| LỜI TỰA Lê Mạnh Thát (*) Phật giáo là một hiện tượng văn hoá nước ngoài, truyền vào Việt Nam vào thời Hùng Vương, khi Việt Nam c̣n là một nước độc lập có chủ quyền khoảng vào thế kỷ thứ II-III trước Công nguyên, với những Phật tử Việt Nam đầu tiên có tên tuổi như: Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung. Vào những năm đầu thế kỷ Công nguyên, với quá tŕnh bành trướng về phương Nam, các triều đại Trung Quốc đă bắt đầu xâm lược các quốc gia người Việt ở phía Nam trong đó có Việt Nam, mà tên thời ấy là Tây Âu Lạc Việt. Chính trong quá tŕnh đối phó với cuộc xâm lược bành trướng ở phương Bắc này, Phật giáo đă trở thành một công cụ đắc lực cho sự nghiệp đối kháng quá tŕnh đồng hoá các lực lượng xâm lược phương Bắc của dân tộc Việt Nam. Phật giáo vào thời đó được xác định như một con đường “mà ra ngoài xă hội có thể cứu dân giúp nước, c̣n ở nhà có thể thờ phụng cha mẹ và lúc ở một ḿnh có thể dùng để hoàn thiện bản thân”, như Mẫu Tử đă viết trong Lư Hoặc Luận (ca.165-225?) vào cuối thế kỷ thứ II sau Tây lịch, khi một nhà nước độc lập đầu tiên của Việt Nam mang tính Phật giáo ra đời với nhân vật nổi tiếng Sỹ Nhiếp (136-226). Như thế, Phật giáo Việt Nam đă được quy định vào thời Mẫu Tử không chỉ là một đạo sống b́nh thường cho từng cá nhân, mà c̣n là một học thuyết chính trị giúp người Việt Nam không những giữ vững được bản sắc của nền văn hoá mà c̣n giúp họ giữ vững một nước Việt Nam độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ. Chính xuất phát từ một quy định như thế về Phật giáo, mà Phật giáo Việt Nam đă h́nh thành nên những nét đặc trưng riêng biệt, lúc t́m hiểu ta thấy nó hoàn toàn không giống Phật giáo các nước khác. Việc tập hợp lại một số bài thơ thiền tiêu biểu trong một ngàn năm qua, cụ thể là từ thế kỷ thứ X – XX, nhất là trong thời Nhà Lư và thời nhà Trần (thế kỷ X- XIV), giúp chúng ta nhận ra một số nét đặc trưng ấy. Nét đặc trưng thứ nhất là đời sống của Phật giáo Việt Nam đă được quyện chặt với đời sống chính trị của đất nước. Điều này thật dễ hiểu v́ trong lịch sử tồn tại của ḿnh, dân tộc Việt Nam phải thường trực đấu tranh và thậm chí phải vũ trang đấu tranh để bảo vệ sự tồn tại của chính ḿnh. Cho nên, Phật giáo như một lực lượng văn hoá của dân tộc không thể tách khỏi cuộc đấu tranh thường trực này. Từ đó, ta không có ǵ phải ngạc nhiên trước những phát biểu của các Phật tử thiền sư Việt Nam, mang ít nhiều hơi hướng chính trị đối với đất nước. Và bài thơ đầu tiên trong tuyển tập này là một dạng bài thơ như thế. Bản thân vị thiền sư này đă trực tiếp tham gia vào hoạt động chính trị, đặc biệt trong cuộc chiến tranh Hoa - Việt đầu tiên giữa nước Việt Nam độc lập và một triều đại đang lên ở Trung Quốc là nhà Tống. Có thể nói đây là nét đặc trưng xuyên suốt của nền thơ thiền Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn đầu. Những vị thiền sư tên tuổi của giai đoạn này đều có chung một mối quan tâm, hầu hết đều phát biểu xoay quanh vấn đề chính trị của đất nước. Có thể mối quan tâm của họ khác nhau, dẫn đến những phát biểu khác nhau về vấn đề này. Từ những phát biểu thuần tuư và rơ ràng là chính trị như bài Quốc Tộ của Pháp Thuận, cho đến những phát biểu trông bên ngoài như những suy ngẫm về đạo đức hay triết lư, cụ thể là bài Thi Đệ Tử của thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta thấy bàng bạc những nỗi niềm lo nghĩ về đất nước, về vận mệnh của dân tộc, từ đó chúng vẫn hàm chứa một nội dung chính trị nào đó. Chính nét đặc trưng đầu tiên này sẽ quy định toàn cảnh thơ thiền của Phật giáo Việt Nam. Hai lời khuyên của Quốc sư Phù Vân, tức Thiền sư Trúc Lâm, với vua Trần Thái Tông trên đỉnh núi Yên Tử khi nhà vua trốn hoàng cung lên đó vào tháng 4 năm 1236 v́ có chuyện bất đồng ư với Thiền sư Trần Thủ Độ, nói lên rất rơ cái nh́n phóng khoáng cũng như quan điểm trị nước đặc sắc của Phật giáo. “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong ḷng. Ḷng nặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó th́ lập tức thành Phật, không nhọc công t́m kiếm ở bên ngoài.” Và “Phàm là bậc nhân quân th́ phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh, lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ th́ bệ hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút cao lăng mà thôi”. Trần Thái Tông đă thực hiện triệt để lời nhắn nhủ của Quốc sư, trở nên không những là một trong những vị vua xuất sắc của nhà Trần mà c̣n là một Thiền sư trác tuyệt của thời đại, như bài thơ thiền lung linh của ông trong tuyển tập này. Cũng nhờ quy định về chức năng của Phật giáo trong đời sống dân tộc mà Mẫu Tử đề ra, những người Phật giáo Việt Nam đă biết dừng lại đúng chỗ trong quan hệ giữa Phật giáo và nhà nước Việt Nam. Vào thời đại của họ, có lẽ vấn đề tách rời giữa giáo quyền và thế quyền chưa được đặt ra một cách bức thiết. Tuy nhiên, những người Phật giáo Việt Nam trực tiếp tham gia chính trị đầu tiên này biết được những giới hạn của ḿnh. Cho nên, sự tranh chấp giữa giáo quyền và thế quyền không xảy ra một cách đẫm máu như đă từng xảy ra ở các nơi trên thế giới. Đây là nét đặc trưng thứ hai của nền thơ thiền Phật giáo Việt Nam. Có lẽ họ không ư thức một cách tự giác mà sau này các nhà viết lịch sử đă nói tới, đó là quan hệ giữa nhà nước với nhà thờ (Phật). Nhưng có thể họ đă thấp thoáng thấy mối quan hệ này và cố t́nh rời hai thực thể đó. Giáo quyền và thế quyền là hai lĩnh vực khác nhau. Và thực tế bản chất, giáo lư Phật giáo không bao giờ cho phép xây dựng nên một giáo quyền. Không những thế, đời sống Phật giáo là một đời sống khiêm cung, đ̣i hỏi những người Phật tử phải tôn trọng người khác như những vị Phật sẽ thành. V́ thế, nói đến giáo quyền Phật giáo là điều xa lạ. Dẫu vậy, do những người Phật giáo đă tham gia vào đời sống chính trị và thực tế đă nắm quyền nên dễ xảy ra tham vọng xây dựng một giáo quyền Phật giáo, từ đó vấn đề giáo quyền của Phật giáo phải được đặt ra. Điều may mắn là trong lịch sử Việt Nam những nhân vật Phật giáo trực tiếp tham gia chính trị đó không hề có một tham vọng như thế, và họ cũng nói rơ v́ sao họ không có tham vọng. Đối với họ cuộc đời con người nh́n trong diễn tŕnh vận hành bao la của vũ trụ quá nhỏ bé và phù du. Cái vĩ đại nhất mà con người có thể có trong diễn tŕnh đó là ư chí vươn lên không chút ǵ sợ hăi trước bất cứ thay đổi nào của thế giới tự nhiên cũng như thế giới con người. Xuất phát từ một nhân sinh quan như thế, Phật giáo Việt Nam đă tránh cho ḿnh cái hoạ tham quyền cố vị cho đến khi bị hất ra ḍng lịch sử. Cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy, ḍng thơ thiền Việt Nam khi suy ngẫm về thân phận con người, lúc mô tả về phong cảnh đất nước, cũng không thoái khỏi quy định của chức năng Phật giáo nói trên. Điều này cũng dễ hiểu v́ Phật giáo đặt sự tồn vong của ḿnh trong sự tồn vong của dân tộc. V́ sự tồn vong của dân tộc có liên quan đến sự tồn vong của mỗi cá thể làm nên dân tộc đó. Cho nên, dù mục tiêu cuối cùng của đời sống Phật giáo là sự giải thoát, tức là sự đạt đến tự do tuyệt đối cho mỗi con người, nhưng mục tiêu đó chỉ đạt được nhờ vào mối tương quan với các cá thể khác trong một cộng đồng. Đây là quan điểm duyên sanh của Phật giáo, tức quan điểm cho rằng: Mọi tồn tại chỉ tồn tại trong tương quan với tồn tại khác. Chính quan điểm duyên sanh cơ bản này giúp người Phật giáo có một cái nh́n bao dung không những với chính ḿnh mà c̣n đối với những người khác và thế giới quanh ḿnh. Đọc thơ thiền Việt Nam như thế sữ gợi cho ta nhiều suy nghĩ, đặc biệt trong liên hệ với đời sống hiện đại, khi những tiến bộ khoa học kỹ thuật đă giúp con người có một cuộc sống gần gũi nhau mà những thế kỷ trước không bao giờ tưởng tượng nổi. Khi đă songs gần gũi nhau, cũng v́ duyên sanh, con người cảm thấy phải có trách nhiệm đối với đồng loại của ḿnh cũng như đới với thế giới ḿnh đang sống. Việc tập hợp lại một số thơ thiền của Việt Nam giúp người đọc có cái nh́n mới không chỉ về nền văn hoá trong quá khứ của dân tộc Việt Nam, mà c̣n từ nền văn hoá quá khứ ấy xây dựng một lối sống mới trong quan hệ với đồng loại và với thế giới xung quanh. (*) Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Vạn Hạnh, hiện ở TP. Hồ Chí Minh
-----------------------------------------------------------------------------
FOREWORD Le Manh That (*) Buddism is a cultural phenomenon that spread to Vietnam from another country during the Hung King period in the second anh third century BCE, when Vietnam was an independent, sovereign state. The earliest Buddism, Chu Dong Tu anh princess Tien Dung, are well known. In the beginning of the first century in the Common Era, following a long – term Southern wxpansionist policy, Chinese dynasties began to invade many Viet nations, including Vietnam, whose names were then Tay Au anh Lac Viet. It was in the very process to counter this Northern expansionist aggression that Buddhism had become for the Vietnamese people an effective vehicle in the resistance against assimilation and conquest from the North. At that time Buddhism was defined as a path that could “in society save the people and help the country, at home respect and honor the parents, and when living alone perfect oneself”, as Mau Tu (MouTzu) wrote in Ly Hoac Luan (ca.165-225CE ?) at the end of the second century when Vietnam`s first independent govenmet imbued with Buddhism that had been laid down in the time of Mau Tu wasn`t just an ordinary way of life for individuals, but also a political doctrine to assist the Vietnamese to not only uphold their cultural identity but also preserve their indepndent country with sovereignty and terrtorial integrity. It is precisely because of an origin determined by these factors that Vietnamese Buddhism had developed with its unique characteristics that, upon close examination, are distinct from the many forms of Buddhism in other countries. The collection of a number of representative Zen poems during the one thousand years, from the 10th to the 20th century, esp. those of the Ly and Tran dynasties (the 10th to the 14th centry), will help us uncover these characteristics). One of the first distinctive characteristics is the fact that the life of Vietnamese Buddhism had been strongly merged with the political life of the nation. This is easy to understand because in the hostory of their existence, the Vietnamese have to continuously struggle, even resorting to armed struggle, in order to defend their very survival. For that reason, Buddhism, as the cultural force of its people, could not separate itself from this constant battle. We are, therefore, not surprised at statements made by Vietnamese Buddhists cum Zen masters that carry whiffs of political connotations regarding the country. Such is the first poem in this Collection. This Zen master personally took part in political activities, esp. in the first Vietnam – China war between an independent Vietnam and the rising Chinese dynasty of Sung. We can say that this is a penetrating feature that characterizes Vietnamese Zen poetry in its beginning stage. These eminent Zen masters shared the same concerns, mainly about the political status of the country. The nature of their concerns might be different, leading to different views on the issue. From expressions that are purely and clearly political, such as the poem “The Nation`s Destiny” of Phap Thuan, to others that appear from the outside as involving thoughts on dthics or philosophy, specirilally the poem “Advice to Disciples” by Zen master Van Hanh, we can find the unmistakable worry about the country and the fate of its people, which inevitably embodies a political content. This very first character will determine the overall picture of Vietnamese Zen poetry. When king Tran Thai Tong fled from the royal citadel to Yen Tu mountain in April 1236 because of a major disagreement with Prime Minster Tran Thu Do, National Teacher Phu Van, aka Zen master Truc Lam, gave him two advices. These highlight the open attitude and the distinctive Buddhist approach to govenance. “There is no Buddha in the mountain, the Buddha resides in our heart. The heart stills to understand, that`s the real Buddha. If your Majesty sees that Mind, your Mjesty will become the Buddha. There is no need to seek it outside.” And, “A ruler of the land has to take the people`s wishes to be his wishes, to take the people`s hearts to be his heart. Now that the people wish to ask you to return, your Majesty ha no choice but to return! Your Majesty, however, should not neglect the study of the sutras.” Tran Thai Tong had carried out these advices scrupulously, and later became not only of the most illutrious kings of the Tran dynasty, but also an outstanding Zen master, as seen in the brilliance of his poem in this collection. It`s also thanks to the determination of the function of Buddhism in national life which Mau Tu had broached that Vietnamese Buddhists knew where to stop in the relation between Buddhism and the State of Vietnam. In their time, the problem of the separation of religious power and temporal power had not been urgently posed. Those Vietnamese Buddhists who had first taken part in political activeties then had already known their limits. For that reason, the contest between religious and temporal in Vietnam had never become bloodied as it did in other parts of the world. This is the second distinctive characterstic of Vietnamese Zen poetry. Perhaps they did not consciously perceive this issue, which later historians identified, as the relatien between Church and State. But they might have vaguely recognized this relation, and made an effort to separate these two realities. Religious power and temporal power belong to two distinct domains. From its very nature, Buddhist doctrine never allows the establishment of religious power. More than that, Buddhist life emphasizes humility and respectfulness, which require Buddhists to see others as Buddha – to – be. Therefore, to talk about religious power in Buddhism is alien to its core. Nevertheless, as the Buddhists had participated in the political life and in fact wielded power, it was easy to breed the ambition of building a Buddhist religious power, which necessitated posing it as an issue. It`s fortunate that in Vietnamese history, those Buddhist personages directly engaged in politics had never held such an ambition, and also explained the reason they didn`t. To them, human life in the infinite process of the universe is too miniscule and ephemeral. The most majestic thing human beings could achieve in that process is the will to aspire higher, to be fearless in the face of all the vicissitudes in the natural as well as the human world. Originating from such an outlook, Vietnamese Buddhism had a voided the calamity of greedily clinging to power until being expelled forcefully from the movements of history. Originating from the same historical background, the current of Vietnamese Zen poetry, in its contemplation on the human condition, or in its depiction of the country`s landscapes, could not escape from the above – defined function of Buddhism. This is easy to see because Buddhism put its survival with in the context of the people`s survival because the survival of the people is directly related to the survival od each indiviual belonging to the group. Therefore, even if the ultimate objective of the Buddhist life is enlighetenment, i.e. the attainment of absolute individual freedom, such an objective could only be achieved through the relationship with other individuals within the community. This is based on the Buddhist view of co – dependent relations, which says that “All existences exist only in relotions to other existences.” It is this very fundamental co – dependent view that allows Buddhists to have a tolerant and compassionate attitude, not only vis – a` - vis oneself but also to other indiduals and the world. If we read Vietnamese Zen poetry in this manner, it will offer us many ideas for modern life when the world of science and technology has joined people in such slose connections that arw unthinkable in centuries. When living closely together, because of the co- dependent relations, people are bound to feel responsibility for their fellow human beings as well as the world they live in. The collection of a volume of representative Vietnamese Zen poems helps the reader realize a new understanding not only the past culture of the Vietnamese people, but also from that past culture build a new way of life in relations with our fellow beings and the world. (*) Le Manh That, Vice Rector. Van Hanh Institute of Buddhist Research, Ho Chi Minh City.
|
|
|