I. LỜI MỞ ĐẦU

Đă hơn 100 năm nay, Thế Vận hội Olympic gắn liền với việc nâng cao và giáo dục về lĩnh vực thể thao, trí tuệ nhân loại và hiểu biết quốc tế. Thế vận hội Olympic dựa trên 2 tiêu chí chính: Thể thao và Văn hóa. Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, với cương vị đứng đầu Uỷ Ban Olympic Quốc tế (IOC), 2 trụ cột quan trọng, môi trường (Cantelon and Letters 2000) và di sản thể thao bền vững đă dần dần được thiết lập. Những yếu tố này được ghi nhận trong Hiến chương Olympic (IOC 2007) nêu ra được vai tṛ của Thể thao Olympic: “Nhằm phát huy và  hỗ trợ mối liên hệ gắn bó đối với những vấn đề môi trường, nhằm thúc đẩy phát triển thể thao bền vững và yêu cầu Thế vận hội Olympic được tổ chức một cách phù hợp  (2.13) và “nhằm phát triển di sản thể thao từ Thể thao Olympic đến các thành phố và quốc gia đăng cai”.

Những nhiệm vụ mới thể hiện IOC là một tổ chức xuyên quốc gia có trách nhiệm với xă hội, kinh doanh lành mạnh và có đạo đức. Đồng thời, đó cũng là yếu tố thúc đẩy IOC tham gia vào những cuộc tranh luận chính trị và kinh tế được tổ chức bởi Liên Hợp Quốc (UN) và Ngân hàng Thế giới (WB) liên quan đến những khái niệm phức tạp và gây tranh căi về tính bền vững và làm thế nào để thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau và tại khắp các quốc gia trên thế giới. Khoảng bốn mươi năm nghiên cứu quốc tế hợp tác và rất nhiều lần can thiệp thực tế dẫn đầu bởi hai tổ chức đều không đạt được bất kỳ khái niệm hoặc kiến thức về can thiệp chính sách bền vững có tính chất toàn cầu nào được công nhận (Bagheri và Hjorth năm 2007, Dresner năm 2003, Thomas 2000).

Sự xuất hiện của khái niệm di sản Olympic cũng đặt ra một vấn đề quan trọng là làm thế nào để nghiên cứu và sau đó thúc đẩy các biện pháp can thiệp chính sách đề ra mục tiêu rơ ràng là “phát triển thể thao bền vững “. Thế vận hội Olympic London 2012 là ví dụ cụ thể về việc nghiên cứu chính sách với 3 lư do: hồ sơ dự thầu được xây dựng với cam kết rằng các môn thể thao sẽ được sử dụng để khuyến khích quốc gia trở nên hùng mạnh về mặt thể chất hơn cũng như để giải quyết các vấn đề xă hội và kinh tế rộng lớn hơn , ví dụ như: béo ph́ và thất nghiệp, và đây sẽ là lần đầu tiên Các môn thi đấu và quy hoạch di sản được thực hiện kết hợp và hài ḥa. Và đương nhiên là Thế vận hội London 2012 đặt ra một mục tiêu khá tham vọng nhưng đáng ngưỡng mộ, tiến tới phát triển xă hội bền vững. Tuy nhiên, làm thế nào để triển khai một chương tŕnh thách thức lớn như vậy? Để tiến hành thành công, các chính sách phát triển thể thao không những phải chỉ ra được thái độ ứng xử của con người mà c̣n phải t́m ra được cấu trúc và các mối quan hệ xă hội. Để làm được điều này, cần phải có vốn hiểu biết thực sự về quy tŕnh chính trị trong xây dựng di sản phát triển thể thao Olympic.

Mục đích của nghiên cứu này là tăng thêm hiểu biết về các quy tŕnh liên quan đến việc xây dựng di sản thể thao Olympic bền vững. Nghiên cứu sử dụng một quan điểm xây dựng xă hội (Searle 1995, Berg và Luckman, 1971) để kiểm tra mối liên kết giữa Thế vận hội Olympic London và phát triển thể thao bền vững. Phần đầu của bài viết đưa ra dẫn chứng cho việc nghiên cứu các quá tŕnh hoạch định chính sách thể thao thông qua các lăng kính xây dựng, phần thứ 2 chỉ ra rằng phát triển thể thao bền vững là một quá tŕnh xây dựng, trong khi đó phần thứ ba giải quyết một số vấn đề lư thuyết và phương pháp nghiên cứu chính sách phát triển thể thao bền vững liên quan đến Thế vận hội Olympic London 2012.

II. T̀M HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DI SẢN THẾ VẬN HỘI THỂ THAO OLYMPIC

1. Quan điểm xây dựng xă hội dựa trên phát triển bền vững di sản thể thao Olympic
Quan điểm xây dựng về các vấn đề xă hội nổi lên như một phản ứng với phương pháp tiếp cận thực chứng / chức năng có liên quan đến việc nh́n nhận và đo lường "sự kiện", khám phá "chức năng" của các sự kiện và các tổ chức duy tŕ và phát triển xă hội (Durkheim 1961, Merton và Nisbet năm 1961, Parsons 1974), và sự thất bại trong đánh giá nhằm chỉ ra sự thay đổi nhiều mặt (Lincoln 2001). Do đó người ta trông mong các nhà khoa học xă hội xác định những điều kiện bất thường trên đối với xă hội, nâng cao hiểu biết về các vấn đề để hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp. Gold và Gold (2008, trang 314) cung cấp một ví dụ về một chương tŕnh nghiên cứu di sản Olympic thực chứng: "một mục tiêu cụ thể cho nghiên cứu trong những năm tới và sau năm 2010, do đó nhằm kiểm tra tính thực tế của di sản như dự đoán”.

Ngược lại, phương pháp tiếp cận xây dựng lại nh́n nhận các vấn đề này là những bước xây dựng xă hội cần thiết. Phương pháp này cho thấy, kiến thức và người nắm giữ kiến thức là bộ phận của cùng một thực thể chủ quan và những phát hiện chính là kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau (Guba 1990). Theo như Finnemore và Sikkink (2001, trang 392), “những người theo xu hướng xây dựng tập trung vào vai tṛ của ư kiến, quy chuẩn, kiến thức, văn hóa và tranh luận về chính trị, nhấn mạnh đến vai tṛ của những ư kiến của những con người đều đang nhận thức được về những ǵ đang sảy ra và những hiểu biết về xă hội. Trọng tâm của vấn đề xă hội chính là “thực tế xă hội” (Searl 1995), chính là quyền lợi, quyền tự chủ và di sản, tuy không có ư nghĩa vật chất nhưng tồn tại chỉ v́ con người đều tin rằng chúng tồn tại và diễn biến nhất quán (Finnemore và Sikkinhk 2001). Becker (1966), một trong những người đề xuất phương pháp này, không chú ư đến nguyên nhân hay hậu quả của các vấn đề xă hội mà quan tâm đến việc làm thế nào để xác định và tạo ra một vấn đề thông qua phương thức chính trị. Ông cho rằng, đây là một phương thức mà những ư kiến trái chiều được đưa ra, tranh luận và thỏa hiệp, con người được thúc đẩy bằng những lợi ích khác nhau để thuyết phục những người khác về quan điểm của nhằm tiến tới hành động cộng đồng và tiến đến kết thúc như họ mong muốn; một ai đó cố gắng để vấn đề được công nhận chính thức nhằm thống nhất sức mạnh và quyền lực của nhà nước” (Becker 1966, trang 11).

Nhiều nhà b́nh luận đều đồng ư rằng sự phát triển về cơ bản là một quá tŕnh xây dựng (Cowen và Shenton 1995, Esteva 1997, Mosse 1998, Thomas 2000). Và đây là một phương pháp tiếp cận hành động theo định hướng, quy nạp và kết thúc mở có liên quan với hiện tại. Do đó, thâm nhập mang tính chất xây dựng vào một di sản thể thao Olympic sẽ không phải chư ư đến việc tổ chức các môn thi đấu, tạo ra được bao nhiêu công việc, dịch vụ cũng như bao nhiêu người tham gia mà là phương thức, cơ chế, và vận động viên đă và sẽ chịu trách nhiệm về kết quả. V́ vậy, sự hiểu biết hiến pháp xă hội của di sản thể thao bền vững là điều cần thiết trong việc làm thế nào để đạt được kết quả của nó và tác động của nó đến việc hoạch định chính sách quốc gia và quốc tế.

Các yếu tố trong khung phát triển di sản thể thao Olympic bền vững. Tiền thân của ư tưởng di sản Olympic có thể được t́m thấy trong các tác phẩm đầu tay của Coubertin (1911) và một số chính sách của IOC như Công đoàn Đoàn kết Olympic (Al-Tauqi, 2003) và Thể thao (Palm, 1991). Tuy nhiên, măi đến cuối những năm 1990, ư tưởng di sản Olympic dần dần biến thành một mối quan tâm lớn đối với Thế vận hội Olympic. MacAloon (2008) nắm bắt được bản chất gây tranh căi của khái niệm này thông qua một phân tích các tính năng ngữ nghĩa của nó và các hậu quả thực tế. Đặc biệt, ông cũng cảnh báo về sự nguy hiểm phong trào Olympic gây ra bởi một nhóm mới nổi và xuyên quốc gia nói tiếng Anh chủ yếu là chuyên gia tư vấn di sản chuyên nghiệp. Những người quản lư di sản tự công bố hoạt động với việc giải thích hẹp của "di sản" tiếng Anh dài với sự nhấn mạnh vào sự đóng góp hiện tại cho tương lai mà quên đi vốn tích lũy lớn lịch sử, văn hóa và đạo đức - là ngụ ư của các từ tiếng Pháp với ư nghĩa “kế thừa”

Chúng tôi vay mượn Becker "(1966, p.147) khái niệm" đạo đức doanh nhân "trên một chiến dịch để miêu tả quá tŕnh chính trị của xây dựng di sản Olympic. Nó phát triển vượt qua sự tăng trưởng Olympic và một số sự kiện gần đây bao gồm sự phát triển không thân thiện và không bền vững ngày càng tăng của mô h́nh Thế vận hội và xu hướng của nó để bù đắp sự phát triển tiêu cực gây ra bởi sự tăng trưởng này. Các mối quan tâm đạo đức của IOC đầu tiên t́m thấy biểu hiện trong Chương tŕnh nghị sự 21, một chính sách phản ứng lại các vấn đề môi trường toàn cầu được nêu ra tại Rio hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 (IOC 1992). Tiếp theo đó là biện pháp thiết phát động 2 đại hội, Đại hội thể thao và môi trường vào năm 1995 và Ủy ban Thể thao và Môi trường năm 1996. Dần dần, những mối quan tâm này lây lan và sau đó dẫn đến các tổ chức tṛ chơi đ̣i hỏi sự kiện được tổ chức tại một cách thân thiện với môi trường (Girginov và Parry 2005). Ư tưởng của Olympic di sản đă được hợp lư hóa chính trị (quy định trong Hiến chương Olympic 2003 và IOC Hướng dẫn sử dụng cho các thành phố ứng cử viên năm 2001), một cách hợp pháp (thông qua hợp đồng thành phố chủ nhà giữa IOC, thành phố chủ nhà và các Ban tổ chức của Thế vận hội Olympic London- LOCOG), và khoa học (Tác động của Thế vận hội Olympic (Ogi) dự án, năm 2006, mà các biện pháp tác động, kinh tế, môi trường và xă hội của các tṛ chơi thông qua một tập hợp các chỉ số trong khoảng thời gian 12 năm và 4 báo cáo).

Để hiểu rơ hơn quá tŕnh chính trị của khung di sản thể thao Olympic bền vững, tham khảo  các phương pháp tiếp cận xây dựng đối với thực tế xă hội của Mosse "và Searle". Khung chương tŕnh Searle (1995) có bốn yếu tố: bàn giao chức năng, định hướng chung, quy tắc xây dựng, và năng lực con người trong vấn đề đối phó với môi trường. Ư tưởng phát triển bền vững được thảo luận trước khi kiểm tra của bốn yếu tố được rút ra từ khung chương tŕnh của Searle ". Điều này là quan trọng bởi v́ mỗi yếu tố mang đến những ư nghĩa đặc biệt về kế thừa kiến thức và có những đóng góp khác nhau cho việc nghiên cứu chính sách và hoạch định chính sách.

1.1.Ư tưởng về di sản phát triển bền vững thể thao Olympic

Phát triển thể thao bền vững đă được khái niệm hóa như là một cấu trúc xă hội, nhận thức, và là một nỗ lực tập thể, phản ánh tầm nh́n cụ thể về mục đích của đời sống con người, thời gian, tiến độ và thay đổi xă hội, được các đối tượng khác nhau khai thác cho phù hợp với mục đích của họ (Girginov năm 2008). Xem xét theo cách này, ư tưởng của Thế vận hội thể thao phát triển di sản đại diện cho một dự án chính sách và diễn thuyết, rơ ràng được chính phủ Anh công nhận. Khi Bộ Trưởng Văn hóa, Truyền thông và Thể thao (DCMS) và Bộ trưởng Bộ Olympic Tessa Jowell tuyên bố (2006): "Không có ǵ là không thể tránh khỏi, chúng ta được ban tặng di sản Olympic 2012, chính những người tham gia đă tạo ra nó ". Viễn cảnh London 2012 sẽ chứng kiến ​​sự xuất hiện của một số lượng lớn những người tạo ra và thực hiện di sản thể thao Olympic (Girginov và Hills năm 2008). Ngoài các vận động viên di sản chính (ví dụ, IOC, LOCOG, DCMS, Thể thao nước Anh) có một loạt các cơ quan lấy cảm hứng từ di sản trong tất cả 33 quận của London, và nhiều đơn vị chuyên ngành khác di sản Olympic khu vực và địa phương và chiến lược.

Phát triển thể thao bền vững, do đó, liên quan đến một quá tŕnh hủy diệt, xây dựng và duy tŕ cơ hội cho những người tham gia và nổi trội trong thể thao và cuộc sống. Nó không phải là một nhà nước của hệ thống thể dục thể thao được tăng hoặc giảm, cũng không phải một mục tiêu tĩnh hoặc mục tiêu phải đạt được (2008 Girginov, p.13). Nó là sự kết hợp của sự phá hủy và sáng tạo liên quan đến quá tŕnh đồng thời tạo cơ hội cho tập luyện những môn thể thao nhất định không phương hại cho người khác. Bằng chứng là chương tŕnh Thế vận hội Olympic năm 2012, chỉ bao gồm có 26 môn thể thao và 20 môn thể thao cho Paralympic. Những môn thi đấu này nhận được sự tài trợ và trợ cấp lớn từ cộng đồng quốc tế, đồng nghĩa với việc cắt giảm trợ cấp công đồng (Collins 2008, Green 2007), trong khi đó những môn thể thao khác th́ không nhận được những ưu ái như vậy. Nó cũng thống nhất xây dựng và tiêu hủy trong các doanh nghiệp phát triển thể thao, mà làm cho nó chính trị hấp dẫn, v́ nó trực tiếp quan tâm đến các vấn đề của công lư và b́nh đẳng mà các chức năng như giải quyết vấn đề béo ph́, cải thiện sức khỏe và thành tựu giáo dục có thể dễ dàng được giao, như được chứng minh bởi Coalter (2007) và Collins (2003).

Báo chí v́ công bằng xă hội là một trong những đặc tính xác định của điều tra xây dựng, v́ nó phụ thuộc rất nhiều vào các cam kết để tiếng nói của các bên liên quan được đến với cộng đồng (Lincoln 2001). Báo cáo Brundtland của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987, trang 54), lần đầu tiên đưa "phát triển bền vững" trên chương tŕnh nghị sự và chính trị xă hội, rơ ràng lặp lại bản chất chính trị của khái niệm này bằng cách định nghĩa nó như là " đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của các thế hệ tương lai". Phát triển bền vững kể từ khi được một khái niệm gây tranh căi nhiều v́ nó trực tiếp liên quan tới công lư và b́nh đẳng. Chiến lược phát triển bền vững của Chính phủ Vương quốc Anh củng cố những mối quan tâm trên và hướng tới đảm bảo "một xă hội mạnh mẽ, khỏe mạnh chỉ có thể có bằng cách đáp ứng nhu cầu đa dạng của tất cả mọi người trong cộng đồng trong hiện tại và tương lai, thúc đẩy phúc lợi cá nhân, gắn kết xă hội và ḥa nhập, và tạo cơ hội b́nh đẳng cho tất cả mọi người"(HM Chính phủ năm 2007, T.9). Tuy nhiên, vẫn c̣n thiếu sự thống nhất về ư nghĩa của các cấu trúc nguyên tắc về khái niệm- nhu cầu và phát triển, những khó khăn trong thực hiện, và khả năng dự đoán tương lai và xử lư những sự cố có thể xảy ra.

Lindsey (2008) đề xuất một khuôn khổ cho kiểm tra tính bền vững trong phát triển thể thao dựa trên bốn cấp độ của sự thay đổi, cộng đồng, cá nhân, tổ chức và thể chế. Mặc dù khái niệm và giá trị thực tế của khuôn khổ này không giải quyết được 2 cấu trúc cơ bản trên. Hội nghị chuyên đề Quốc tế năm 2008 về tác động của sự kiện thể thao lớn đối với các mục tiêu phát triển cũng đă cố gắng để giải quyết vấn đề này nhưng không thành công. Trái ngược với Lindsey, di sản không được hiểu là một loạt các thay đổi liên tiếp ở các cấp độ khác nhau, mà là một kết quả, nếu được lên kế hoạch tốt có thể mang về nhiều ảnh hưởng tích hơn tích cực hơn là những tác động tiêu cực (Đại học West Cape 2008, trang.15). Khái niệm di sản thể thao Olympic bền vững cũng gặp  phải những thách thức tương tự bởi ví phải giải thích được làm thế nào cân bằng mối quan tâm tại một lễ hội 16 ngày (thời gian), được tổ chức tại một thành phố, hoặc chỉ tại một vùng của London (không gian) với mức đầu tư cơ sở hạ tầng rất lớn và chi phí vận hành (đầu tư) với các nguyên lư phát triển bền vững hỗ trợ việc chia sẻ và phân tán tác động xă hội, kinh tế và môi trường qua thời gian và không gian v́ lợi ích của tất cả mọi người (ul Haq 1996).

Mog (2004) lập luận rằng bỏ qua tính chất gây tranh căi, khái niệm phát triển bền dựa trên 2 yếu tố: quá tŕnh và định hướng tham gia. Mog (2004, Trang 2140) tiếp tục đưa ra một lập luận về sự phát triển bền vững "đâylà một quá tŕnh bất tận được đặc trưng bởi phương pháp được sử dụng trong hướng dẫn thay đổi chứ không phải là bất kỳ mục tiêu cố định nào cần đạt tới thông qua công nghệ, chính sách, thể chế và hành động cụ thể". Hầu hết các nhà b́nh luận cũng đồng ư rằng tất cả các biện pháp can thiệp bền vững cần phải được quan niệm như một hệ thống tương tác đặc trưng bởi khả năng nâng cao của cả người can thiệp và người chấp nhận đổi mới, học hỏi và thay đổi (Dresner 2003; Hjorth & Bagheri năm 2005; Mog 2004). Phát triển thể thao bền vững, do đó, dường như là một lư tưởng và mục tiêu thay đổi, chắc chắn liên quan đến một quá tŕnh học tập xă hội. Điều này làm cho việc phát triển thể thao bền vững trở thành một quá tŕnh xây dựng nhằm tạo ra giá trị với một điểm kết thúc có thể phân tích nhưng không thể được biết đến. Theo một số lập luận khác th́ "Mặc dù có bản chất gây tranh căi và không rơ ràng, khái niệm phát triển di sản thể thao Olympic bền vững thực sự lôi cuốn nhờ khả năng kết hợp thực tế và chính sách có liên quan với các ngành khoa học đáng kính. Tuy nhiên, nó không thể được đánh giá đầy đủ nếu giải thích chỉ như là một "hệ thống đầu vào-đầu ra"được theo dơi thông qua các khảo sát quy mô lớn (Ogi)"(Girginov Hills và 2008, trang 2102-3).

1.2. Chức năng của phát triển các môn thể thao Olympic

 Searle (1995) thấy các chức năng không bao giờ được lập tŕnh trước cho bất kỳ một hiện tượng nào, nhưng luôn luôn được phân công từ bên ngoài bởi quan sát và người sử dụng có ư thức. Trong lịch sử, thể thao có liên quan với một số chức năng y tế, xă hội, chính trị, quân sự và kinh tế (Coakley 1998, Gratton và 2001 Henry, Mangan 2000, Senn 1999). Chức năng chính được gán cho năm thế vận hội London 2010 là "truyền cảm hứng cho các quốc gia và những người trẻ nói riêng trở nên hăng hái hoạt động thể chất hơn” (DCMS 2007). Đối với tác dụng này, LOCOG (2007, www.london2012.com/inspired) đă tạo ra một thương hiệu"khơi nguồn" làm phần thưởng dựa trên cơ sở cạnh tranh với bất kỳ dự án văn hóa và thể thao nào có thể tự xác định được trực tiếp khuyến khích từ các tṛ chơi. Mặc dù vô cùng khó khăn để nắm bắt các quy tŕnh liên quan đến cảm hứng, khái niệm đó thực sự có sức thu hút chính trị
Việc sử dụng và lạm dụng các chức năng của các chế độ chính trị để thuyết phục đă tạo ra những kỳ vọng ngày càng lớn rằng thể thao có thể mang lại hầu như bất kỳ lợi ích cá nhân và xă hội nào với chi phí tương đối thấp (Collins 2003, 1984 Hoberman, Houlihan và White 2002). Kết quả là, trọng tâm của nghiên cứu chính sách bắt đầu chuyển từ những ǵ thể thao làm được sang những tiềm năng của nó để có được kết quả đa dạng trong điều kiện cho phép (Coalter 2007, Nicholson và Hoye năm 2008). V́ vậy, từ một quan điểm chính sách chỉ định một chức năng ưu tiên cho thể thao đă trở thành vấn đề. Trong đó nổi cộn lên chính là các quy tŕnh và cơ chế chịu trách nhiệm mang lại những tác động và lợi ích tích cực. Coalter (2007) đă tạo ra một trường hợp bắt buộc cho hướng tiếp cận định hướng quy tŕnh đối với việc học tập các chính sách tham gia thể dục thể thao. Ông lập luận rằng "ch́a khóa phân tích vấn đề liên quan đến thể thao và quá tŕnh mang lại kết quả ǵ cho đối tượng tham gia và trong hoàn cảnh nào (trang 34) (được nhấn mạnh trong bản gốc). Lập luận này được hỗ trợ bởi thực tế rằng 46 môn thể thao Olympic và chương tŕnh Paralympic sẽ đa dạng hóa tiềm năng phát triển để mang lại lợi ích cá nhân và cộng đồng; Khung chương tŕnh nghị sự mới của IOC và chính phủ Anh sẽ tạo ra "hoàn cảnh thích hợp" chỉ cho một số môn và nhóm thể thao, và cùng có chung một nhận thức về tất cả thành phần tham gia rằng di sản Olympic không phải là không thể tránh khỏi, nhưng được tạo ra thông qua quá tŕnh có dự định hoặc ngoài ư muốn. sau 2 nghiên cứu, Girginov và Hills (2008) đă chứng minh rằng những kinh nghiệm, quá tŕnh tham gia và kết quả trong việc tạo ra di sản thể thao Olympic bộ môn bóng chuyền và StreetGames (một nhóm người dựa trên chương tŕnh hoạt động thể chất) đă đa dạng hóa cao và đ̣i hỏi nhiều mảng kiến thức, khả năng truyền tải, nỗ lực và lợi ích bền vững. V́ vậy, những môn thể thao khác nhau sẽ có năng lực khác nhau tương ứng với các lĩnh vực và không được coi là một thực thể cá biệt. Tương tự như vậy, chức năng chính của Thế vận hội thể thao London 2012, nhằm truyền cảm hứng cho một thế hệ mới những người trẻ tuổi tham gia hoạt động thể chất, sẽ t́m thấy sbiểu hiện khác nhau trong lĩnh vực thể thao.

1.3. Trọng tâm chung

Xây dựng và phát triển thể thao Olympic bền vững có cùng 2 giả định quan trọng – tạo ra ư nghĩa được tạo ra  bởi những con người có cùng chung nhận thức , vượt quá niềm tin cá nhân và bắt buộc hành động. V́ cả hai đều đ̣i hỏi một sự hiểu biết tập thể về di sản thể thao Olympic và về các tổ chức chính thức để tập trung vào những yếu tố giao nhau và tương tác. Hai giả định cũng yêu cầu các hành động đồng thời nhằm giải quyết vấn đề xă hội , các vấn đề y tế, phát triển kinh tế, phân phối không đồng đều các nguồn lực kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Phát triển có kế hoạch, như Cowen và Shenton (1996) lập luận, có liên quan với các chính sách và hành động có chủ ư của nhà nước và các cơ quan khác, được thể hiện trong các học thuyết phát triển khác nhau. Các tầm nh́n được thúc đẩy bởi những giáo thuyết này bắt nguồn từ thực tiễn của nhà nước hiện đại và nỗ lực trong việc đào tạo công dân, quân nhân, các nhà lănh đạo có kỷ luật và các đối tượng có thể đào tạo khác, thể thao luôn được sử dụng như một phương tiện chính cho mục đích này (Duke và Golley, năm 1996, Mangan 2000). Trong lĩnh vực chính sách thực tế, trọng tâm chung được thực hiện thông qua các khái niệm ủy thác có nghĩa là, thông qua bước trung gian để phát triển năng lực của người khác. Hai dự định quan trọng đối với di sản Olympic đă được chấp nhận rộng răi bởi vô số các cơ quan, chính phủ Anh và các môn thể thao cộng đồng được tăng lên với nhiều cơ hội tham gia thể dục thể thao hơn.

Hơn nữa, mục tiêu của di sản Olympic không thể đạt được mà không đối đầu với các hoạt động của con người và cơ cấu dẫn đến hoạt động thể thao không được phát triển và kém bền vững. Xem xét việc phân tích chính sách môi trường của Hass "(2004, p. 570, người ta đề xuất chính sách phát triển di sản thể thao Olympic (như là một biểu hiện của trọng tâm chung) dựa trên hai cơ sở chính - thủ tục và nội dung. Điều thứ nhất đ̣i hỏi sự tham gia và minh bạch nhằm đảm bảo rằng quan điểm mới về phát triển được đưa ra trước  hội đồng quản trị và tất cả các bên liên quan được tham gia quá tŕnh đảm bảo thực thi chính sách và tuân thủ. Điều thứ hai liên quan đến cách tiếp cận toàn diện hơn đối với hoạch định và xây dựng chính sách thông qua một cách tiếp cận đa ngành. Trong khi đó, không phải là lúc nào cũng có thể đạt được một chính sách phát triển thể thao thực sự bền vững, việc xác định và chấp nhận các giá trị và nguyên tắc nền tảng bền vững không nên chỉ được khuyến khích mà c̣n nh́n vào những ǵ đạt được.

1.4. Nguyên tắc tập thể

Nguyên tắc tập thể không chỉ liên quan đến yêu cầu quy phạm và pháp lư xác định hành vi của các các vận động viên di sản khác nhau, mà c̣n là một loạt các quy tắc và kỳ vọng chính thức và không chính thức. Girginov và Hills (2008) đă kiểm tra sự phát triển của tư duy di sản thông qua 3 hồ sơ đăng cai Olympic của Vương quốc Anh vào 1992, 1996 và 2000 và đă chứng minh rằng khái niệm đầu tiên, khái niệm hiện tại về phát triển thể thao bền vững đă không tồn tại cách đây gần 10 năm và thứ hai, rằng nó đă được h́nh thành một cách tích cực  bởi một quá tŕnh chính trị chịu trách nhiệm thiết lập các quy tắc kế thừa, có sự tham gia của IOC, chính phủ Anh và một số cơ quan khác. Quá tŕnh chính trị của việc tạo ra các quy tắc phát triển thể thao Olympic bền vững đồng thời với “sản phẩm di sản” đă được khuyến khích bằng tổng hợp các can thiệp bao gồm các phiên điều trần quốc hội (Ủy ban HC CMS 2007), các thỏa thuận hợp đồng giữa chính phủ Vương quốc Anh và các cơ quan thể thao tự nguyện ( Hiệp định Dịch vụ cộng đồng, HM Treasury 2007) và tham vấn cộng đồng (thể thao nước Anh 2006), sau đó trở thành một cam kết chính trị của chính phủ Anh trong một văn bản mang tên "Cam kết của chúng tôi trong năm 2012" (DCMS 2007), đă được nêu ra trong kế hoạch hành động 84 trang (DCMS 2008) vạch rơ chi tiết những ǵ cần phải được thực hiện để đạt được các sản phẩm này.

Khuôn khổ di sản Olympic đưa ư tưởng phát triển thể thao bền vững vào một doanh nghiệp hợp lư hóa và hợp pháp hóa các bên liên quan, tổ chức có liên quan với việc theo dơi và đo lường các di sản và vô số các đối tác cung cấp. Coubertin bắt đầu như là một dự án giáo dục sinh ra các ảo tưởng với một nền văn hóa ngày càng vật chất và tập thể dục cho người nghèo của tuổi trẻ đă trở thành một tổ chức quan liêu (IOC và LOCOG) bận rộn với việc thi hành các quy tắc di sản và tạo ra các báo cáo về lợi ích hứa hẹn.

1.5.Năng lực đối phó với môi trường của con người

Phần lớn ư tưởng di sản Olympic đều dựa trên năng lực con người để dự đoán tương lai, dựa trên triết học khoa học phương Tây, dự báo về việc nâng cao và phát triển kiến ​​thức như một phương tiện giải quyết vấn đề. Cách tiếp cận IOC nhấn mạnh cả giả định tích cực và xây dựng,được trích dẫn đầy đủ như saus:

Ư tưởng cho việc nghiên cứu Ogi được sinh ra từ mong muốn của IOC để phát triển một phân tích khách quan và khoa học của tác động này đối với từng phiên bản của Thế vận hội Olympic. Điều này có nghĩa là, IOC sẽ xây dựng một cơ sở tri thức mạnh mẽ và chính xác về các hiệu ứng vật thể và di sản của thế vận hội. Điều này sẽ giúp IOC hoàn thành 2 mục tiêu cơ bản được ghi trong Hiến chương Olympic:

(i) khuyến khích và hỗ trợ một mối quan tâm chịu trách nhiệm cho các vấn đề môi trường, thúc đẩy phát triển thể thao bền vững và yêu cầu tổ chức Thế Vận Hội cho phù hợp, và (ii) để thúc đẩy một di sản tích cực từ Thế vận hội Olympic cho tới các thành phố và nước chủ nhà. Nghiên cứu OGI có thể được sử dụng như một công cụ quản lư cho phép các tổ chức và các bên liên quan có một tầm nh́n tổng thể về tác động của hoạt động và việc đầu tư của họ được thực hiện trong khuôn khổ của các môn thi đấu. Được sử dụng tích cực, nghiên cứu OGI cung cấp cho các nhà tổ chức một phương tiện để nhận thức được những ảnh hưởng của một số hành động nhất định đă được thực hiện và để điều chỉnh nếu cần thiết. Nó cũng có thể được sử dụng như một công cụ để chứng minh những đóng góp tích cực trong việc tổ chức các tṛ chơi liên quan đến phát triển địa phương và khu vực (thông tin liên lạc cá nhân với Ngành thể thao Olympic IOC, tháng 5, 2008).

IOC tuyên bố "kiến thức khoa học khách quan” xứng đáng được phân tích hơn nữa. Đầu tiên, IOC cố gắng để xây dựng một nguồn kiến thức từ việc nghiên cứu nhằm mục đích thông báo các chính sách di sản và thúc đẩy tác động tích cực của các môn thể thao. Thứ hai, đó là có căn cứ trên một logic nhân quả đơn nhất, trong đó giả định rằng nếu được trang bị với kiến ​​thức này, chúng ta có thể có thực hiện những hành động nhất định để có được hiệu quả mong muốn. Cả hai giả định rất khó để duy tŕ và xem xét kỹ lưỡng. Như đă được chứng minh, việc khái niệm hóa phát triển di sản thể thao Olympic bền vững như một thực thể là vô cùng rắc rối và không thực tế. Thay vào đó, nó được xem như là một loạt các kết quả có thể xảy ra (di sản) tích lũy cho các cá nhân và cộng đồng trong điều kiện thích hợp. Chúng bao gồm một số kết quả và tác động như nâng cao ḷng tự trọng, sự cân đối, gắn kết gia đ́nh, và giảm thiểu hành vi chống lại xă hội. Thứ ba, phát triển thể thao là một vấn đề xă hội phức tạp và nhiều nghiên cứu về chính sách môi trường đă chứng minh sự hiểu biết một khía cạnh của vấn đề không tự động mang lại tiến bộ cho một lĩnh vực khác (x. Dimitrov 2003). Ví dụ, mặc dù kiến ​​thức của chúng ta về tác dụng của việc tập thể dục thể thao đối với cơ thể đă cải thiện đáng kể, th́ điều này cũng không mang lại lợi ích tương tự đối với chiến dịch quảng cáo để khuyến khích mọi người tập thể dục nhiều hơn. Cuối cùng, những hành động của IOC bất chấp tuyên bố như vậy, bởi v́ khuôn khổ OGI đă áp dụng một bộ chính sách cho thế vận hội London 2012 mà không có bằng chứng khoa học chứng minh rằng Các bộ môn thi đấu có thể duy tŕ di sản thể thao bền vững. Trong thực tế, vị trí của chính phủ Anh trong mối liên kết giữa các sự kiện lớn và tham gia thể dục thể thao là điều trái ngược:" có vẻ như các sự kiện chủ chốt không phải là một phương pháp hiệu quả"(2002 DCMS, trang.75).

Các cuộc thảo luận ở trên cho thấy mối liên hệ giữa kiến ​​thức và chính sách không hề đơn giản và cả các chính trị gia cũng như các nhà khoa học xă hội đă cảnh báo về việc khẳng định điều ngược lại. Như Dimitrov (2003, p.126) quan sát thấy "khoa học không thể làm ra chính sách kể từ khi có sự can thiệp chính trị giữa kiến ​​thức và hành động, và quá tŕnh chuyển đổi từ thông tin cho tới h́nh thành lợi ích được tạo ra từ các giá trị, quyền lực và các tổ chức". Một tuyên bố từ một báo cáo của Rand chỉ mang tính hạn chế của năng lực con người cả hai để trong dự đoán và đối phó với môi trường và khoảng cách khá xa giữa kiến ​​thức và chính trị.

2. Chương tŕnh nghị sự nghiên cứu chính sách phát triển bền vững di sản thể thao Olympic

Nghiên cứu chính sách không mô tả một hoạt động đơn lẻ và thay đổi tùy theo vấn đề được giải quyết, kỷ luật học tập của các nhà nghiên cứu, các nguồn kinh phí và thiết lập tổ chức cũng như phong cách và phán quyết của các nhà nghiên cứu. Majchrzak (1984, trang 12) định nghĩa nghiên cứu chính sách như sau "quá tŕnh tiến hành nghiên cứu, phân tích một vấn đề xă hội cơ bản để cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một số cách thức định hướng hành động để giảm bớt vấn đề." Nghiên cứu chính sách chia sẻ nhiều điểm tương đồng với phân tích chính sách và nghiên cứu cơ bản để giải quyết một vấn đề cơ bản của xă hội. Tuy nhiên, nghiên cứu chính sách cơ bản v́ định hướng cả hai vấn đề là vấn đề và hành động. Do đó, nghiên cứu chính sách thể hiện mối liên quan đến kiến thức đă được áp dụng dưới h́nh thức chính sách và thực hiện tiện ích cho các nhà hoạch định chính sách và các học viên (Bernstein 2006).

Nghiên cứu di sản mang tính chính trị v́ hai lư do chính là mang nhiều giá trị và một nguồn năng lượng. Hammersley (1995) đă tranh luận một cách thuyết phục về bản chất chính trị của nghiên cứu xă hội bằng việc xác định phán quyết và thi hành quyền lực như các khía cạnh chính của chính trị. Nghiên cứu, như ông đề nghị, "dựa trên một cam kết cho mục tiêu tạo ra kiến ​​thức. Nói cách khác, nó giả định rằng kiến ​​thức nói chung thích hợp để phớt lờ đi ", do đó" nghiên cứu phải giả định một số mục tiêu có giá trị "(1995, trang 110). Các nhà nghiên cứu, như Hammersley (1995, trang105) cũng bổ sung "yêu cầu chuyên môn, và thẩm quyền, trên một số lĩnh vực của kiến ​​thức. Đ̣i quyền được lắng nghe và thông báo ở những khu vực này. Hơn nữa, đây là một quyền không đối xứng: lời nói của họ đ̣i hỏi sự chú ư hơn lời nói của những người giáo dân ". Thật vậy, như Hass (2004, p.587), "kiến thức có thể nói lên quyền lực". Cơ quan nghiên cứu được thực hiện thông qua các cộng đồng tri thức, Hass (2004, trang 587) miêu tả như là "vành đai truyền nhờ đó kiến ​​thức mới được phát triển và chuyển đến các nhà hoạch định chính sách". Tuy nhiên, nghiên cứu chính sách vẫn c̣n phải đối mặt với vấn đề là làm thế nào để những phát hiện của nó có liên quan đến và được thực thi bởi các nhà hoạch định chính sách, được tóm gọn trong tiêu đề của nghiên cứu Haas’s (2004) " khi nào quyền lực lắng nghe với sự thật ". Để trả lời cho câu hỏi này, Haas đặt ra một vấn đề nhận thức luận và bản thể học quan trọng liên quan lớn đến nghiên cứu chính sách thể thao. V́ mục đích cuối cùng của nghiên cứu chính sách là cung cấp kiến ​​thức được áp dụng, nên được kỳ vọng rằng kiến ​​thức này sẽ có ích cho các nhà hoạch định chính sách, nếu không nó sẽ được xem là vô ích. Haas (2004, trang 574) gọi đó là "kiến thức có thể sử dụng" , là " thông tin chính xác được các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách sử dụng". Đây là một quan niệm bổ trợ về giá trị của kiến ​​thức mà đưa ra phỏng đoán rằng những kiến ​​thức chỉ có giá trị ở mức độ đóng góp vào thực tiễn. Các nhà nghiên cứu chính sách Thể thao cần phải nhận thức được và không miễn nhiệm trên cơ sở bổ trợ góp phần nghiên cứu xử lư kỷ luật có thể làm đối với di sản. Theo một cuộc khảo sát toàn diện với cộng đồng chính sách xă hội Vương quốc Anh đă chứng minh 53% ư kiến cho rằng điều này “quan trọng như nghiên cứu chính sách xă hội có giá trị tiềm năng đối với chính sách và thực tế ADN , dẫn đến tích lũy kiến ​​thức", trong khi đó chỉ có 12% người tin rằng đó là "quan trọng hơn nhiều so với nghiên cứu chính sách xă hội có giá trị đối với chính sách và thực tế"(Becker, Bryman và 2006 Sempik, trang 7).

Sau khái niệm về sự phát triển thể thao bền vững như một quá tŕnh với một điểm kết thúc chưa xác định, việc thiếu kiến ​​thức về một số khía cạnh quan trọng của nó, và bản chất của nghiên cứu chính sách chính là các chính sách di sản Olympic có thể được coi là thí nghiệm; mà người tham gia (ví dụ, IOC, LOCOG và Thể thao Anh) theo dơi và phản ánh để cải thiện qua thời gian. Không có ǵ đáng ngạc nhiên, khi trong năm 2005, IOC trao tặng giải thể thao cho London, phản ứng đầu tiên của cộng đồng thể thao Vương quốc Anh, từ nhóm thầu cho tới Cơ quan thể thao quốc gia (NGBs), là "bây giờ là những ǵ?" (Thông tin cá nhân với cán bộ chủ chốt của LOCOG, EVA và StreetGames, 2008). Ba năm cho kế hoạch di sản thể thao vẫn c̣n đang được tiến hành bao gồm cả quy hoạch tổng thể thành phố London và LOCOG". Về vấn đề này, Hass (2004, trang 575) lập luận về quan điểm chính sách xây dựng "trong điều kiện không chắc chắn - chẳng hạn như có liên quan với các vấn đề toàn cầu hóa hiện đại và kỹ thuật cao -  không thể tạo ra thông tin  đầy đủ để tuân theo các chính sách phân tích mô h́nh ... Ngoài ra, chính là để thiết kế quá tŕnh phân tích chính sách mà từ đó các vận động viên hiểu biết thêm về thế giới và hiểu về nhau hơn ". Lập luận của Haas cung cấp một thiết bị phân tích hữu ích để t́m hiểu thêm về chính sách di sản London 2012 v́ những chính sách này được xây dựng trong môi trường chính trị, kinh tế và xă hội cao nhưng không chắc chắn. Nó đủ để đề cập đến sự gia tăng gấp ba lần ngân sách Games, từ £ 3b bảng đến £ 9.3b giữa năm 2006 và 2008, suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay và khoảng cách 50 triệu bảng trong tài trợ của đội GB cho Olympic năm 2012 (Vương quốc Anh thể thao, 2008). Những vấn đề quốc gia và toàn cầu không chắc chắn tương tự làm cho bất kỳ kế hoạch phát triển thể thao bền vững nào cũng có vấn đề.

Rơ ràng, do tính chất phức tạp và gây tranh căi của phát triển thể thao bền vững chúng ta cần phải xem xét khả năng rằng các loại kiến ​​thức khác nhau có thể có vai tṛ không đồng đều trong thông báo quyết định tập thể. Thật ra, khuôn khổ IOC OGI chỉ sử dụng hai chỉ số, số người tham gia và phát triển của môn thể thao trường học, để nắm bắt phát triển thể thao bền vững tại thành phố và đất nước chủ nhà. Ví dụ như, những thông tin này là ít giá trị đối với các nhà hoạch định chính sách, họ sẽ không biết các quy tŕnh và điều kiện ǵ chịu trách nhiệm cho những kết quả tại địa điểm nào. Hơn nữa, chúng ta cũng cần phải biết loại thông tin nào là quan trọng hơn và kiến thức về các khía cạnh phát triển các môn thể thao nào có ảnh hưởng nhiều nhất trong việc đưa ra quyết định. Theo như Dimitrov (2003), kiến ​​thức từ nghiên cứu chính sách di sản có thể được chia thành ba khía cạnh cơ bản: (i) kiến ​​thức về mức độ của vấn đề phát triển thể thao,(ii) kiến ​​thức về nguyên nhân của vấn đề, và (iii) kiến ​​thức về hậu quả của nó. Giá trị của kiến ​​thức được bóc tách, theo Dimitrov (2003, trang.128), là "nó giúp chúng ta giải quyết các vấn đề lư thuyết mà các phương pháp tiếp cận trước đây đă không thể giải quyết 1 cách hiệu quả". Một cách tiếp cận tương tự như sản phẩm tri thức trong phát triển các môn thể thao hứa hẹn sẽ có can thiệp chính sách hiệu quả hơn so với các loại kiến ​​thức khác nhau cung cấp bởi  giới tính mới và nhận thức luận dân tộc. Các yếu tố xây dựng di sản thể thao Olympic xác định trước đó cung cấp một hướng dẫn hữu ích cho việc thu thập và giải thích các dữ liệu thực nghiệm với mỗi phần tử đặt ra thêm một số cân nhắc có liên quan đến nhau về lư thuyết và phương pháp được đề cập dưới đây.

2.1.Nghiên cứu ư tưởng của phát triển bền vững di sản Olympic thể thao

Ư tưởng phát triển thể thao bền vững đă được đóng khung thông qua một tranh luận chính trị, học tập và cộng đồng, trong đó đặt ra hai vấn đề lư thuyết và phương pháp luận quan trọng. Chúng công nhận tính bền vững là một vấn đề phức tạp đ̣i hỏi phải sử dụng một sự kết hợp các quan điểm, và đồng thời thay đổi mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, bao gồm tính thiết thực của nghiên cứu. Một thách thức chính trong việc t́m hiểu phát triển thể thao bền vững là làm thế nào để dung ḥa hai h́nh thức khác nhau và mức độ phân tích, diễn giải / xây dựng và phê b́nh. Quan điểm diễn giải tập trung vào câu hỏi " thế nào là phát triển thể thao bền vững và làm thế nào để thực hiện được điều đó?" và rất quan tâm đến cá nhân tham gia và nhận thức của họ, mối quan hệ và tương tác trong lĩnh vực địa phương. Điểm nhấn theo quá tŕnh và ngữ cảnh này mời gọi sử dụng các phương pháp liên kết với các phương pháp tiếp cận dân tộc học và phân tích như trường hợp nghiên cứu, quan sát và phỏng vấn. Hạn chế của quan điểm diễn giải là dễ mất tính thực tế và tính hợp pháp đối với các nhà hoạch định chính sách. Quan điểm phê b́nh có một chương tŕnh nghị sự cho sự thay đổi xă hội và quan tâm nhiều hơn trong việc t́m hiểu "làm thế nào chúng ta có thể làm cho quá tŕnh phát triển bền vững các môn thể thao tốt hơn?" Nó vạch ra những phương pháp bắt buộc và đối tượng liên quan để nâng cao các giá trị cụ thể và được hoạt động của quan hệ quyền lực và sự phân phối các nguồn tài nguyên (Greene 2000).

Tuy nhiên, hai cấp độ phân tích,  không được xem như loại trừ lẫn nhau mà là bổ sung cho nhau. Balogun, Huff và Johnson (2003) cho thấy cách này có thể đạt được thông qua các khái niệm của chiến lược. Trong khi quan điểm truyền thống của chiến lược tập trung vào cấp độ vĩ mô và quá tŕnh lâu dài, chiến lược có liên quan tới các hoạt động vi mô và vô số tạo nên chiến lược và chiến lược trong thực tế ", và nó " ngụ ư kết hợp với các nhà quản lư cấp thấp hơn và nhân viên không nằm trong ban quản lư "(Balogun et al 2003, trang.199). Tương tự như vậy, trong một nghiên cứu hiếm hoi về việc xây dựng giấc mơ Olympic, Pitsis, Clegg, Marosszeky và Rura-Polley (2003) đă sử dụng một cách tiếp cận tương lai hoàn  hảo cho quy hoạch và triển khai Thế vận hội Sydney 2000 bền vững với hai giả thuyết bền vững – quá tŕnh và sự tham gia. Hướng tiếp cận này đưa ra một ví dụ về xây dựng thực tế, bởi v́ trước đó không có dự án tương tự nào được thực hiện trong bối cảnh không có kế hoạch thực tế có thể thực hiện được nào. Theo như Pitsis et al (2003, p. 575) việc sử dụng chiến lược hoàn hảo trong tương lai "kết hợp h́nh thành điểm cuối trong tương lai với một trực quan về phương tiện mà trong tương lai dự kiến ​​có thể được thực hiện, như là một trường hợp khẩn cấp chứ không phải là một chiến lược đă được viết kịch bản rơ ràng ". Sự thành công của dự án chủ yếu là nhờ vào việc tạo ra một nền văn hóa chung cho phép các bên liên quan với dự án (kỹ sư, cộng đồng và các cơ quan có thẩm quyền) đóng góp vào kết quả của nó theo cách sáng tạo. Kết hợp hai mức độ phân tích khuyến khích chúng ta xem xét lại mối quan hệ thay đổi giữa các nhà nghiên cứu và nhà/học viên hoạch định chính sách. Điều này đ̣i hỏi các nhà nghiên cứu chấp nhận các câu hỏi nghiên cứu, quyền sở hữu dữ liệu, phân tích và bài viết nên được thực hiện với sự hợp tác và chia sẻ với các tổ chức liên quan (Bologun et al 2003, Lincoln năm 2001).
2.2.Kết quả nghiên cứu trong việc chỉ định các chức năng cho phát triển thể thao Olympic

Bài nghị luận xung quanh ư tưởng phát triển các môn thể thao được tạo ra bằng cách quảng bá di sản khác nhau vạch ra chức năng cho thể thao nói chung và Thế vận hội nói riêng. Ba chức năng đáng được chú ư đặc biệt liên quan đến năng lực phát triển thể thao: " ảnh hưởng đến thay đổi xă hội tích cực bằng cách giải quyết một loạt các vấn đề xă hội và kinh tế, mang lại lợi ích hữu h́nh cho các cá nhân và cộng đồng và truyền cảm hứng cho mọi người. Nhiều trong số những tầm nh́n về sự  ​​phát triển các môn thể thao đă thực sự được thiết kế để bù đắp cho những khuynh hướng tiêu cực của chủ nghĩa tư bản thông qua việc tái thiết trật tự xă hội bằng cách giải quyết sự bất b́nh đẳng giai cấp, nghèo đói, giới tính và tuổi tác (Coalter 2007, Collins năm 2003, 2008 Girginov, Houlihan và White 2002). Tuy nhiên, kiểm tra của Coalter "(2004, Trang 11) về  di sản thể thao Thế vận hội London 2012 bền vững đă đi đến kết luận rằng" hầu hết bằng chứng cho thấy rằng các sự kiện thể thao lớn đă không có tác động tích cực vào số lượng tham gia các môn thể thao ". Quan điểm này được lặp lại bởi một cuộc khảo sát đại diện của Vương quốc Anh với những người ở độ tuổi 20-70, họ tin rằng không nên đưa các môn thi đấu ra làm phương tiện biến những chức năng (cam kết) trên thành hiện thực (Crass Ross Dawson 2007, trang 7). Chính v́ vậy, Các nhà nghiên cứu nên phổ biến các bài giảng chính trị xă hội đại diện cho sự hiểu biết cơ bản về các môn thể thao cũng như tính hiệu lực của một số h́nh thức thể thao, và khả năng cung cấp các kết quả cụ thể dựa trên khái niệm của môn thể thao như "một điều tốt hiển nhiên".

Các chức năng của thể thao được bắt nguồn từ một niềm tin tích cực rằng đời sống xă hội có thể được cải thiện bằng các biện pháp can thiệp có chủ ư dựa trên tính hợp lư khoa học và kiến ​​thức có thể đạt được thông qua nghiên cứu. Xu hướng hiện nay thể thao phát triển như một tṛ chơi tổng hợp tích cực trong đó "tăng hoạt động thể chất 10% có thể cứu được  6.000 mạng sống và £ 500 triệu mỗi năm" (Thể thao Anh năm 2004, trang 29). Như đă chứng minh, phát triển thể thao bền vững không phải là một vấn đề đơn giản và được xác định rơ ràng. Thay vào đó, xem phát triển thể thao bền vững như là một hệ thống tri thừa nhận tính ưu việt của toàn bộ và giúp vượt qua các phương pháp tiếp cận nhân quả bằng cách sử dụng một nguyên nhân ṿng tṛn. Nói cách khác, ngay cả khi dàn dựng chương tŕnh thể thao trực tiếp làm tăng số người tham gia thể thao, đây là mục tiêu của hầu hết các biện phát can thiệp di sản phát triển thể thao, điều này có thể không tự động dẫn đến lợi ích sức khỏe hoặc làm giảm hành vi chống lại xă hội. Để đạt được những lợi ích trên, cần phải có một số thay đổi về văn hóa cũng như cấu trúc.
2.3.Câu hỏi nghiên cứu khi khái niệm hóa trọng tâm chung
Như đă lưu ư, trọng tâm chúng trong phát triển thể thao liên quan đến mục đích của một số cơ quan, đó là, IOC, chính phủ Anh, LOCOG và Thể thao Anh, nhằm phát triển năng lực của một số tổ chức khác bao gồm các cộng đồng địa phương, trường học và các câu lạc bộ trên khắp nước Anh. Liên quan đến tuyên bố của Majckrzach "(1984) rằng chính sách đó không được thực hiện nhưng tích lũy đến quá tŕnh xây dựng di sản, ngụ ư rằng việc thực hiện ủy thác liên quan đến việc gợi ư, thực hiện, đánh giá và sửa đổi chính sách kế thừa. Quá tŕnh này được thực hiện một cách minh bạch có liên quan đến tất cả các bên tham gia. Hoạch định chính sách, một biểu hiện của trọng tâm chung, nên dựa trên phương pháp tiếp cận liên ngành (cơ sở chính sách nội dung di sản). Các cơ sở thủ tục và nội dung của chính sách di sản Olympic phản ánh sự căng thẳng giữa các quan điểm nghiên cứu phê b́nh và diễn giải đă được vạch ra trước đó và đặt ra một số vấn đề lư luận và phương pháp được xem xét dưới đây.
Cùng với các thành viên và các nhóm tham gia đại diện cho mục đích tập thể dựa trên niềm tin chung kêu gọi sự chú ư đến hai điểm khái niệm quan trọng. Thứ nhất, bởi v́ người phát triển các môn thể thao can thiệp thay mặt cho những người khác, điều này đặt ra câu hỏi về tính hợp pháp của quyền ủy thác (Cowen và Shenton 1996). Đặc biệt, những quyền ǵ nên được phát triển và làm thế nào để đo đếm được mức độ phát triển này? Thứ hai, sự khuếch tán của tầm nh́n phát triển các môn thể thao khác nhau tạo ra những khó khăn tổ chức khi nó phá vỡ sự cân xứng giữa  các nhà làm quyết định  (cộng đồng phát triển được ủy thác) và những người thực thực thi quyết định (cộng đồng và người dân gắn liền với sự phát triển). Điều này dẫn đến việc bỏ qua nguyên tắc tương đương, mà đơn giản nhất cho thấy rằng "những người bị ảnh hưởng đáng kể cái tốt xấu của toàn cầu cần phải có tiếng nói trong các quy định và điều lệ của nó "(Kaul, được trích dẫn trong Held 2006, trang 166).

Chúng tôi khái niệm hóa phát triển thể thao như là một mục tiêu di động, một hoạt động xây dựng bản sắc và không gian, thiết lập các tương tác, và một quá tŕnh thay đổi nhận thức, tất cả đều phụ thuộc vào việc học. Điều này sẽ tạo ra một doanh nghiệp có nhận thức, bao gồm việc học tập và vốn hiểu biết cá nhân và xă hội, tính sáng tạo và quản lư và đưa ra một vấn đề là kiến thức là ǵ và ai chịu trách nhiệm sáng tạo ra nó, về lĩnh vực này, nghiên cứu phân tích có thể đóng góp đáng kể tới chính sách. Như Hammersley (1995, trang135-6) luôn khẳng định:

Nghiên cứu này cung cấp kiến ​​thức về quan điểm và hành vi của các vận động viên-là  mục tiêu của chính sách và thực hành. Theo  cách này, nó có thể cho phép các học viên hiểu được những vận động viên này sâu sắc hơn: nhận ra ư định đặc biệt và động cơ của họ, và để xem tính logic của quan điểm của họ trên thế giới, bao gồm cả quan điểm của họ về các học viên.

Lorentzen (năm 2005, trang 1019) chỉ ra rằng "quá tŕnh xă hội học tập đ̣i hỏi phải có một môi trường xă hội khuyến khích chia sẻ kiến ​​thức giữa các cá nhân và các nhóm". Vấn đề trung tâm trong việc xem xét các tác động của trọng tâm chung về xây dựng di sản Olympic liên quan đến kết quả phát triển thể thao chính là quan tâm đến việc làm thế nào để chia sẻhiểu biết, tạo ra và sử dụng kiến thức thông qua  tương tác trong một bối cảnh chung (Nonaka và Toyama năm 2005). Thái độ học tập rơ ràng thể hiện phát triển tể thao như là một quá tŕnh tạo ra tri thức - nơi các kiến ​​thức mới sinh ra từ sự tương tác giữa các thành viên thể thao. Green (2008) minh họa một cách sống động luận điểm này bằng cách khẳng định rằng mối quan hệ xây dựng và kinh nghiệm tích cực là hai yếu tố trung tâm quyết định sự thành công của chương tŕnh phát triển thể thao. Do đó, Người phát triển thể thao phải rất nhanh nhậy và tạo ra cơ hội học tập bằng cách đánh giá tất cả các kỹ năng được đưa đến và bằng cách khuyến khích sự đóng góp của tất cả các bên tham gia (Frisby và Millar 2002).

Hơn nữa, họ cũng phải phát triển các kỹ năng tổng hợp các kiến ​​thức mới để có thể áp dụng trong thực tế và sau này sẽ trở thành một nguồn tri thức bổ sung cho thế hệ mới

Mục đích của nghiên cứu chính sách phát triển thể thao sau đó là làm thế nào để làm cho thể thao kém phát triển  có thể phát triển, các tổ chức thể thao không thành công có thể thành công, các đồng bào dân tộc thiểu số đều có thể tham gia và hành vi thể thao phi đạo đức trở nên có đạo đức. Để hiểu làm thế nào để khắc phục những nhận thức th́ cần phải nghiên cứu sự thay đổi ở các cấp độ xă hội, cộng đồng và cá nhân. Ở đây nhấn mạnh sự thay đổi liên quan đến việc xây dựng bản sắc cá nhân và tổ chức, cũng như ư nghĩa của việc xây dựng không gian và địa điểm. Nghiên cứu chính sách phát triển thể thao sẽ cần phải xem xét cách để khám phá bản sắc xă hội như giới tính, sắc tộc và tầng lớp có liên quan đến mong muốn và cơ hội của cá nhân khi tham gia vào môn thể thao trong không gian và thời gian cụ thể và đảm bảo rằng các biện pháp can thiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi và củng cố bản sắc tích cực (Hills năm 2008).
2.4.
Nghiên cứu dấu hiệu liên quan đến việc tạo ra các quy tắc tập thể
Phát triển kiến thức và hiểu biết xă hội là cơ sở tạo ra các quy tắc để điều hành các lĩnh vực cũng như tạo điều kiện cho những cơ hội phát triển mới. Các chính sách di sản thể thao đại diện cho các thí nghiệm mà các nhà phát triển điều hành và phản ánh. Và như vậy, điều này đ̣i hỏi một số lượng đáng kể các quy tắc điều chỉnh hành vi của các vận động viên và các cơ hội của họ sẽ được tạo ra trong quá tŕnh hoạch định và cung cấp di sản. V́ vậy, đo lường và đánh giá quá tŕnh phát triển thể thao thông qua việc thường xuyên và không thường xuyên theo dơi các kênh liên quan đến bản chất chính trị và thực tế của phát triển bền vững. Phát triển thể thao vốn là một dự án chính trị trong đó tầm nh́n khác nhau sẽ đấu tranh cho mức ảnh hưởng và tạo ra kết quả vật chất . Ví dụ minh họa sau đây sẽ làm nổi bật luận điểm này. Chính phủ Anh quyết định tài trợ Xổ số kiến
​​ở mức 65 triệu bảng để giúp chi trả chi phí cho đại diện cho việc cắt giảm 8% ngân sách nhà nước cho Thể thao Anh, nhưng bởi v́ có phép đ̣n bẩy, cứ 3 bảng cho 1 bảng, có nghĩa là 1600000000 bảng không phải là dành cho thể thao cộng đồng và sẽ có ít người tham gia cũng như huấn luyện viên hơn. Tiềm năng phát triển của hai môn thể thao chính thống Vương quốc Anh là bơi lội và điền kinh đă bị cản trở đáng kể do sự cắt giảm kinh phí £ s1.300 000 và £ 1750 000 sau khi “thất bại” trong việc dành được huy tại Olympic Sydney và Athens (Girginov và Hills năm 2008 ). Do đó, nghiên cứu chính sách, vào tài khoản cho các hiệu ứng của việc tạo ra quy tắc kế thừa sự phát triển của môn thể thao khác nhau.
2.5.Câu hỏi nghiên cứu câu hỏi về năng lực con người để đối phó với môi trường
Theo như các phần trước, việc tạo ra các quy tắc cần năng lực con người để đối phó với những t́nh huống bất ngờ của môi trường có liên quan đến di sản thể thao. Năng lực của con người rất phức tạp và ngày càng phát triển, và theo quan điểm chung, nó liên quan đến vốn xă hội, kinh tế và vật lư dưới h́nh thức ḷng tự trọng, kiến ​​thức, kỹ năng và các mạng xă hội cũng như cấu trúc và các công cụ quản lư cần thiết phục vụ mục đích hỗ trợ (Adams 2008). Phát triển năng lực cá nhân và tổ chức để tạo ra, kiểm tra và duy tŕ cơ hội phát triển các môn thể thao liên quan đến việc sử dụng các truyền thống địa phương và tiềm năng con người trong một môi trường chính trị và kinh tế thay đổi liên tục. Xây dựng năng lực để tham gia lấy cảm hứng từ Olympic trở thành vấn đề khi nền tảng và lịch sử của các nhóm và cộng đồng khác nhau được xem xét. Mức độ tham gia trung b́nh của thành phố đăng cai Olympic lần thứ 5 là đáng báo động ở mức thấp 18,5%. (Thể thao nước Anh 2007). Vấn đề càng trở nên phức tạp bởi mức thiếu hụt và mức độ béo ph́ là 20% đối với trẻ em trai và 22% đối với các bé gái tuổi từ 7-11 (Điều tra y tế cộng đồng 2003). Rơ ràng, đối với người dân Đông London phát triển thể thao bền vững sẽ có ư nghĩa đặc biệt và phát triển năng lực cá nhân hơn những cộng đồng khác tại Anh. Điều tương tự cũng áp dụng cho các tổ chức và các hoạt động khác nhau.
Thiết lập cơ cấu tổ chức và mô h́nh quản lư để hỗ trợ trong việc xây dựng nguồn nhân lực cần thiết để thực hiện các chức năng của phát triển thể thao tạo ra sự căng thẳng giữa tính đa dạng của kinh nghiệm thể thao của con người và các tổ chức chính thức có xu hướng đơn giản hóa đă được thành lập trước đó. Vấn đề ở đây là các thể chế của sự phát triển thể thao bền vững đ̣i hỏi phải giảm độ phức tạp, do đó, các doanh nghiệp di sản có thể hoạt động, trong đó phần lớn là bỏ qua sự đa dạng của kinh nghiệm thể thao của con người và tiềm năng xây dựng năng lực của họ. Khi đó các câu hỏi nghiên cứu chính sẽ là làm thế nào để cân bằng sự đa dạng kinh nghiệm phát triển thể thao, như một nguồn kiến thức lư thuyết và thực tế , với cơ cấu và mô h́nh tổ chức có xu hướng đơn giản hóa những kinh nghiệm đó để dễ dàng quản lư.
Phát triển thể thao bền vững sẽ dần dần phụ thuộc vào năng lực của các cơ quan trong việc tạo ra và duy tŕ các cơ hội. Năng lực này phải thích ứng được với tính không chắc chắn thể hiện ở sự thay đổi tài trợ và các thể chế cũng như  ưu tiên thể thao và việc phân tích di sản cũng như biểu hiện. Sau đó tổ chức và cộng đồng khác nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau cho phát triển năng lực. Ví dụ, cơ quan điều hành thể dục thể thao đang đối mặt với 2 nhiệm vụ mở rộng mạng lưới câu lạc bộ và cung cấp các giải đấu thường xuyên ưu tú để thu hút sự quan tâm của công chúng.

StreetGames, một tổ chức cộng đồng, đă cố gắng để tạo ra và duy tŕ cơ hội tham gia trong khuôn khổ của giải thưởng Streetmark. Đăng kư giải thưởng Streetmark thiết lập một quan hệ đối tác chính thức, cung cấp cho cơ quan có một gói báo chí, cắt giảm số lượng khách mời tới sự kiện, và các cơ hội khác. Về vấn đề này, Thế vận hội London sẽ không có đóng góp quan trọng cho các tổ chức (Girginov & Hills năm 2008). Nghiên cứu sau đó tập trung làm thế nào để sắp xếp các yêu cầu di sản thể thao Olympic bền vững đối với việc sử dụng một số kỹ thuật quản lư nhất định với nhu cầu phát triển năng lực cụ thể của các tổ chức, cá nhân?
III.KẾT LUẬN
Bài viết cho thấy cần phải xem xét phát triển chính sách di sản Olympic thông qua lăng kính xây dựng. Phát triển các môn thể thao phải được khái niệm hóa như một dăy tương tác và một quá tŕnh thay đổi nhận thức. Phát huy một di sản tích cực từ Thế vận hội Olympic đ̣i hỏi một sự hiểu biết bổ sung về tính bền vững như một cấu trúc xă hội và một hệ thống quá tŕnh phản ánh mục tiêu tập thể và gây tranh căi. Khái niệm di sản Olympic tượng trưng cho một thách thức đối với các nhà nghiên cứu chính sách nhằm điều tra và thúc đẩy các biện pháp can thiệp chính sách. Bài viết này đề xuất một phương pháp tiếp cận quá tŕnh theo định hướng nghiên cứu di sản thể thao Olympic bền vững. Các yếu tố chính cần xem xét trong cách tiếp cận này bao gồm: ư tưởng di sản phát triển thể thao bền vững, chỉ rơ chức năng của phát triển thể thao Olympic; trọng tâm chung; quy tắc tập thể; và khả năng của con người trong đối mặt với vấn đề môi trường. Các câu hỏi về các vấn đề trên là: định nghĩa và khả năng phát triển bền vững và phát triển thể thao; làm thế nào để mang lại lợi ích di sản; kiến thức là ǵ và ai chịu trách nhiệm; mối liên hệ giữa phát triển thể thao và tạo ra quy tắc; và làm thế nào để cân bằng tính đa dạng của kinh nghiệm phát triển thể thao sử dụng các kỹ thuật quản lư. Để giải quyết những câu hỏi nghiên cứu này, một loạt các hướng tiếp cận xuất hiện.  Hướng tiếp cận  như vậy đ̣i hỏi các phương pháp phân tích và phê b́nh có khả năng đồng phân tích ở mức độ vĩ mô, tập trung, vi mô, mô h́nh nguyên nhân và kết quả.

Cách tiếp cận lập luận trong bài báo này tạo nên các kết nối giữa nhu cầu và năng lực của con người và tổ chức. Điều này sẽ hỗ trợ sự phát triển của chính sách quốc gia và quốc tế, tăng cường tác động của Thế vận hội thể thao đối với phát triển thể thao và chính sách xă hội và kinh tế của nước sở tại.

Nguồn: bura.brunel.ac.uk