Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên Đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đă chứa đựng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân - hạ - thu - đông, là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lư làm người.
Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, nó mang đậm nét văn hóa dân tộc sâu sắc và độc đáo, phản ánh tinh thần ḥa điệu giữa con người và thiên nhiên theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.
Chữ “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, chữ “đán” có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, tết cũng là dịp để gia đ́nh, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà tổ tiên.
Tết là do xuất xứ từ “tiết” (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, điều đó có ư nghĩa rất đặc biệt đối với một nước thuần nông như nước ta. Theo tín ngưỡng dân gian, bắt đầu từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải th́” người nông dân c̣n cho đây là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh có liên quan đến nông nghiệp như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước… Người nông dân cũng không quên ơn các loài vật đă cùng họ sớm hôm vất vả như trâu, ḅ, gia súc, gia cầm và các loại cây lương thực, thực phẩm đă nuôi sống họ.
Mấy tiếng “Về quê ăn Tết” không chỉ là khái niệm đi về, mà đằng sau nó là cả một quá tŕnh hành hương về với cội nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn. Bởi thế mà Huỳnh Văn Nghệ có cảm hứng để lưu truyền cho hậu thế hai câu thơ “Từ thuở mang gươm đi mở cơi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.

Sau 11 năm xa vắng, năm nay Rồng trở lại với mọi người theo tiếng gọi tâm linh Nhâm Th́n. Rồng là con vật huyền thoại. Theo quan niệm truyền thống của Trung Hoa và Việt Nam, rồng là con vật thần linh, mạnh mẽ nhất được con người ngưỡng mộ, yêu quí, tôn thờ. Dân tộc Việt Nam tự hào với truyền thuyết “Con rồng cháu tiên” và huyền thoại mẹ Âu Cơ - cha Lạc Long Quân sinh ra trăm trứng, nở ra trăm người con. Rồng đi vào cuộc sống của con người trong hầu hết các hoạt động sản xuất, kiến trúc, lễ hội, mỹ thuật, thậm chí cả trong miếu mạo, đ́nh chùa… ở phương Đông, con rồng đứng đầu trong bốn loài vật tượng trưng cho sự phong lưu, sức mạnh của con người, gọi là tứ linh. Đó là Long - Ly - Qui - Phượng(rồng, lân, rùa, phượng).
Th́n: Âm gốc Hán đọc là Thần, từ chỉ thời gian mở đầu buổi sáng của một ngày. Từ nghĩa đó, “thần” c̣n được chỉ mặt trời, mặt trăng và các v́ sao. Trong lịch phương Đông lấy chữ “thần” làm chi thứ năm trong 12 chi, đọc là Th́n (Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n…). Trong một ngày th́ từ 7 giờ đến 9 giờ là giờ Th́n.. Năm Th́n là năm ứng với con Rồng, c̣n chữ Th́n không có nghĩa là rồng, mà chữ rồng âm Hán Việt gọi là Long. Rồng là con vật tưởng tượng, hư cấu từ những h́nh tượng của những con vật có thực. Không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều dân tộc có biểu tượng con rồng với nội dung khác nhau.
Trong cuốn Bách khoa toàn thư sớm nhất của Trung Quốc miêu tả: “Rồng là loại động vật có vẩy, lúc ẩn lúc hiện, có thể nhỏ có thể to, có khi ngắn có khi dài, mùa xuân th́ bay lên trời, thu đến th́ ch́m sâu dưới nước…”. Sách Sơn Hải kinh viết: “Thần rồng mở mắt là ngày, nhắm mắt là đêm, thở là mùa hạ, thổi là mùa đông, không uống, không ăn, không thở, hễ thở th́ thành gió, thân dài ngh́n dặm, ḿnh rắn, có chân…”. Rơ ràng rồng chỉ là con vật thần kỳ do con người tưởng tượng ra. Xuất sứ của rồng c̣n nhiều bí ẩn. Các nhà nghiên cứu đến nay đều cho rằng rồng là vật bắt nguồn từ tô tem rắn xưa kia. Rồng chính là con rắn, “rắn thêm bốn chân thú, đầu ngựa, đuôi linh cẩu, sừng hươu, móng chó, vẩy và râu cá…”. Con rồng chuyển hoá, tượng trưng cho quyền uy tối thượng. Chỗ ở của vua gọi là “long cung”, giường vua ngủ là “long sàng”, ḿnh vua là “long thể”, mặt vua là “long nhan”, áo vua mặc là “long bào” thêu con rồng năm móng…
Trong dân gian, rồng tượng trưng cho linh thiêng và điềm lành. Năm rồng là năm đại cát, ai tuổi rồng th́ sẽ thành đạt, vẻ vang. “Mả táng hàm rồng” là ư chỉ người nào đó có hồng phúc. H́nh tượng con rồng có muôn vàn dáng vẻ, mầu sắc rực rỡ, không những thấy trong thơ ca, tiểu thuyết, hội hoạ, đồ mỹ nghệ, điêu khắc, kiến trúc chùa chiền, cung điện qua các thời đại mà c̣n đi sâu vào phong tục tập quán dân gian. Những ngày lễ, tết, hội hè đều có h́nh bóng con rồng.
Theo các nhà khoa học, hiện nay có một số loài thằn lằn h́nh thù giống như con rồng thần thoại nên được gọi là rồng, phân thành bốn loại: Rồng đất, rồng bay, rồng Kômôđô và rồng châu Uc.
Rồng đất thuộc họ kỳ nhông. Khi gặp người hoặc các con vật khác th́ rồng đất đứng ngẩn ṭ te (v́ vậy đồng bào miền núi gọi là con ṭ te), giương vây, cong đuôi lên doạ nạt. Rồng đất Việt Nam dài 40 – 50 cm, h́nh dạng giống con tắc kè. Lưng có hàng gai chạy dài mút đuôi, chân rồng rất cao, có năm móng sắc. Khi doạ nạt đối phương, rồng đất đứng khuỳnh chân, giương toàn bộ vây gai lên, miệng banh ra như những h́nh con rồng chạm trổ trên các đ́nh chùa cổ đă được cách điệu. Rồng đất ăn sâu bọ, có ích cho nông nghiệp. Nó có mặt ở nước ta từ Bắc tới Nam và một số nước Đông Nam A.
Rồng bay: Tắc kè bay. Là một loại thằn lằn nhỏ 20 – 40 cm. Sống trong rừng, kiếm ăn trên cây, ngủ trong hốc cây, có hai nếp da hai bên thân, khi nghỉ trên cành cây cánh da này cụp vào không nh́n thấy. Khi gặp nguy hiểm, rồng bay ḅ rất nhanh trên cây để trốn, bất đắc dĩ nó mới nhẩy để “bay” sang thân cây khác, khoảng bay có thể đến 30 m. Dọc dẫy Trường Sơn có nhiều rồng bay loại này.
Rồng Kômôđô: Là loại kỳ đà khổng lồ hiện c̣n tồn tại ở đảo Kô-mô-đô (Inđonexia). Thân nó dài 3 – 4 m, nặng 150 kg (kỳ đà ở ta chỉ dài 1,6 m, nặng khoảng 20 kg). Rồng Kômôđô sống trong rừng rậm, gần bờ đảo, làm tổ trong khe đá hoặc hốc cây. Rồng Kômôđô là sát thủ của ngựa, hươu, lợn rừng, khỉ. có khi chúng tập trung năm, bẩy con để tấn công, ăn thịt cả trâu, ḅ. Tuy nhiên Kômôđô ăn cả những động vật nhỏ như rắn, thằn lằn, cá và cả côn trùng. Rồng Kômôđô là là một loài động vật quí, hiện nay số rồng Kômôđô c̣n khoảng 400 – 500 con.
Rồng Úc châu: Là loài thằn lằn lớn, dài tới 90 cm. H́nh dạng nó giống như con rồng đất, quanh cổ có lớp da phủ kín vai như chiếc lá sen, có que xương như gọng ô, lúc gặp nguy hiểm nó giương gọng lá sen lên như cái dù, há miệng đen ng̣m đến nỗi chó săn cũng phải khiếp. Tuy vậy rồng Uc châu rất hiền, chủ yếu ăn sâu bọ, trứng chim. Kiến là món khoái khẩu nhất của loài rồng này.
Rồng trong đời sống tâm linh con người.
Rồng không chỉ là huyền thoại về ḍng giống của người Việt mà c̣n là biểu tượng của thủ đô nước ta. Theo sử biên niên, ngày sáng lập ra triều đại nhà Lư th́ có con rồng xuất hiện nên thủ đô có tên là Thăng Long. Rồng không những là biểu tượng của vua, của sự thiêng liêng, rồng c̣n là biểu tượng của thân h́nh đất nước: Từ Bái Tử Long, Hạ Long, Bạch Long Vĩ, qua Thăng Long đến Cửu Long. Mường tượng đất nước Việt Nam như một con rồng th́ khúc đầu là miền Bắc, khúc giữa là miền Trung, khúc đuôi là Nam bộ.
Tuy rồng là biểu tượng của mạnh mẽ nhưng cũng mang tính chất hung dữ. Ṿi rồng là luồng gió xoáy có sức mạnh phá hoại ghê gớm, có thể cuốn hút các vật nặng hàng tấn, quăng xa vài trăm mét như đàn trâu ḅ, ô tô, toa tầu… Trong sản xuất nông nghiệp người xưa tin rằng rồng đen lấy nước th́ được mùa, rồng trắng lấy nước th́ báo điềm hạn hán (Rồng đen lấy nước được mùa. Rồng trắng lấy nước th́ vua đi cầy). Thực ra đó chỉ là hiện tượng thiên nhiên. Khi ṿi rồng hút nước có mưa lớn, do phản quang ánh sáng mặt trời tạo thành một giải đen. C̣n rồng trắng lấy nước th́ không phải là ṿi rồng mà do cơn giông gió xoáy tạo ra do mây trắng cuộn lại như một cái ṿi chứ không có mưa. Năm nào thấy rồng trắng là năm hạn hán, khô cằn.
Thực ra rồng là con vật không có thật nên các phần cơ thể của nó không thể có tác dụng y học như những con vật khác (lợn, chó, trâu, khỉ…). Nhưng do tính linh thiêng, mạnh mẽ của rồng mà người ta dùng nó để đặt tên cho nhiều vị thuốc đặc biệt. Long nhăn (mắt rồng), là cùi nhăn phơi khô, sấy khô. Long nhăn là vị thuốc bổ chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, tim hay hồi hộp… Ban long (cao ban long): Sự thật cao ban long là thứ cao nấu từ sừng hươu sao (hươu có đốm sao nên goi là ban long (rồng đốm). Cao ban long là loại thuốc bổ quí rất tốt cho những người gầy yếu, cơ thể suy nhược, ho lao, chẩy máu dạ dầy, đi tiểu nhiều, mồ hôi trộm… Địa long (rồng trong đất), là vị thuốc chế từ giun đất, đem rửa sạch, mổ bụng, sấy khô, tán bột hoặc sắc lấy nước uống. Địa long chữa sốt rét, cao huyết áp, xo cứng mạch máu, nhức đầu, hoa mắt… Long y (áo của rồng), chính là xác con rắn lột được dùng chữa trẻ con lên cơn co giật, đau họng, làm thuốc sát trùng bôi chữa ghẻ lở… Ô long vĩ (đuôi rồng đen), thực ra ra bồ hóng đen dính mạng nhện trên gác bếp đun bằng rơm rạ. Ô long vĩ là vị thuốc sát trùng, hay dùng trong những trường hợp đứt cân đứt tay, chầy xước chẩy máu. Long năo (óc rồng), chất mầu trắng, óng ánh, cất từ cây, lá, rễ của cây long năo. Là vị thuốc trợ tim, xoa bóp chữa đau nhức, thấp khớp, bôi xoa sát trùng… Phục long can (gan rồng, là vị thuốc chế từ đất giữa ḷng bếp (bếp đun củi đặt trên nền bếp). Phải chăng v́ đát ấy mầu vàng như gan nên gọi là phục long can. Thuốc này tác dụng chữa băng huyết, thổ huyết, tiểu tiện ra huyết, nôn oẹ… rất công dụng.

Vùng đất mang tên rồng cổ nhất nước ta là Long Đỗ. Long Đỗ ở bên tả ngạn sông Hồng. Bên hữu ngạn th́ có Long Biên. Khi nước nhà chưa độc lập, trung tâm sinh hoạt của dân tộc cũng chỉ quanh quất ở vùng đất rồng này. Đến khi nước nhà cường thịnh Lư Công Uẩn dời đô về đây và đặt tên thủ đô là Thăng Long, phản ánh khí thế hào hùng của dân tộc.
Mở đất vào Nam, người Việt nhớ đến cội nguồn cũng đem chữ “Long” đặt tên cho chợ, cho phố, cho làng xă của Ḿnh. Thừa Thiên có chợ Kim Long, chợ Long Hổ; Quảng Ngăi có chợ Long Tử; B́nh Định có chợ Long Hương. Mạn Tiên Yên (Quảng Ninh) có núi Long Tu, trong núi có nhiều cỏ long tu (cỏ râu rồng) sống lâu năm, làm thuốc. Đồ Sơn (Hải Pḥng) có núi Cửu Long h́nh con rồng chín khúc. Ngoài vịnh Hạ Long có ngọn đèn biển trên đảo Long châu Không đêm nào tắt. Núi mang tên lâu đời nhất của ta có lẽ là Long Đọi ở Duy Tiên (Hà Nam), có tích truyện vua Lê Đại Hành từ kinh đô Hoa Lư ra đây cầy ruộng tịch điền (ruộng của vua), mở đầu cho công việc đồng áng. Nhưng không núi nào nổi danh bằng núi Hàm Rồng ở Thanh Hoá, đứng sừng sững, hùng vĩ trên hai bờ sông Mă, lừng lẫy khắp thế giới với ngót trăm máy bay phản lực đủ kiểu của Mỹ bị hạ. Rồi Hà Tĩnh có núi Long Tường, núi Long Mă Phụ Đồ h́nh yên ngựa. Miền Tây Quảng B́nh có Thanh Long là ngọn núi cao xanh biếc, núi Long Tị bên bờ sông Gianh, núi Phúc Long dọc sông Nhật Lệ. Tại Quảng Ngăi, chỉ một huyện đă có ba ngọn núi tên rồng: Lạc Long, Long Phượng, Long Cốt. B́nh Định có núi Hàm Long. Hà Tiên có núi Dương Long. Biên Hoà (Đồng Nai) có núi Long ẩn).
Núi mượn tên rồng là biểu hiện sự uy nghiêm. Nhưng các ḍng sông, suối mới là h́nh tượng con rồng thân thuộc, kỳ vĩ trang nghiêm, gần gũi trong tâm thức con người. sông Hoàng Long (Ninh B́nh) là con sông cổ nhất mang tên rồng. Long Môn là một đoạn của sông Đà chẩy qua núi Long Môn có cửa đá chắn ngang, chia nước thành ba ḍng đổ xuống thành thác. Đất Nam bộ th́ tên sông, tên băi có chữ “long” khá nhiều và đều là sông lớn, băi to cả. Chính sông Đồng Nai có tên chữ là Phước Long, tỉnh nó chẩy qua là tỉnh Phước Long. Đồng Tháp có băi lớn Long Sơn do sông Tiền giang bồi lên địa phận Tân Châu, Hồng Ngự. Xuống một đoạn nữa là Long ẩn có băi Long ẩn. Xuống tiếp có sôngLong Phương chẩy thông với sông Sa Đéc, đoạn chẩy về Vĩnh Long, quanh co giữa những thôn, băi trù phú nên gọi là Long Hồ. Và Hậu Giang cũng là một con rồng lớn chẩy qua tỉnh Long Xuyên về Hậu Giang. Nhánh sông Hậu với sông Tiền đổ ra biển Đông bằng chín ḍng sông nhánh qua chín cửa, tất cả cộng lại bề ngang rộng 20 km, rộng hơn nhiều eo biển trên thế giới. Trước cảnh sông nước mênh mông bao la hùng vĩ ấy, ông cha ta đă không ngần ngại đặt cho những nhánh hạ lưu sông Mê Kông trên đất nước ta là Cửu Long Giang (sông chín rồng).
Một trong những địa danh Việt Nam được nhiều người trên thế giới biết đến là vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long nổi lên gần một ngh́n ḥn đảo đủ h́nh đủ dạng, trông như một khúc rồng vừa hạ xuống nước. Phía đông của Hạ Long có vịnh có Bái Tử Long (rồng con lạy mẹ). Phía tây nam có đảo Phù Long (nay là đảo Cát Bà). Ngoài khơi tỉnh Quảng Ninh có quần đảo Bạch Long Vĩ (đuôi rồng trắng). Từ Sa Vĩ nơi địa đầu Tổ quốc, bờ biển của chúng ta dải trên 3200 km, trước th́ lơm vào thành vịnh Bắc Bộ, kế ph́nh ra ở Trung và nam Trung Bộ, rồi uốn ḿnh về phía tây nam cho đến mũi Cà Mau, sau cùng lại lượn lên phía bắc đến Hà Tiên, Phú Quốc thành h́nh chữ S hoàn chỉnh như một con rồng uốn lượn, khiến có người nước ngoài gọi Việt Nam là Long Quốc. Ngành đường thuỷ nội địa Việt Nam quản lư hàng ngàn con sông, con suối. Đó là một động sản to lớn, góp phần làm giầu đẹp cho Tổ quốc bằng những giá trị lưu thông, vật chất và làm nên cả một kho tàng văn nghệ dân gian bằng h́nh tượng con rồng trong thơ, văn, tranh ảnh, đồ mỹ nghệ, âm nhạc, ca, múa dân gian, …
H́nh tượng Rồng trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ
Rồng là con vật thần thoại, chỉ có trong trí tưởng tượng của người phương Đông. Rồng là biểu tượng cho nhà vua, cho những ǵ cao quư nhất. Trở thành rồng, hoá rồng là ước mơ của nhiều người trong xă hội phong kiến, quan niệm ấy được thể hiện khá rơ nét trong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ. V́ vậy h́nh tượng rồng trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ, rất phong phú, đa dạng, nhiều mầu, nhiều vẻ.
H́nh tượng con rồng trong ca dao được thể hiện ở nhiều dạng thức. Đó là những câu ca dao nói về sự cao quư của loài rồng, nói về ước mơ thành rồng, hoá rồng, gần rồng.
"Một ngày tựa mạn thuyền rồng
C̣n hơn một kiếp ở trong thuyền chài"
Câu ca dao trên đă phản ánh ước mơ của các cô gái thời xưa muốn được lấy vua, để trở thành hoàng hậu, hoàng phi, cung tần, mỹ nữ, được sống trong nhung lụa, bạc vàng. Nó cũng phản ánh tâm lư của nhiều người, cả nam lẫn nữ, muốn được gần vua chúa, muốn được dựa vào vua chúa để hương cảnh phú quí, giầu sang. Nhưng không phải tất cả các ước mơ ấy đều trở thành hiện thực.
"Trứng rồng tưởng nở ra rồng
Ai ngờ lại nở ra ḍng liu điu"
Câu ca dao này đă phản ánh nỗi chán chường, thất vọng của nhân dân khi con cháu
vua chúa lại bất tài, ngu dốt, thậm chí là hôn quân bạo chúa.
Đó c̣n là những câu ca dao dùng h́nh ảnh "rồng vàng" để chỉ những người xuất
chúng, có tài kinh bang tế thế, những người khôn ngoan, thông minh.
Câu ca dao: "Vĩnh Long có cặp rồng vàng/ Nhất Bựi Hữu Nghĩa nhị Phan Tuẫn thần", ca ngợi hai người anh hùng, hai bậc hào kiệt của t́nh Vĩnh Long thời chống giặc Pháp xâm lược cuối thế kỷ 19.
Bài ca dao:
"Nước đường mà đựng chậu thau
Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài
Tiếc em da trắng, tóc dài
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu
Rồng vàng tắm nước ao tù
Người khôn ở với người ngu bực ḿnh".
Lại nói về nỗi khổ của những cô gái trẻ, đẹp, thông minh bị cha mẹ gả bán cho
những chàng trai kém cỏi, ngu đần.
Đôi khi, người xưa lại mượn h́nh ảnh "rồng phượng", "rồng mây" để chỉ t́nh yêu
nam nữ.
"Nhớ chàng như nhớ lạng vàng
Khát khao về nết, mơ màng về duyên
Nhớ chàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông
Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
Như chim nhớ tổ như rồng nhớ mây"
Bài ca dao trên nói về t́nh yêu đằm thắm, nỗi nhớ thương của cô gái đối với chàng trai mà cô yêu mến.
Bài ca dao:
"Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Nửa mai rồng ngược mây xuôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây"
Đă nói lên nỗi lo lắng, buồn rầu của cô gái khi phải xa cách người yêu.
Câu ca dao:
"Khi xưa th́ đắp chiếu chung
V́ ai ném gạch cho rồng xa mây"
Là lời oán trách của cô gái đối với kẻ chia uyên, rẽ thúy khiến cho đôi lứa phải
xa nhau.
Câu ca dao:
"Phụng với rồng cũng đồng nhan sắc
Trách ai làm phụng bắc rồng nam"
Cũng là lời oán trách kẻ đă chia đường ngăn lối khiến cho đôi trai gái phải ĺa
xa.
Thứ tư, đó là những câu ca dao có h́nh ảnh con rồng được nói đến trong các ngành
nghệ thuật.
Bài ca dao:
"Chín cột anh chạm chín rồng
Nơi th́ rồng ấp, nơi th́ rồng leo
Chín cột anh chạm chín mèo
Con th́ bắt chuột con leo xà nhà"
nói về sự khéo léo, tài hoa của người thợ chạm khắc gỗ, đă tạo nên những h́nh ảnh, những chi tiết, những mô- típ nghệ thuật tài hoa, làm cho khung cảnh ngôi nhà thêm sinh động, mỹ lệ…
H́nh ảnh con rồng trong tục ngữ, thành ngữ rất phong phú: Rồng mây gặp hội, Long vân khánh hội, Rồng đến nhà tôm, Rồng rộng theo nạ, quạ theo gà con: Vân ṭng long, phong ṭng hổ. Mây theo rồng, gió theo hổ. Long hành, hổ bộ, Rồng bay phượng múa, Trổ rồng, chạm phượng, Rồng chầu mặt nguyệt, Lưỡng long chầu nguyệt Đó là những câu tục ngữ, thành ngữ nói về h́nh ảnh con rồng trong văn học nghệ thuật.
Du xuân cùng tết 3 miền Bắc - Trung – Nam
Miền Bắc: Đặc trưng tết và những phong tục truyền thống
Hoa đào- nét đặc trưng của tết miền Bắc

Nếu như ở mảnh đất phương Nam xa xôi hoa Mai kiêu hănh khoe ḿnh trong nắng, gió th́ trong tiết trời se lạnh của miền Bắc hoa đào góp phần làm xua tan cái giá rét của mùa đông
Theo truyền thuyết, có một cây hoa đào đă mọc từ rất lâu trên vùng núi cao phía bắc. Trên cây đào bỗng xuất hiện hai vị thần tài giỏi có nhiệm vụ bảo vệ và che chở cho dân làng trong vùng. Do đó, ma quỷ rất sợ hai vị thần này và sợ luôn cả hoa đào. Cứ thấy cành đào là chúng bỏ chạy thật xa.
Hàng năm, gần đến Tết, hai vị thần này lại phải lên trời gặp Ngọc Hoàng nên không có người bảo vệ nên dân trong làng rủ nhau lên rừng chặt đào mang về cắm trong nhà để pḥng ma quỷ.
Cây đào chỉ trồng được ở miền Bắc, là loại hoa đặc biệt của Tết Nguyên đán. Nhiều người chuộng chơi hoa đào tết v́ hoa đào có màu đỏ sẽ mang lại sự may mắn trong năm.
Tổ tiên ta thuở b́nh minh dựng nước trên đất Bắc, khi chọn hoa đào để làm thú tiêu khiển trong ba ngày tết, chắc hẳn đă nghĩ tới màu đỏ thắm rực rỡ của đào giống như viễn ảnh của một năm mới sắp tới cũng trong sáng đẹp đẽ như màu hoa. Sau những ngày đông giá lạnh, sắc hồng của đào như sưởi ấm ḷng người và vạn vật. Dưới mưa xuân, những cây đào bích, đào phai càng quyến rũ hơn, giống như khuôn mặt yêu kiều của một cô gái được che phủ mờ mờ bởi một tấm khăn voan mỏng manh. Việc miền Bắc chơi đào, trong khi miền Nam chơi mai trong dịp Tết được giải thích là sau khi mở rộng bờ cơi về phương Nam vốn có khí hậu nóng hơn không thích hợp với việc trồng đào, mỗi khi Tết đến, những người đi mở đất nhớ đến cành đào ngoài Bắc nhưng không thể có được đă chọn mai (một cây hoa rất phổ biến ở trong Nam, đẹp, nhiều hoa lại nở đúng mùa Tết) để thay thế. Nếu ngày Tết mà thiếu hoa đào th́ thiếu hẳn hương sắc mùa xuân. Mỗi dịp Tết đến xuân về, đào nở rộ như nhắc chúng ta nghĩ về gia đ́nh, về một năm cũ đă qua...
Ngũ quả: Mỗi năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán, trên bàn thờ mọi gia đ́nh người Việt đều bày mâm ngũ quả. Với màu sắc rực rỡ, h́nh dáng độc đáo cùng những ư nghĩa sâu xa, mâm ngũ quả làm cho ngày Tết sinh động hơn, thiêng liêng hơn…
Theo quan niệm của người phương Đông xưa, thế giới được tạo nên từ 5 bản nguyên
– gọi là “ngũ hành”: kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả(lửa), thổ (đất).
Tư tưởng cùng h́nh ảnh “ngũ hành” xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hoá vật chất
và tinh thần của các dân tộc phương Đông với rất nhiều biểu hiện – một trong số
đó là tục lệ thờ mâm ngũ quả ngày Tết của người Việt Nam
Mâm ngũ quả truyền thống của người Việt thường chỉ gồm 5 loại quả, được xếp kiểu
h́nh tháp lên đĩa to hoặc mâm, đặt trên bàn thờ. Ngày nay, cuộc sống hiện đại
cùng sự giao lưu phong tục làm cho mâm ngũ quả ít nhiều biến đổi: số quả có thể
nhiều hơn 5, cách xếp tự do hơn, trang trí hoa lá, cắm nến để tạo ánh sáng, kết
những dây đèn điện tử nhiều màu xung quanh… Tất cả các loại quả trong dịp Tết
đều có thể đem bày: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quưt, dừa, na, trứng
gà, hồng xiêm, táo v.v… Mỗi loại quả mang một ư nghĩa riêng: nải chuối, phật thủ
như bàn tay che chở; bưởi, dưa hấu căng tṛn, mát lành hứa hẹn năm mới đầy ngọt
ngào, may mắn; hồng, quưt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt…
Mâm ngũ quả ở miền Bắc nh́n chung nhỏ hơn mâm ngũ quả ở miền Nam và không thể
thiếu 3 loại quả: chuối, bưởi, quưt (hoặc cam). Mâm ngũ quả miền Nam th́ khó có
thể thiếu cặp dưa hấu và 4 loại quả: măng cầu (na), dừa, đu đủ, xoài, bởi v́ cầu
– dừa – đủ – xoài theo tiếng người miền Nam có nghĩa là “cầu vừa đủ xài” – mong
ước phổ biến nhất của họ trong năm mới. Một số nhà lại bày thêm trên mâm ngũ
quả b́nh thường một chùm sung và quả đu đủ với ngụ ư cầu mong cuộc sống gia đ́nh
sẽ luôn “đầy đủ, sung túc”.
Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hoà với màu xanh mát của dưa hấu, đỏ rực của hồng, nâu mịn của hồng xiêm, vàng tươi của bưởi, cam, dứa… Nó thể hiện sinh động ư nghĩa triết học – tín ngưỡng – thẩm mỹ ngày Tết cùng những ước vọng lạc quan mà mỗi gia đ́nh mang theo khi bước vào năm mới.)
Mâm cỗ
Mâm cỗ tết với nhiều thức ngon được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng thể hiện sự no ấm, hạnh phúc của mỗi gia đ́nh, cũng như ước mong một năm mới đầy đủ, thịnh vượng và phát đạt.
Suy nghĩ của người Việt ta là dành những điều tinh túy, hoàn hảo nhất cho ngày tết. Điều đó thể hiện rất rơ qua mâm cỗ tết - một mâm cơm đặc biệt nhất trong năm khi cả gia đ́nh được đoàn viên, sum vầy.
Cỗ tết truyền thống của người Việt trên khắp mọi miền đất nước đều có những món truyền thống như bánh chưng, gà luộc, gị lụa... Nhưng tùy vào tập quán, tính cách và khí hậu của mỗi vùng miền mà mâm cỗ tết cũng khác đi.
Mâm cỗ tết của người Hà Nội thể hiện sự tinh tế, đặc sắc riêng của văn hóa ẩm thực nơi đây. Cỗ tết Hà Nội không có món bánh răng bừa, món gỏi như ở Huế, cũng không có xôi kèm lợn quay, bánh tét hay bánh măng, bánh dừa mận như ở miền Nam... mà có nhiều thức riêng phù hợp để thưởng thức trong không khí ngày tết rét lạnh miền Bắc.
Thông thường, các bát trên mâm cỗ gồm một bát bóng nấu với chân tẩy và nước dùng gà (chân tẩy gồm có su hào, cà rốt, củ đậu được thái mỏng theo những h́nh hoa đẹp đẽ). Một bát khoai tây hầm đầu, cổ, cánh gà. Một bát miến nấu ḷng gà. Và một bát măng khô ninh chân gị. Các đĩa th́ có đĩa gà luộc, đĩa thịt đông, đĩa gị xào, gị lụa, đĩa cá kho riềng hoặc ḅ kho khô, đĩa nộm.
Cỗ tết Hà Nội hay bất cứ ở đâu trên cả nước đều không thể thiếu các món truyền thống là dưa hành và bánh chưng xanh. Nhưng miền Bắc nổi tiếng cả nước với cái rét lạnh mùa đông. Cỗ tết do đó cũng đặc biệt hơn bởi những món được làm từ không khí rét mướt ấy như gị xào hay thịt nấu đông...
Thức ăn ngày tết bao giờ cũng được gia đ́nh coi trọng. Thịt gà được dùng trong ngày năm mới phải là thịt gà trống thiến và được làm sẵn từ chiều 30 (v́ người Việt ta kiêng sát sinh vào ngày mồng 1 và năm mới). Thịt lợn là thịt nạc mông hay thịt chân gị ngon, c̣n thịt mỡ sẽ dùng để chế biến món gị xào cho dễ ăn...
Miền Trung- Đặc trưng Tết và những phong tục truyền thống

Những ngày trước Tết: Từ 20 tháng Chạp Âm lịch, người dân làng Chuồn bắt đầu gói bánh tét, phố bánh chưng Nhật Lệ nườm nượp người ra kẻ vào, các làng nghề khẩn trương hoạt động hết công suất, hơi thở Tết gần như tràn ngập đất trời xứ Huế. Đường phố rực rỡ sắc màu của cờ hoa, trướng liễn chúc mừng năm mới; hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa giấy mang hương xuân quyến rũ đến với mọi nhà. Khi trên phố xuất hiện những gánh cát trắng mịn do người dân vùng biển bán dạo cũng là lúc nhà nhà chuẩn bị lau dọn bàn thờ tổ tiên, thay b́nh cát trắng để đón ông bà tổ tiên về sum họp gia đ́nh. Một số nhà c̣n đem đồ đồng sắt đến thợ đánh bóng cho sạch đẹp. Các bà nội trợ đi chợ để mua dần các vật dụng dùng trong ba ngày Tết. Dưa món, dưa kiệu, dưa hành, các loại mứt Tết đựng đầy hũ to hũ nhỏ trong gian nhà bếp.
Sáng sớm 23 tháng Chạp, hầu hết gia đ́nh đều sửa soạn mâm cúng trên bếp để tiễn ông Táo về trời. Nếu như người miền Bắc xem đây là một nghi lễ bắt đầu đón Tết nên tổ chức rất chu đáo, th́ người miền Trung cúng ông Táo đơn giản hơn. Mâm cúng ông Táo của người dân Huế thường chỉ có một dĩa xôi, miếng thịt heo luộc, ít hoa quả. Người Huế không cúng cá chép v́ “kiêng” con vật này do sự tích cá chép hoá rồng, mà rồng là tượng trưng cho vua chúa nên không được đụng chạm đến. Sau lễ cúng, ba ông Táo được thay mới, các ông Táo cũ được đem đi đặt ở một góc đ́nh, miếu hoặc gốc cây đầu làng - những nơi linh thiêng, không ai dám xâm phạm.
Ngày cuối cùng của năm cũ: Sáng 30 Tết, những người đàn ông trụ cột trong gia đ́nh thường đi mộ thắp hương ông bà tổ tiên, mời ông bà cùng về ăn Tết với con cháu. Các bà nội trợ th́ đi sắm sửa những vật dụng cuối năm, nấu nướng chuẩn bị mâm cúng Tất niên. Những ai nợ nần ǵ cũng lo trả hết hoặc phải khất nợ cho rơ ràng, nếu không chủ nợ đ̣i lúc đầu năm th́ xem như mắc nợ cả năm. Chiều 30 Tết, nhà nào cũng tiến hành cúng Tất niên để tiễn năm cũ đón năm mới. Lễ này thường có một mâm ở bàn thờ gia tiên, một mâm ở giữa nhà và mâm thị thực đặt ở trước cổng. Lễ cúng có đầy đủ các món mặn, thịt heo, thịt gà, các món canh, xào.... 30 tháng Chạp được xem là ngày đoàn tụ gia đ́nh, con cái dù ở xa đến mấy cũng về thăm ông bà, cha mẹ. Sau khi cúng Tất niên, cả gia đ́nh thường quây quần bên nhau trong không khí ấm ấp, rộn ràng bên nồi bánh chưng, bánh tét.
Đêm Giao thừa: Phần đông người Huế đều tin rằng vào thời khắc giao thừa, những ǵ xui xẻo của năm cũ sẽ được đẩy đi để đón một năm mới tràn đầy hạnh phúc và hy vọng. V́ thế, các gia đ́nh người miền Trung đều cúng giao thừa vào đúng 12h đêm để cầu mong năm mới mạnh khỏe, con cái ăn nên làm ra, học hành tiến tới…. Mâm cúng đơn giản, chỉ gồm một ít bánh trái, mứt và xôi chè. Đây là những vật phẩm được người miền Trung thưởng thức trong sáng mồng một bởi người ta quan niệm đầu năm nên đón nhận những điều thanh sạch ngọt ngào.
Bước sang năm mới: Sáng mồng một, người miền Trung cũng có tục “xông đất “ như người miền Bắc. Thường th́ họ hay nhờ những người lớn tuổi, c̣n mạnh khỏe, có vai vế và uy tín trong xă hội hoặc nhờ những đứa trẻ thông minh, hoạt bát, vui vẻ đến “xông đất” đầu năm. Ngày đầu tiên của năm mới, mọi người thường đến thăm và chúc Tết bà con họ hàng. Ngoài ra, họ c̣n đi thăm mộ, lên chùa khấn vái, cầu nguyện ông bà hoặc các vị thần linh phù hộ cho mọi thành viên trong gia tộc. Đến ngày mồng 2, mồng 3 Tết, người Huế mới đi thăm láng giềng, bà con xa hoặc bạn bè thân cận. Trong ba ngày Tết, người Huế rất kiêng mặc áo quần màu trắng hoặc đen, họ thường chọn những màu sắc sặc sỡ như để cầu mong năm mới giàu sang phú quư. Tết của người Huế chỉ kết thúc khi đă làm xong mâm cúng đưa. Nhiều nhà thường chọn cúng đưa vào ngày mồng 3, mồng 4 nhưng cũng có nhà đến mồng 7 mới tiến hành lễ cúng này.
Một đặc trưng không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết của người miền Trung là bánh Tét. Bánh Tét là món ăn không thể thiếu trên mâm cúng ông bà tổ tiên hay trên bàn ăn vào ba ngày tết của người dân đất phương Nam. Một đ̣n bánh tét tṛn trịa, đầy đặn phản ánh khát vọng về một cuộc sống no đủ của người dân Nam bộ- cư dân của vùng đất mới. Mặt khác, trứng hột vịt muối- nguyên liệu chế biến thức ăn phổ biến của người Hoa có mặt trong nhân bánh tét hay sự tiếp thu từ cách làm bánh của người Khmer (bánh tét Trà Cuôn) đă phản ánh rơ nét sự giao lưu văn hóa ở vùng đất Nam bộ. Sự khác biệt trong cách làm bánh tét ở một số địa phương như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Cần Thơ thể hiện được tính thống nhất mà đa dạng của văn hóa ẩm thực. Phải chăng đó chính là những nét nghĩa văn hóa của đ̣n bánh tét ngày tết ở vùng đất phương Nam ấm áp và yên b́nh
Miền Nam: Đặc trưng Tết và những phong tục truyền thống

Ở miền Nam trước đây thông thường người ta chuẩn bị tết từ rất sớm. Mỗi gia đ́nh nông dân đều có dành một thửa ruộng trên khu đồng của ḿnh cấy một giống nếp ngon thêm để đồ xôi, làm bánh. Khi những dé lúa nếp bắt đầu lấm tấm những hạt đỏ ở đuôi (chưa chín già) nhà nào cũng chọn cắt ít bó về đâm cốm dẹp. Trong những đêm đầu tháng chạp, khắp xóm thôn đâu đâu cũng rộn ràng tiếng chày giă cốm "cúp cum" nghe rất vui tai. Khi mùa màng thu hoạch xong th́ không khí tết ở thôn làng rộn lên trong tiếng chày quết bánh phồng. Loại bánh nay làm bằng gạo nếp nấu chín bỏ vào cối giă như giă gị, quết cho thật nhuyễn, rồi ngắt từng viên cỡ nắm tay dùng ống tre xoa mỡ cán mỏng ra thành h́nh tṛn như chiếc bánh đa nem, dày độ một ly. Gọi là bánh phồng, v́ khi để trên lửa nướng nó phồng tướng lên cả chiều dày lẫn ṿng tṛn. Chiếc bảnh mỏng như chiếc đĩa ấy, khi nướng chín nó nở to bằng cái chậu thau rửa mặt và chiều dày phồng lên hơn một phân tây. Người ta c̣n phơi những nong bột nếp phơi khô để dành gói bánh ếch.
Ở miền Nam, bắt đầu từ hai mươi tháng chạp ta, khắp nơi mở những phiên chợ Tết cho đến giao thừa đêm ba mươi. Quầy hàng hoa tươi, rau quả, bánh mứt, vải vóc, thịt cá... đều trang hoàng hấp dẫn. Nhưng đông vui nhất phải nói là chợ dưa. Tại các chợ, thuyền chở dưa đổ lên chất thành đống như núi. Nổi tiếng nhất là dưa Trảng Bàng, Trà Vinh... Bổ quả dưa ra, ruột đỏ như son, hạt đen huyền nhỏ rít, thịt óng ánh như hạt đường kính, ăn ngọt tê cả răng. Người ta mua dưa về trước để cúng tổ tiên ngày tết trên bàn thờ nhà nào cũng thấy hai quả dưa hấu to cỡ quả ấm tích. Người ta dán lên lớp vỏ xanh mượt của mỗi quả một miếng giây hồng điều cắt thành h́nh bông hoa xinh xắn, và đặt nó ngồi chễm chệ giữa mấy nải chuối chín vàng tươi xếp vây tṛn quanh một chiếc đĩa bằng sứ màu trắng. Mỗi quả dưa đội trên đầu một trái hồng khô ép dẹp như trùm lên chiếc mũ nồi màu xám. Người ta c̣n đặt lên trên cùng, một quả quưt đỏ mọng, giống như cái mào gà ngất ngưởng. Cạnh hai trái dưa, bắt buộc phải có hai bánh đường phổi. Đường phổi không phải là đường mà là một thứ quả ngọt chế tạo bằng đường cát và ḷng trắng trứng gà. H́nh bánh đường ấy giống hệt một lá phổi người và bên trong có nhiều lỗ hổng cũng như phổi người. Đường ấy cứng như đá, để cả năm cũng không chảy nước và chỉ đập ra cho trẻ con ăn chơi sau tết, mặc dầu dùng đường này nấu chè th́ rất ngon. Có nhà bầy mâm ngũ quả, mà nhiều khi số trái cây lại vượt quá con số năm. Người ta chú ư đến bốn thứ trái cây: măng cầu, dừa, đu đủ, xoài, mà theo cách phát âm miền Nam hiểu là "cầu vừa đủ xài". Cũng có nhà đĩa trái cây, dưới hết là năm bảy nải chuối, bắt buộc là chuối sứ, không phải nghi lễ nào cả, mà v́ chuối sứ chín rất chậm, sau ba ngày tết chuối vẫn c̣n chưa rục. Trên chuối phải có hai món bắt buộc nữa, không biết lư do, là cam Tàu, loại cam mà Âu châu không gọi là Orange mà gọi là Tangerine và hồng phơi khô, cả hai thứ này đều là hàng nhập cảng từ Trung Quốc gởi sang, vào dịp Tết ta, c̣n ngày thường th́ xưa kia không bao giờ có bán như sau này. Gần đến tết, người ta sắm tranh Tết, hoa Tết, thường có cành mai cắm trên lọ độc b́nh trên bàn thờ và trang hoàng từ trong nhà đến ngoài ngơ. Trước đây người ta hay cắt giấy vàng bọc thành những ô vuông hay h́nh quả trám dán trên cổng, cửa, cột nhà, chuồng trâu, chuồng heo, cối xay, cối giă, lu nước, cây ăn trái trong vườn... Người ta cũng đem lư đồng ô trầu chén dĩa, ly tách chậu hoa, b́nh rượu ra đánh bóng, lau sạch.
Ngày Tết, ngày xuân là ngày hội đoàn tụ, đoàn viên, nếu không th́ là những ngày nhớ thương da diết nhất. Trước tiên là nghĩ đến những người đă chết, họ tổ chức đi chạp mộ để tỏ ḷng "uống nước nhớ nguồn". Chiều 23 tháng chạp, "đưa ông Táo về trời". Ngày 30 làm một mâm cơm cúng tổ tiên, gọi là lễ "rước ông bà" và sau đó đến ngày mồng 3 tháng Giêng th́ làm lễ "đưa ông bà". Người ta cũng dựng nêu, đốt pháo, nhưng lại thích gói bánh tét chứ không gói bánh chưng. Bánh tét có nhiều loại: bánh tét chay, bánh tét mặn, bánh tét ngọt. Bánh tét chay không nhân. Người ta chỉ trộn đỗ đen vào nếp rồi gói lại đem nấu. Có thể cho thêm vào cùi dừa nạo nhuyễn để tăng vị béo. Gói bánh tét mặn, người ta trải gạo nếp trên lá chuối, rải lớp đỗ xanh lên, rồi đặt một thỏi mỡ gần bằng ngón chân cái dài suốt đ̣n bánh như một sợi bấc, xong cuộn tṛn lại buộc chặt. Bánh tét ngọt nhân làm bằng đỗ xanh xào đường.
Mâm cơm cúng tất niên chiều 30 tết, thường quy tụ đủ mặt mọi người thân trong gia đ́nh. Tục xưa quan niệm rằng mỗi năm có một ông Hành Khiển coi việc nhân gian, hết năm th́ thần nọ bàn giao cho thần kia, nên cúng tế, đốt pháo là để tiễn đưa ông cũ và đón ông mới. Trong số những câu liễn treo ngày Tết có câu: "Bộc trúc nhất thanh trừ cựu tuế, Đào phù vạn hộ khánh tân xuân" (một tiếng pháo tiễn đưa năm cũ; muôn nhà, bùa đào tức cây nêu đón chào năm mới).
Giao thừa là thời điểm thiêng liêng giữa năm cũ và năm mới, khi đất - trời giao cảm, muôn vật như tạm thời ngưng đọng trong giây phút để rồi bừng ra một sức sống mới, một sự tái sinh kỳ diệu. Ba ngày tết là ba ngày vui chơi, ăn uống, thăm viếng, chúc mừng nhau những điều mới mẻ, tốt lành. Một tập quán phổ biến là trong những ngày đầu năm, mọi người đều chỉ nói ra những lời hay, ư đẹp, gặp nhau chào mừng, hy vọng mọi điều như ư. Bao điều không vui, không vừa ḷng năm trước đều bỏ đi. Sách Gia định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, trong mục "Phong tục chí" có đoạn: "Phàm những khoản vay mượn thiếu thốn trong tiết ấy không được đ̣i hỏi, đợi ngày hạ nêu mới được nhắc đến. Mồng một người ta thường hay đến cúng vái và thăm hỏi những nhà bên họ nội, mồng hai sang lễ tết bên nhà vợ và mồng ba đến thăm thầy, v́ thế có câu "Mồng một tết cha, mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy". Khi đến thăm họ hàng, bạn bè, người ta thường chúc nhau mạnh khỏe, sống lâu, may mắn gọi là "làm tuổi", và "ĺ x́" tức là cho tiền vào phong bao giấy đỏ "mừng tuổi cho trẻ em".
Ở miền Nam, bốn món cúng và là bốn món ăn ngày Tết, món thứ nhất là thịt hầm. Bắt buộc phải là thịt bắp đùi, hầm cho nhừ với vài vị thuốc Bắc. Món này chỉ để ăn chơi chớ không ăn với cơm. Món thứ nh́ là thịt kho tàu, bắt buộc phải là thịt ba rọi (ba chỉ) và bắt buộc phải lớn miếng phải to ít lắm cũng bốn phân trên bốn phân và bắt buộc phải đổ vào nồi thịt kho ấy ít lắm cũng một trái dừa xiêm, để cho món thịt kho ấy lạt đi, hầu ăn được to miếng. Món thứ ba là khổ qua nạp ruột dồn thịt heo bầm nát vào đó rồi cũng hầm y như hầm món thịt nói trên. Món thứ tư thật ra là hai món nhưng chỉ để ăn chơi nên xem như một, đó là nem và b́. Rau chỉ có một thứ độc nhất và cũng bắt buộc, ấy là món dưa giá tức là giá sống ngâm trong nước có ít muối. Ăn bất kỳ món nào trong bốn món kể trên cũng bắt buộc ăn với dưa giá. Những món trên đây chỉ cúng và ăn tới chiều mồng hai th́ thôi, sang ngày mồng ba phải cúng và ăn món khác như gà, cá. Muốn cho đỡ ngấy v́ thịt mỡ, người ta thường nấu một nồi cháo cá ám, ăn với rau ghém, chuối cây xắt mỏng và các loại rau thơm, rau mùi, một con cá lóc nướng ăn với lá bông súng non hay đọt vừng. Ngày tết thường có nhiều tṛ vui đặc biệt như đá gà, đá cá lia thia, thi cây kiểng, đu tiên, đua ghe, đánh bài, đánh me và xóc đĩa.
Hoa Mai - đặc trưng tết miền Nam
Trong bộ tranh Tứ Thời thường được các gia đ́nh ưa chuộng treo để trang trí nhà
cửa, th́ h́nh ảnh Hoa Mai được xếp đầu tiên rồi mới đến Lan - Cúc –Trúc. Năm
cánh hoa mai là h́nh ảnh của 5 vi thần may mắn, của ngũ phúc (phước, lộc, thọ,
khang, ninh). Mai cũng như đào biểu tượng cho sự trường thọ. Người ta diễn tả
đặc trưng này bằng những đóa hoa rực rỡ trên một thân cây trụi lá và gân guốc;
vững chải như sức công phá của thời gian chẳng làm ǵ được nó.
Trong truyền thuyết dân gian, hoa mai liên quan đến h́nh ảnh của một cô gái xinh
đẹp, hết ḷng thương yêu cha mẹ, gia đ́nh và làng xóm. Với tài trí của ḿnh, cô
gái nhỏ nhắn đă hy sinh sau khi giao đấu, diệt trừ yêu quái để cứu dân. Không ai
biết cô đă chết, v́ hàng năm vào chiều 29 tết, nàng quay lại với chiếc áo vàng
mẹ nhuộm cho trước lúc ra đi, cùng ăn tết với gia đ́nh, cho đến lúc cúng đưa ông
bà, mới chịu ra đi. Măi cho đến khi cha mẹ mất, người ta không thấy cô gái áo
vàng trở lại nữa; vào những ngày cuối năm trong khu vườn quen thuộc nơi cô ở,
xuất hiện một con chim lông vàng óng ả cất tiếng hót líu lo. Xóm làng thương nhớ
và tri ân cô bằng cách lập một miếu thờ, hàng ngày hương khói. Từ lúc ấy, trước
ngôi miếu mọc lên một loại cây lá xanh um, nhưng cứ vào những ngày giáp tết, lá
lại rụng trơ cành và như một phép lạ, toàn thân xuất hiện những nụ bông vàng năm
cánh rực rỡ.
Cây mai từ đó được người dân nhân giống và trồng trong nhà ḿnh, như một cách tưởng nhớ đến cô gái, cũng như răn đe loài quỷ dữ sợ oai phong của cô mà không dám quấy động đời sống yên lành của mọi người.
Cũng như hoa đào, truyền thuyết về cô gái áo vàng cũng nhạt dần để thay vào đó hoa mai được đón chào trong ngày xuân như một cảm nhận mang tính nghệ thuật. Cành mai được chọn trên những tiêu chí không khác mấy vơi hoa đào, nhưng tinh thần của một cành mai được ngưỡng mộ không chỉ đẹp ở hoa với sắc thắm, cánh phân bố đều , nhụy thắm, mà c̣n ở sự gân guốc của cành, với những khoảng gập khúc của dáng cành theo h́nh chữ nữ. Thần thái ấy mang h́nh ảnh của một ẩn sĩ nơi thâm sơn, kiêu hănh nhưng thanh thoát, vững chải trước nắng gió và thời gian.
Mâm ngũ quả: Nếu như ở miền Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày lên bàn thờ, kể cả quả ớt mang vị cay đắng, miễn sao mâm ngũ quả trông đẹp mắt là được; th́ người miền Nam lại có sự kiêng cữ. Mâm ngũ quả của người miền Nam không bao giờ có chuối, v́ loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi" thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt trong mâm ngũ quả ngày Tết, v́ câu “quưt làm cam chịu.”
Do trái cây ngày càng nhiều, loại nào cũng ngon, bổ nên để thể hiện cao nhất ḷng hiếu thảo đối với tổ tiên, đồng thời cũng nhằm thể hiển tính tŕnh bày mỹ thuật trong con mắt thẩm mỹ độc đáo của nhân dân, nên mâm ngũ quả ngày càng phong phú hơn, và người ta cũng không câu kệ cứng nhắc “ngũ quả” nữa mà có thể là bát, cửu, thập quả. Nhiều hơn, nhưng người ta vẫn gọi là “mâm ngũ quả” và, dù đựng trong đĩa cũng vẫn gọi theo xưa là “mâm." Bởi đó là một “sản phẩm văn hóa” đă xác lập trong quá tŕnh lịch sử lâu dài, được khuôn đúc theo quan niệm về “bộ ngũ hoàn hảo."
Chưng bày mâm ngũ quả trên bàn thờ của gia đ́nh trong những ngày Tết mang ư nghĩa giữ ǵn bản sắc văn hóa độc đáo của dân Việt. Chính v́ vậy, người dân Việt dù ở phương trời nào, đến ngày Tết cổ truyền vẫn không bỏ qua tục lệ này, như một sự nhắc nhở, cho bản thân và cho con cháu, về cội nguồn của ḿnh.
Cinet tổng hợp