|
|
||||
|
Hát then - đàn tính là một loại h́nh diễn xướng dân gian tổng hợp có từ lâu đời, giữ vị trí quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa - nghệ thuật truyền thống các dân tộc Tày, Nùng, Thái, phổ biến ở vùng núi phía bắc như: Bắc Giang, Quảng Ninh, Ḥa B́nh, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên... . Từ xa xưa, đàn tính hát then đă được lưu truyền và đi vào ḷng người, đồng thời gắn liền với sự phát triển của nền văn hóa, văn nghệ dân gian dân tộc ít người. Có thể nói, then tính là hương sắc của hoa, của đất; Là t́nh yêu, là khúc nhạc rừng bất diệt.
Vào những ngày hội mùa xuân, trên các bản làng miền núi phía Bắc không thể thiếu được làn điệu then say đắm, cùng cây đàn tính vỏ bầu độc đáo... Những giai điệu, làn điệu hát then truyền cảm, trữ t́nh, cùng tiếng đàn tính ngọt ngào như ḍng suối chảy, như giọt nước rơi nhẹ trên lá rừng làm say đắm t́nh người. Thiếu nữ Tày vừa hát, vừa đàn nghe như con chim rừng thủ thỉ kể chuyện, một dàn thiếu nữ vừa đàn vừa hát then, nghe tưởng như ḍng suối chảy êm đềm, lờ lững làm ngây ngất người nghe. Then tính, xuất phát từ trái tim mà lời hát, tiếng đàn được tấu lên khiến người chơi, người nghe ḷng dạ thổn thức, xao xuyến khôn nguôi. Con gái nghe phải sẽ lần bậc thang xuống với bạn t́nh. Trai bản nghe được sẽ lấy cần đàn, đầu gậy chọc lên sàn nơi cô gái ngủ. Người già nghe đàn lần đến hũ rượu. Ngọn gió nghe phải sẽ làm roong reng quả nhạc. Cứ thế, âm thanh như ḍng suối ngọt chảy măi, vươn xa. Con người với vạn vật quấn quưt nhau không chỉ suốt mùa gặt hái mà trong cả tết lễ, hội hè…
Hát Then tính là loại hát mang tính chất lễ và hội. Ngoài yếu tố tâm linh như dùng để cầu, chúc phúc, cầu được mùa, then c̣n vui đón khi Tết đến xuân về, giải trí mua vui, giăi bày nỗi ḷng, thậm chí thể hiện t́nh yêu trai gái hoặc ngợi ca quê hương, bản làng...Người làm then chuyên nghiệp được gọi là "Then", có nghĩa là Thiên (tức người của trời). V́ vậy việc truyền dạy chỉ khu biệt trong số lượng ít ỏi những người "đứng đầu đứng số" (tức được trời giao phó sứ mệnh) và thường tập trung trong gia đ́nh, ḍng họ. Hát then có ở 5 tỉnh miền núi Việt Bắc là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Và ở mỗi vùng làn điệu then lại có những nét độc đáo riêng: Then Lạng Sơn d́u dặt tha thiết, then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận, then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một, then Bắc Kạn như chuyện kể thầm th́. Toàn bộ lời ca trong hát then là mô tả cuộc hành quân trong đội quân nhà then gồm 1 đoàn người, ngựa không rơ bao nhiêu đang vất vả leo núi, vượt sông, vượt biển. Họ trèo qua đá tai mèo, nước xoáy, vực sâu chóng mặt, vắt xanh, vắt lam bám nhơm nhớp kẽ tay. Họ phải vật nhau với hai mụ phù thuỷ là Dả D́n, Dả Vài. Trong hát then có một chương dài mô tả cuộc vượt sông, vượt hồ hay vượt cửa biển nào đó gọi là “khảm hải”.
Có người đặt câu hỏi: Núi rừng Việt Bắc làm ǵ có biển mà vượt? Nhưng theo cách hiểu hiện nay th́ đồng bào Tày-Nùng luôn coi biển rộng là biểu tượng của cái ǵ đó to lớn quá sức tưởng tượng. Vượt biển là cửa ải cam go nhất đối với ư chí con người. Vượt qua đoạn đường khó khăn này đoàn người sẽ đến được vinh quang, hạnh phúc. Có rất nhiều điệu then: như then "gạ" diễn ra trong năm mới. Then "hẳm mạy" (chặt cây), then "phát tàng" (then làm đường). Đây là loại then ca ngợi, tôn vinh lao động từ sản xuất trên ruộng đồng, nương rẫy đến trồng rừng, mở đường giao thông. Ngoài những then kể trên, c̣n có then "lăn tính". Tiếng dân tộc là "non rậm pắn tính", tức là nằm múa xoay đàn. Đă nửa thế kỷ nếu tính từ lần đầu tiên đàn tính và điệu hát then được đoàn văn công Việt Bắc đưa lên sân khấu. Làn điệu then hay gọi nôm na là hát then đă được nhiều nhạc sĩ cải biên, song vẫn chưa có bước tiến dài và liên tục cho loại h́nh nghệ thuật độc đáo này. …Cùng cây Đàn tính
Đàn tính là một loại nhạc cụ dân gian độc đáo có âm thanh ngọt ngào, mượt mà và ấm áp, có sức hấp dẫn kỳ diệu bởi nó gắn chặt với đời sống tinh thần của một dân tộc đă bao đời nay như một phương tiện giao tiếp đậm đà bản sắc dân tộc. Đàn Tính thuộc họ dây, chi gẩy. Đàn gồm các bộ phận: Cần đàn, bầu đàn, mặt đàn, thủ đàn và dây đàn. Cần đàn làm bằng gỗ nhẹ mềm, thớ quánh, thường là gỗ thừng mực hoặc gỗ dâu. Người ta đo chiều dài cần đàn khi chế tác là 9 nắm tay người chơi đàn (tương ứng với chiều dài 75 -90 cm). Kinh nghiệm dân gian cho thấy số đo này hợp với cỡ giọng người chơi đàn.
Thủ đàn
cong h́nh lưỡi liềm hay h́nh con chim, gắn hai hoặc ba trục lên dây. Bầu
đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm già, tṛn và dày đều. Mặt đàn bằng mo bương
hoặc gỗ quế bào mỏng chừng 3 mm. Dây đàn se bằng tơ tằm vuốt sáp ong hay
nhựa khoai lang (nay người ta làm bằng dây cước). Ngựa đàn là một mảnh tre
hoặc miếng gỗ cắt nhỏ, h́nh thang. Phía dưới ngựa đàn khoét h́nh ṿng tṛn
hoặc h́nh chữ M, đặt chính giữa áp sát vào mặt đàn. Huyền thoại xưa kể về cây đàn tính bị Bụt trên trời cắt mất 9 dây tơ, chỉ cho để lại 2 đến 3 dây. Bởi lẽ, v́ quá nhiều dây sẽ quá nhiều âm, khiến con người ngây ngất mà quên ăn quên ngủ, quên cả ruộng đồng. Giữa huyền thoại và sự thực xa xưa đến bây giờ, khả năng kết hợp hát then với tính tẩu vẫn chinh phục được ḷng người v́ không mất đi sự quyến rũ vốn có của nó. Đúng như lời cổ trong bài "Thau tính" (nguồn gốc của đàn tính), người Tày hát: ... "Mặt đàn bằng gỗ xổ Cán đàn bằng gỗ quế Khóa đàn bằng sừng trâu Dây đàn bằng dây bạc Cá nghe, cá chết chín đoạn suối Chuột nghe chết phơi mười quăng rừng Trai gái nghe, ḷng buồn rười rượi...".
Vậy mà
với ông Hoàng Quốc Đạt (Thị trấn Bằng Lũng-Chợ Đồn) ông diễn vai người hát
khúc khảm hải đạt đến độ đưa người nghe, người xem như được sống cùng với
khúc hát khảm hải. Đó là người thầy, cúng cho những linh hồn bị chết một
cách oan khuất: những cái lắc ḿnh như ngả nghiêng trước sóng biển, chiếc
đàn tính trong tay vang lên điệu nhạc lúc êm ái, lúc hung dữ như biển cả
đang gầm thét lấy đi mạng người. Ông diễn xong điệu khảm hải đúng 1 tiếng
30 phút.
CINET TỔNG HỢP
|