![]() |
||
|
Lễ kỷ niệm 100 năm Nhà hát Lớn Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 9/12/2011 với tính chất như một trong những sự kiện văn hóa đối ngoại lớn nhất của năm. Trong chuỗi hoạt động của sự kiện này sẽ có Hội thảo khoa học về 100 năm tuổi của Nhà hát Lớn, Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích cấp quốc gia, Chương tŕnh biểu diễn của đoàn nghệ thuật Cộng ḥa Pháp và nhiều màn nghệ thuật sử thi của các đoàn nghệ thuật Việt Nam.
Năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội tṛn 100 năm tuổi. Trải qua một thế kỉ với biết bao thăng trầm của thời cuộc nhưng công tŕnh này vẫn tồn tại vững bền, trở thành một địa chỉ văn hóa lớn và một công tŕnh kiến trúc đẹp của Hà Nội ngh́n năm tuổi. Cho đến nay, Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn là một công tŕnh biểu diễn nghệ thuật lâu đời nhất, tiêu biểu nhất, trang trọng và đường bệ nhất, phù hợp nhất với các chương tŕnh nghệ thuật sân khấu và âm nhạc đẳng cấp, đáp ứng tŕnh độ biểu diễn quốc tế. Nhà hát Lớn Hà Nội tuy quy mô nhỏ so với các Nhà hát cùng ḍng họ ở châu Âu, song có chất lượng và giá trị cao về sự tổ chức không gian sử dụng, mạch lạc và hợp lư, có kiến trúc tổng thể và chi tiết cùng trang trí tuy khiêm nhường song hoàn hảo, trong sự giản dị và thanh tao, một diện mạo kiến trúc kế thừa những phẩm chất gạn lọc của nền kiến trúc Pháp già dặn, với những biểu hiện riêng biệt tạo nên vẻ mặt duy nhất, không thể lẫn lộn. Kiến trúc Nhà hát Lớn tạo nên trọng lượng và đẳng cấp cho toàn bộ kiến trúc khu trung tâm của Thủ đô, lại bộc lộ rơ tính chất văn hóa của công tŕnh, làm cho Hà Nội tiếp cận gần hơn với diện mạo một chốn đô thành của thời kỳ hội nhập. Lịch sử h́nh thành Nhà hát Lớn Hà Nội
Nhà hát Lớn Hà Nội đầu thế kỷ XX Vào những năm đầu của thế kỉ XX, để phục vụ cho nhu cầu làm việc và giải trí của giới chức cầm quyền người Pháp ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, các kiến trúc sư người Pháp đă cho xây dựng ở Hà Nội nhiều ṭa công sở và công tŕnh kiến trúc hoa mĩ, tráng lệ, trong đó có Nhà hát Lớn Hà Nội. Năm 1899, dưới sự chủ tọa của viên công sứ Hà Nội là Richard, Hội đồng thành phố Hà Nội lúc bấy giờ đă đề nghị lên Toàn quyền Fourer cho xây dựng một nhà hát tại Hà Nội. Vị trí được chọn để xây dựng nhà hát thuộc đất của 2 làng Thạch Tần và Tây Luông, thuộc tổng Phúc Lân, huyện Thọ Xương. Tác giả của bản đồ án thiết kế công tŕnh này là hai kiến trúc sư người Pháp Harlay và Broyer. Sau nhiều lần sửa đổi, ngày 7 tháng 6 năm 1901 công tŕnh được khởi công xây dựng. Theo thiết kế, công tŕnh có tổng diện tích 2600m2, dài 87m, rộng 30m, điểm cao nhất so với mặt đường là 34m. Do tính chất quy mô và phức tạp nên phải 10 năm sau, tức vào năm 1911, công tŕnh mới được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Theo các sử liệu cho biết, để xây dựng công tŕnh này, mỗi ngày người ta phải huy động tới gần 300 công nhân người Việt. Những người thi công đă phải đóng hơn 35 ngh́n chiếc cọc tre và đổ một khối bê tông dày 90cm xuống vùng đầm lầy để gia cố cho phần móng. Ngoài ra, công tŕnh c̣n phải sử dụng tới hơn 12 ngh́n m3 vật liệu và gần 600 tấn gang thép. Toàn bộ công tŕnh tiêu tốn hết khoảng 2 triệu frăng Pháp. Sau 10 năm xây dựng, Nhà hát Lớn được đưa vào sử dụng. Trong thời gian đầu, Nhà hát được dành cho những gánh hát từ phương Tây hằng năm sang diễn cho giới chức quan lại Pháp xem. Những người thượng lưu Việt Nam cũng được tham dự, song muốn vào Nhà hát phải mặc lễ phục và trả giá vé đắt. Về sau, Nhà hát Lớn cũng có những tối công diễn do người Việt Nam tổ chức để làm việc nghĩa (cứu nạn nhân các tỉnh bị lụt, làm nhà tế bần…). Tuy nhiên, trong lịch sử hoạt động của ḿnh, Nhà hát phải đ́nh lại nhiều lần do chủ trương khác nhau của nhà cầm quyền. Từ năm 1940, nhiều đoàn kịch nói của ta có thể thuê được “Nhà hát tây” để diễn. Nhận xét về công tŕnh Nhà hát Lớn, Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng, tuy ra đời muộn hơn so với nhà hát ở thành phố Hồ Chí Minh, Hải Pḥng, song xét về quy mô kiến trúc, Nhà hát Lớn Hà Nội là một điển h́nh khác biệt. Và quan trọng hơn nó c̣n là một thiết chế văn hoá. “Nhà hát Lớn Hà Nội đúng là sản phẩm của thời thuộc địa. Nhưng nếu “thuộc địa” là thuật ngữ chính trị mà chúng ta nh́n nhận nó như một sự xung đột, đè nén, áp bức th́ chúng ta cũng phải nh́n thấy mặt văn hóa của công tŕnh này. Thời kỳ này là thời kỳ giao thoa giữa nền văn hoá Âu và Á. Đây rơ ràng là văn hóa người Pháp xác lập ở nước ta. Và nó như một sự bổ sung cho văn hóa dân tộc bước vào thế kỷ hiện đại”, ông Dương Trung Quốc nói. Bên trong nhà hát có một sân khấu rộng và một khán pḥng lớn chứa được 870 chỗ ngồi. So với dân số Hà Nội thời đó chưa đến 20 vạn dân, th́ quy mô kiến trúc nhà hát thời điểm ấy là rất lớn. Ngoài ra, tầng giữa có nhiều ô nhỏ dành cho khán giả có vé riêng. Phía trong cửa chính có một sảnh lớn. Từ đây có cầu thang rộng ốp đá dẫn lên tầng trên, hai bên có cầu thang phụ dẫn xuống tầng hầm. Trên tầng hai có một pḥng gương rất lộng lẫy dành riêng để tiếp khách quư. Phía sau nhà hát có một pḥng quản trị, 18 buồng hóa trang dành riêng cho diễn viên, 2 pḥng tập hát, 1 thư viện và 1 pḥng họp.
Điểm đặc biệt của công tŕnh Nhà hát Lớn Hà Nội, đó là vẻ đẹp cổ điển hiện rơ qua từng đường nét và vóc dáng của ṭa nhà. Đây là một công tŕnh được thiết kế theo phong cách kiến trúc cổ điển Châu Âu (thời Phục hưng), phần nào chịu ảnh hưởng từ kiến trúc Nhà hát Opera Paris của Pháp. Chính v́ vậy, toàn bộ ṭa nhà luôn toát lên vẻ đẹp sang trọng, quư phái và lộng lẫy.
Công tŕnh Nhà hát Lớn Hà Nội có vị trí đặc biệt trong di sản, trong quỹ kiến trúc thời Pháp thuộc của Thủ đô và của các đô thị trong cả nước. Nó nằm trong một chuỗi các công tŕnh kiến trúc kiểu châu Âu, bắt đầu từ dinh Gia Long, Nhà thờ lớn và Nhà hát lớn ở Sài G̣n, tới Bắc Bộ phủ, Phủ toàn quyền, Nhà hát lớn, Bảo tàng Lui Phinot, viện Pasteur, Nhà ngân hàng…là một trong những cột mốc trên chặng đường thâm nhập và khẳng định ḿnh của nền kiến trúc thực dân, nền kiến trúc thuộc về ta trên đất nước Việt Nam. Với chất lượng kiến trúc và thẩm mỹ vốn có đă được nâng cao qua đợt trùng tu thành công (từ giữa năm 1995 đến năm 1997), việc tổ chức biểu diễn ở Nhà hát lớn là mong ước của các cơ quan ban ngành và tổ chức xă hội. Ngay sau trùng tu, Tổng thống Pháp đă chúc mừng Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin Việt Nam về sự thành công mỹ măn của Dự án trùng tu. Nghệ sĩ nhân dân Lê Dung từng ví Nhà hát Lớn Hà Nội là ngôi đền của nghệ thuật và được hát, nói ở đây là hạnh phúc nhất. Về phương diện sử dụng, công tŕnh này có tuổi đời dài lâu và chính điều này tạo nên sự kiêu hănh, sự bất cạnh tranh cho nó. Nhà hát lớn không chỉ có giá trị kiến trúc mà c̣n có giá trị văn hóa - thể hiện sự tiếp biến - giao thoa văn hóa, tạo lập khái niệm Nhà hát trong ngôn ngữ Việt Nam. Nhà hát Lớn Hà Nội trở thành một trong những h́nh ảnh quen thuộc nhất của Thủ đô, một biểu tượng của Thủ đô, không một kiến trúc nào lại đặc trưng cho Hà Nội như vậy. Nhà hát Lớn Hà Nội - nhân chứng lịch sử Cách mạng
Nhà hát Lớn Hà Nội là nhân chứng của hàng chuỗi các sự kiện lịch sử hiện đại của nhân dân Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung. * Quảng trường Nhà hát Lớn - nơi diễn ra cuộc mít tinh do Tổng hội viên chức tổ chức vào chiều ngày 18 tháng 5 năm 1945. Ngày 15/5/1945 Nhật Hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân đồng minh. Ngày 16/5/1945 Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị cán bộ mở rộng thông báo quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và thành lập Ủy ban quân sự Cách mạng Hà Nội, tiền thân của Ủy ban khởi nghĩa và ngay ngày hôm sau ủy ban này đă quyết định ngày, giờ và kế hoạch khởi nghĩa. Chiều ngày 18/5/1945 Tổng hội viên chức tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Nhà hát lớn với mục đích cản phá cuộc khởi nghĩa của Việt minh Hà Nội theo chủ trương của cái gọi là Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ. Nắm được ư đồ đó Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội đă chỉ thị cho các tổ chức cứu quốc ở nội, ngoại thành Hà Nội huy động quần chúng đến dự và thực hiện mục tiêu phá bằng được cuộc mít tinh của tổng hội. Do đó khi cuộc mít tinh vừa mới bắt đầu, các tự vệ chiến đấu đă chiếm lấy diễn đàn, hạ cờ “qua luy” của ngụy quyền, một lá cờ đỏ sao vàng cỡ lớn được buông từ sau cổng Nhà hát lớn xuống hai đội viên tuyên truyền xung phong là Từ Như Trang, Diệu Hồng thay nhau lên diễn đàn báo tin Nhật đă đầu hàng và kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Lời kêu gọi đó được quần chúng dự mít tinh hưởng ứng nhiệt liệt, tiếng hô “ủng hộ Việt Minh”, “đả đảo bù nh́n”, “Việt Nam độc lập” vang dậy, lính bảo an và cảnh sát ngơ ngác đứng im tại chỗ. Sau đó quần chúng tiến hành biểu t́nh, tuần hành. Tin về cuộc biểu t́nh tuần hành lớn ở Hà Nội đă được Báo Tin mới tường thuật nhanh chóng đă lan nhanh tới các địa phương góp phần thúc đẩy chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa và khởi nghĩa ở các tỉnh Bắc bộ và Bắc Trung bộ. * Quảng trường Nhà hát Lớn nơi diễn ra sự kiện: mít tính của 20 vạn người - khởi đầu cho tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng 8 năm 1945 giành chính quyền.
Theo kế hoạch của Uỷ ban khởi nghĩa hàng vạn nông dân ngoại thành và các huyện Thanh Tŕ, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Đan Phượng, Gia Lâm mang theo băng, cờ, khẩu hiệu và các vũ khí thô sơ tiến vào nội thành. Tại nội thành các Nhà máy, Xí nghiệp ngừng sản xuất, các hiệu buôn đóng cửa, nhân dân nội thành Hà Nội cùng các đoàn nông dân, công nhân, tiểu thương, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên như ḍng thác kéo về Quảng trường Nhà hát Lớn dự cuộc mít tinh do Việt Minh Hà Nội tổ chức, cả Hà Nội ngày 19 tháng 8 đỏ rực cờ cách mạng. Cuộc mít tinh đó đă thu hút 20 vạn người tham gia và bắt đầu vào 11 giờ. Sau cuộc mít tinh, cuộc biểu t́nh có vũ trang bắt đầu. Một đoàn đi chiếm Phủ Khâm sai (nay là Nhà khách Chính phủ), Toà Thị chính (nay là UBND Thành phố), Kho bạc, Sở Bưu điện, Sở Cảnh sát. Tại Phủ Khâm sai, cán bộ chỉ huy đoàn biểu t́nh gọi điện thoại cho các Tỉnh trưởng, Thị trưởng Hải Pḥng, Dải Dương, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định báo cho họ biết tại Hà Nội, Việt Minh đă khởi nghĩa giành chính quyền lệnh cho họ nhanh chóng trao chính quyền cho Việt Minh. Một đoàn đi chiếm Trại bảo an binh. Đến tối ngày 19 tháng 8 năm 1945, quần chúng cách mạng đă hoàn toàn chiếm được các cơ quan trọng yếu của chính quyền bù nh́n. Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá của cả nước với lực lượng chính trị là chính đă hoàn thắng lợi. * Nhà hát Lớn Hà Nội - nơi chứng kiến lễ phát động tuần lễ vàng ngày 16 tháng 9 năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân cả nước, nhân dân Hà Nội chưa kịp hưởng trọn niềm vui lại phải đương đầu với những khó khăn thách thức mới: thù trong, giặc ngoài đất nước ở vào t́nh trạng ngàn cân treo sợi tóc, trong khi đó nền tài chính th́ kiệt quệ, kho bạc trống rỗng, Ngân hàng Đông Dương c̣n nằm trong tay tư bản Pháp, quân Tưởng lại tung tiền Quan kim, Quốc tệ đă mất giá ra thị trường làm rối loạn nền tài chính của quốc gia. Trong t́nh h́nh nguy cấp đó để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của chính quyền và để khắc phục những khó khăn trước mắt về tài chính, ngày 4/9/1945, nghĩa là chỉ 2 ngày sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ lâm thời đă ra Sắc lệnh xây dựng quỹ Độc lập và tổ chức “tuần lễ vàng” trong cả nước từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945 nhằm động viên mọi người dân yêu nước thiết tha với độc lập của dân tộc, tự nguyện đóng góp cho Tổ quốc. Thực hiện Sắc lệnh của Chính phủ và hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuần lễ vàng đă được khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào ngày 16/9/1945. Đến ngày bế mạc, nhân dân Hà Nội đă góp được 2.201 lạng vàng, 920 tạ thóc, nhiều tiền bạc, hiện vật khác… tổng giá trị trên 7 triệu đồng Đông Dương lúc bấy giờ. Tổng số tiền ủng hộ của nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước là 20 triệu đồng cho quỹ Độc lập, 40 triệu đồng cho đoàn quốc pḥng, 370 kg vàng. Nguồn lực đó đă giúp Chính phủ khắc phục có hiệu quả những khó khăn về tài chính trước mắt, mua sắm thêm vũ khí để chuẩn bị kháng chiến. * Nhà hát Lớn Hà Nội - nơi diễn ra 11 trên 12 kỳ họp của Quốc hội khoá I (nhiệm kỳ 1946 - 1960). Ngày 3/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời báo cáo trước Chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rơ: trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém chuyên chế nên nước ra không có Hiến pháp. Nhân dân ra không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm, càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Chính phủ đă tán đồng tuyệt đối với đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc Tổng tuyển cử đă chính thức được tổ chức, được diễn ra đúng vào ngày 6/1/1946 và thắng lợi gịn giă trên phạm vi cả nước, 300 đại biểu đă được chính thức bầu vào Quốc hội. Ngày 2/3/1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I đă diễn ra trọng thể tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Trong diễn văn khai mạc kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “cuộc quốc dân đại hội này là lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam ta”. Tại kỳ họp Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ đề nghị Quốc hội mở rộng thêm 70 người không qua bầu cả, trong đó dành cho Việt Nam cách mạng đồng chí Hội (Việt Cách) 20 người, Việt Nam quốc dân Đảng (Việt Quốc) 50 người để tỏ rơ sự đoàn kết toàn dân tộc; Quốc hội đă biểu quyết thông qua. Cũng theo đề nghị của Chính phủ, Quốc hội đă thông qua danh sách và công nhận Chính phủ kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và trao quyền cho Chính phủ ấy. Cuối cùng Quốc hội đă thông qua tuyên ngôn tuyên bố với quốc dân Việt Nam và thế giới chủ quyền của nước Việt Nam độc lập và toàn thể nhân dân Việt Nam chính thể của một Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hoà có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I là kỳ họp lịch sử và là kỳ họp ngắn nhất, bởi nó chỉ diễn ra trong ṿng 4 tiếng đồng hồ. Đánh giá về thành công của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I, Báo Sự thật (nay là Báo Nhân dân) số ra ngày 5/3/1946 đă viết: “trước đây trên 600 năm, chúng ta có Hội nghị Diên Hồng họp cấp tốc đời Trần. Sau cuộc họp ấy, 50 vạn quân Mông Cổ xâm lăng đă bị đánh bại ra ngoài bờ cơi. Ngày nay Quốc hội cũng họp cấp tốc và ngót 300 đại biểu từ các tỉnh xa xôi về Thủ đô đă thay mặt cho toàn dân quyết một ḷng chiến đấu và họ đă chia tay nhau đem về địa phương ḷng quyết chiến của toàn dân, ḷng tin tưởng ở vị trí lănh tụ tối cao và ở tương lai độc lập tự do của giống ṇi. Chính phủ, Quốc hội, nhân dân trên dưới một ḷng quyết chiến và quyết thắng. Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 28/10 đến ngày 9/11/1946. Tại kỳ họp này Quốc hội đă thông qua Hiến pháp năm 1946 của nước Việt nam dân chủ cộng hoà, Hà Nội được Hiến pháp công nhận là Thủ đô của đất nước, đồng thời Quốc hội cũng đă thảo luận, biểu quyết thông qua 8 Nghị quyết trong đó về chính sách ngoại giao với nước Pháp, Nghị quyết về chủ quyền quan thuế và ngoại thương của Việt Nam. Kỳ họp thứ ba của Quốc hội họp tại Chiến khu Việt Bắc từ ngày 1/12 đến ngày 4/12/1953. Tại kỳ họp này Quốc hội đă thảo luận thông qua Luật Cải cách ruộng đất; thông qua 3 Nghị quyết trong đó có Nghị quyết về truất quyền đại biểu quốc hội của người đại biểu trốn tránh nhiệm vụ kháng chiến. Kỳ họp thứ tư của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 20/3 đến ngày 26/3/1955. Ở kỳ họp này, Quốc hội đă thông qua 5 Nghị quyết, trong đó có Nghị quyết về hiệp định đ́nh chiến. Kỳ họp thứ năm của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 15/9 đến 25/9/1955. Quốc hội đă thảo luận và quyết định một số vấn đề tổ chức bộ máy Nhà nước, bầu và phê chuẩn Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào chức vụ Thủ tướng Chính phủ, quyết định mẫu quốc huy h́nh tṛn, nền đỏ, ngôi sao vàng làm biểu trưng của đất nước. Kỳ họp thứ sáu của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 29/12/1956 đến ngày 25/1/1957, Quốc hội đă thảo luận, biểu quyết thông qua 4 Luật, trong đó có Luật về chế độ báo chí, thông qua 10 Nghị quyết, trong đó có Nghị quyết về vấn đề đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Kỳ họp thứ bảy của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 10/9 đến ngày 19/9/1957. Quốc hội đă kiểm điểm về những thiệt hại do cải cách ruộng đất, thông qua Luật Công đoàn, thông qua 7 Nghị quyết chuẩn y sắc lệnh số 804/SL ngày 20/7/1957 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp. Kỳ họp thứ tám của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 16/4 đến ngày 29/4/1958. Quốc hội thảo luận, thông qua Cương lĩnh đấu tranh của nhân dân miền Bắc là hoà b́nh tiến lên chủ nghĩa xă hội dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kỳ họp thứ chín của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 9/12 đến ngày 14/12/1958. Tại kỳ họp này Quốc hội đă thảo luận, thông qua 2 Nghị quyết, trong đó có Nghị quyết về phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá. Kỳ họp thứ mười của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 20/5 đến ngày 27/5/1959. Quốc hội đă thảo luận và thông qua 4 Nghị quyết. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 18/12 đến 31/12/1959, thông qua Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1959, thông qua Hiến pháp năm 1959. Kỳ họp thứ 12 của Quốc hội khoá I họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ ngày 11/4 đến ngày 15/4/1960. Tại kỳ họp này Quốc hội đă thảo luận và thông qua Luật Nghĩa vụ quân sự, thông qua 2 Nghị quyết. Khi Hội trường Ba Đ́nh được xây dựng th́ các kỳ họp của Quốc hội các khoá tiếp theo họp tại Hội trường đỏ. Nhà hát Lớn Hà Nội vinh dự được chọn làm nơi họp của Quốc hội khoá I - mặc nhiên nó là nhân chứng chứng kiến những đạo Luật, những Nghị quyết mà Quốc hội đă thông qua tạo nền tảng cho việc xây dựng một quốc gia pháp quyền. Sau khi Nhà hát Lớn đă hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử được chọn làm nơi họp của các kỳ họp Quốc hội khoá I, Nhà hát Lớn suốt trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến nay, bên cạnh việc thực thi nhiệm vụ là trung tâm biểu diễn nghệ thuật, giao tiếp xă hội, c̣n là nơi diễn ra các cuộc mít tinh kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, các Hội nghị quốc tế trọng đại; là nơi Đảng, Nhà nước, Quốc hội tổ chức chiêu đăi chương tŕnh nghệ thuật đặc sắc các đoàn đại biểu cao cấp của Nhà nước, các nguyên thủ quốc gia… Ông Hoàng Xuân Nam – Giám đốc Nhà hát Lớn cho biết, kể từ khi được Bộ Văn hoá - Thông tin giao trách nhiệm tổ chức các đoàn nghệ thuật chất lượng cao, từ việc tổ chức chỉ 17 buổi vào năm 2000, đến nay Nhà hát thực hiện trung b́nh 400 buổi/năm, đón trên 140 đoàn nghệ thuật quốc tế. Hàng năm, doanh thu từ các buổi biểu diễn đem về cho Nhà hát luôn đạt cao. Các buổi biểu diễn nghệ thuật đă đem đến cho công chúng Thủ đô những món ăn tinh thần đầy ư nghĩa... Trải qua các biến chứng thăng trầm của lịch sử, cũng như nhiều công tŕnh kiến trúc khác và cả những loại h́nh văn hoá phi vật thể, Nhà hát Lớn Hà Nội đă trở thành một di sản mà chúng ta tiếp nhận và phát huy nó như một chứng cớ cho một thời kỳ mà các nền văn hoá giao thoa nhau, giúp Việt Nam hội nhập với thế giới. Chính v́ thế, việc bảo tồn, ǵn giữ di sản này, làm cho ư nghĩa công tŕnh có giá trị sâu sắc hơn, phong phú hơn là những ǵ mà cả nước và nhân dân Thủ đô luôn hướng tới.
Cinet tổng hợp |
||
|
|
|
|