1. Bối cảnh lịch sử: các chính sách và thiết chế văn hóa

Albania là một trong các quốc gia lâu đời nhất trên bán đảo Balkan. Quốc gia này nằm trên giao lộ giữa châu Âu, Balkan, Địa Trung Hải và vùng Illvria. Trong hơn 50 năm qua, Albania theo chế độ cộng sản và cô lập với phần c̣n lại của châu Âu măi cho đến đầu những năm 1990, khi chế độ cộng sản sụp đổ. Trước năm 1944, ở Albani diễn ra sự phát triển nhanh chóng về văn hóa và nghệ thuật, c̣n gọi là Sự Phục hưng về văn hóa và nghệ thuật ở Albani. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, văn hóa và nghệ thuật được đặt dưới tư tưởng “hiện thực xă hội chủ nghĩa”, theo đó mục tiêu chính của văn hóa nghệ thuật là tạo ra “Con người mới của chủ nghĩa xă hội”. Các hoạt động quy mô lớn, do nhà nước tài trợ, đều hướng đến ca ngợi tư tưởng này.

 Dưới chế độ cộng sản, đời sống văn hóa ở Albani được quản lư tập trung và chịu sự kiểm soát của nhà nước. Các sự kiện văn chủ yếu được tổ chức tại thủ đô Tirana, nơi đây có các công tŕnh như Nhà hát Opera và Ballet, Nhà hát Nhân dân, Rạp Biểu diễn các chương tŕnh Tạp kĩ, Nhà hát Giao hưởng.

 Mặc dù có sự định hướng về tư tưởng chính trị và sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn tài chính, văn hóa nghệ thuật cũng có những bước phát triển nhất định, và hạ tầng cho các hoạt động văn hóa cũng được xây dựng. Ví dụ, năm 1946, Trường Nghệ thuật đầu tiên của Albani được thành lập, và các nghệ sĩ cũng thành lập tổ chức nghề nghiệp đầu tiên của ḿnh là Liên đoàn các Nhà văn và Nghệ sĩ Albani. ít năm sau đó, năm 1954, Pḥng trưng bày nghệ thuật quốc gia đầu tiên được khánh thành, đây là một cơ quan quan trọng, có vai tṛ thúc đẩy và bảo vệ các di sản nghệ thuật của các nghệ sĩ trong nước cũng như nước ngoài. Dù có những hạn chế đối với quyền tự do nghệ thuật, những nghệ sĩ trẻ vẫn hoàn thành các chương tŕnh học tập nghiên cứu, sáng tạo ra nhiều tác phẩm nghệ thuật đa dạng trong các lĩnh vực như hội họa, kiến trúc, thiết kế, nhiếp ảnh, và nghệ thuật ứng dụng.

 Sự sụp đổ của hệ thống Cộng sản ở các quốc gia Đông Âu vào đầu những năm 1990 đă tạo thuận lợi cho hoạt động của các phong trào tự do, và từ đó thúc đẩy các nghệ sĩ Albani tiếp xúc với thế giới nghệ thuật bên ngoài. Từ đó, văn hóa Albani được “xuất khẩu”. Một thế hệ nghệ sĩ mới có các tác phẩm được biểu diễn và quảng bá trên khắp thế giới. Ca khúc của các nhạc sĩ Albani được phát trên các kênh nước ngoài, và lần đầu tiên tác phẩm của họ đến được với đối tượng khán giả đông đảo trên toàn thế giới. Các nhóm nghệ sĩ độc lập, các giàn giao hưởng, nhóm nhạc thính pḥng, các nhóm nhạc pop, nhạc dân gian cũng được thành lập và có cơ hội biểu diễn ở cả trong lẫn ngoài nước.

 Tuy nhiên, những bước tiến ít hay nhiều cũng bị hạn chế bởi các điều kiện thị trường ở thủ đô Tirana. Số lượng các sự kiện âm nhạc thay đổi theo từng vùng của đất nước, tùy theo thị hiếu của khán giả và truyền thống của từng vùng. Mặc dù Albani có nhiều hiệp hội, nhóm hoạt động văn hóa, th́ chỉ có tám trong số các hiệp hội nhóm đó được ghi nhận trong Danh mục các tổ chức Xă hội Dân sự năm 1998 của Albani.

 Năm 1991, Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao (MCYS) được thành lập theo Sắc lệnh của Tổng thống. Nhiệm vụ của cơ quan này là xây dựng các tổ chức thể thao và văn hóa Albani ngang tầm với tiêu chuẩn của châu Âu. Chính sách văn hóa mới được ban hành nhằm khôi phục và phát triển đời sống văn hóa Albani, và chính sách đó dựa trên quyền công dân trong việc tham gia vào đời sống văn hóa. Tháng Sáu năm 2000, bản đường lối chính sách văn hóa, do Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao ban hành, đă xác định những mục tiêu mới. Các nội dung được nhấn mạnh trong đường lối này bao gồm di sản văn hóa, vai tṛ của công cuộc hiện đại hóa xă hội Albani. Một số văn bản pháp luật đă được thống nhất để làm cơ sở cho hoạt động của Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao.

2. Thẩm quyền, ban hành quyết định và quản lư hành chính

2.1 Mô tả chung hệ thống

Bộ trưởng Văn hóa, thanh niên và thể thao (MCYS) chịu trách nhiệm đối với các cơ quan ban ngành văn hóa, c̣n Thứ trưởng chịu trách nhiệm trong lĩnh vực thể thao.

Văn pḥng Bộ trưởng chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách và chiến lược, và tổ chức các buổi tiếp xúc giữa Bộ trưởng với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước.

Ủy ban Cố vấn chịu trách giám sát các hoạt động của Bộ Văn hóa và thực hiện tư vấn, đề xuất ư kiến tới Bộ trưởng.

Vụ Di sản Văn hóa được thành lập tháng năm 1998 đă thể hiện được tầm quan trọng của lĩnh vực này trong quá tŕnh ban hành chính sách và xây dựng các chương tŕnh. Các nhiệm vụ mục tiêu của Vụ Di sản văn hóa gồm:

·                     Bảo vệ di sản văn hóa trong quá tŕnh hiện đại hóa và phát triển kinh tế đất nước, cũng như quá tŕnh phát triển ngành du lịch;

·                     Hợp tác với các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực di sản văn hóa;

·                     Nâng cao nhận thức của người dân, và thông tin cho họ về pháp luật và chính sách trong lĩnh vực văn hóa;

·                     Thiết lập và tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tế;

·                     T́m các giải pháp tài chính.

Vụ Sách được thành lập tháng 7 năm 1998 nhằm bảo vệ các quyền chung và quyền hiến định của công dân về việc được thông tin và giáo dục thông qua sách và xây dựng các chính sách về phân phối sách, phát triển văn hóa đọc. Cơ quan này c̣n có nhiệm vụ tạo ra môi trường thuận lợi cho các tổ chức cá nhân hoạt động trong thị trường sách, và cũng chịu trách nhiệm về các thư viện.

 Vụ Dự án Nghệ thuật chịu trách nhiệm lựa chọn các dự án nghệ thuật để Bộ văn hóa hỗ trợ, những dự án đó phải phù hợp với các chương tŕnh và chính sách về văn hóa. Cơ quan này c̣n quản lư các chương tŕnh trao đổi và các dự án hợp tác với nước ngoài. Các dự án được lựa chọn bởi một nhóm thẩm định. Đối với từng dự án cụ thể sẽ có một nhóm được thành lập, và thành viên của nhóm do Bộ trưởng chỉ định. Kết quả lựa chọn của nhóm phải được Bộ trưởng thông qua.

   Vụ Hợp tác Chính sách Thanh niên được thành lập tháng 7 năm 1998, và có nhiệm vụ phát triển các chính sách trong lĩnh vực thanh niên, và đặc biệt là việc thúc đẩy các nguyên tắc của xă hội mở, dân sự, dân chủ trong tầng lớp thanh niên.

   Vụ Kinh tế chịu trách nhiệm lập kế hoạch và quản lư ngân sách của Bộ. Vụ dịch vụ và Nhân sự chịu trách nhiệm xây dựng và quản lư các quy định trong việc chỉ định chuyên gia để thực hiện hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau của Bộ Văn hóa; tổ chức, giám sát công việc của các nhân viên trong Bộ Văn hóa, và theo dơi mức độ tôn trọng thực hiện pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa.

 Pḥng Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm thu thập tư liệu, dữ liệu cần thiết cho bộ và các cơ quan thuộc bộ. Cơ quan này c̣n chịu trách nhiệm trong các quan hệ đối ngoại.

 Vụ Pháp chế hỗ trợ công việc của Bộ Văn hóa trên khía cạnh pháp lư và giám sát việc thực hiện pháp luật. Cơ quan này c̣n có nhiệm vụ soạn thảo các dự thảo luật có liên quan.

Cơ Quan kiểm toán và Kiểm sát có trách nhiệm giám sát việc sử dụng ngân sách theo các quy định của pháp luật

2.3 Hợp tác giữa các cấp các ngành

 Hiện nay không có cơ chế nào để điều chỉnh việc hợp tác giữa các cấp, các ngành. Cơ quan quan trọng nhất trong lĩnh vực này là ủy ban Văn hóa và Truyền thông, thuộc Quốc hội Albani, đóng vai tṛ quan trọng trong việc điều phối hoạt động giữa các bộ ngành. Ngoài ra c̣n có một cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao, đóng vai tṛ quan trọng về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa.

2.4 Hợp tác quốc tế về văn hóa

Albani đang mở cửa hợp tác văn hóa với quốc tế cũng như châu Âu, và đang có các nỗ lực nhằm quảng bá những thành tựu văn hóa quốc gia ra nước ngoài. Trong thập niên Hội đồng châu Âu là đối tác quan trọng nhất trong hợp tác văn hóa của Albani.

 Albani có các lễ hội và triển lăm quốc tế như Triển Lăm Quốc tế Onufri ở Tirana (triển lăm hàng năm về nghệ thuật thị giác),  Liên hoan Opera Quốc tế ở Tirana, và Liên hoan Kịch Quốc tế ở Butrinti (phía Nam Albani). Các nghệ sĩ Albani hiện nay tham gia vào nhiều liên hoan quốc tế ở nước ngoài (ví dụ như Biennale of Venice – Liên hoan nghệ thuật thị giác Venice tổ chức hai năm một lần, Liên hoan Phim Venice, Liên hoan Kịch quốc tế Cairo, Liên hoan Thơ Quốc tế Struga, Macedonia). Các nhà văn Albani tham gia chương tŕnh Literature Express Europe 2000, một chuyến tàu chạy suốt lănh thổ châu Âu dành cho các nhà văn, được tổ chức vào mùa hè năm 2000.

Việc thiếu các nguồn tài chính đă ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động văn hóa ở nước ngoài của Albani, do đó nhập khẩu văn hóa nước ngoài vào Albani lớn hơn rất nhiều so với xuất khẩu văn hóa.

Albani cũng tham gia chương tŕnh Mosaic của Hội đồng câu Âu, điều này có tác dụng tích cực trong việc định h́nh các nguyên tắc của chiến lược văn hóa quốc gia. Chương tŕnh này cũng có thể xem là ví dụ về hợp tác văn hóa vùng của các nước Đông Nam Âu. Trong 5 năm qua, Albani đă tham gia vào chương tŕnh “Những ngày Di sản Văn hóa châu Âu” do Hội đồng châu Âu tổ chức. Thành phố cổ Butrinti đă được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

3. Các mục tiêu và chính sách văn hóa

3.1 Các yếu tố chính trong mô h́nh chính sách văn hóa hiện nay

Chính sách văn hóa quốc gia Albani được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn và mô h́nh của châu Âu. Mục tiêu cơ bản của chính sách này là “phá vỡ bức tương ngăn cách Albani với phần c̣n lại của thế giới, đặc biệt là phương Tây”. Theo nghĩa này, văn hóa và nghệ thuật được xem là những công cụ giúp phát triển dân chủ và khẳng định bản sắc văn hóa trong vùng, và là một phần không thể thiếu của bản sắc văn hóa châu Âu.

Những yếu tố chính của chính sách văn hóa Albani gồm:

·         Bảo vệ và phục hồi các di sản văn hóa;

·         Hoạt động và sáng tạo văn hóa;

·         Hỗ trợ các dự án có quy mô quốc gia, và các dự án ở nước ngoài.

 Tuy nhiên sự hạn chế về nguồn lực, như con người, kỹ thuật, tài chính đă cản trở việc hoàn thành các mục tiêu này.

Phi tập trung đang được xem là một ưu tiên hàng đầu của Albani trong quá tŕnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Bước đầu đă hoàn thành việc thành lập các cơ quan ở địa phương trên cơ sở bầu cử dân chủ. Mặc dù ngân sách của cơ quan địa phương c̣n hạn hẹp, nhưng địa phương đă có mức độ độc lập rất cao. Các ủy ban văn hóa của địa phương được thành lập và thuộc hội đồng địa phương.

Luật về tổ chức và chức năng của chính quyền địa phương đă được Quốc hội ban hành ngày 31 tháng 7 năm 2000. Nguyên tắc chính của luật này là sự độc lập của chính quyền địa phương. Quy chế hiện tại của chính quyền địa phương ở Albani và quá tŕnh phi tập trung quyền lực chịu tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế và xă hội trong thời kỳ chuyển giao, cộng với các yếu tố lịch sử, truyền thống, văn hóa và tâm lư. Trước thời kỳ chuyển giao, chính quyền địa phương có rất ít quyền độc lập về chính trị và lại mang trách nhiệm rất lớn về kinh tế, xă hội. Cơ quan trung ương kiểm soát các hoạt động của chính quyền địa phương là Bộ Nội vụ. Quan điểm cho rằng chính quyền địa phương nên có quyền độc lập lớn hơn ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ.

Trong hơn ba năm qua, những nỗ lực nhằm phi tập trung quyền lực trong lĩnh vực văn hóa chủ yếu hướng vào các lĩnh vực như điện ảnh, kịch và sách. Tại 36 quận trung tâm có nhiều thư viện, nhà văn hóa và bảo tàng, tuy nhiên, ngân sách và các chương tŕnh của các quận này vẫn c̣n phụ thuộc vào Bộ Văn hóa. Cho đến nay, không có định hướng cụ thể cho việc phi tập trung chính sách văn hóa ở Albani.

Một bước đột phá quan trọng đă đạt được là trong lĩnh vực văn hóa. Luật mới ban hành, theo đó chính quyền địa phương chịu trách nhiệm về các trung tâm nghệ thuật và nhà hát kịch của địa phương, bao gồm cả việc chỉ định giám đốc cho những cơ sở này. Tuy nhiên, trách nhiệm tài chính vẫn chưa được quyết định.

3.2 Định nghĩa chính sách văn hóa

Hiện nay không có một định nghĩa chính thức về văn hóa. Dưới thời chê độ cộng sản, văn hóa được định nghĩa là bản sắc dân tộc Albani, bản sắc chính trị và, tất nhiên, là thúc đẩy phát triển văn hóa xă hội chủ nghĩa. Ngày nay, bản sắc văn hóa c̣n bao gồm cả việc bảo vệ và phát triển ngôn ngữ và đời sống văn hóa Albani.

Dưới góc độ quản lư, ngân sách nhà nước do Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao quản lư, theo đó văn hóa gồm: các tổ chức văn hóa và nghệ thuật hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật, di sản văn hóa, giáo dục nghệ thuật, và hợp tác văn hóa quốc tế.

3.3 Mục tiêu của chính sách văn hóa

Chính sách văn hóa của Bộ Văn hóa, thanh niên và thể thao được xem xét trong khuôn khổ các hoạt động của chính phủ Albani nhằm hướng đến hội nhập với châu âu. Điều này dựa trên nguyên tắc rằng bản thân chính sách văn hóa phải trở thành một yếu tố quan trọng của chiến lược chung về phát triển Albani trong khuôn khổ Hiệp ước Chung về ổn định Khu vực Balkans.

Những khuyến nghị của Hội đồng châu âu được xem là ưu tiên, đặc biệt là trong lĩnh vực sách.

4. Các vấn đề hiện nay trong việc xây dựng chính sách văn hóa

4.1 Những vấn đề chính và ưu tiên

Cải cách quan trọng nhất trong lĩnh vực văn hóa diễn ra sau năm 1997. Trong 5 năm qua, vấn đề được nhấn mạnh là việc xây dựng pháp luật về văn hóa. Quốc hội Albani đă thông qua một số luật quan trọng như luật điện ảnh, luật kịch, và luật thư viện. Luật thư viện được xem là ḥn đá tảng cho việc giao lưu văn hóa trong phạm vi Albani, và do đó, người ta càng nhấn mạnh hơn đến phát triển văn hóa đọc.

Để chuẩn bị cho chương tŕnh Tổng hợp Chính sách Văn hóa Quốc gia của Hội đồng châu Âu, Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao đă tổ chức một hội thảo đặc biệt về sự phi tập trung ở Tirana vào tháng 3 năm 2000, với một chủ đề trước đó đă bị bỏ ngỏ trong chiến lược tổng thể về chính sách văn hóa. Những cuộc tranh luận gần đây tập trung vào các khía cạnh pháp lư, chính trị, kinh tế của xă hội đa văn hóa và sáng tạo.

4.2 Những vấn đề chính sách gần đây và tranh luận.

4.2.1 Quy định đối với văn hóa cộng đồng thiểu số

Cho đến nay, không có một chương tŕnh nghệ thuật cụ thể nào hướng vào đối tượng là cộng đồng thiểu số sống tại Albani. Trong khi hiến pháp bảo đảm quyền của họ về tiếp cận văn hoá, ví dụ như, xuất bản văn học bằng tiếng mẹ đẻ, th́ không có một hệ thống nhằm hỗ trợ các quyền định đó.

4.2.2 B́nh đẳng giới và chính sách văn hóa

Không có một chương tŕnh cụ thể hoặc một dự án dành cho phụ nữ hoạt động trong lĩnh vực truyền thông ở Albani.

4.2.3 Ngôn ngữ và chính sách

Theo hiến pháp Albani, ngôn ngữ chính thức là tiếng Albani, một ngôn ngữ thuộc hệ ấn-âu. Thổ ngữ Gheg, tại phía bắc Albani có hơn 300000 người sử dụng, ở Kosovo có 1750000, ở Macedonia có 300000. Tiếng Tosh được thừa nhận vào năm 1972, và có khoảng 3400000 người sử dụng.

Tiếng Hy lạp là ngôn ngữ lớn thứ hai, có khoảng 60000 người thiểu số thuộc cộng đồng hy lạp sử dụng tại phía nam Albani và sử dụng trong các trường học của người Hy lạp. Tiếng Macedonia có khoảng 30000 người sử dụng, tiếng Romani có khoảng 50 000 người sử dụng.

Hiện nay không có các chính sách văn hóa hoặc các biện pháp cụ thể nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng và phát triển ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số thông qua văn hóa ( ví dụ như xuất bản, các đài phá thanh, hỗ trợ cho các bộ phim, v.v..).

4.2.4 Đa nguyên truyền thông và đa dạng nội dung

Diễn biến quan trọng nhất trong lĩnh vực truyền thông của Albani là việc quyền tự do thể hiện được hiến pháp ghi nhận.

Chương tŕnh cải tổ cơ cấu hệ thống phát thanh truyền h́nh quốc gia đă được thực hiện, và người ta đă thành lập thêm một số kênh truyền h́nh mới như Klan, TVA. Bên cạnh việc đưa tin tức hàng ngày, các kênh truyền h́nh đó cũng cung cấp những thông tin văn hóa. Tờ tạp chí lớn nhất trong lĩnh vực văn hóa là XXL. Một số tạp chí chuyên ngành gồm: Thế giới sách Albani, Aleph, Mehr Licht.

4.2.5 Các ngành kinh doanh văn hóa: sự phát triển, các chương tŕnh và quan hệ đối tác

Internet

Internet lần đầu tiên xuất hiện ở Albani vào năm 1995, và được cung cấp thông qua một server của UNDP, và được sử dụng bởi các tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Năm 1997, chính phủ triển khai chương tŕnh Internet. Bắt đầu từ năm 1999, có hơn 500 trạm kết nối, cho phép truy cấp thường xuyên (do công ty Truyền thông cung cấp). Điều này hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động của các tờ báo và đài phát thanh tư nhân trong việc ứng dụng các trang web và dịch vụ thư điện tử. Internet cũng có vai tṛ quan trọng đối với các nhà xuất bản cũng như đối với các nhà nghiên cứu, học sinh sinh viên, những người có điều kiện tham gia các chương tŕnh đào tạo từ xa.

Ngành điện ảnh

Cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị vào đầu những năm 1990 đă gây tác động nghiêm trọng đến sự tồn tại của nền điện ảnh Albani. Hăng phim nhà nước “New Albani” đă phải tách ra thành ba công ty nhỏ, và hoạt động sản xuất giảm sút đến mức mỗi năm chỉ cho ra đời được 2 bộ phim, bởi v́ nguồn tài chính nhà nước đă không c̣n. Công ty phân phối Phim Alba cũng phá sản. Ông Dhimiter Anagnosti, một nhà đạo diễn nổi tiếng của Albani, người lên làm bộ trưởng Văn hóa, thanh niên và thể thao năm 1992, đă thành lập một nhóm có nhiệm vụ soạn thảo Luật Điện ảnh, và được Quốc hội thông qua năm 1996. Luật này và Trung tâm điện ảnh quốc gia mới được thành lập thực hiện hỗ trợ về tài chính cho hoạt động sản xuất phim ở Albani. Trung tâm điện ảnh quốc gia được thành lập năm 1997, với vai tṛ thúc đẩy tính cạnh tranh trong sản xuất phim và thích nghi với điều kiện kinh tế thị trường.

Trung tâm điện ảnh quốc gia (NCC) thực hiện hỗ trợ tài chính, bằng nguồn tài chính của chính phủ, cho việc sản xuất những bộ phim mới. do nguồn tài chính hạn hẹp của NCC, việc hợp tác sản xuất là lựa chọn khả dĩ đối với ngành điện ảnh Albani thời điểm hiện nay. Bốn phim nghệ thuật được sản xuất những năm gần đây là kết quả của sự hợp tác với các công ty của các nước như Pháp, Nga, Hungari, và Balan, trong khi cách dịch vụ dành cho những nhà sản xuất nước ngoài rất ít và không tạo ra lợi nhuận. Phim tài liệu (7-8 phim mỗi năm) chủ yếu là sản phẩm hợp tác với truyền h́nh nhà nước Albani.

Cho dù có những hoạt động này, t́nh trạng của ngành điện ảnh Albani vẫn được xem là c̣n rất yếu kém. Các công ty sản xuất phim yếu kém về tài chính và thường phải cạnh tranh với nhau để t́m đối tác thực hiện các dự án phim của ḿnh. Nói chung, ngành phim chịu tác động của công nghệ lỗi thời và hạ tầng yếu kém trong việc phân phối. số lượng các rạp chiếu phim năm 1991 là 65, đến năm 2000 giảm xuống c̣n 25.

Truyền thông

Báo chí vẫn chịu tác động của những cuộc xung đột chính trị, và như là một kênh mở rộng của các cuộc tranh luận chính trị hơn là nơi để đưa các ư kiến của công luận. trái với sự phát triển yếu kém của lĩnh vực báo viết, th́ phát thanh và truyền h́nh có những bước phát triển trong thời kỳ chính phủ mới được thành lập từ năm 1996. Luật phát thanh truyền h́nh tư nhân đă được ban hành năm 1998. Trên cả nước Albani có khoảng 20 đài phát thanh tư nhân, và đài truyền h́nh tư nhân cũng gần đạt con số này, đa số là các đài của vùng. Phần tin tức của những đài này rất ít, nhưng các bộ phim, đĩa nhạc vi phạm bản quyền lại phát tràn lan trên các sóng phát thanh truyền h́nh. Hiện nay, các lĩnh vực truyền thông ít có quan hệ hợp tác với nhau để trao đổi thông tin. Các khó khăn kỹ thuật làm cho việc phát sóng trên toàn quốc trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với vùng núi.

4.2.6 Chính sách lao động trong lĩnh vực văn hóa

Không có một chính sách cụ thể nào nằm thúc đẩy số lượng việc làm trong lĩnh vực văn hóa ở Albani. Đầu những năm 1990, có một số lượng lớn các nghệ sĩ di cư sang các nước láng giềng, điều này có tác động rất lớn đối với sự phát triển lĩnh vực văn hóa.

Một số biện pháp pháp lư, ví dụ như ban hành “Luật Kịch”, đă góp phần thúc đẩy việc làm trong lĩnh vực văn hóa bằng cách cho phép các hiệp hội tư nhân phát triển.

4.2.7 Giáo dục nghệ thuật: các chương tŕnh và mô h́nh

Hiện nay, việc thiếu các chương tŕnh giáo dục nghệ thuật ở các cấp làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển văn hóa nói chung. Mặc dù đă có nhiều nỗ lực nhằm cải thiện t́nh h́nh nhưng không đạt được nhiều tiến triển, chủ yếu là do các khó khăn về kinh tế. V́ lư do này, nhiều sinh viên phải đi học tập ở nước ngoài. Thư viện quốc gia là  trung tâm đào tạo chuyên môn cho những người làm công tác thư viện ở Albani. Khóa học bán thời gian, 2 năm, được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1969, và hiện nay vẫn thu hút rất nhiều người làm việc trong ngành thư viện. bên cạnh cung cấp các kỹ năng cơ bản, khóa học c̣n xuất bản và phân phối các giáo tŕnh, bảng phân loại, và những tài liệu chuyên ngành khách, bao gồm cả tạp chí Buletini i bibliotekave xuất bản mỗi năm 2 số.

4.2.9 Di sản và chính sách

Albani, bảo vệ di sản văn hóa thuộc vấn đề được ưu tiên của Bộ Văn hóa thanh niên và thể thao, và trách nhiệm này được chia sẻ giữa Bộ với Viện hàn lâm khoa học. Trong phạm vi của Bộ, Vụ Di sản Văn hóa có nhiệm vụ quản lư Viện Di tích, và Bảo tàng Quốc gia, và trung tâm đăng kiểm tài sản văn hóa. Viện Hàn lâm Khoa học có các tổ chức trực thuộc liên quan đến những lĩnh vực khoa học cụ thể, bao gồm Viện Khảo cổ, Viện Văn hóa đại chúng; viện Văn hóa đại chúng hoạt động trong lĩnh văn hóa dân gian. Viện Hàn lâm Khoa học chịu một phần trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên. Luật bảo vệ tài sản văn hóa di dời được và không di dời được đă được quốc hội thông qua ngày 10 tháng Mười năm 1994, và vẫn có hiệu lực cho đến ngày nay.

Việc bảo vệ và khôi phục các di sản khảo cổ do các tổ chức sau đây thực hiện:

·         Viện di tích văn hóa, thuộc Bộ Văn hóa, thanh niên và thể thao;

·         các chi nhánh và các studio nghệ thuật do Viện Di tích Văn hóa bảo trợ.

 Sau khi có một số di tích quan trọng bị hư hại vào năm 1997, các nỗ lực đă được thúc đẩy nhằm thu thập thông tin về t́nh h́nh bảo vệ các công tŕnh di tích. Một số dự án lớn bao gồm dự án tái thiết các quận ở trung tâm Tirana, khôi phúc ṭa nhà “Độc lập” ở Vlore, và dự án khảo cổ Butrint ngay tại vườn tự nhiên (di tích duy nhất của Albani được UNESCO công nhận là di sản thế giới). Di tích này nhận được rất nhiều hỗ trợ từ phía các đối tác như UNESCO, Liên minh Châu âu, Ngân hàng Thế giới, và hiệp hội Butrin (đây là ví dụ điển h́nh về sự hợp tác giữa nhà nước, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trong lĩnh vực văn hóa).

5. Qui định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

5.1 Qui định chung

5.1.1 Chương tŕnh an sinh xă hội

Vấn đề an sinh xă hội và các quan hệ lao động không được pháp luật điều chỉnh chi tiết.

5.1.2 Luật thuế

Luật về tài trợ cho phép các nhà tài trợ tư nhân được khấu trừ thuế đến 10%.

5.1.3 Luật lao động

Vấn đề an sinh xă hội và các quan hệ lao động không được pháp luật điều chỉnh chi tiết.

5.1.4 Pháp luật về bản quyền

Pháp luật về bảo hộ bản quyền được ban hành năm 1993, và năm 1994 Albani kư công ước Berne. Việc thiếu các quy định về bản quyền dưới thời cộng sản đă dẫn đến một số khó khăn nhất định, ví dụ như nhà văn Albani nổi tiếng nhất và có nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài nhất là  Ismail Kadare, nhưng việc chuyển giao bản quyền do nhà nước quy định và không có quy định nào về tiền bản quyền cho tác giả.

Tiền bản quyền thường được tính theo một con số cụ thể và thường là rất nhỏ, đối với các dịch giả cũng tương tự. Đối với giáo tŕnh trong trường học, tiền bản quyền tác giả do Bộ Văn hóa trả: 5% cho lần xuất bản đầu tiên, và 4% cho những lần tiếp theo.

Cơ chế này đă cản trở những người có tài năng thực sự đi theo nghiệp văn, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch thuật, cũng nên lưu ư rằng 50% các ấn phẩm sách nói chung là sách dịch. Từ năm 1991, cũng giống như trên toàn vùng Trung- Đông Âu, có một số lượng lớn nhà văn, những người có tác phẩm bị chính quyền trước đó kiểm duyệt, đă chuyển ra sống ở nước ngoài.

5.2 Pháp luật về văn hóa

Năm 1998, Hội đồng các bộ trưởng đă thông qua danh mục các tổ chức thuộc thẩm quyền quản lư của các thành phố. Chúng bao gồm các trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, thư viện địa phương, bảo tàng, pḥng trưng bày nghệ thuật, rạp chiếu phim. Năm 1993, Bộ Văn hóa, Thanh niên và  Thể thao đă thông qua một danh mục các tổ chức cấp quốc gia thuộc quyền quản lư của Bộ. Bộ cũng tiến hành thực hiện cải tổ khung pháp lư đối với lĩnh vực văn hóa ở Albani, với mục tiêu làm cho pháp luật Albani phù hợp với các nước châu Âu.

Bảng 1: Các luật liên quan đến chính sách văn hóa và cơ quan quản lư văn hóa ở Albani

Tên luật

Năm ban hành

B́nh luận

Luật thư viện

2000

Căn cứ pháp lư cho hoạt động của các thư viện

Luật bảo vệ tài sản văn hóa

1994

Được đánh giá là c̣n quá chung chung. Người ta hy vọng luật mới sẽ được ban hành.

Quyền tác giả

1992

Được quốc hội sửa đổi năm 1995. Luật này bảo vệ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật.

Luật điện ảnh

1996

Được đánh giá là c̣n quá chung chung

Luật kịch

2000

Quy định một hệ thống minh bạch việc quản lư, hỗ trợ tài chính cho các nhà hát kịch thuộc nhà nước. Luật cũng quy định thanh lập ủy ban quốc gia về Sân khấu, thuộc quản lư của Bộ Văn hóa. Tuy nhiên luật này vẫn quy định chưa cụ thể

Luật di sản văn hóa

Đang trong giai đoạn cuối dự thảo

Không b́nh luận

Luật về Sách

Đang soạn thảo

Không b́nh luận

Luật thanh niên

Đang soạn thảo

Không b́nh luận

Luật phân phối phim

Đang c̣n ư tưởng

Không b́nh luận

5.3 Các lĩnh vực cụ thể

5.3.1. Di sản văn hóa

Luật mới về di sản văn hóa đang trong giai đoạn cuối cùng của quá tŕnh soạn thảo.

Luật hiện hành về “bảo vệ các tài sản văn hóa di dời được và không di dời được” được Quốc hội thông qua ngày 10 tháng 10 năm 1994. Luật này được xem là điều chỉnh chưa đầy đủ trong một số lĩnh vực:

·         Luật chưa có quy định điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các cơ quan chịu trách nhiệm quản lư trong các lĩnh vực di sản văn hóa, đô thị hóa, và hệ sinh thái tự nhiên;

·         Luật không quy định rơ ràng mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong việc quản lư các công tŕnh văn thuộc sở hữu tư nhân;

·         Các điều khoản xác định cách thức bảo vệ, khôi phục di sản văn hóa cần được sửa đổi cho phù hợp với kinh nghiệm của các quốc gia Tây Âu;

·         Luật cũng không đề cập đến trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bảo vệ di sản văn hóa;

·         Các vấn đề liên quan đến quyền của cá nhân đối với sở hữu đất đai, công tŕnh là di sản không di dời được vẫn chưa được giải quyết.

Từ khi chế độ cũ sụp đổi, chủ sở hữu các công tŕnh di sản (cá nhân, các nhóm tôn giáo) có thể đ̣i lại quyền sở hữu đối với tài sản của họ. ủy ban về trao trả tài sản được thành lập năm 1994. theo quy định hiện nay, Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao quản lư các công tŕnh di sản của tư nhân, và trả một khoản tiền thuê cho chủ tài sản hoặc quốc hữu hóa chúng.

Trách nhiệm quản lư hành chính đối với các công tŕnh sản và môi trường văn hóa cũng chưa được phân định rơ ràng giữa các cấp trung ương, vùng và thành phố.

5.3.4 văn học và thư viện

5.3.5 Các ngành kinh doanh văn hóa

Luật duy nhất hiện có điều chỉnh ngành kinh doanh văn hóa là luật điện ảnh. Trên thực tế, định nghĩa “ngành kinh doanh văn hóa” ở Albani vẫn c̣n chưa rơ ràng. Chỉ sau năm 1991 th́ các công ty tư nhân mới được phép thành lập. Trước năm 1991, ví dụ như trong lĩnh vực xuất bản, có ba nhà xuất bản của nhà nước và chúng kiểm soát toàn bộ thị trường sách. Hiện nay, rất khó khăn để các công ty tư nhân hoạt động theo điều kiện thị trường. Ví dụ như, những nhà xuất bản mới được thành lập bởi những người trước đó đă làm việc trong công ty xuất bản của nhà nước, và không thích nghi được với điều kiện thị trường. Các công ty xuất bản (lĩnh vực sách) vẫn hoạt động chủ yếu do tài trợ của các tổ chức phi chính phủ hoặc các quỹ hội (ví dụ như: Soros, Fan Noli Fondation).

Luật điện ảnh được ban hành năm 1997. Luật này từng được xem là một thách thức đối với các công ty phim thuộc sở hữu nhà nước và nó cũng mở ra một triển vọng mới cho ngành điện ảnh. Luật quy định rằng 1% thu nhập từ bán vé sẽ được nộp cho Trung tâm Điện ảnh Quốc gia (NCC) để tái đầu tư vào việc sản xuất phim mới. Các hăng phim (nhà sản xuất phim) cũng phải dành 20% doanh thu từ việc bán phim cho các công ty phân phối và công ty truyền h́nh để nộp cho NCC.

5.3.86 Truyền thông đại chúng

Diễn biến quan trọng nhất trong lĩnh vực truyền thông ở Albani là việc bảo đảm quyền tự do thể hiện, vốn được ghi nhận trong hiến pháp Albani.

Cải tổ cơ cấu của hệ thống phát thanh truyền h́nh quốc gia đă được thực hiện và những kênh truyền h́nh mới được lập thêm, ví dụ như Klan, TVA. Bên cạnh việc đưa thông tin hàng ngày, các kênh truyền h́nh c̣n có các bản tin văn hóa. Tờ tạp chí lớn nhất trong lĩnh vực văn hóa là tờ XXL. Một số tờ báo chuyên ngành về văn hóa: Albanian Universe of Book, Aleph, Mehr Licht.

Hội đồng truyền h́nh quốc gia quản lư trong lĩnh vực truyền h́nh và thực hiện chức năng cấp giấy phép truyền h́nh. Hiện tại không có các quy định về hạn mức chương tŕnh.

5.3.9 Quy định đối với các nghệ sĩ tự doanh

Albani không có đạo luật cụ thể nào quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lư của các nghệ sĩ.

Việc ban hành một hệ thống thuế toàn diện nhằm tăng nguồn thu cho nhà nước và chống lại nạn trốn thuế (ước tính lên đến 50%) vẫn là mục tiêu hàng đầu của chính sách thuế. Mối quan hệ tín nhiệm giữa nhà nước và công dân, vốn là cơ sở cho hoạt động của hệ thống thuế vẫn chịu tác động của sự đổ vỡ tài chính “theo h́nh kim tự tháp” lên tiết kiệm và đầu tư, và sau đó là tác động lên tổng thu nhập nội địa và các khoản thu thuế. Tháng 9 năm 1997, chính phủ đă xây dựng một hệ thống thuế, theo đó thuế thu được áp dụng (đối với đồ uống chứa cồn, thuốc lá và khí đốt), và quy định cơ quan có được ủy quyền thu thuế.

Việc áp dụng tỉ lệ thuế VAT thống nhất, tăng từ 12.5% đến 20% vào tháng 9 năm 1997, đă gây ra rất nhiều tranh căi, đặc biệt là từ phía thị trường sách. Theo hiệp hội các nhà xuất bản Albani, chỉ có 5 hoặc 6 nhà xuất bản đóng thuế VAT định kỳ.

Việc trốn thuế là một h́nh thức gián tiếp của cạnh tranh không b́nh đẳng, và điều này ảnh hưởng đối với việc ấn định giá sách. Thuế đối với giấy, các nguyên liệu nhập khẩu cũng áp dụng tỉ lệ 20%. Chi phí cho giấy (và chi phí sản xuất nói chung) dường như cao hơn so với mức b́nh quân của châu Âu. Albani vẫn chưa kí Hiệp ước Florence. Hiệp ước này quy định rằng việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa phải được miễn thuế.

6. Hỗ trợ tài chính cho văn hóa       

6.1 Tổng quan

Ngân sách dành cho Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao chiếm khoảng 0.72% tổng ngân sách nhà nước. Từ năm 1991 đến 1994, đầu tư nước ngoài tăng 14 lần so với các nguồn lực trong nước. Năm 1996, nguồn đầu tư nước ngoài giảm, và đầu tư trong nước tăng lên cho đến năm 1997 khi nguồn tài chính quốc gia bị cắt giảm một nửa, tuy nhiên lúc này số liệu đầu tư của nước ngoài vẫn không tăng.

Các nhà tài trợ đa phương cho Albani gồm Liên minh châu Âu, ngân hàng thế giới, trong khi đó những nhà tài trợ song phương lớn nhất (cho đến năm 1998): Italy, 14%, Hoa Kỳ 10% và Đức 10%. Trong thời kỳ khủng hoảng Kosovo năm 1999, có 32 dự án văn hóa và một số dự án khác nhận được tài trợ tổng cộng 1525854 USD. Quỹ Soros cũng hỗ trợ cho lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của Albani thông qua Quĩ Xă hội Mở.

Ngân sách của Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao năm 2000 là 1061693000 ALL. 74% ngân sách dành cho văn hóa và nghệ thuật, 26% dàh cho thể thao. Các chuyên gia do bộ trưởng chỉ định cho chức năng cố vấn trong việc phân bổ tài chính cho các dự án.

7. Các tổ chức văn hóa và những quan hệ đối tác

7.1 Vai tṛ và sự phát triển của một số tổ chức văn hóa quan trọng

Các tổ chức văn hóa lớn như Pḥng trưng bày quốc gia, thư viện quốc gia hoặc trung tâm điện ảnh quốc gia đều thuộc quản lư của Bộ văn hóa, thanh niên và thể thao và chịu trách nhiệm trước bộ trưởng. Các viện đă được thành lập như Viện các Công tŕnh Văn hóa, đều hợp tác với các cơ quan liên quan của Bộ, và trong một số trường hợp, tham gia vào việc soạn thảo các dự luật.

7.3 Những quan hệ đối tác

Quan hệ đối tác với các quỹ hội ngày càng đóng vai tṛ quan trọng đối với sự phát triển của lĩnh vực văn hóa ở Albani. Có ba quỹ hội thường hỗ trợ cho các sự kiện văn hóa lớn là, Soros (Quỹ xă hội mở), Quỹ Velija, và Quỹ Fan Noli. Ngoài ra, các quỹ này c̣n hỗ trợ kinh phí đi lại cho các nghệ sĩ, học giả thể tham gia vào các hội nghị quốc tế.

8. Hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo và sự tham gia vào đời sống văn hóa

8.1 Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các nghệ sĩ

Năm 1999, Bộ văn hóa, Thanh niên và Thể thao đă hỗ trợ cho hơn 100 dự án nghệ thuật với tổng trị giá khoảng 60 triệu ALL. Việc phân bổ tiền tài trợ cho các nghệ sĩ (đối với các sự kiện quy mô lớn và các dự án cá nhân) được chính bộ trưởng quyết định căn cứ vào ư kiến của các nhóm tư vấn. Thông tin về việc phân bổ này được đăng tải trên trang web của Bộ Văn hóa, thanh niên và thể thao.

Hỗ trợ cho văn hóa cũng được thực hiện thông qua các quỹ văn hóa, mà quan trọng nhất là Quỹ Soros.

8.1.1 Các quỹ đặc biệt dành cho nghệ sĩ

Tổng thống trao trợ cấp hưu trí cho một số nghệ sĩ nhất định, những người được các chuyên gia của Bộ văn hóa đề xuất. Ngoài ra, không có một chương tŕnh hỗ trợ nào khác dành cho nghệ sĩ.

8.1.2 Giải thưởng, học bổng

Bênh cạnh cung ứng tiền cho các dự án, Bộ văn hóa thanh niên và thể thao c̣n trao 5 giải thưởng quốc gia trong lĩnh vực văn học, với trị giá mỗi giải thưởng là 1000 USSD (theo số liệu năm 1995), bao gồm thơ, văn xuôi, phi giả tưởng, dịch thuật từ tiếng nước ngoài sang tiếng Albani và dịch thuật tác phẩm từ tiếng Albani ra tiếng nước ngoài. Một Uỷ ban gồm 5 thành viên được thành lập, gồm đại diện của Bộ, Thư viện quốc gia và các hiệp hội nghề nghiệp. Ngoài ra, có một giải thưởng dành cho văn học trẻ em bao gồm truyện, thơ, các tác phẩm phi giả tưởng và tác phẩm giả tưởng. Việc lựa chọn các tác phẩm được thực hiện bởi một ủy ban, Uỷ ban này c̣n có thêm thành viên là các nhà tâm lư và họa sĩ.        

8.2 Xu hướng tham gia vào đời sống văn hóa và các số liệu

Theo báo cáo của Hội đồng châu âu về lĩnh vực sách ở Albani, hoạt động điện ảnh, sân khấu và âm nhạc không có những biến chuyển trong những năm gần đây và cần thiết phải có sự điều chỉnh. Do đó, phương tiện chính để truyền bá thông tin và văn hóa là phát thanh, truyền h́nh, sách và tạp chí.

Số lượng ngày càng tăng các thiết bị thu sóng từ vệ tinh ở các thành phố của Albani đă làm cho truyền h́nh trở thành phương tiện truyền thông hàng đầu. đầu năm 1998, 13 tờ nhật báo được phát hành ở Tirana và mỗi tờ phát hành từ 1000 đến 30000 bản. Lư do chính của việc phát thành thấp như vậy, hiện tại (năm 1998) năm trong khoảng 85000 bản mỗi ngày, là chi phí sản xuất và phát hành quá cao, và do thu nhập của người đọc c̣n thấp. Việc đặt mua báo thường xuyên có thể chiếm đến 20% thu nhập của một cá nhân, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Hiện tại, việc thị thường không ổn định đă cản trở việc hạ giá thành và điều kiện hạ tầng yếu vẫn tiếp tục cản trở đến việc phát hành ra phạm vi ngoài thành phố.

Theo viện truyền thông, 29.68% người dân Albani đọc nhật báo (28.8% thường xuyên, 34% ít khi đọc, 7.4% không bao giờ đọc). 27.4% mua nhật báo (24.32% thường xuyên mua, 33.66% thỉnh thoảng mua). Tỉ lệ đọc báo thấp chắc chắn ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế, ngoài ra đó có thể là hệ quả của tác động tiêu cực trong quá khứ. Nhiều người dân cho rằng thông tin trên báo chủ yếu vẫn là tập trung phản ánh về hoạt động của chính quyền, hoặc cho rằng báo chí Albani chỉ là nơi diễn ra các cuộc tranh đấu chính trị và phản ánh các xung đột chính trị thay v́ phản ánh ư kiến người dân.

Đối với vấn đề đọc sách h́nh có khác hơn. các số liệu thống kê về đọc sách thường thấp và thậm chí tác phẩm bán chạy nhất cũng chỉ tiêu thụ được gần 2000 bản trong khoảng 8 tháng (theo báo cáo của một nhà xuất bản). Có nhiều cuộc phỏng vấn liên quan đến vấn đề này đă được thực hiện, và sau đây là kết quả:

§                       So với thu nhập b́nh quân th́ giá sách quá cao; b́nh quân giá mỗi cuốn sách giá sách b́nh quân gần bằng với tiền lương một ngày (400 ALL);

§                       Người lớn tuổi thường đọc sách nhiều hơn thanh niên (thanh niên đọc rất ít hoặc hầu như không đọc sách);

§                       Những người đọc sách thường thích các truyện kể theo lối truyền thống, đặc biệt là của thế kỷ 19;

§                       Các sự kiện năm 1997 đă có tác động tiêu cực đến việc cho thuê sách tại thư viện.

Những người được phỏng phấn đều cho rằng trước năm 1990, đọc sách là hoạt động văn hóa chủ yếu và không có cạnh tranh từ phía các phương tiện truyền thông khác. ngày nay việc mua sách bị giảm xuống v́ lư do kinh tế, thậm chí đối với nhóm đọc sách, tại thời điểm này khả năng tiếp cận với sách thông qua hệ thống công cộng cũng bị hạn chế do t́nh trạng tồi tàn của các thư viện trên cả nước, rất nhiều các thư viện đă bị hủy hoại trong thời ḱ khủng hoảng năm 1997.

8.3 Các chương tŕnh, chính sách nhằm thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hóa

Bộ văn hóa, Thông tin và Thể thao đang soạn thảo luật mới, trong đó sẽ bao gồm cả chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hóa. Hiện tại không có một chương tŕnh cụ thể nào.

8.4 Các tổ chức văn hóa nghệ thuật không chuyên

8.4.1 Nghệ thuật không chuyên

Thông thường Chính phủ liên ban không cung cấp tài chính cho hoạt động nghệ thuật không chuyên, mà trách nhiệm này thuộc về chính quyền bang, thành phố và các quỹ hội. Việc thiếu sự khuyến khích đối với các nhóm nghệ thuật không chuyên vẫn là vấn đề đang c̣n được tranh luận, mặc dù không được xếp vào hàng đầu ở cấp liên bang. Sự xuống cấp trong việc giảng dạy các môn nghệ thuật ở trường học đă được thừa nhận, và người ta cho rằng điều này cũng có tác động đến khả năng sáng tạo về nghệ thuật và văn hóa nói chung. Tuy nhiên, các hiệp hội nghệ thuật và các nhà văn hóa đang tập trung để thúc đẩy sự tham gia vào đời sống văn hóa.

Vào năm 2000, khoảng 78% dân số tuổi từ 15 trở lên tham gia vào ít nhất một trong chín hoạt động văn hóa nghệ thuật. Khoảng  từ 40% (sử dụng máy tính để thiết kế và vẽ) đến 11% t́nh nguyện tham gia hoặc trở thành thành viên của các tổ chức nghệ thuật. Khoảng 65% số người tuổi từ 15 trở lên tham gia ít nhất vào một trong bốn hoạt động có liên quan đến di sản trong năm vừa qua. tỉ lệ người đọc các tư liệu lịch sử, tham gia vào các tổ chức di sản hoặc lịch sử nằm trong khoảng 55% đến 6%. Những gia đ́nh có trẻ em và những người có tŕnh độ học vấn cao thường tham gia vào các hoạt động nghệ thuật/ sáng tạo hơn so với những đối tượng khác. Thanh niên độ tuổi từ 15 đến 24 thường có xu hướng tham gia vào tất cả các hoạt động. 95% số người cho rằng nghỉ ngơi, thư giăn là lư do (65%) hoặc có phần (30%) quan trọng để tham gia vào các hoạt động văn hóa và nghệ thuật. Những lư do khác: để học hỏi cái mới hoặc để phát triển kĩ năng (87%), để làm việc hoặc chia sẻ với người khác (83%), để thể hiện bản thân (75%). Hoạt động nghệ thuật cũng được xem là cách để t́m hiểu về văn hóa và dân tộc (53%).

Culturalpolicies