, mùa màng tươi tốt. Nơi cúng là góc nhà, thay v́ bàn thờ như của người Kinh. Sau khi trưởng bản cúng xong, mọi người cùng ăn với nhau bữa cơm vui vẻ. Đây là dịp làng tăng cường t́nh đoàn kết trong cộng đồng; đồng thời bảo tồn, ǵn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ḿnh. Từ lâu, hội làng Bằng Cả đă trở thành một trong những nét văn hóa đặc trưng của người Dao nói riêng, huyện Hoành Bồ nói chung.
Trong khi đó, với đồng bào Sán Chỉ xă Húc Động (B́nh Liêu), ngày hội Soóng Cọ tổ chức vào ngày 16-3 âm lịch hàng năm được coi là lễ hội tiêu biểu của dân tộc ḿnh. Trọng tâm của ngày hội là cuộc thi hát đối đáp giữa trai gái các khe bản, giữa các xă trong huyện với nhau, thu hút đông đảo mọi người tham gia. Hiện nay, một số lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số đă bị mai một như lễ hội đ́nh Lục Nà của đồng bào Tày xă Lục Hồn (B́nh Liêu) hay ngày hội văn hóa của đồng bào Sán Chỉ xă Đại Dực (Tiên Yên)...đă được phục dựng lại.

Lễ hội đ́nh Trà Cổ

Các lễ hội vùng ven biển, hải đảo của tỉnh, số lượng tuy không nhiều nhưng giá trị và ư nghĩa không v́ thế mà nhỏ. Đáng kể nhất là lễ hội đ́nh Trà Cổ (Móng Cái), lễ hội Vân Đồn (xă Quan Lạn, huyện Vân Đồn). Sự khác biệt lớn nhất so với những lễ hội ở vùng núi và đồng bằng là ảnh hưởng của yếu tố biển trong lễ hội qua các nghi lễ tế, rước thần, các cuộc thi, tṛ chơi dân gian. Tiêu biểu như lễ hội Vân Đồn diễn ra từ 10 đến 18-6 âm lịch hàng năm. Ở đó, cuộc thi bơi thuyền giữa hai giáp Đông Nam Văn và Đoài Bắc Vơ chi phối gần như toàn bộ các hoạt động của lễ hội. Cũng v́ chịu ảnh hưởng của biển, cuộc sống của người dân bao đời gắn chặt với biển nên thời gian tổ chức cả hai lễ hội trên đều diễn ra vào mùa hè - tháng 6 âm lịch hàng năm, thay v́ mùa xuân như hầu hết các lễ hội khác trên địa bàn tỉnh.
Chiếm số lượng nhiều hơn cả là các lễ hội vùng đồng bằng. Hầu hết các lễ hội đều gắn với một di tích cụ thể như: Lễ hội Tiên Công, lễ hội Bạch Đằng, hội chùa Quỳnh Lâm, hội đền An Sinh... Trong lễ hội thường diễn ra các hoạt động rước sắc phong, tượng, bài vị của thần, tế lễ; các tṛ chơi dân gian mang đặc trưng của đồng bằng: kéo co, đánh vật, đánh đu, cờ tướng, cờ người... Mọi người đến hội với mục đích thắp hương lễ thần, Phật, cầu cho bản thân, gia đ́nh và mọi người cùng mạnh khỏe, vạn sự may mắn. Ngoài ra c̣n có một nhu cầu khác là văn cảnh. Có những lễ hội là dịp để mọi người t́m nhớ về cội nguồn như lễ hội Tiên Công, ở Hà Nam (Yên Hưng), tổ chức vào ngày 7-1 âm lịch hàng năm, lễ hội đ́nh Trà Cổ (Móng Cái). Ngày diễn ra lễ hội Tiên Công, không kể con cháu của các cụ Thượng được rước lên miếu mà ngay cả nhiều người sinh ra ở Hà Nam, hiện đang sinh sống ở các tỉnh thành khác trong nước cũng t́m về, thắp nén hương trước bàn thờ tổ tiên, gặp gỡ người thân, cùng nhau ôn lại gia phả, gốc tích lịch sử của gia đ́nh, quê hương. Tương tự, lễ hội đ́nh Trà Cổ là dịp để người dân Trà Cổ nhớ về gốc tích Đồ Sơn của ḿnh.
Có thể nói, bên cạnh ư nghĩa tôn giáo, tín ngưỡng th́ về cơ bản, lễ hội chính là nơi phản ánh những ước muốn, khát vọng của con người về lao động sản xuất, tâm tư, t́nh cảm, nhân sinh quan về tự nhiên, vũ trụ...

Một di sản văn hóa phi vật thể nữa tồn tại qua hàng trăm năm của Quảng Ninh có giá trị to lớn là kho tàng văn học dân gian của các tộc thiểu số nơi đây. Trong nền văn học dân gian của họ, ngoài một số truyện kể theo lối tiểu thuyết th́ có lối kể truyện theo thể thất ngôn trường thiên, một loại thơ rất thích hợp với lối kể lể, tự sự của đồng bào như "Suồng Cổ" của người Sán Chỉ... Ngoài thơ ca, múa và nhạc cụ cũng góp một phần không nhỏ trong kho tàng văn học nghệ thuật dân gian, các điệu múa phong phú hấp dẫn như "múa chuông". "múa trống" của người Dao, "múa gậy" của dân tộc Sán D́u; múa Chim gâu", "Xúc tép" của người sán Chỉ... Nhạc cụ có "đàn tính" của dân tộc Tày; "tù và" bằng sừng trâu, sáo "sôna" bằng vỏ ốc của người Sán D́u; " Hiện nay, những giá trị văn hoá truyền thống này c̣n hiện diện trong các tộc thiểu số ở Quảng Ninh. Mỗi loại h́nh văn hoá đều mang sắc thái riêng của mỗi dân tộc, nó thể hiện rơ nhu cầu và bản sắc lối sống của họ. Đây là một tiềm năng dồi dào để phát triển văn hoá và du lịch ở Quảng Ninh.

 

Để vấn vương với Di sản thiên nhiên thế giới:  Vịnh Hạ Long

 

 

Nhắc đến Quảng Ninh là người ta nghĩ ngay đến Vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới. Đến với Vịnh Hạ Long dù chỉ một lần, bất cứ ai cũng đều cảm thấy vấn vương trước “ Trời Nam non nước muôn đời là đây” với vẻ đẹp vĩnh cửu được tạo nên bởi đá và nước, bởi màu sắc của cỏ, hoa, cây, lá, mây trời ..

Có lẽ v́ thế mà hàng trăm năm qua, Vịnh Hạ Long luôn là đề tài bất tận cho các nhà thơ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh… mải miết sáng tác bởi vẻ đẹp tuyệt mỹ của nó mà như chưa đến đích.  

Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long không chỉ có giá trị lớn về thẩm mỹ, mà c̣n có giá trị lớn về khoa học địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học và văn hoá. Hiếm thấy một thắng cảnh nào khác trên trái đất lại hàm chứa nhiều giá trị ngoại hạng đến như vậy.Riêng với thắng cảnh Hạ Long, nó không đơn thuần là một thắng cảnh hoành tráng, có qui mô lớn nhất cả nước, mà c̣n là một “tổ hợp”, một quần thể hàng loạt những thắng cảnh đặc sắc, nhiều dáng vẻ kỳ lạ , làm say đắm ḷng người. Với góc nh́n tổng quát th́ Vịnh Hạ Long là tác phẩm nghệ thuật tạo h́nh kỳ vĩ, kết hợp hài hoà giữa điêu khắc và hội hoạ, giữa tính hoành tráng khoẻ khoắn với nét duyên dáng thơ mộng. Nhưng Hạ Long không chỉ là tác phẩm nghệ thuật tĩnh, mà luôn luôn biến đổi theo thời gian và góc nh́n, tạo nên trong giây lát những cảnh sắc khác thường, có sức quyến rũ đến sững sờ. Với góc nh́n cận cảnh, riêng lẻ th́ mỗi đảo đá, luồng lạch, hang động Hạ Long là một thắng cảnh kỳ thú, muôn màu muôn sắc khiến cho biết bao du khách từ xưa đến nay ngỡ ngàng, bối rối, tự hỏi: “Đây là một cảnh hay bao cảnh? Cảnh trần hay cảnh nào?”. Có thể nói mỗi đảo đá Hạ Long hoặc là một công tŕnh điêu khắc sống động mang h́nh hài bí ẩn của những sinh linh, hoặc là một khối kiến trúc uy nghi, bề thế, có nơi chông chênh, ngộ nghĩnh được tạo dựng bởi bàn tay tài hoa và cần mẫn của Tạo hoá, mỗi đỉnh mỗi kỳ quan, mỗi luồng lạch quanh co uốn lượn là một cảnh quan kỳ ảo, mỗi hang động là một lâu đài cổ kính, lộng lẫy…

Ngược ḍng thời gian, vượt qua bao nhiêu khoảng xanh mênh mông đầy biến động của thiên nhiên lịch sử, bạn hăy đến với vịnh Hạ Long hôm nay để cảm nhận sâu sắc hơn về một tuyệt tác thiên nhiên mà tạo hóa đă ban cho đất nước Việt Nam, một di sản văn hoá thế giới được nhiều người biết đến.

 

TH