HOÀNG THÀNH THĂNG LONG 

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT

 

 

Phát lộ di tích Hoàng Thành năm 2003 đă gây nên một chấn động lớn trong dư luận xă hội và nhận được sự quan tâm sâu sắc của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nhiều báo chí coi phát hiện khảo cổ này là một trong những sự kiện văn hóa trọng đại năm 2003. Một số di vật được trưng bày tại Văn Miếu  Quốc Tử Giám ở Hà Nội và sau đó chuyển vào trưng bày tại Bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh được khách tham quan trong và ngoài nước đánh giá rất cao. Trong Thư chúc Tết năm Giáp Thân năm 2004, chủ tịch nước Trần Đức Lương có đoạn viết: “... tiến hành khảo cổ ở khu vực Ba Đ́nh Hà Nội làm xuất lộ nhiều di tích lịch sử - văn hóa vô giá về kinh thành Thăng Long cổ xưa. Những thành tựu đó đang tiếp tục khích lệ, cổ vũ ḷng tự hào dân tộc và ư chí vươn lên của nhân dân ta...”

Trên cơ sở nhận thức giá trị của khu di tích lịch sử văn hoá do khảo cổ học phát hiện, ngày 24/9/2003 Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đă trân trọng đề nghị các đồng chí lănh đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ cho phép giới khảo cổ học tiếp tục mở rộng diện khai quật để có cơ sở khoa học đầy đủ hơn trong đánh giá cũng như trong các giải pháp bảo tồn. Hai cuộc hội thảo khoa học do Trung tâm Khoa học xă hội và nhân văn quốc gia và do Bộ Văn hoá thông tin tổ chức, tuy có một số ư kiến khác nhau trong thảo luận những vấn đề cụ thể, nhưng không ai có thể phủ nhận được giá trị lớn lao của di sản văn hoá này và nguyện vọng của hầu hết các nhà khoa học là mong muốn được bảo tồn lâu dài.

Bộ Chính trị đă có một phiên họp sáng ngày 1/11/2003 để bàn về sự phát hiện di sản văn hoá được giới khoa học và cả xă hội đặc biệt quan tâm này. Theo thông báo số 126-TB/TW ngày 5/11/2003, Bộ Chính trị đă quyết định cho phép tiếp tục khai quật khảo cổ học trên diện tích được Chính phủ phê duyệt để có cơ sở khoa học định giá và kết luận đầy đủ hơn về quần thể di tích này, trên cơ sở đó xây dựng phương án bảo tồn và phát huy ư nghĩa lịch sử của di tích. Thông báo cũng cho biết Hội trường Ba Đ́nh mới sẽ chuyển đến một địa điểm khác với tên mới là Trung tâm Hội nghị quốc gia. C̣n Hội trường Ba Đ́nh hiện nay sẽ được lưu giữ như một di tích lịch sử và Nhà quốc hội sẽ được xem xét, quyết định sau khi có báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học.

Hiện nay Viện Khảo cổ học đang tiếp tục công việc khai quật khảo cổ học và với diện tích khai quật được mở rộng, chắc chắn nhiều di tích và di vật mới sẽ được phát lộ và nhận thức về giá trị khu di tích sẽ được nâng cao hơn. Tuy nhiên công việc khai quật cũng như bảo quản trước mắt và bảo tồn lâu dài đang đặt ra không ít nhiệm vụ nặng nề mà dư luận hết sức quan tâm. Công việc bảo quản những di vật thu thập cần được thực hiện với những kho hiện vật có đủ tiện nghi bảo vệ theo từng loại chất liệu và sắp xếp khoa học. UBND Hà Nội đă chọn địa điểm để xây dựng một kho bảo quản hiện vật như vậy. Đặc biệt khó khăn là công việc bảo tồn tạm thời những di tích ngoài trời trong điều kiện đất đai, khí hậu vùng này, nhất là khi mùa mưa đến, để tiến tới một kế hoạch bảo tồn lâu dài toàn bộ khu di tích. Chính phủ đă  giao cho các cơ quan chức năng và chuyên môn tập hợp lực lượng chuyên gia trong nước và tranh thủ sự hợp tác quốc tế để nghiên cứu và đề xuất những giải pháp khoa học và công nghệ phù hợp, hữu hiệu nhằm bảo tồn di sản văn hoá này.

Một di sản văn hoá vô giá mà bao nhiêu thế hệ tổ tiên đă sáng tạo nên và ḷng đất này đă ǵn giữ chúng được cho đến hôm nay, v́ thế chúng ta phải gánh vác trách nhiệm này tiếp tục bảo tồn, phát huy rồi chuyển giao lại cho các thế hệ mai sau  với  nhiệm vụ cao cả là G̀N GIỮ BẢO TỒN MỘT DI SẢN VĂN HOÁ VÔ GIÁ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

 

Nội dung chính

Hoàng Thành Thăng Long – những  phát hiện khảo cổ học

 
 

Hoàng Thành Thăng Long – Góc nh́n của người trong cuộc

 
 
 
 
 

 

HOÀNG THÀNH THĂNG LONG – NHỮNG  PHÁT HIỆN KHẢO CỔ HỌC

 

I. CỘI NGUỒN LỊCH SỬ

 

1.Vài nét về lịch sử định đô và kiến tạo Hoàng Thành Thăng Long
2.Phát lộ di tích Hoàng thành Thăng Long

3.Sự thăng trầm của Hoàng thành

1. Vài nét về lịch sử định đô và kiến tạo Hoàng Thành Thăng Long

Lư Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lư (1009 - 1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh B́nh) ngày 2-11 Kỷ Dậu (21 – 11 - 1009). Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long. Ngay trong mùa thu năm đó, nhà Lư đă khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đ́nh và hoàng gia. Trung tâm là điện Càn Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và Giảng Vơ, phía sau là điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Đến cuối năm 1010, 8 điện 3 cung đă hoàn thành. Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm. Một ṿng thành bao quanh các cung điện cũng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành hay Phượng Thành. Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này. Thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Tuy c̣n những ư kiến khác nhau, nhưng căn cứ vào sử liệu và di tích c̣n lại, có thể xác định cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mă. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nh́n ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đ́nh Phùng hiện nay. Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia. Trong đời Lư, các kiến trúc trong Hoàng Thành c̣n qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm.

Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của Kinh Thành. Phía ngoài, cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp. Một ṿng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại La hay La Thành.

  Bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức (1490)

 Ṿng thành này vừa làm chức năng thành luỹ bảo vệ, vừa là đê ngăn lũ lụt. Thành được đắp mới và có tận dụng, tu bổ một phần thành Đại La cũ đời Đường. Thành Đại La phía đông chạy dọc theo hữu ngạn sông Nhị như một đoạn đê của sông này từ Bến Nứa đến Ô Đống Mác, phía bắc dựa theo hữu ngạn sông Tô Lịch phía nam Hồ Tây từ Bưởi đến Hàng Buồm ngày nay, phía tây theo tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy, phía nam theo sông Kim Ngưu qua Giảng Vơ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền, đến Ô Đống Mác. Thành Đại La đời Lư mở các cửa: Triều Đông (dốc Ḥe Nhai), Tây Dương (Cầu Giấy), Trường Quảng (Ô Chợ Dừa), Cửa Nam (Ô Cầu Dền), Vạn Xuân (Ô Đống Mác). Thành Đại La được bao bọc mặt ngoài bởi ba con sông: sông Nhị, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu và được tận dụng như những con hào tự nhiên. Một đặc điểm nổi bật của cảnh quan thiên nhiên của thành Thăng Long là nhiều sông hồ. Có thể nói Thăng Long - Hà Nội là một thành phố sông-hồ và ngay từ khi kiến lập, nhà Lư đă biết tận dụng địa thế tự nhiên này trong qui hoạch xây dựng nhằm biến những sông, hồ đó thành những con hào tự nhiên, những giao thông đường thuỷ tiện lợi và một hệ thống thoát nước, điều tiết môi trường, bảo vệ sinh thái. V́ vậy mặt bằng các ṿng thành Thăng Long không coi trọng tính kỷ hà, đối xứng, vuông vắn mà uốn ḿnh theo địa h́nh, thích nghi và tận dụng điều kiện thiên nhiên.

Trong những biến loạn cuối đời Lư, Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề. Sau khi thành lập, nhà Trần phải đắp lại thành, xây lại các cung điện, nhưng vị trí, qui mô của Hoàng Thành, thường gọi là Long Phượng Thành, không thay đổi.

Thời Lê sơ, Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428, xây lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn c̣n trong thành Hà Nội. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập Bản đồ Hồng Đức c̣n lại đến nay đă qua nhiều lần sao chép lại về sau, nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt, trong đó có bản đồ thành Đông Kinh. Qua bản đồ này, có thể h́nh dung được qui mô và cấu trúc của Hoàng Thành và Cấm Thành của thành Thăng Long thế kỷ XV cùng một số cung điện đương thời

Sang thời Nguyễn, thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà c̣n thu nhỏ về qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa. Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn  Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm Cột Cờ, Cửa Bắc thời Nguyễn.

H́nh vuông trên bản đồ là Hoàng thành Hà nội trong bản đồ Hà Nội năm 1885.

 
Đầu trang    Quay lại

 

 

2. Phát lộ di tích Hoàng thành Thăng Long

Theo Luật di sản văn hoá, trước khi thực hiện dự án xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đ́nh, trên khu vực nằm giữa các đường phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn, Chính phủ cho phép Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật trên diện rộng. Từ tháng 12/2002 đến nay, đă khai quật trên diện tích hơn 19.000 m2. Đây là quy mô khai quật khảo cổ học lớn nhất ở Việt Nam và cũng vào loại lớn nhất ở Đông Nam Á. Từ đó đă phát lộ một phức hệ di tích – di vật rất phong phú, đa dạng từ thành Đại La (thế kỷ VII - IX) đến thành Thăng Long (thế kỷ Xl -XVIII) và thành Hà Nội (thế kỷ XIX).

Trên cơ sở phát hiện khảo cổ học này, các nhà khảo cổ học c̣n phải dành nhiều thời gian để chỉnh lư hiện vật và hoàn chỉnh hồ sơ khoa học về các di tích, di vật. Về phương diện khoa học, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành liên quan như khảo cổ học, sử học, kiến trúc, văn hoá, địa lư, địa chất, môi trường,,, cũng cần có nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận hàng loạt vấn đề như cảnh quan tự nhiên, cấu tạo của các sông, hồ, quan hệ giữa các lớp đất; tên gọi, chức năng, niên đại của các di tích kiến trúc; cấu trúc của khu di tích và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử; phân loại và xác định nguồn gốc, niên đại các di vật. V́ vậy không có ǵ ngạc nhiên, trong một vài hội thảo khoa học hay trên báo chí, xuất hiện một số ư kiến khác nhau về những vấn đề khoa học cụ thể này. Tuy nhiên, trên tổng thể đă có đủ cơ sở khoa học để đưa ra những đánh giá khái quát về giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích đă phát hiện.

 

Dấu tích kiến trúc thời Lư - Trần ở hố D4 - D6 (khu D)

Chụp lại từ cuốn Hoàng Thành Thăng Long, quà tặng cho các đại biểu quốc tế tham dự Hội nghị APEC 2006.

Dấu vết nền cung điện thời Lư ở Hố A20

Khu vực khai quật hiện nay nằm về phía tây của điện Kính Thiên trong Hoàng Thành thời Lê sơ. Rơ ràng đây là di tích của một phần phía tây Hoàng Thành Thăng Long thời Lư, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng thế kỷ XI - XVIII, ngược lên thành Đại La thế kỷ VII - IX và kéo dài đến thành Hà Nội thế kỷ XIX. Khu di tích bộc lộ một bề dày lịch sử từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX gồm thời tiền Thăng Long, thời Thăng Long và Hà Nội. Các di tích và tầng văn hóa chồng xếp lên nhau qua nhiều thời kỳ lịch sử một cách khá liên tục. Thật hiếm có một khu di tích lịch sử-văn hoá trải dài qua nhiều thời kỳ lịch sử như vậy giữa vùng đất trung tâm của thủ đô và cũng thật hiếm có thủ đô một nước có lịch sử lâu đời lại phát hiện một quần thể di tích chảy dài suốt bề dày lịch sử như vậy.

Các di tích kiến trúc và một khối lượng rất lớn di vật cho thấy một phần qui mô và diện mạo của Hoàng Thành cùng đời sống cung đ́nh của vua quan, quư tộc qua các thời kỳ lịch sử. Tầng tầng lớp lớp di tích - di vật hiện lên như một bộ sử ngh́n năm văn hiến của Thăng Long – Hà Nội phản chiếu tŕnh độ và bản sắc dân tộc của một trung tâm văn hóa lớn nhất và lâu đời nhất của đất nước.

Về phương diện lịch sử, phát hiện khảo cổ học này cung cấp nhiều cứ liệu khoa học để xác định vị trí trung tâm của thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh, để hiểu thêm mối quan hệ giữa thành Đại La với thành Thăng Long thời Lư, Trần, Lê và thành Hà Nội thời Nguyễn. Thành Đại La qua nhiều lần xây dựng, từ Tử Thành do Khâu Hoà xây năm 618 chỉ 900 bộ (khoảng 1,65 km), La Thành do Trương Bá Nghi xây năm 767 rồi Triệu Xương đắp thêm năm 791, thành Đại La do Trương Chu xây năm 808 mà La Thành bên ngoài dài 2000 bộ (khoảng 3,70 km) rồi Lư Nguyên Gia dời thành và Cao Biền mở rộng thêm thành 1982 trượng (khoảng 6,5 km), ngoài có đê dài 2125 trượng (khoảng 7 km). Đó là toà thành có qui mô lớn nhất trong thời Bắc thuộc. Tại khu vực khai quật, đă t́m thấy dấu tích thành Đại La trên cả bốn khu A, B, C, D, chứng tỏ vùng này nằm trong thành Đại La. Bên trên dấu tích Đại La là di tích kiến trúc và các di vật thời Lư. Điều đó chứng tỏ vua Lư Thái Tổ đă dời đô từ Hoa Lư về đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La đúng như Chiếu dời đô, đổi tên là thành Thăng Long và buổi đầu đă sử dụng toà thành này cùng một số kiến trúc có sẵn rồi sửa sang, xây dựng thêm những cung điện mới. Phạm vi của Hoàng Thành từ thời Lư, Trần sang Lê sơ thay đổi như thế nào c̣n phải nghiên cứu thêm, nhưng qua phát hiện khảo cổ học ở Ba Đ́nh th́ rơ ràng khu vực này là một bộ phận phía tây của Hoàng Thành xưa và không thay đổi. Hơn nữa, theo bản đồ thành Đông Kinh thời Hồng Đức th́ khu vực khai quật này nằm trong phạm vi cấm thành của Hoàng Thành. Kết quả khai quật khảo cổ học kết hợp với tư liệu thư tịch và bản đồ cổ cho phép h́nh dung khu trung tâm của Hoàng Thành rơ nét hơn.

Phát hiện này c̣n cung cấp thông tin cho biết trong ḷng đất Hoàng thành Thăng Long xưa c̣n bảo tồn nhiều di tích di vật quư. Từ đây có thể đưa ra khả năng mở rộng diện điều tra và khai quật, xây dựng quy hoạch bảo tồn một khu vực di tích lịch sử  văn hoá của kinh thành Thăng Long, thành Hà Nội cổ và mở rộng đến các di tích cách mạng và kháng chiến thời đại Hồ Chí Minh như Hội trường Ba Đ́nh, Lăng và Nhà sàn Bác Hồ, Tổng hành dinh Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ, Hội trường Ba Đ́nh, kéo dài từ thế kỷ thứ VII (hi vọng có thể phát hiện những di tích, di vật sớm hơn) đến thế kỷ XX. Đây là một di sản văn hóa vô giá của dân tộc nằm giữa thủ đô Hà Nội và nếu nghiên cứu, bảo tồn tốt, có thể được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Một di sản văn hoá như vậy sẽ tăng thêm vị thế của thủ đô Hà Nội, phát huy tác dụng sâu sắc trong giáo dục truyền thống dân tộc cũng như trong các hoạt động giao lưu văn hoá và du lịch. Chỉ một bộ phận di sản đă được phát hiện ở Ba Đ́nh hiện nay đă làm xúc động biết bao những người có dịp đến tham quan, chiêm ngưỡng và cả những người chỉ mới được nghe tin và xem ảnh qua các phương tiện thông tin đại chúng.

 

Đầu trang    Quay lại

 

 

3. Sự thăng trầm của Hoàng thành

Tô Lịch - Nùng Sơn theo phong thủy xưa là hai biểu tượng của nước non Thăng Long - Hà Nội. Nói theo sinh thái học nhân văn th́ Thăng Long - Hà Nội là một đô thị sông - hồ được bao bọc bởi một “tứ giác nước” 30 km “đường đê La Thành”:

 Nhị Hà quanh bắc sang đông

Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này.

Tô Lịch tách ra khỏi Nhị Hà ở khoảng chợ Gạo, chảy qua giữa Ngơ Gạch - Hàng Buồm, luồn qua Cầu Đông - Hàng Đường - Hàng Cá - Cống Chéo Hàng Lược, ngoằn ngoèo theo đường Quán Thánh rồi chảy xuống Thụy Khuê - Hồ Khẩu...

Kim Ngưu mở cửa vào Hồ Tây (cũng có tên khác là hồ Kim Ngưu), chảy theo chiều bắc – nam thành Ngọc Hà, dọc dài đường Ông Ích Khiêm - Lê Trực (nay là cống ngầm) luồn qua đường Cát Linh mà chảy xuống Hào Nam

Thích nghi tối ưu - tối đa với môi trường tự nhiên sông nước trên đại thể được vạch ra tóm gọn như trên, ta dễ dàng hiểu nhà phong thủy Cao Biền (thế kỷ IX) và các nhà quy hoạch La Thành - Đại La Thành - Long Phượng Thành sẽ lấy núi Nùng làm trung điểm và các đường - vệt nước sông hồ Tô Lịch - Kim Ngưu (Ngọc Hà) làm “hào” mà đắp xây các lũy thành. Các tấm bản đồ Thăng Long thành đời Lê, tuy không vẽ theo họa pháp địa lư học tân thời, về cơ bản cũng cho ta h́nh dung được điều đó (trong bài này tôi xin phép được sử dụng bản đồ do PGS.TS Ngô Đức Thọ vừa sưu tầm được trong cuốn Thiên tải nhàn đàm của Đàm Nghĩa Am viết và vẽ lại năm Gia Long thứ 9 - 1810).

Theo “thủ chiếu” của Lư Thái Tổ th́ ngài muốn dời đô từ Hoa Lư ra “thành Đại La cố đô của Cao Vương”. Cố nhiên Ngài và các vua kế vị về sau cũng xây dựng thêm nhiều cung điện,cầu cống.

Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn (xây trên nền Cửa Bắc thời Lê)

 Nhà Trần thay ngôi nhà Lư một cách ḥa b́nh cũng sử dụng lại Hoàng thành Thăng Long và có xây dựng, sửa chữa thêm, nhất là sau những cơn binh hỏa chống Mông - Nguyên. Nhà Hồ dựng Tây Đô ở xứ Thanh, đổi tên Thăng Long thành Đông Đô và có dỡ một vài cung điện ở Thăng Long đưa vào Tây Đô. Sau 20 năm Minh thuộc và chống Minh, tháng 4/1428, Lê Lợi, người sáng nghiệp triều Lê vào yên vị ở Đông Đô (1430 đổi là Đông Kinh, nhưng cái tên tuyệt đẹp Thăng Long vẫn tồn tại dài dài). Nhà Mạc xây Dương Kinh ở quê nhà gần biển, ít xây dựng ở Đông Kinh ngoài việc đắp thêm nhiều lũy thành ở phía nam kinh thành để chống Trịnh. Thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh xây Vương phủ riêng bên bờ tả - hữu Vọng Hồ (Hồ Hoàn Kiếm). Vua Lê vẫn ngồi trên ngôi hư vị ở hoàng thành cũ, có đổ nát đi hơn là xây dựng thêm.

Rồi Gia Long và Minh Mạng phá Hoàng Thành cũ, xây Bắc Thành, tỉnh thành Hà Nội mới theo kiểu Vauban. Thi hào Nguyễn Du than thở:

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung.

Tạm dịch:

Cung điện ngàn năm thành đường cái

Một ṭa thành mới mất cung xưa.

Bà Huyện Thanh Quan hoài cổ Thăng Long Thành:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam - Hà Nội rơi vào tay thực dân Pháp. Pháp phá thành Hà Nội để xây “khu phố Tây”, khu nhà binh Pháp, sân vận động Mangin (nay là Trung tâm Thể dục thể thao quân đội)... Cái thiêng “Nùng Sơn chính khí” với ṭa điện Kính Thiên xây bên trên đă bị giải thiêng.

Kính Thiên ngai ngự thếp vàng

Tây ngồi đánh chén cùng đoàn thanh lâu.

Điện Kính Thiên c̣n 4 bệ 9 bậc (cửu trùng) Rồng đá thời đầu Lê. “Cô Tư Hồng” đấu thầu phá thành, chỉ dùng gạch của thành cũ đă xây được vài khu phố mới ở đường Nguyễn Biểu - Đặng Dung nay, sau khi dùng phế tích lấp hồ Cổ Ngựa - cái hồ kéo dài Hồ Tây - hồ Trúc Bạch với hồ Hàng Đậu - hồ Hàng Khoai - hồ Hàng Đào nối với hồ Hoàn Kiếm qua Cầu Gỗ (cái cầu gỗ ấy năm 1901 vẫn c̣n - nay th́ chỉ c̣n cái tên “Phố Cầu Gỗ”).

  Những dấu vết c̣n lại

Ở phía bắc th́ c̣n Chính Bắc Môn với một vết đạn chưa mờ trên Cửa Bắc. Vết tích trận giặc 1882 và việc ngài Hoàng Diệu tử tiết. Lùi vào một chút th́ c̣n Hậu Lâu, Pháp gọi là “Lầu Công Chúa” mà kiến trúc đă bị làm biến dạng, lai căng đi rất nhiều rồi.

Năm 2001, giới khảo cổ học được phép đào ở khu vực quanh Hậu Lâu và Cửa Bắc. Phía dưới Cửa Bắc hiện tồn, các nhà khảo cổ đă t́m thấy một Cửa Bắc khác thời Lê, rộng hơn, ch́m sâu hơn, đang rải nylon lấp cát vùi lại, chờ công cuộc khai quật quy mô lớn hơn. C̣n ở quanh Hậu Lâu, đă t́m thấy tảng đá kê chân cột chạm hoa sen thời Lư cùng nhiều hiện vật khác thời Lê, nhưng đă được “dùng lại” với công năng khác. Khảo cổ học xác định đây có thể là một cái bến đợi ở Hoàng Thành bắc, thông với sông Tô Lịch (đường Quán Thánh - Thụy Khuê). Cũng đă giăng nylon vùi cát lấp lại chờ khai quật tiếp.

Ở phía nam, may mà c̣n Đoan Môn, năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn c̣n sừng sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đă t́m thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lư. Nếu khai quật tiếp, sẽ có thể thấy cả con đường từ Đoan Môn. Phía nam nữa là chợ Cửa Nam (may c̣n cái tên, cửa Đại Hưng (Nam) đă bị phá). Ngoài cửa Nam, c̣n có mấy cái tên đất Đ́nh Ngang (nơi dừng lại để soát xét giấy tờ, thẻ bài trước khi vào Hoàng Thành), Cấm Chỉ (dừng nơi khu cấm) và cái vườn hoa, thời Pháp thuộc có dựng tượng “Bà đầm x̣e”. Căn cứ vào câu thơ của nho sĩ Hà Thành cuối thế kỷ XIX:

Tới Quảng Minh đ́nh tớ muốn nghe

Quang Minh không thấy, thấy Đầm X̣e!

Cột cờ thành Hà Nội thời Nguyễn. Quang cảnh trước khi doanh trại binh lính Pháp được dựng lên xung quanh

Quảng Minh đ́nh đời Minh Mạng, là nơi hàng tháng có quan tới giảng “Thập điều” (10 điều trung hiếu tiết nghĩa) bắt dân đi nghe.

Quảng Minh đ́nh, như sử chép là xây dựng trên nền Quảng Văn đ́nh đời Lê Thánh Tông, là nơi dán bố cáo, mệnh lệnh của vua quan, cho dân biết mà thi hành.

Nếu được phép khai quật vườn hoa Cửa Nam, nhà khảo cổ có thể t́m thấy nền cũ Quảng Minh đ́nh rồi Quảng Văn đ́nh. Sẽ cũng là điều lư thú.

Ở phía đông, th́ trên mặt đất c̣n di tích Đông Môn đ́nh (Đ́nh Cửa Đông) nay đeo biển số nhà 10 Hàng Cân và Đông Môn tự (Chùa Cửa Đông), nay đeo biển số nhà 38b Hàng Đường mà nhiều tấm bia cổ c̣n giữ được ở trong chùa có niên đại Lê - Nguyễn khẳng định là chùa được xây dựng ngay phía ngoài cửa Đông Hoa, Hoàng Thành Lê. Cuộc điền dă khảo cổ - nhân học văn hóa cuối năm 2002 đă xác định được cửa Đông Hoa giữa số 4 (Đông Cung) và số 5 (Càn (Kiền) điện trên bản đồ, nay đánh số 4b) là ở nền nhà Hội quán Phúc Kiến phố Lăn Ông hiện nay. Các bia Gia Long, Tự Đức c̣n giữ trong nhà hội quán nói là “Mân thuyền” (thuyền đất Mân Phúc Kiến) đến Thăng Long buôn bán, mua được khu đất hoang, thuộc cửa Đông Hoa thời Lê cũ, xây nhà hội quán.

 

Tượng đầu chim phượng và lá đề trang trí đôi chim phượng t́m thấy ở hố A2,A3

Chi tiết di vật đầu phượng

 

Một dải đồ gốm sứ thời Lê dùng trong hoàng triều t́m thấy bên ḍng sông cổ ở hố A11 

Về phía tây Hoàng Thành Lê, th́ c̣n chứng cứ: Khán Sơn. Toàn thư chép là ở góc tây bắc Hoàng Thành, nơi vua Lê Thánh Tông và các đại quan ngự xem (khán) quân sĩ tập trận (số 11 trên bản đồ). Thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp sai san phẳng Khán Sơn làm nền, trên đó xây dựng trường trung học mang tên viên toàn quyền Albert Sarraut, nay được cải tạo, sửa thành trụ sở TƯ Đảng CSVN.

Chùa Một Cột (tên chữ là chùa Diên Hựu), vẫn theo sử chép là được xây dựng thời Lư Thánh Tông (1049) cầu cho vua sống lâu. Tấm bia Thiên phù duệ vũ (1 121) trên chùa Đọi (Hà Nam - “Sùng thiện diên linh tháp bi kư”) nói chùa Diên Hựu được xây dựng lại hoành tráng vào thời Lư Nhân Tông.

Hướng tây cấm chi danh viên,

Quyết Diên Hựu chi ngự tự

(Hướng về khu vườn nổi tiếng phía tây cấm thành

Xây dựng ngôi chùa ngự (của vua sai xây - Diên Hựu).

Chùa Một Cột nay, trải bao lần tàn phá, xây dựng lại (cái hiện thể chùa Một Cột là được dựng lại tháng 4/1955) nhưng vẫn ở địa điểm nguyên sơ.

Vậy chùa Một Cột là một điểm mốc ghi dấu Cấm thành thời Lư.

Chùa Am Cây Đề (Thanh Ninh tự) hiện c̣n ở cuối đường Ông Ích Khiêm, đầu đường Sơn Tây. Hai tấm bia Gia Long c̣n giữ lại được trong chùa cho ta biết: Chùa ở ngay sát phía ngoài hành lang phía tây của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê. Thời đầu Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786) có một vị cư sĩ ở Bắc Giang tới đây, xây một cái am dưới cây đề trong chùa để thờ và giải hóa đám cô hồn không nơi nương tựa. Cuối năm 2002, giới khảo cổ đă đến tận nơi (nay trong lănh thổ xí nghiệp may Chiến Thắng). Cây đề vẫn c̣n đó, cổ thụ mấy trăm năm, rễ gốc ôm vào ḷng một cái am diện tích khoảng 9m2, xây hoàn toàn bằng gạch vồ Lê Cảnh Hưng. Công nhân xí nghiệp may vẫn giữ nguyên vẹn cái am (thời chống Mỹ dùng làm nơi trú ẩn máy bay Mỹ ném bom), có ban thờ đèn nhang liên tục...

    Dấu tích dưới ḷng đất 

Thế là rơ! Căn cứ vào sách vở, bi kư, bản đồ, lời truyền miệng, một số di tích trên mặt đất, giới khảo cổ đă xác định được quy mô Hoàng Thành Thăng Long Lư - Trần - Lê khoảng 400ha. Đông là ở khoảng phố Lăn Ông, tây ở khoảng Ngọc Hà, nam ở khoảng Chợ Cửa Nam - Hàng Đẫy (Nguyễn Thái Học), bắc ở khoảng tiếp gần đường Quán Thánh.

Khu di tích khảo cổ vừa khai quật 14.000m2 đến 16.000m2 phía tây Hoàng thành Lư - Trần - Lê. Mùa hè năm 1973, sau Hiệp định Paris, Nhà nước ta mở công trường xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo xây dựng Lăng, có dự cảm là nơi đây kề cận Hoàng Thành Trần - Lê nên yêu cầu t́m hỏi cán bộ khảo cổ có chút am hiểu về khu vực có thể có di tích lịch sử này. Tôi cùng với ông Đỗ Văn Ninh và một cán bộ kỹ thuật (đo vẽ khảo cổ) được thu nhận vào theo dơi công việc đào móng xây dựng công trường Lăng Bác. Chúng tôi đă thấy ǵ?

- Thấy được Cửa Tây - Dương Mă Thành - của cái thành đời Nguyễn cùng nhiều đoạn thành, nền là lớp đá ong rất dày, trên xây gạch Nguyễn lẫn lộn gạch vồ Lê.

- Thấy nhiều di vật (gạch, ngói lưu li xanh vàng, đồ gốm sứ Lư - Trần - Lê - Nguyễn...).

- Thấy những đống xương: người, thú (trâu ḅ, lợn, gà...), có xương bả vai trâu có một đinh ba sắt xuyên qua (lễ hiến tế).

Vườn hoa Cửa Nam, nơi xưa kia có tượng "Bà Đầm Xoè"

Giếng cổ thời Đại La và dấu vết cung điện thời Lư Trần ở hố B9-B5

Gạch "Đại Việt quốc quân thành chuyền" (gạch xây thành nước  Đại Việt) thời  Đinh - Lê, thế kỷ 10, t́m thấy ở hố A1  

Gạch "Lư gia đệ tam đế Long Thụy Thái B́nh tứ niên tạo"  (chế tạo năm Long Thụy Thái B́nh 4 (1057) thời vua Lư Thánh Tông t́m thấy ở hố B1

 

 

Thấy một vài cái giếng xây bằng gạch ''Giang Tây quân'' (chữ in trên gạch, niên đại thuộc Đường thế kỷ VII - IX), có gạch in chữ ''Lư gia đệ tam đế Long Thụy thái b́nh tứ niên tạo'' (làm năm Long Thụy thái b́nh thứ tư, đời vua thứ 3 nhà Lư - 1057) v.v... (thời ấy phải nghiêm ngặt tuân thủ định chế của công trường: Không được mang vào và mang ra bất cứ hiện vật ǵ, không được hỏi, được nói bất cứ cái ǵ ḿnh biết và không biết, không được đi ra khỏi nơi quy định...)

Với công trường Lăng Bác (cũng như việc t́m thấy bộ xương voi ở 42 Trần Phú khi sửa đường), chưa thể nói là đă có một nền khảo cổ học đô thị Việt Nam (khảo cổ học mới Việt Nam được phát sinh và phát triển từ cuối thập niên 50 và thập niên 60 của thế kỷ XX, song chủ yếu là khảo cổ ở vùng thôn dă - hang động - đồi g̣ (Ḥa B́nh, Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Đông Sơn v.v... Có khảo cổ ở Cổ Loa, cố đô Âu Lạc, nhưng Cổ Loa đă trở thành làng - xă, chưa thể coi là khảo cổ học đô thị).

Phải chờ đến cuối năm 2002 và năm 2003, với việc Nhà nước cho mở công trường khảo cổ khu vực định xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đ́nh (mới) với diện tích khai quật lớn nhất từ trước đến nay, giữa trung tâm Hà Nội hiện thời (hàng chục ngh́n mét vuông), ta mới có thể nói là bắt đầu có một nền khảo cổ học đô thị Việt Nam (Có làm khảo cổ ở Hội An nhưng chủ yếu vẫn chỉ là khảo cổ vùng động cát ở khu vực ŕa thị xă và ở Cù Lao Chàm).

Với tư cách là người tư vấn của công trường của Ban chủ nhiệm dự án khảo cổ, chỉ xin nhấn mạnh mấy điều mà tôi cho là chủ chốt như sau:

 

·         Chưa từng có một công trường khảo cổ nào ở nước ta (và khu vực) mang một tầm cỡ lớn như vậy, không chỉ về quy mô (hàng vạn mét vuông) mà cả về tầm quan trọng: Ta đă đụng đến và, nói như ngôn ngữ khảo cổ học, nh́n thấy được, sờ mó được, sở hữu được một di sản văn hiến ngàn năm và trên cả ngàn năm của một Thủ đô - Kinh thành - Đất nước.

·         Mấy triệu hiện vật lịch sử t́m thấy - trên một diện tích c̣n quá nhỏ so với qui mô Hoàng Thành - Kinh Thành Thăng Long - Hà Nội.

·         Nay được phép của Bộ Chính trị cho giới khảo cổ tiếp tục đào t́m trên một diện tích lớn hơn nữa (khoảng trên 20.000m2 nữa), vẫn trong khu vực tây Hoàng Thành th́ tôi cả quyết rằng giới khảo cổ - với Viện Khảo cổ là trung tâm - sẽ nhất định t́m thấy nhiều di tích - di vật hiếm quư hơn nữa để góp phần làm sáng tỏ hơn cái sáng giá của nền văn hiến nhiều ngàn năm của đất nước.

Nó sẽ là cái khôn lường nếu ta muốn dùng một khái niệm Phật giáo: Vô lượng và vô biên. V́ như viện sĩ Nga Anutrin đă nói từ lâu, di vật, di tích khảo cổ chỉ không t́m thấy ở nơi nào nhà khảo cổ không chịu đến và không chịu - hay không đủ kinh phí để khai quật.

·         Cái quư nhất, cái quan trọng nhất, phát hiện có ư nghĩa nhất của cuộc khai quật này là các phế tích kiến trúc (cùng với các di vật - hiện vật có liên quan đến các kiến trúc) của các thời, từ Bắc thuộc (Tùy - Đường thế kỷ VII - IX) qua Lư - Trần - Lê, đến Nguyễn.

Khảo cổ học lịch sử việt Nam - nói rộng, và khảo cổ học kiến trúc, nói hẹp, trước - nay mới chỉ khẳng định được kiến trúc cổ truyền Việt là các kiến trúc thuộc “ḍng” chịu lực bằng khung gỗ liên kết (chứ không phải bằng tường chịu lực như truyền thống kiến trúc Tây Âu, châu Âu). Xương sống của hệ khung chịu lực ấy là hệ thống cột. Tất cả sức nặng của công tŕnh, của ngôi nhà dồn xuống các cây cột. Và, người Việt đă kê dưới chân các cây cột ấy những tảng đá lớn. Những chân tảng đá ấy vừa chịu lực vừa chống lún, chống nghiêng cho kiến trúc.

Cuộc khai quật này đă t́m thấy những chân tảng bằng đá. Nhưng, ở khu vực này nền đất yếu (v́ rất gần sông) nên bên dưới các chân tảng đă được gia cố rất cẩn thận bằng các hố/cột sỏi, được lèn - đầm chặt. Một số chân tảng c̣n nằm đúng vị trí trên các hố sỏi gia cố. Rất nhiều chân tảng khác đă mất, đă được tận dụng lại ở công tŕnh khác nên chúng ta chỉ c̣n thấy các “trụ sỏi”. Chỉ biết rằng, quy mô các kiến trúc ở đây là lớn. Hầu như các kiến trúc c̣n tồn tại trên mặt đất hiện nay không có bước gian, chiều dài, chiều rộng lớn đến như thế.

Do vậy, ta có thể kết luận rằng: Công tŕnh khảo cổ ở khu vực Ba Đ́nh đă thành công rực rỡ, đă lấy ra từ ḷng đất các di tích và di vật vô giá.

 

Đầu trang    Quay lại

 

II. NHẬN ĐỊNH BAN ĐẦU VỀ MỘT SỐ PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC

Một kiến trúc nhiều gian
Các kiến trúc kiểu “ lầu lục giác”
Phế tích kiến trúc trong các hố thước phía nam khu A
Nhận dạng di tích
Đồ gốm trong Hoàng thành Thăng Long - Gốm thời Trần
Đồ gốm trong Hoàng thành Thăng Long - Gốm thời Lê

 

Khu A trong công trường khai quật khu vực xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đ́nh mới có chiều dài theo hướng Bắc – Nam 140,14m, chiều rộng theo hướng Đông Tây 37,85m, gồm các hố được kư hiệu từ A1 đến A22. Đây là khu vực có nhiều phế tích kiến trúc tiêu biểu đáng cho chúng ta lưu ư.

Một kiến trúc nhiều gian

 

 

Chân tảng đá kê cột đặt trên trụ sỏi ở kiến trúc thời Lư hố A20

Đoạn đuờng lát gạch ở phía Đông khu A 

Chi tiết "trụ móng sỏi" kê chân cột của kiến trúc nhỏ "lầu lục giác"

Giai đoạn đầu, tại các hố A1, A1MR, A2, A2MR, A3, A4, A9, A10, A11, A12, A13 trong các lớp đất ở độ sâu trung b́nh trên dưới – 1,50m so với “cốt” cao độ của mặt bậc thềm đá Đoan Môn, (được lấy làm “cốt” chuẩn 0.00 cho cả khu vực khai quật) xuất lộ những ô sỏi trộn lẫn đất sét. Sỏi ở đây khá thống nhất về kích thước, chỉ khoảng bằng hoặc to hơn đầu ngón chân cái, chứng tỏ đă được chọn lọc. Hiện vật thu được trong các lớp đất này được xác định có niên đại thời Lư. Các ô sỏi này thường có h́nh gần vuông, mỗi cạnh khoảng 1,30m và ăn sâu xuống các lớp dưới, dày trên dưới 1,00m. Điều này chứng tỏ đây là các hố đào có chủ đích để đầm - nhồi sỏi cuộn với đất sét. Đáy của các hố sỏi này nằm trong lớp đất chứa các hiện vật được xác định có niên đại Đinh - Tiền Lê.

 

Cửa và hệ thống cống thoát nước phía Đông kiến trúc lớn phía Bắc khu A

 Dấu vết con đường trải sỏi và hệ thống cống thoát nước của cung điện thời Lư - Trần ở hố B5

 Toàn cảnh di tích kiến trúc cung điện khu A1

Các ô sỏi nói trên xuất hiện trong các hố từ A1 đến A18. Tổng cộng có tất cả 40 ô sỏi, xếp thành 04 hàng dọc (hai hàng phía đông có 10 ô trong một hàng, hai hàng phía tây mỗi hàng chỉ có 09 ô). Chúng tôi cho rằng đây chính lá các hố sỏi gia cố dưới các chân tảng đá kê dưới chân các cột. Nói chính xác, theo ngôn ngữ kiến trúc – xây dựng, đó là các móng trụ. Kết quả đo đạc đă giúp khẳng định đây là phế tích của một kiến trúc có bộ khung chịu lực bằng gỗ có 04 hàng chân cột. Khoảng cách giữa các cột Quân với các cột Cái là khoảng 3,00m. Khoảng cách giữa các cột Cái là khoảng 6,00m. Từ Bắc xuống Nam đă xác định được 10 v́, nghĩa là ít nhất kiến trúc này có 09 gian. (Chúng tôi chưa thể khẳng định về số gian bởi dấu vết của kiến trúc này c̣n phát triển kéo dài về phía Bắc, ngoài khu vực khai quật).

Bước gian (khoảng cách giữa hai v́) của kiến trúc này rất lớn, khoảng 5,80m – 6,00m. Trên thực tế, bước gian của các di tích kiến trúc bằng gỗ cổ truyền hiện c̣n đứng vững trên mặt đất thường nhỏ hơn. Tuy nhiên, theo PGS. Trần Lâm Biền hai di tích chùa Thầy (Hà Tây) và đền Lê (Thanh Hoá) cũng có bước gian 6,00m.

 

Dấu tích kiến trúc lớn nhiều gian ở Bắc khu A. H́nh người đứng giả định cho các cột của kiến trúc

 Toàn cảnh dấu tích kiến trúc thời Lư - Trần - Lê ở hố D2
 

 Chi tiết đoạn cống thoát nước lớn thời Trần ở hố D7

Chưa lư giải được nguyên nhân của sự chênh lệch về số lượng các móng trụ của các hàng móng trụ phía Tây nhưng theo chúng tôi ở đây chắc chắn đă có 04 móng trụ sỏi gia cố cho 01 chân tảng cột Cái và 03 chân tảng cột Quân. Khoảng cách giữa hai hàng móng trụ sỏi cuối cùng chỉ là 4,1m chứng tỏ đây chính là không gian của chái phía Nam.

Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía Đông khoảng 4,5m và chạy dài suốt chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” nói trên c̣n thấy xuất lộ một cống thoát nước được xây-xếp bằng gạch (hoàn toàn không thấy dấu vết của chất kết dính dạng vôi vữa), ḷng cống rộng 0,17m – sâu 0,20m. Ngoài lớp gạch đặt nằm làm đáy, hai bên thành của rănh thoát nước này được xếp nghiêng hai lớp gạch. Kích thước trung b́nh của gạch ở đây là 0,36m x 0,20m x 0,05m). Về phía Đông, sát cạnh cống thoát nước này là một thềm gạch rộng 0,76m chạy dọc suốt chiều dài đường cống. Gạch lát thềm là gạch vuông 0,38m x 0,38m x 0,07m. Có chỗ c̣n lát lẫn cả gạch in hoa.

Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía tây khoảng 2,5m cũng xuất lộ một cống thoát nước khác. Dấu vết của cống phía tây bị đứt quăng ở góc Tây Nam “toà nhà nhiều gian”, khu vực bị mất 04 móng trụ gia cố chân tảng. Gạch xây-xếp cống thoát nước này là loại chuyên dụng, được sản xuất chỉ để dùng làm cống-rănh. Các viên dùng lát đáy có mặt cắt h́nh thang cân (cạnh ngắn 0,16m - cạnh dài 0,22m - dầy 0,08). Những viên dựng hai bên thành có h́nh b́nh hành (cạnh ngắn 0,07m, cạnh dài 2,44m). Với h́nh dáng đặc biệt như vậy nên chỉ cần đào rănh, đặt các viên gạch chuyên dụng này xuống là thành cống (đáy rộng 0,22m - miệng rộng 0,32m – sâu 0,30m).

Cách tim của các hố sỏi gia cố chân tảng cột Quân phía nam khoảng 4,5m lại cũng xuất lộ một đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng tương tự. Các đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng phía tây và phía nam “toà nhà nhiều gian” nếu c̣n nguyên vẹn sẽ “bắt” vuông góc chái Tây Nam.

Theo chúng tôi, các đường cống này chính là các rănh thoát nước mưa của “toà nhà nhiều gian”. Các cống này đều không có nắp để có thể hứng nước mưa rơi thẳng xuống từ hàng ngói lợp cuối cùng của mái (dân gian thường gọi là giọt gianh). Nghĩa là các rănh thoát nước mưa này chính là giới hạn của mặt bằng mái. Nói cách khác, số đo giữa các rănh thoát nước này cho biết về chiều rộng và chiều dài của công tŕnh kiến trúc. Khoảng cách từ tim rănh thoát nước phía Tây đến tim rănh thoát nước phía Đông là 17,65m. Đó chính là kích thước chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” này. Chiều dài của kiến trúc này hiện chưa khẳng định được. Nhưng nếu giả định “toà nhà nhiều gian” có 09 gian th́ kích thước này sẽ là khoảng 67m.

Theo số đo, phế tích này cho thấy một công tŕnh kiến trúc to lớn theo đúng nghĩa đen. Tuy nhiên chưa thể xác định công năng của kiến trúc này. Chỉ biết rằng “toà nhà nhiều gian” này chạy dài theo trục Bắc – Nam, mở cửa ra cả hai hướng Đông và Tây.

 

Đầu trang    Quay lại

 

 

Các kiến trúc kiểu “ lầu lục giác”

Về phía Tây của ''toà nhà nhiều gian'', cách tim các móng trụ sỏi gia cố hàng chân tảng cột Quân phía tây 4,90m, đă t́m thấy những móng trụ gia cố chân tảng khác. Vật liệu gia cố có phần đa dạng hơn, ngoài sỏi (tương tự như sỏi ở các hố đă nêu trên) c̣n có cả ngói vỡ vụn, được nhồi đầm theo chu kỳ 1 lớp sỏi lại 1 lớp ngói vụn. H́nh dạng của các hố đào cũng khác, có hố tṛn (đường kính từ 1,10m đến 1,30m), có hố vuông (1,20m x 1,20m). Bố cục của các móng trụ chân tảng này khá đặc biệt: 06 trụ móng tṛn quây quanh một số trụ móng ở chính giữa. Khoảng cách trung b́nh giữa tim của các móng trụ tṛn (làm thành một h́nh lục giác gần đều) là khoảng 1,30m. Tim móng trụ vuông trùng với tâm của đường tṛn ngoại tiếp h́nh lục giác, cách tim các móng trụ tṛn một khoảng 1,30m

Các cụm móng trụ gia cố chân tảng này trải dài suốt mặt phía tây của ''toà nhà nhiều gian''. Khoảng cách giữa các cụm (đếm được tất cả 11 cụm), không thật đều, xê xích từ 8,00m đến 12,00m. Chúng tôi cho rằng một cụm móng trụ gia cố chân tảng như vậy là phế tích của một kiểu ''lầu lục giác'' nhỏ, được dựng nhằm phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn.

Theo GS. Trần Quốc Vượng, Việt Sử lược có ghi nhận về loại h́nh kiến trúc này, gọi là các Trà đ́nh.

 

Đầu trang    Quay lại

 

 

 

Phế tích kiến trúc trong các hố thước phía nam khu A

Chi tiết viên gạch trang trí in hoa mẫu đơn trong đoạn đường lát gạch phía đông khu A

Chi tiết một cửa cống thoát nước phía Đông
 

Trong các hố A19, A20, A20MR và A21 cũng xuất lộ nhiều móng trụ sỏi.

Ngay gần chái phía Nam của ''toà nhà nhiều gian'' thuộc phạm vi hố A19 có một số móng chân tảng nhưng kết quả đo đạc không xác định được thật rơ ràng về kiến trúc từng tồn tại ở đây. Phía Bắc hố A20 xuất lộ hai hàng móng trụ sỏi gia cố, mỗi hàng 05 móng trụ, khoảng cách giữa tim hai hàng là 3,40m. Hiện trạng và số đo cho phép giả định đây là một kiến trúc có hướng chạy dài theo trục Đông - Tây (vuông góc với ''toà nhà nhiều gian''). Số đo bước gian đo được của kiến trúc này theo chiều từ Đông sang Tây là: 3,30m - 5,45m - 5,30m. Các khoảng cách khác chư