Nghệ thuật thư pháp là một nét văn hóa độc đáo của nền văn hóa Á Đông. Thư pháp là một môn nghệ thuật xuất phát từ Trung Hoa và đă được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy tŕ.
Đây là nghệ thuật dùng bút lông viết chữ. Chữ viết ra phải có sức biểu cảm sâu xa. Nội dung và h́nh thức của một bức thư pháp kết hợp hài ḥa trong những chữ viết, mạnh mẽ mà uyển chuyển, rắn rỏi mà bay bổng. Từ lâu, nghệ thuật thư pháp được nhân dân ta xem như một thú chơi tao nhă.

Đối với người phương Đông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đă đưa nghệ thuật viết chữ vươn đến đỉnh cao với lư thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.


Ở Trung Hoa - thời Hán, từ khi phát minh ra bút lông th́ chữ Hán được viết trong một cấu trúc có quy luật gọi là Thư Thể gồm: Triệt Thư, Lệ Thư, Khải Thư, Hành Thư và Thảo Thư.
Ở Nhật ngày xưa gọi môn nghệ thuật này là Thư Đạo (như Trà Đạo, Kiếm Đạo, Vơ Đạo, Thiền Đạo…). Bất cứ môn "Chơi" nào nếu được chăm chú nghiên cứu cho đến tận cùng để ngộ đến hư vô đều là Đạo cả. Thư Đạo là lối viết tự nhiên không gượng ép, là cái tự nhiên của trời đất, của thiên nhiên như Lăo Tử đă viết: "Đạo pháp tự nhiên" (Đạo bắt chước tự nhiên). Những nét bút trên trang giấy như rồng bay, phượng múa, như gió thoảng mây bay; lúc im ĺm lắng đọng, lại có khi cuồng phong băo tố, đó là cái tự nhiên của đất trời và cũng là cái Đạo vô cùng thể hiện trong nghệ thuật thư pháp.

Từ ngàn xưa, các Đạo sư, Thiền sư đă dùng thư pháp làm phương tiện truyền đạt những cao thâm của Đạo. Bất cứ Đạo nào học ở phương Đông cũng đều là Đạo sống, nghĩa là tri hành hợp nhất. Thư Đạo là vừa tri vừa hành, vừa cảm vừa ứng. Ngọn bút lông, ư đạo, lời thơ với tâm thiền đưa ta đến sự giải thoát. Trong một bức thư họa, vạn sự, vạn vật qua bốn giai đoạn: thành, thịnh, suy, hủy được thoáng diễn qua một vài nét bút tài hoa.
Nhà thư pháp không những phải thông hiểu về luật thiên nhiên mà cần phải điêu luyện nét bút căn bản, đầy đặn, mạnh mẽ như: điểm, hoành, nét ngang, nét sổ, nét nhất lên, nét phẩy xuống… Tâm, ư thân vừa hằng vừa chuyển, vừa bất di vừa biến dịch trong nghệ thuật thượng thừa của Thư Đạo.
Văn chương, nghệ thuật của Thư Đạo cô đọng trong tranh thư họa với sự lặng thinh, nhưng là một thứ lặng thinh hùng biện và khêu gợi để người xem phải vận dụng công phu suy nghĩ, im lặng để mà lắng nghe tiếng dội ở nơi sâu thẳm của ḷng ḿnh. Người xem phải "đắc ư vong ngôn" th́ mới có thể thưởng thức được những nghệ thuật siêu đẳng thuần túy của Thư Đạo. Điều quan trọng đối với  Thư họa là cốt t́m nắm lấy cái căn bản của thiên nhiên, tức là cái hư vô, cái vô cùng vô ẩn trong từng sự vật hữu hạn. Hư không trong thư họa được tượng trưng bằng những nét bút mạnh và thẳng, dường như chỉ phớt nhẹ trên mặt giấy và cảm thấy như nó bay đi vùn vụt, mất dạng trên không trung. Nét nào đă phóng ra không bao giờ đồ lại, nét đồ là nét chết. Nét bút thư họa vừa táo bạo vừa nhẹ nhàng thường gọi là Thần bút. Nhà thư họa chỉ dùng có một màu đen, khi đậm, khi nhạt, ḥa với nước lă vẽ trên nền giấy, lụa trắng làm nổi bật lẫn nhau để biểu trưng cho sự gắn bó của âm dương. Muốn nắm lấy cái hư không tuyệt đối, nhà thư pháp phải phá các h́nh thức hữu danh để tạo những h́nh thức mỹ thuật vô danh, một lối cấu tạo tự do, không lề lối nhất định ǵ cả. Thay v́ vẽ một cái cây, nhà thư họa chỉ vẽ một đoạn thân cây, không gốc, không ngọn. H́nh thức gây nhiều mỹ cảm nhất là những h́nh thức bất toàn và trống không, những h́nh thức không h́nh thức rơ ràng. Chính sự cực kỳ giản đơn mới biểu trưng khái quát được hư không, cái vô cùng vô tận của vũ trụ.
Giá trị mỹ thuật thượng thặng của Thư Đạo bao giờ cũng ở sức khêu gợi của nó. Sự bất chấp luật viễn thị trong thư họa, dùng nguyên tắc không nguyên tắc, chú trọng đến thần khí của câu thơ, nét bút; cái màu mà không màu của màu trắng, đen, đậm nhạt của thủy mạc, đó là những đặc điểm của thư đạo, có công dụng siêu thoát không gian để được cận với hư không mới gợi được cái cảm giác vô cùng của Đạo.
Được như vậy, thư pháp, thư họa không c̣n là môn nghệ thuật tầm thường mà là một chính pháp, một Đạo thư, một Đạo trong nghệ thuật thư họa.
Dưới lăng kính của thiền quán người ta thấy rơ nét chữ đă thể hiện nét người, nh́n một bức thư pháp chúng ta có thể đoán biết tâm trạng, tính t́nh của tác giả đang ở trong trạng thái nào. Khi nhà thư pháp phóng bút trong t́nh trạng "Tâm Bút hợp nhất", người thưởng ngoạn sẽ nhận ra ngay, người ta sẽ thấy một sức sống kỳ diệu, sự trong sáng thanh thoát trong từng nét bút.
Rèn luyện thư pháp chính là rèn luyện nhân cách v́ vậy các nhà thư pháp thường sống ẩn cư, phong thái của nhà thư pháp th́ khoan thai từ tốn, khi chấp bút một cách tự nhiên nhẹ nhàng, thư pháp càng đơn giản th́ cơ hội "đạt" càng cao. Sự luyện tập nội tâm được kết tinh trong từng nét bút. (Danh từ chuyên môn trong thư pháp gọi là "Mạc khí" hay dấu mực). Nhà thư pháp thực hiện mỗi nét chữ như đang đối diện với những giây phút quan trọng nhất, nói một cách khác thư pháp là một sự nối dài cá tính và năng lực nội tâm của người sáng tạo.
Qua ngọn bút lông người ta có thể thực tập Thiền, tương tự như mân chuỗi hạt để theo dơi câu niệm Phật. Nhà thư pháp thực tập chuyên cần đến một lúc cái "tâm không" sẽ tuôn trào qua ngọn bút. Đây là một sự khác biệt với những nhà viết chữ theo lối thủ công, họ chỉ biết rèn luyện ng̣i bút làm sao viết cho có mỹ thuật, kỹ năng có được của họ là do sự tập luyện nhuần nhuyễn. Trong khi đó phần linh hồn của tác phẩm được phát ra từ sự chuyển hóa tâm thức nhà thư pháp. Tính độc đáo trong tác phẩm của họ là nhờ vào kinh nghiệm Thiền Quán.
Những nhà thư pháp khi phóng bút tâm phải tĩnh lặng, giải trừ mọi chấp trước, ung dung tự tại. Không có những chuẩn bị như vậy, th́ không thể hướng tâm ḿnh vào việc sáng tạo. Trong trạng thái chín muồi của tâm thức ḥa hợp với kỹ năng sẵn có, nhà thư pháp cảm thấy nhẹ nhàng trong khi thực hiện công tŕnh.

Đối với người phương Đông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đă đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lư thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. V́ ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp c̣n cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia c̣n phải "nhiếp tâm" với những ǵ ḿnh sắp sửa viết ra. Có thể gọi thư pháp là tranh chữ, nhưng nó lại mang sắc thái đặc biệt của con người sáng tạo nên bức tranh mà không được tự do bay lượn như các họa sĩ khi tung những nét vẽ lên trang giấy. Người vẽ tranh thư pháp, trước hết phải có một tâm hồn thanh tịnh “như làn nước hồ thu”. V́ sao phải như vậy? Bởi chẳng có bức tranh thư pháp nào có thể ra đời khi ḷng người đang rối ren, bấn loạn v́ những cơm áo đời thường vương vấn.

Riêng Việt Nam, thư pháp được chia làm hai phần: Thư pháp chữ Hán và thư pháp chữ Việt (viết theo mẫu tự La-tinh)
Thư pháp chữ Hán của Việt Nam có tự bao giờ? Măi đến nay chưa có ai xác quyết rơ ràng. Tuy nhiên qua những tài liệu về văn học, những cổ vật được t́m thấy như các bia đá, lệnh chỉ, sắc phong, những bức hoành phi, những bi kư, câu đối, những áng văn được viết trên lụa, gấm, giấy xuyên chỉ, hoặc được khắc trên đá, trên gỗ ... cho thấy thư pháp bằng chữ Hán của Việt Nam đă có hàng ngh́n năm.
Qua những di tích lịch sử, ông cha của chúng ta đă thể hiện thư pháp một cách sống động. Trong những chữ bằng Hán tự người ta t́m thấy những nét thẩm mỹ, t́m ẩn trong đó một đạo lư, một lối sống kiên cường bất khuất của người quân tử. Đồng thời chứa đựng một triết lư đầy tính chất nhân bản.

Viết được thư pháp là cả một kỳ công. Người Trung Quốc xưa viết bằng bút lông, mực tàu, trên giấy lụa. Với người Việt Nam quen chơi thư pháp, những nguyên tắc đó cũng không thể nào thay đổi.

Người viết thư pháp quan trọng nhất cây bút. Để biết cầm bút đúng cách viết thư pháp, người giỏi phải mất một năm, người kém mà có tâm theo đuổi cũng phải kiên tŕ 3 năm chỉ chuyên tập cầm bút. Bút viết thư pháp phải là bút lông, nhất thiết không có bút ǵ khác.
Mực viết thư pháp cũng phải là mực xạ. Loại mực này hiện nay không nhiều và khá đắt, thế nhưng người ta không thể thay thế loại mực khác. Mực xạ đi với giấy dó là loại giấy cổ truyền ở Việt nam. Những năm trước đây, nghề làm giấy dó gần như thất truyền, nay đă và đang được khôi phục lại ở một số làng nghề miền Bắc. Giấy dó làm ra cũng chỉ để phục vụ một số công việc như viết tranh thư pháp, viết câu đối, vẽ tranh cổ… nên giá giấy khá đắt. Loại giấy dó thấm chữ rất nhanh, người viết thư pháp hay vẽ trên giấy này nếu không có trước ư tưởng trước mà cứ họa lên giấy th́ tác phẩm 10 phần độ 9 phần bị hư. Bút lông thấm mực tàu sẽ tạo nên những nét đậm nhạt khác nhau, nhưng cái đậm nhạt lúc ấy không phải là ở tay viết mà phải ở cái tâm của người viết.
Người ta nói rằng con chữ, nhất là chữ thư pháp, thường gắn với cuộc đời của người viết ra nó. Không có quy tắc cho người chơi thư pháp, nhưng có một nguyên tắc là chữ tâm phải sáng và tâm hồn phải thanh thản, v́ vậy mà hầu hết những người chơi thư pháp đều biết Thiền- một cách tĩnh tâm. Ngoài ra thư pháp là lối chơi dành cho người cao tuổi, có đời sống nội tâm phong phú, thích ḥa ḿnh với cây cỏ, thiên nhiên. Đến với thư pháp là đến với thiên nhiên với muôn vàn h́nh thái, từ những cành cây đang vươn lên đón nắng xuân, đến những cảnh se lạnh khiến cỏ cây đ́u hiu trong giá rét, từ h́nh ảnh chuyển động của muôn loài động vật với vũ điệu thiên biến vạn hóa đến sự chuyển động âm thầm trong thớ thịt đường gân của thế giới sinh vật…
Để có một bức thư pháp đẹp và có hồn, ngoài cách tŕnh bày sao cho thẩm mỹ, các nhà thư pháp đă phải trải qua một thời gian khổ luyện. Nếu đem so sánh một thư pháp gia với một kiếm gia cũng không có ǵ quá đáng. Nhà thư pháp mỗi khi chấp bút, khí bút phải vận hành một cách tự nhiên. Hơi thở sinh động và luân chuyển trong trạng thái nhiếp tâm. Nh́n một nhà thư pháp hạ bút cũng giống như một kiếm gia múa một đường gươm.

 


Những nhà thư pháp nổi tiếng khi chỉ dạy cho đệ tử thường nói: "Viết một cách chủ tâm mà không tác ư." Để hướng dẫn cho lối viết như thế, các vị thầy bảo: "Cẩn thận chấm bút vào mực, cân nhắc cho vừa đủ, khi nâng ngọn bút lên trong một tư thế phải nhẹ nhàng, xoay một ṿng nhẹ trong không trung trước khi hạ bút xuống trang giấy. Để ng̣i bút nhẹ xuống giấy tựa như cánh hoa đang rơi trên mặt hồ. Khi kéo ngọn bút qua trang giấy phải tập trung nội lực cũng giống như một tảng đá nặng được treo bằng một sợi dây rất nhỏ có thể rơi bất cứ lúc nào cũng không biết Như vậy mỗi nét chữ mới có xung lực của sự sống."
Đây chỉ là phần kỹ thuật, riêng phần nội tâm các nhà thư pháp thường để hết tâm hồn của ḿnh trên những chữ sắp viết, thường là một câu thơ, một danh ngôn, một câu đối, cũng có thể là một chữ duy nhất..v.v.. Tập trung toàn thể tâm ư vào câu đó, đều ḥa khí lực sao cho tâm cảnh hợp nhất, lúc đó ngọn bút sẽ linh hoạt, bay lượn, phiêu bồng. Thời khắc nầy các nhà thư pháp thường gọi là "Xuất thần" hay "Tâm bút hợp nhất". Đây chính là phần hồn mà các nhà thư pháp đă gởi gắm vào những nét bút.
Với người chơi và thưởng ngoạn thư pháp, gần như đó là đ̣i hỏi để có thể hiểu được nó. Trải qua mấy ngh́n năm văn học, lúc đầu dùng Hán tự sau chuyển qua chữ Nôm và gần đây chúng ta dùng chữ Việt. Mẫu chữ Việt chúng ta đang dùng là do các giáo sĩ Tây phương truyền đạo Thiên chúa đem vào. Ngoài những mẫu tự La-tinh chữ Việt c̣n những dấu sắc (/), dấu huyền (\), dấu nặng (.), dấu hỏi (?), dấu ngă (~), và các dấu móc như: ă, â, ê, ô, ơ, ư. Theo những nhà ngôn ngữ học phân tách chữ Việt của chúng ta có h́nh thức tượng thanh, khác với Hán tự có tính cách tương h́nh.
Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ băi bỏ các khoa thi (Hương - Hội - Đ́nh) ở Nam Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ băi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 băi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Hán, đoạn tuyện hoàn toàn bằng khoa thi cuối cùng tại trường thi Nam Định, thay thế bằng hệ thống trường Pháp - Việt. Năm 1920, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm dùng chữ Nôm. 18.9.1924, toàn quyền Đông Dương Merlin kư quyết định đưa chữ Quốc ngữ (Chữ Việt) vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học. Đó chính là giai đoạn mà cha ông ta chúng ta đă từng vẫn sử dụng bút lông để viết Quốc ngữ mới du nhập như một tṛ tiêu khiển. Đến những năm 30 th́ xuất hiện một vài nhân vật có ư thức thể hiện những câu thơ, lời hay của những bậc tiền nhân hoặc của chính ḿnh thành như một bức Chữ mang tính nghệ thuật. Tiêu biểu đó là nhà thơ Đông Hồ mà ngày nay đa số tác gia Thư pháp Việt vẫn tôn vinh là ông tổ của phân môn nghệ thuật này.
Vào những năm đầu của thời hậu thế chiến khi chữ Việt đă hoàn chỉnh và ng̣i bút sắt đă hoàn toàn ngự trị trên thị trường chữ nghĩa. Người ta không c̣n thiết tha với ngọn bút lông. Giữa lúc đó có một ít người nghĩ ra cách dùng bút lông để viết chữ Việt dưới h́nh thức thư pháp. Những thư pháp chữ Việt đầu tiên được thể hiện rơ nét nhất ở những nghệ nhân tài hoa, mặc dù việc làm của họ có tính cách tài tử và không được quảng cáo rộng răi.

Trong thời điểm đó, điển h́nh qua thư pháp gia Nam Giang tên thật là Lương Quang Huyễn sinh năm 1930 (tuổi Canh Ngọ) tại Quế Sơn Quảng Nam. Cùng thời với Nam Giang có nhà thư họa Vũ Hối, ông sinh năm 1931 quê tại Quảng Nam Đà Nẵng. Hiện đang cư ngụ tại Hoa Kỳ. Ngoài Nam Giang Vũ Hối là những người đi tiên phong trong bộ môn nghệ thuật thư pháp chữ Việt c̣n có nhà thơ Trụ Vũ, Song Nguyên, Chính Văn, Thiên Chương, và gần đây có Bùi Viết Khảm, Nguyễn Thiện Chương, Nguyễn Thanh Sơn... Ngoài những nhà thư pháp thành danh kể trên chúng ta cũng thấy những bức thư pháp thật đẹp đă được trưng bày trong các chùa chiền, tự viện, do các vị tu sĩ xuất gia thực hiện. Thiền sư Nhất Hạnh đă sử dụng h́nh thức thư pháp trên các b́a sách của ông mới xuất bản gần đây.
Thư pháp chữ Việt được viết theo mẫu tự La-tinh bằng bút lông và mực xạ, các nhà thư pháp Việt Nam đă dùng ngọn bút lông để viết chữ Việt cho thấy đây là một sáng kiến mới lạ đầy tính chất nghệ thuật. Hán tự với cách viết trong h́nh vuông và từ trên viết xuống, với những đường nét chấm, phẩy, ngang, sổ, khung mác... Trong khi đó các mẫu tự La tinh của chữ Việt có dạng h́nh tṛn và dài và cách viết từ trái qua phải lại thêm các dấu móc. Dưới một mô h́nh chữ viết đặc biệt các nhà thư pháp Việt Nam đă sử dụng ng̣i bút lông một cách tài t́nh để tạo nên những bức thư pháp đầy màu sắc dân tộc.
Nh́n những bức thư pháp chữ Việt, chúng ta có thể h́nh dung được những h́nh ảnh lạ mắt nó giống như Rồng bay, Phụng múa hay Cá đang bơi qua những nét chữ và các dấu móc ngoặc. Các nhà thư pháp của chúng ta đă biết khai thác một cách rốt ráo trong mười lối viết của cây bút lông đó là : Ức (nhấn xuống), Dương (nâng lên), Đốn (dè dặt), Tỏa (hạ xuống), Tŕ (chậm lại), Tốc (nhanh như chớp), Hoàn (trả lại), Khẩn (vội vă), Kinh (nhẹ nhàng), Trọng (nặng ngh́n cân). Từ những nét sinh động, uyển chuyển trong những dấu, nét ngang, nét dọc, nét cong lên, hay ngoặc xuống, cùng các mẫu tự La-tinh được biến dạng đă tạo ra những h́nh ảnh bay lượn, nhảy múa một cách nhẹ nhàng thanh thoát.
Điểm đặc biệt của thư pháp là sự đơn giản, chỉ một ngọn bút lông (lớn nhỏ tùy theo nhu cầu), nghiên mực, thỏi mực xạ, tờ giấy xuyến chỉ, lụa, gấm hay những vật dụng khác như quạt, đĩa bằng sứ... Phần màu sắc chỉ có một màu đen của mực xạ cùng với một nền màu duy nhất. Gần đây, một ít người viết thư pháp đă dùng mực màu đỏ hay màu vàng có pha kim tuyến để viết. Đặc tính của thư pháp Việt là thể hiện rơ nét b́nh dị, không trau chuốt, màu mè.

 

Hiện nay tại Việt Nam phong trào thưởng thức thư pháp đang pháp triển mạnh mẽ. Thư pháp đang bày bán trên các ngỏ đường, sạp báo, trong các nhà sách, được in trên những tấm lịch treo tường và càng nở rộ vào mỗi dịp xuân sang…

Đi đầu trong phong trào Thư pháp th́ phải kể đến Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và một số tỉnh thành vệ tinh với những cuộc nói chuyện chuyên đề “Hồn chữ Việt và thư pháp Việt đi vào cuộc sống” những năm 2000, đă thúc đẩy mạnh mẽ phong trào viết, chơi chữ Quốc ngữ nói riêng và Thư pháp nói chung và thu hút được sự quan tâm của đông đảo người yêu thích. Không chỉ có người lớn tuổi, nhiều em học sinh, nhiều thanh niên nam nữ cũng đến với Thư pháp như một sự t́m về với t́nh cảm của chính ḿnh và bản năng nghệ thuật trong con chữ của dân tộc. Sự ra đời của các thư quán, Câu Lạc Bộ, pḥng triển lăm khắp nơi là một minh chứng vô cùng rơ nét.
Thư pháp Việt là nghệ thuật mang tính h́nh tượng hóa đối với chữ viết, thông qua việc dùng bút lông mực tàu để tạo nên những câu chữ với hiệu quả nghệ thuật từ góc độ của h́nh ảnh, nên nó đă vượt ra khỏi chức năng truyền tải thông tin mà trở thành đầy biến thái ảo diệu, sinh động vô vàn. Thư pháp Việt có mặt ở khắp nơi: báo chí, bích chương, quảng cáo, bảng hiệu, tranh lịch, phần mềm font chữ.v.v... trong nhiều góc độ của cuộc sống. Các tác phẩm thư pháp Việt đủ cỡ lớn, nhỏ kiêu hănh trang trí cho những Gallery, các pḥng triển lăm, thậm chí b́nh dân như quán café, quán trà, tư dinh, đại sảnh các cơ quan....
Vài năm gần đây, những ngày giáp Tết,  Hà Nội lại tấp nập người đi xin chữ. Người sành sỏi phải đến nhà xin bằng được chữ của cụ Ḥa, cụ Bách, cụ Quảng, c̣n ra Văn Miếu, người ta cũng dễ gặp những "ông đồ" trẻ tuổi trải chiếu ngồi cho chữ. Nét chữ đẹp, khéo, không kém phần cứng cỏi, họ chỉ ở lứa tuổi ngoài 20. Ngay trên đất Hà thành người ta dễ gặp những người trẻ tuổi dám mạo hiểm như thế. Đào Thái Hồng Phúc, người đoạt giải thưởng Tài năng trẻ thư pháp tại Festival Huế 2004, mới bước vào tuổi 30 nhưng tên anh đă được những người sành chơi biết đến. Các "ông đồ" thời hiện đại không áo the khăn xếp như ngày xưa nhưng khi đă "vận" ḿnh vào thú chơi này dường như họ cũng t́m lại được chính bản thân. Anh Nguyễn Văn Thức, cử nhân khoa Hán Nôm, trường ĐH Khoa học xă hội Nhân văn, nói: "Từ ngày luyện viết thư pháp, tôi cảm thấy những suy nghĩ của ḿnh có chiều sâu hơn và hiểu hơn giáo lư của đạo Phật. Lúc hướng được ng̣i bút theo sự điều khiển của lư trí thấy ḿnh đi được vào tận cùng con người ḿnh". Câu nói có vẻ già trước tuổi ấy lư giải v́ sao để tạo nên một bức thư pháp chỉ với một chữ "Nhẫn", "Tâm" hay "Đức"... người viết lại phải khổ luyện, tốn nhiều giấy mực đến thế.

Khăn đóng, áo the đen, những ông đồ ở TP.HCM cũng bày mực tàu, giấy vẽ bên lề đường giữa bộn bề phố xá, thảo lên những bức thư pháp đầy ngẫu hứng, đầy sắc xuân. Nét văn hoá truyền thống hiển hiện giữa ḷng thành phố hiện đại không khỏi khiến ḷng người có cảm giác hoài cổ, nao nao. Nhưng ấn tượng nhất vẫn là phố của những ông đồ viết thư pháp nằm trên đường Trương Định (Q.3, TP.HCM). Phố thư pháp này nhóm họp từ ngày 22 tháng chạp (31/1/2005) cho đến hêt ngày 30 Tết. Tại đây, thường xuyên có 10 ông đồ chuyên viết thư pháp cho khách có nhu cầu. Ngoài những người viết thư pháp chuyên nghiệp và lăo luyện như: hoạ sĩ Bùi Hiến, c̣n có những SV, những tay viết nghiệp dư. Chiếm phân nửa trong số đó là các bạn trẻ là SV của các trường mỹ thuật ở khoảng độ tuổi từ 22-24.

Mỗi ông đồ trải một đôi chiếu manh, sát cạnh hàng rào của trường PTTH Nguyễn Thị Minh Khai rồi cứ thế khom lưng hí hoáy viết cho khách. Những câu thơ, danh ngôn, ca dao nói về mùa xuân, cha mẹ, t́nh yêu đôi lứa… viết theo lối thư pháp cứ thế tuôn trào: “Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan/ Trông bước gần xa pháo nổ ran/ Dũ áo phong sương trên gác trọ/ Lắng nh́n thiên hạ đón xuân sang”, “Con của mẹ đi suốt đời ḷng mẹ vẫn theo con”, “Cha là bầu trời con là hạt bụi/ Con lẫn vào cha từ đó đến muôn đời”. Sản phẩm ngay sau đó được treo lên các bức tường rào vừa để cho khô mực và cũng là để tiếp thị với khách.  

Đa phần thư pháp đều được viết bằng chữ Việt. Do đó, ư nghĩa h́nh tượng của con chữ phải được các ông đồ đầu tư rất công phu. V́ vậy, ngoài những câu thơ, danh ngôn, ca dao do khách yêu cầu. Các ông đồ đă chọn lọc sẵn những mẫu câu cho khách lựa chọn. Ông đồ Nguyên Doăn (Họa sĩ đồ họa) cho biết, anh thích viết nhất hai chữ “Tâm” và “Nhẫn”, mỗi chữ anh sáng tạo thành 10 lối viết khác nhau. Có chữ “Tâm” đường nét tạo thành h́nh tượng vầng trăng, chim đậu cành tre gợi sự thanh b́nh, nhưng cũng có chữ “Tâm” trong đó ẩn chứa h́nh con rắn…

Những ông đồ  thời hiện đại Lê Xuân Ḥa, Nguyễn Văn Bách, Cung Khắc Lược (Hà Nội), Minh Hiền (Hà Tây), Nguyệt Đ́nh, Triều Tâm Ảnh (Huế), Trụ Vũ (TP Hồ Chí Minh)… tâm sự rằng ḿnh vẫn giữ cái hồn cốt trong nét bút, lời thơ chứ không dụng công cho bất kỳ một sự làm mới nào. Chữ nghĩa thánh hiền mà họ dành tặng tri kỷ, tri âm hay những người yêu chữ vẫn là những bức Hán tự Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh; những câu đối đượm vị xuân: “Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ/Xuân đáo càn khôn phúc măn môn” (Trời thêm tuổi, người thêm thọ/Xuân đến muôn nơi, Phúc đầy cửa); những bức thư pháp họa (viết và vẽ minh họa bằng tranh thủy mặc) các bài thơ, vần thơ tràn trề xuân ư mà vẫn đượm vị Thiền: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai” (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết/Đêm qua sân trước một nhành mai)…
Khi đă đạt đến hồn cốt th́ người ta không nệ vào những sự làm mới về mặt h́nh thức của những bức tranh chữ mà trọng sự tươi mới trong từng đường nét ở mỗi lần múa bút của những ông đồ.

Xuân Đinh Hợi 2007 đánh dấu những bước chuyển ḿnh của thư pháp Việt thông qua những cuộc triển lăm và đặc biệt là sự xuất hiện của bức thư pháp có độ dài kỷ lục. Đó là tác phẩm do ông đồ thế hệ 8X-Trịnh Tuấn, sinh viên Trường Đại học Văn hoá Hà Nội - và các cộng sự hoàn thành ngày 2-1, thể hiện 3.254 câu thơ trong tác phẩm Truyện Kiều (Nguyễn Du) bằng h́nh thức thư pháp chữ Việt. Với độ dài 300m, đây là bức thư pháp dài nhất Việt Nam.
Để hoàn thành tác phẩm, nhóm tác giả đă làm việc liên tục trong 20 ngày, sử dụng 32 cây bút lông và 4,9kg mực tàu. Bức thư pháp được chia làm 3 đoạn, tượng trưng cho 3 đoạn đời ch́m nổi của nàng Kiều.
Triển lăm Hồn thu thảo diễn ra đúng dịp xuân Đinh Hợi 2007 đă  làm sống lại nghệ thuật thư pháp chữ Nôm và đánh dấu bước chuyển ḿnh của thư pháp Việt.
Triển lăm “Hồn thu thảo”  thực sự là một bức tranh đa dạng, đa sắc màu về thư pháp chữ Nôm trong sự chuyển dịch của 5 thể chữ và dưới bút pháp sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân của các thư pháp gia trẻ kể trên. Lần đầu tiên trong lịch sử hơn 10 thế kỷ của thư pháp nước nhà, chữ Nôm mới được lột xác, được khoác những chiếc áo cánh mới mẻ và đă đem đến cho người xem những cảm nhận ban đầu thú vị về loại văn tự duy nhất do chính người Việt sáng tạo ra.

Mượn tứ thơ của Bà huyện Thanh Quan, “Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương”, triển lăm tại Văn Miếu chính là gợi nhắc người xem về một thời vàng son, vang bóng của chữ Nôm. Cùng ḍng chảy mănh liệt của lịch sử, chữ quốc ngữ lên ngôi khiến sản phẩm cha ông ta sáng tạo ra, mang đậm dân tộc tính ngày nay chỉ c̣n là những tàn dư rơi rớt lại. Bởi vậy, phảng phất phong vị cổ điển mà vẫn mang đậm hơi hướng hiện đại là đặc trưng nổi bật của triển lăm. Cổ điển trong việc khai thác, giới thiệu kho tàng văn học quốc âm của dân tộc. Các tác phẩm chữ Nôm truyền thống của văn học Việt Nam như thơ Nguyễn Trăi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương... đă được viết lại trên giấy điều, giấy dó, mực tàu, bút lông trong những đường nét uyển chuyển, biến hóa. Đồng thời với đó là việc dùng chữ Nôm để ghi chép lại văn học hiện đại qua thơ Hoàng Cầm, thơ Vũ Đ́nh Liên, hay có khi đơn giản chỉ là những ca từ quen thuộc trong ca khúc của Phú Quang, Trịnh Công Sơn... Tất cả đă tạo thành cái nh́n đa chiều giữa cổ - kim, kỹ pháp - mặc pháp, quá khứ - hiện tại, giữa ngàn năm - hôm nay, giữa truyền thống - cách tân.


Sau cuộc hồi sinh của thư pháp quăng 15 năm trở lại đây, đến “Hồn thu thảo”, thư pháp Việt Nam được coi là thực sự chuyển ḿnh. Các tác giả trẻ Trần Trọng Dương, Nguyễn Quang Thắng đă dũng cảm đưa thư pháp Việt Nam vào sự trải nghiệm của thư pháp Thiền (Zen) của Nhật Bản và thư pháp Tiền vệ (avantgarde) của Trung Hoa. Với bố cục lỏng, không có trọng tâm, cách viết tràn bo, không c̣n gói gọn trong khối vuông mà người ta vẫn quen nh́n, quen nghĩ về chữ Hán, chữ Nôm, những bức thư họa của triển lăm đă gây được những ấn tượng thị giác mạnh mẽ cho khán giả. Bức “lộp bộp tàu tiêu”, lấy nguyên văn chữ Hán “ba tiêu thính vũ”, được thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dịch ra Việt văn: “Cách song đêm biết mưa sa/ Tiếng nghe lộp bộp chăng là tàu tiêu”, qua nét bút của Trần Trọng Dương là một sáng tạo độc đáo. Các bộ thảo đầu được viết chụm lại như những tàu chuối, mực điểm và chảy suốt bức viết tràn ra bốn phía đêm đen, các khoảng đen trắng chiếm chỗ và buông thả. Hay như bức “mây giăng ải Bắc” của Nguyễn Quang Duy. Các khoảng đen tràn lan bốn phía, bưng bít và đen đặc, các mảng trắng hiếm hoi và yếu thế càng làm cho màu đen thêm dữ dội hơn. Đó là sự nín nhịn đến ngạt thở của cơn giông đang nghén trận nơi biên ải xa xôi. Cùng nằm trong chùm thư pháp gây ấn tượng thị giác là bức “bóng tịch dương”. Ba chữ “bóng tịch dương” viết theo lối chữ Triện ở một phần tư bức tranh, bao quanh chữ Nhật. Phần c̣n lại của bức tranh là những dấu triện, ấn chương đỏ đen đan xen xa dần xa dần tạo cảm giác bóng chiều le lói, sắp tắt của ngày tàn.

Có thể nói, thành công của triển lăm không chỉ kéo gần người xem trong những ấn tượng thị giác mà c̣n là sự thể hiện của những cái tôi đầy sáng tạo và dám dũng cảm cách tân. Triển lăm v́ thế c̣n nhằm giới thiệu thế hệ thư pháp trẻ với những bút pháp, phong cách cá tính riêng của ḿnh. Triển lăm gợi mở hướng đi mới cho thư pháp Việt Nam, theo Lê Quốc Việt, đó là thư pháp salon, bên cạnh thư pháp b́nh dân, thư pháp miếu đường đang ngày càng mai một, mất chỗ đứng. Thư pháp salon mang dáng dấp, hơi thở của cuộc sống để đến gần và ḥa nhập với người xem, đồng thời qua đó thể hiện được bản ngă của người sáng tạo. Hơn nữa, cùng là để ḥa nhập vào xu thế mĩ học chung của khu vực với hai đại gia tiêu biểu là Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nét đẹp mà gần một thế kỷ trước nhà thơ Vũ Đ́nh Liên từng lo lắng:

"Những người muôn năm cũ

hồn ở đâu bây giờ"

Th́ đến ngày hôm nay, ông đồ thời hiện đại sẽ không phải chứng kiến cảnh:  

"Giấy đỏ buồn không thắm

mực đọng trong nghiên sầu"

Xă hội đang t́m lại họ, và nghệ thuật thư pháp sẽ không c̣n là quá văng.

 

CINET 

Tổng hợp theo:  thuhoavietnam.com