II. Thực trạng văn hoá trong giai đoạn từ 1986 đến 1997

Từ những đặc điểm trên, chúng ta cần nhìn rõ thực trạng của nền văn hoá Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1997. Sự nhìn nhận mặt được và chưa được của bức tranh văn hoá Việt Nam sẽ giúp chúng ta có định hướng đúng trong việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    1. Tư tưởng, đạo đức, lối sống

Tư tưởng, đạo đức, lối sống mà chúng ta đang bàn ở đây có ý nghĩa là bộ phận cốt lõi của văn hoá dân tộc. Trong xã hội có giai cấp, văn hoá bao giờ cũng phản ánh quan điểm giai cấp và phục vụ lợi ích giai cấp nhất định. Nói văn hoá trước hết là nói đến hệ tư tưởng, bởi hệ tư tưởng là nội dung, là định hướng cơ bản của phát triển xã hội, văn hoá. Hơn 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã trung thành và vận dụng có sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực hiện đổi mới ở Việt Nam trong điều kiện chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế lâm vào khủng hoảng, thoái trào. Đảng đã tiến hành đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận. Để tiếp tục giương cao ngọn cờ lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng, là kim chỉ nam cho mọi hành động trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, xác định 6 đặc trưng, 7 phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". Có thể coi đó là thành tựu quan trọng về hoạt động lý luận của Đảng. Với cơ sở lý luận này, Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn.

Đạo đức và lối sống là những giá trị cốt lõi của văn hoá, bởi vì đạo đức là những chuẩn mực ứng xử của con người, là những quy tắc và những cam kết của cộng đồng mà con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích cá nhân và tiến bộ xã hội. Con người sẽ hành động ra sao, xã hội sẽ đi tới đâu, môi trường sinh thái sẽ bị huỷ hoại như thế nào, nếu như hoạt động của con người thiếu những nhân tố văn hoá. Có con người là có cách thức sinh sống trên nền tảng một phương thức sản xuất. Ngoài hoạt động sản xuất, con người còn có hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, sinh hoạt văn hoá, nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng và mọi sinh hoạt hàng ngày. Lối sống được thể hiện ở lẽ sống, nếp sống, mức sống, chất lượng sống, đó là thước đo trình độ dân trí, sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần của con người cũng như của xã hội. Trên thực tế, có thể mức sống chưa cao, nhưng nhờ có lẽ sống đẹp, nếp sống lành mạnh, con người và xã hội có thể trở thành con người có văn hoá, xã hội không ngừng tiến bộ.

Người đầu tiên dùng thuật ngữ đời sống mới ở nước ta là Bác Hồ. Từ rất sớm, sau ba phong trào lớn - chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm, Bác Hồ quan tâm nhiều nhất, sớm nhất đến đời sống mới.

Ba thập kỷ tiếp theo, trong điều kiện chiến tranh, chúng ta vẫn kiên trì thực hiện đời sống mới với tên gọi Nếp sống mới. Nếp sống mới đã trở thành cuộc vận động với nội dung phong phú, có hệ thống tổ chức xuống tận làng, xã, mà đứng đầu là Uỷ ban Trung ương vận động thực hiện Nếp sống mới.

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá V) của Đảng năm 1983 nhấn mạnh công tác xây dựng nếp sống mới trong thanh niên và tiếp đó là Nghị quyết 159 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có đoạn nói về Nếp sống mới. Bấy giờ, các thuật ngữ dùng làm công cụ vận động Nếp sống mới là quy ước, hình mẫu, nghi thức, có nội dung uyển chuyển, dễ vào, dễ tiếp thu và dễ thực hiện. Quy ước là tập hợp một số điều do nhân dân ở cơ sở cam kết với nhau, không phải là văn bản pháp lý, nhưng về nguyên tắc quy ước không được trái với Hiến pháp. Ưu điểm của 5 nội dung xây dựng nếp sống mới là phép biện chứng giữa xâychống được đặt ra, lấy xây làm chính.

Nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đời sống tinh thần của xã hội có nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam, nên đã phát triển đúng hướng. Chính vì vậy, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá đã có những chuyển biến quan trọng: "ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước. Nhiều nét mới trong giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành"1. Mẫu điều tra xã hội học của Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật và Trung tâm công nghệ thông tin của Văn phòng Bộ Văn hoá- Thông tin về phẩm chất đáng quý nhất của con người chứng tỏ điều ấy... Với 3062 người trả lời câu hỏi: Xin ông (bà) cho biết phẩm chất nào ở con người là đáng quý? Kết quả thu được như sau:

Phẩm chất

Số lượng người chọn là phẩm chất quý

 

Số lượng

Tỷ lệ %

Thông minh, sáng tạo

1749

57,11

Lao động chuyên cần

1529

49,93

Chính trực, thật thà

1430

46,70

Trọng chữ tín, giữ lời hứa

1350

44,08

Tiết kiệm, giản dị

844

27,56

Đoàn kết, rộng lượng

824

26,91

Lo việc chung

757

26,45

Hay thương người, giúp đỡ người khác

766

25,01

Cởi mở, hoà nhã

387

12,63

Dũng cảm

338

11,03

 


1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.42.

Điều tra riêng ở 1120 công nhân, 498 nông dân, kết quả thu được như sau:

Phẩm chất

Số lượng người chọn là phẩm chất quý

 

Công nhân

Nông dân

 

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Thông minh, sáng tạo

619

55,26

236

47,38

Lao động chuyên cần

552

49,28

313

62,85

Chính trực, thật thà

543

48,48

232

46,58

Trọng chữ tín, giữ lời hứa

536

47,85

167

33,53

Tiết kiệm, giản dị

287

25,62

155

31,12

Đoàn kết, rộng lượng

267

23,83

184

36,94

Lo việc chung

264

23,57

122

24,49

Hay thương người, giúp đỡ người khác

271

24,19

142

28,51

Cởi mở, hoà nhã

111

9,91

81

16,26

Dũng cảm

112

10

66

13,25

Cũng với số lượng người được phỏng vấn như vậy, với câu hỏi: Xin ông (bà) cho biết tính xấu nào của con người đáng ghét nhất? Kết quả thu được như sau:

Tính xấu

Số người lựa chọn

là tính xấu nhất

 

Số lượng

Tỷ lệ %

Xu thời, cơ hội

1.534

50,09

Lười nhác

1.252

40,88

Nói một đằng làm một nẻo (đạo đức giả)

1.250

40,82

Lừa lọc

1.068

35,46

Nghiện hút

1.008

32,91

Bóc lột sức lao động của người khác

860

28,08

Tham lam

697

22,76

Cờ bạc

556

18,15

Xa hoa, lãng phí

533

17,40

Đĩ điếm

491

16,03

Ngu đần

368

12,01

Lắm điều

306

9,99

Rượu chè

118

3,85

Điều tra riêng ở 1120 công nhân, 498 nông dân, kết quả thu được như sau:

Tính xấu

Số người lựa chọn là tính xấu nhất

 

Công nhân

Nông dân

 

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Xu thời, cơ hội

582

51,96

200

40,16

Lười nhác

443

39,55

257

51,60

Nói một đằng làm một nẻo

532

47,5

145

29,11

Lừa lọc

373

33,30

184

36,94

Nghiện hút

322

28,75

219

43,97

Bóc lột sức lao động của người khác

293

26,16

183

36,74

Tham lam

236

21,07

112

22,48

Cờ bạc

184

16,42

102

20,48

Xa hoa, lãng phí

209

18,66

83

16,66

Đĩ điếm

145

12,94

75

15,06

Ngu đần

103

9,19

75

15,06

Lắm điều

105

9,73

36

7,22

Năm 1999, Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật tổ chức khảo sát ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, với câu hỏi: Giá trị xã hội nào quan trọng , theo thứ tự ưu tiên 1, 2, 3? Kết quả thu được như sau:

Giá trị xã hội quan trọng

Ưu tiên 1 (%)

Ưu tiên 2 (%)

Ưu tiên 3 (%)

Độc lập dân tộc

89,9

1,4

1,1

Công bằng xã hội

6,4

40,1

16,7

Đoàn kết dân tộc

3,2

41,3

13,9

Phát triển kinh tế thị trường

0,2

5,0

18,7

Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

0,3

12,1

49,5

Có thể nói, kết quả trên cho thấy trong đời sống xã hội, các phong trào: tìm về cội nguồn dân tộc, nhớ về quê cha đất tổ; đền ơn đáp nghĩa người có công với nước; ủng hộ đồng bào ở các vùng bị thiên tai; cứu trợ những trẻ mồ côi, người tàn tật; tôn kính những bậc lão thành cách mạng; khuyến khích những tài năng trẻ; hiếu học, giàu sáng tạo. v.v... phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Nếp sống tình nghĩa, cách ăn ở có trước có sau, kính trên nhường dưới trong gia đình; truyền thống "tôn sư trọng đạo", "tiên học lễ hậu học văn" trong nhà trường; phong hoá nhân ái, thuần hậu "thương người như thể thương thân", "thấy người hoạn nạn thì thương" v.v. vốn là những lớp văn hoá được trầm tích từ trong chiều sâu đạo lý dân tộc đã, đang được phát huy trong thời kỳ mới.

Phong trào xây dựng làng, bản văn hoá và việc khôi phục hương ước có nội dung tốt, soạn thảo các hương ước mới ở nhiều nơi đã góp phần vào việc duy trì nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hoá. Văn hoá ở nông thôn, ở miền núi ít bị ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai và văn hoá độc hại, nên còn lưu giữ những giá trị văn hoá dân tộc.

Người dân, kể cả người dân ở nông thôn và các vùng xa đô thị, có ý thức hơn về dân chủ, pháp luật, quyền sở hữu cá nhân và quyền con người. Lớp trẻ sớm có ý thức phấn đấu để lập thân, lập nghiệp. Không khí lạc quan, năng động, linh hoạt, dân chủ và cởi mở bao trùm xã hội. Nhân dân càng có ý thức và quyết tâm phấn đấu làm cho "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh", quý trọng những thành tựu của đất nước, của dân tộc đã được xây dựng trong mấy chục năm qua.

Tuy vậy, trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống còn những tồn tại yếu kém và biểu hiện tiêu cực. Vấn đề đáng lo ngại được toàn xã hội quan tâm là sự chệch hướng về lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền, và một số người trong hoạt động kinh doanh. Một số người lao theo con đường làm giàu bằng bất cứ giá nào; một số khác tiêu xài phung phí, ăn chơi trác táng, sa đoạ bằng tiền công quỹ, làm thất thoát tiền bạc của Nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Một bộ phận thanh niên có những biểu hiện xa rời lý tưởng xã hội chủ nghĩa, quay lưng lại với những giá trị chân, thiện, mỹ của dân tộc, họ sùng ngoại, phục ngoại một cách quá đáng, trượt dần theo lối sống thực dụng, sống gấp, buông thả, coi tiền là trên hết, bất chấp sự giáo dục của gia đình và xã hội mà họ đang sống.

Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo tín ngưỡng của Nhà nước ta, một số người ở các đô thị và nhiều làng quê đã khôi phục lễ hội tràn lan, tự phát, biến những đền, chùa, miếu, phủ là nơi thờ cúng thiêng liêng thành những nơi "mua thần, bán thánh"; đã có những hiện tượng mê tín, dị đoan, phản khoa học như "uống nước thánh", lên đồng, xem bói, xem sao, xóc thẻ, xem ngày, giờ, đốt vàng mã... gây ra bao nhiêu tấn bi kịch cho nhiều gia đình, nhiều số phận.

Một số hủ tục đang có chiều hướng trỗi dậy trong đám cưới, đám tang; tệ ăn uống linh đình, tiệc tùng tại các cơ quan, công sở diễn ra ở các đô thị và nông thôn. Điều đáng trách là mọi sự tiêu dùng ấy đều lấy tiền của Nhà nước, của nhân dân. Tình trạng tiêu dùng, ăn uống và biếu quà cáp quá khả năng mình làm ra là một tệ nạn. Xu hướng chạy theo "xã hội tiêu dùng" lúc đầu nảy sinh ở bộ phận nhỏ cán bộ có chức, có quyền, hoặc ở một số người thuộc cơ quan kinh tế, ở một bộ phận dân cư giàu có tại các đô thị lớn, mấy năm gần đây đã trở thành dòng đục trong môi trường văn hoá của xã hội.

Trước sự biến đổi nhanh chóng của thời cuộc, trước những nguy cơ chệch hướng về chính trị, tụt hậu về kinh tế, tình trạng tham nhũng, âm mưu diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch và những khó khăn của công cuộc đổi mới mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã phân tích, xã hội ta đang tồn tại một số vấn đề trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống cần được quan tâm khắc phục. Đó là:

- Một số người còn băn khoăn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ cho rằng, đối với nước ta - một nước kém phát triển, lại không có sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, trong tình hình quốc tế như hiện nay- không nên đặt ra vấn đề chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản mà cái chính là bằng cách nào đó đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu để đi tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

- Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, cạnh tranh quyết liệt, thắng - thua, được - mất diễn ra gay gắt thì làm thế nào để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, làm sao vừa giải quyết tốt các vấn đề xã hội, vừa làm thế nào để kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ được vai trò chủ đạo.

- Trong quá trình hội nhập, lĩnh vực kinh tế đối ngoại luôn có những diễn biến phức tạp và khó khăn khôn lường. Nhiều người không làm chủ được, vì trình độ quản lý kém, vụng về ở nhiều khâu; thậm chí thiếu hiểu biết, hàng hoá nhập lậu, làm thất thoát tài sản quốc gia, trở thành những món nợ lớn mà thế hệ sau phải gánh chịu.

- Nỗi lo lớn nhất và lâu dài nhất là đời sống văn hoá nước ta hiện nay đang diễn ra phức tạp: các bậc thang giá trị, các chuẩn mực đạo đức đang biến động; một số sản phẩm văn hoá độc hại đang lan tràn, tác động hàng ngày hàng giờ vào từng gia đình, từng người, đặc biệt là lớp trẻ. Nhiều hủ tục, lối sống lạc hậu, tình trạng mê tín dị đoan, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nhằm mục đích chính trị đang có chiều hướng trỗi dậy.

2. Sáng tạo văn hoá

2.1. Những thành tựu của văn học, nghệ thuật trong đổi mới

Trong nhiều vấn đề lý luận đang được đặt ra đối với văn học, nghệ thuật trong đổi mới thì vấn đề phản ánh chân thật cuộc sống là cấp thiết hơn cả. Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc miêu tả cho hay, cho chân thật cho hùng hồn giúp chúng ta nhận thức sâu hơn vấn đề nói trên. Văn hoá nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống là điều đương nhiên, dù cuộc sống có phức tạp, có mới mẻ đến mấy! Có nhà tư tưởng nói: Nghệ thuật đối với cuộc sống cũng như rượu đối với nho, và chỉ ra rằng, nghệ thuật lấy chất liệu từ cuộc sống, song đã đưa lại một cái gì cao hơn chất liệu ấy và những phẩm chất vốn có trong bản thân chất liệu. Theo phản ánh luận, nghệ thuật và cuộc sống là hai phạm trù vừa không hoàn toàn trùng khít, vừa không đối lập nhau. Sức mạnh của chúng là ở sự thống nhất. Hoạt động nghệ thuật để cải tạo con người, là nhờ tác phẩm nghệ thuật không tách rời cuộc sống; trái lại phản ánh cuộc sống một cách có nghệ thuật. Khẳng định lại điều này để ngăn ngừa hai hư thuyết cực đoan đã nảy sinh trong lịch sử văn nghệ: đòi "giải phóng" nghệ thuật khỏi sự thật khách quan và tuyệt đối hoá vai trò chủ thể sáng tạo; coi sáng tạo nghệ thuật cũng giống như sản xuất hàng hoá, coi thường đặc trưng nghệ thuật, biến tác phẩm thành "tấm gương chết"...

Tuy nhiên, phản ánh hiện thực như thế nào để có những tác phẩm lớn xứng đáng với tầm vóc của hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta hôm nay là điều cần được trao đổi cặn kẽ.

Để định hướng cho sự sáng tạo hôm nay, trong tình hình kinh tế - xã hội có khác mấy thập kỷ trước đây, chúng ta cần nhắc lại và hiểu đúng lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ nghệ thuật: "Trong phong trào thi đua yêu nước của đồng bào miền Bắc và cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam có những người, những việc vô cùng anh dũng, oanh liệt. Đó là những "đề tài" cực kỳ phong phú để cổ vũ đồng bào ta và để giáo dục con cháu ta.

Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc ấy, bằng văn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác"1.

- Đối với sáng tạo văn nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dùng chữ phải (miêu tả cho hay...), vì sáng tạo là tự nguyện, là đòi hỏi quá trình nuôi dưỡng cảm hứng chủ đạo, sự tự do lựa chọn đề tài và sự xuất hiện cảm hứng phản xạ. Nói tóm lại là sự tôn trọng cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, không thể bắt buộc, lại càng tránh cưỡng bức.

- Qua câu "miêu tả cho hay" hoặc cho đẹp, cho khéo..., Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy được đặc thù của văn nghệ, Người đưa lên hàng đầu chức năng thẩm mỹ trong sáng tạo là nghệ thuật, thơ cho ra thơ, nói như vậy không sợ phi chính trị. Phẩm chất chính trị cao nhất trong văn nghệ chính là người nghệ sĩ phải có tác phẩm hay, đẹp.

- Miêu tả cho chân thật. Muốn miêu tả cho chân thật thì điều kiện tiên quyết là người nghệ sĩ phải có "tình cảm chân thật", "nói lên được tình người" và "phát huy cốt cách dân tộc"; còn tác phẩm nên "có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.561.

ích"1. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn các nhà quản lý, các nhà chỉ đạo văn nghệ: "Chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo..."2.

- Miêu tả cho hùng hồn. Không như một số người hiểu là hùng biện, hào hùng chỉ dành riêng cho sử thi, hùng hồn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở đây là khẳng định mạnh mẽ những người lao động bình thường, miêu tả sâu sắc nội tâm, quá trình phát triển tâm lý của họ, những con người mới, việc mới, đồng thời cũng phải "thẳng thắn phê bình những điều xấu như: lười biếng, tham ô, lãng phí, quan liêu"1.

Người nghệ sĩ có thể tìm thấy ở đây cái chung, dù phản ánh hiện thực nào, đối tượng nào... Đó là chủ nghĩa nhân văn đọng lại trong tác phẩm xuất phát từ lòng bao dung, nỗi trắc ẩn của bản thân nghệ sĩ, dù có nói đến cái xấu, cái ác cũng vì cái đẹp, điều thiện. Và qua đó nghệ sĩ mở lối thoát cho con người đấu tranh nhằm chiến thắng cái ác, cái xấu và để sống tốt hơn. Văn học nghệ thuật xưa nay không chấp nhận những ấm ức cá nhân, những tâm địa hằn học, những mục đích biến trang sách thành nơi công kích, bôi đen cuộc sống. Văn học nghệ thuật dân tộc ta cũng xa lạ với những cuốn sách, những bài thơ suy đồi, bệnh hoạn với ý đồ đem tâm hồn thác loạn của riêng mình làm lây lan và vấy bẩn sang người khác.

Văn học nghệ thuật phản ánh đời sống chính là phản ánh con người; con người trong mối quan hệ tổng hoà hội đủ những phẩm chất tương ứng với những đòi hỏi của thời kỳ mới. Đó là những con người có cá tính riêng, không ngừng hoàn


1 , Hồ Chí Minh: Tuyển tập văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1995, t.II, tr. 344.

2 Sđd, tr. 346

1 . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.561.


thiện năng lực sáng tạo và luôn hướng tới tầm cao trí tuệ. Trong cơ chế thị trường, con người Việt Nam đang tỉnh táo đánh giá và kế thừa những giá trị trước đây, đồng thời tiếp tục lựa chọn, hướng tới những giá trị mới phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Giai cấp nông dân, giai cấp công nhân, trí thức xã hội chủ nghĩa, những nhà doanh nghiệp chân chính, lực lượng vũ trang là những nhân vật trung tâm của văn hoá nghệ thuật thời đại chúng ta. Đúng như Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Đảng đã nhận định: "Chiến lược kinh tế - xã hội đã đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước...".

Trong lý luận văn nghệ có nhiều nhà lý luận nêu lại vai trò của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bất cứ văn nghệ sĩ nào, dù ý thức hay vô thức, dù muốn hay không đều để lại dấu ấn phương pháp sáng tác của mình trong tác phẩm tức là cơ sở triết học, mỹ học cho sự sáng tạo. Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là kết quả của sự tìm tòi của cả một tập thể nhà mỹ học, nhà văn có tên tuổi ở Liên Xô (trước đây) và một số nước khác. Nhờ nó mà nhiều nền văn học đã để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm lớn có giá trị và nhiều văn nghệ sĩ tài ba.

nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là một trong những phương pháp tốt nhất để khám phá và miêu tả cuộc sống. Nó có quyền tồn tại bình đẳng với nhiều phương pháp sáng tác khác, làm nên vẻ đẹp đa diện của đời sống văn nghệ nước nhà. Song, người nghệ sĩ có thể vận dụng những phương pháp khác phù hợp với cá tính sáng tạo của mình, miễn là đưa lại tác phẩm tốt, hay, đẹp.

Nói đến sáng tạo văn hoá nghệ thuật, trước tiên phải nói đến văn nghệ sĩ. Phần lớn văn nghệ sĩ nước ta được rèn luyện và thử thách trong đấu tranh cách mạng, có vốn sống, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Dù ở trong nước hay ngoài nước, đội ngũ văn nghệ sĩ đều cố gắng giữ gìn phẩm chất, kiên định quan điểm sáng tác và hoạt động phục vụ nhân dân... Đây là phẩm chất cơ bản của văn nghệ sĩ Việt Nam trong hơn 50 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. nước ta, sứ mệnh người nghệ sĩ - chiến sĩ đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng. Không thể xây dựng một nền văn nghệ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không có đội ngũ văn nghệ sĩ có đức có tài, phục vụ sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Các thế hệ văn nghệ sĩ thời chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, đã có câu trả lời trước những đòi hỏi của Tổ quốc. Nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hầu hết các văn nghệ sĩ đã đi theo cách mạng lên chiến khu, tham gia quân đội, thanh niên xung phong, đi thực tế vào tuyến lửa và đã lập nên nhiều chiến công. Nhiều người trong số họ đã hy sinh anh dũng ở chiến trường, trong tay còn cầm súng và cầm bút, trên vai còn vác máy quay phim, trong ba lô còn đầy bản thảo. Đó là Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Mỹ, Hoàng Việt, Văn Cận, Vĩnh Bảo, Quách Vũ, Lê Trân...1.


1 Theo các Báo cáo tổng kết của các hội nghệ thuật thì số nhà văn - nghệ sĩ liệt sĩ hy sinh trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc như sau: Nghệ sĩ nhiếp ảnh: 79 liệt sĩ; Nghệ sĩ tạo hình: 50 liệt sĩ; Nghệ sĩ điện ảnh và chiếu bóng: gần 200 liệt sĩ...


Trong thời kỳ hoà bình và xây dựng lại đất nước, các văn nghệ sĩ đã cùng với nhân dân vượt qua mọi thử thách, quan tâm đến những lợi ích to lớn về công bằng xã hội, về ý thức dân chủ và quyền lực của nhân dân. Hai thế hệ văn nghệ sĩ lớp sau phần lớn được đào tạo cơ bản tại các trường đại học trong và ngoài nước, lại được rèn luyện trong nhiều môi trường của đời sống xã hội. Những kiến thức mà họ nhận được giúp họ có trí tuệ sáng suốt, có sức nhạy cảm trước những vấn đề nóng bỏng của nhân dân, của thời đại mình. Đội ngũ lý luận, phê bình văn nghệ đã được bổ sung đáng kể, họ có mặt ở hầu hết các vị trí quan trọng của công tác tư tưởng và văn hoá. Hoạt động lý luận phê bình văn nghệ có nhiều khởi sắc. Nhiều công trình, bài viết nghiêm túc, có sức thuyết phục nhằm bảo vệ những nguyên lý mácxít và đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng trong điều kiện thị trường và mở cửa. Nhờ đó mà bầu không khí văn học, nghệ thuật lành mạnh hơn. Chỉ riêng trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn hoá văn nghệ đã nổi trội những đặc điểm sau đây:

a. Đội ngũ lý luận, phê bình văn nghệ được tăng cường, bổ sung

Đội ngũ này được bổ sung và tăng cường mạnh ở ba khu vực: các viện nghiên cứu, các trường đại học và các cơ quan báo chí, xuất bản. Bên cạnh các nhà nghiên cứu văn học vốn đã hiện hữu ở văn đàn mấy chục năm nay và đã có nhiều công trình đứng tên riêng của mình như: Hoàng Trinh, Đinh Gia Khánh, Phan Ngọc, Lê Đình K, Hoàng Như Mai, Lê Trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Hượu, Vũ Đức Phúc là những nhà nghiên cứu phê bình độ tuổi từ 55 cho đến trên 65. Họ cũng là những người viết nhiều, viết đều, vừa giảng dạy vừa viết giáo trình như Đặng Thanh Lê, Nguyễn Văn Hoàn, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Hồ Sĩ Vịnh, Huỳnh Khái Vinh, Phong Lê, Bùi Duy Tân, Nguyễn Huệ Chi, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Phúc, Phương Lựu, Nguyễn Đăng Mạnh, Thành Duy, Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn, Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Bính, Hoàng Ngọc Hiến, v.v. Lớp cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu hoặc làm báo, làm xuất bản trẻ hơn một chút thật đông đảo với: Vương Trí Nhàn, Lã Nguyên, Lại Nguyên Ân, Phan Trọng Thưởng, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Văn Lưu, Hồng Diệu, Huỳnh Như Phương, Trương Đăng Dung, Trần Đăng Xuyền, Vũ Tuấn Anh, Mai Hương, Lê Thành Nghị, Tôn Phương Lan, v.v. và nhiều nhà nghiên cứu khác.

Một số người sáng tác văn, thơ cũng hăng hái tham gia viết báo, phê bình và luận chiến như: Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa... Có người còn viết những tiểu luận như Vũ Duy Thông, Nguyễn Trung Thu, v.v.. Một số nhà nghiên cứu tham gia dịch thuật văn học như Lê Sơn, Nguyễn Trung Đức, Phạm Tú Châu, v.v.. Bên cạnh lý luận phê bình văn học, lực lượng nghiên cứu, phê bình các lĩnh vực nghệ thuật cũng từng bước hình thành và phát triển. Có thể kể đến đóng góp của Thái Bá Vân, Lê Thanh Đức, Nguyễn Quân, Chu Quang Trứ (trong mỹ thuật), Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính, Trần Lâm Biền, (trong văn hoá dân gian), Tô Ngọc Thanh, (trong âm nhạc), Mịch Quang, Đình Quang, Hoàng Chương (trong sân khấu)...

Ưu điểm nổi bật nhất của đa số những nhà nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật là có tri thức rộng, trình độ ngoại ngữ tốt, có phương pháp nghiên cứu đúng đắn và có năng lực cảm thụ tinh tế. Những ưu điểm đó vừa là tiền đề, vừa là công cụ nghiên cứu giúp họ bám chắc vào thực tiễn cuộc sống, xã hội, đời sống văn hoá - văn học dân tộc. ý thức cũng như nhu cầu đổi mới lý luận được thực hiện ở nhiều công trình, bài viết. Nhiều vấn đề lý luận được đề xuất , nhiều tổng kết học thuật có giá trị, nhiều luận điểm có thể tranh luận thêm, nhưng là sự tranh luận thú vị, rất có ích cho đời sống. Mức độ thành công khác nhau, những hạn chế không giống nhau của các công trình và các cuốn sách sau đây chứng minh cho nhận định này: Từ ký hiệu học đến thi pháp học (Hoàng Trinh); Đổi mới phê bình văn học (Đỗ Đức Hiểu); Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca (nhiều tác giả); Chặng đường mới của văn học Việt Nam (nhiều tác giả); Một thời đại văn học mới (nhiều tác giả); Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù (nhiều tác giả); Lý luận văn học (Lê Ngọc Trà); Trên đà đổi mới văn hoá văn nghệ (Phương Lựu); Đi tìm chân lý nghệ thuật (Hà Minh Đức); Tư duy mới và phẩm chất văn nghệ sĩ (Hồ Sĩ Vịnh); Văn học và công cuộc đổi mới (Phong Lê); Thi pháp thơ Tố Hữu; Những thế giới nghệ thuật (Trần Đình Sử); Tài năng và người thưởng thức (Đặng Anh Đào); Góp lời thiên cổ sự (Văn Tâm); Luận chiến văn chương (Nguyễn Văn Lưu); Kiếp hoa dại (Vương Trí Nhàn); Văn học và hiện thực (nhiều tác giả); Nghĩ tiếp về Nam Cao; Thạch Lam-văn chương và cái đẹp (nhiều tác giả),... Nghiên cứu phê bình văn học là lĩnh vực khoa học về văn học. Nó đòi hỏi những người sáng tạo ở đây có những phẩm chất cần thiết của nhà khoa học xã hội và nhân văn. Điều đó cho thấy sự hình thành đội ngũ lý luận phê bình với những công trình đứng được trong thời gian là một thành công của văn nghệ nước nhà.

b. Nhiều vấn đề học thuật được thẩm định đánh giá một cách khách quan hơn.

Trước hết là đối với những hiện tượng văn học trước Cách mạng Tháng Tám như: Thơ Mới, Tự lực văn đoàn, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và một số nhà thơ trong phong trào Thơ Mới như Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử, Bích Khê... Xuất phát từ sự đổi mới tư duy trước hết là tư duy lý luận, nhiều nhà lý luận cho rằng, những yếu tố cấu thành thế giới quan của những văn nghệ sĩ trước Cách mạng Tháng Tám thường tác động lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, nhưng từng yếu tố vẫn có tính độc lập tương đối. Không nên đơn giản nghĩ rằng, những thiên kiến giai cấp, những quan điểm chính trị của nhà văn thể hiện trong tác phẩm một cách thẳng đuột, công khai. ý thức dân tộc, tình yêu thiên nhiên, sự cách tân ngôn ngữ thơ ca, lòng hoài niệm về quá khứ, lòng yêu nước, "nỗi đau đời", v.v. góp lại chẳng phải là chủ nghĩa nhân văn của các nhà văn thuộc các khuynh hướng, các tôn chỉ nghệ thuật khác nhau trước Cách mạng đó sao?. Cách đánh giá khắt khe, thậm chí phủ định sạch trơn các hiện tượng văn hoá nói trên trong một số cuốn sách, bài viết, giờ đây được xem xét, đánh giá lại thoả đáng hơn. Nhưng cũng từ đây, có người, có bài chỉ thấy mặt đóng góp, coi nhẹ mặt hạn chế, thậm chí đề cao quá lời, thiếu khách quan cũng là việc làm thiếu trách nhiệm đối với lịch sử và cả thế hệ độc giả hôm nay.

c. Nhiều vấn đề lý luận văn học được ánh sáng tư duy mới soi sáng, được nhận thức lại, được bổ sung và phát huy phù hợp với thực tiễn mới, thời đại mới

Có thể nêu tóm tắt những điểm chính:

Trên cơ sở mỹ học Mác-Lênin và tư tưởng mỹ học Hồ Chí Minh, nhiều vấn đề đặt ra: vấn đề phản ánh hiện thực và sáng tạo nghệ thuật; vai trò chủ thể trong sáng tạo văn học; phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ trong thời đại mới; những ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau về các giai đoạn văn học cách mạng 1945-1975... Tất cả các cuộc thảo luận trên đều diễn ra trên các báo, tạp chí.

Những cuộc trao đổi, thảo luận, những bài luận chiến về một số tác phẩm văn xuôi, những cuộc thảo luận về thơ trên báo Văn nghệ vào năm 1994, đã nêu lên nhiều vấn đề học thuật cho hướng đi mới của văn xuôi và thơ ca Việt Nam. Những cuộc trao đổi đã mạnh dạn khám phá những hình tượng mới về văn xuôi, về thơ, hình thức câu thơ, những ngôn từ mới, tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trong văn thơ.

Nhìn chung, những cuộc thảo luận, hội thảo, luận chiến tuy có xuất hiện một số ý kiến cực đoan về phía tả hoặc phía hữu, nhưng nhìn chung là có phương pháp đúng, bổ ích, tư duy khoáng đạt, tế nhị trên cơ sở những nguyên lý đúng và đủ, với tinh thần dân chủ, cởi mở, với thiện chí đóng góp vào sự phát triển văn học trong thời kỳ đổi mới.

d. Nhiều vấn đề văn hoá được nghiên cứu trong "Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá"

Hưởng ứng "Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá", công tác nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam phát triển với nhịp độ nhanh, mạnh trong thời kỳ từ 1987 đến 1997. Uỷ ban quốc gia về "Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá của Việt Nam do Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch, đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề cấp quốc gia và quốc tế như hội thảo khoa học với chủ đề "Văn hoá và phát triển" do Viện khoa học xã hội Việt Nam và Uỷ ban UNESCO phối hợp tổ chức, hội thảo khoa học với chủ đề "Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển", v.v..

Từ năm 1991 đến năm 1995, nhiều chương trình khoa học công nghệ, nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước được triển khai. Chẳng hạn, chương trình KX. 06: "Văn hoá, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" gồm nhiều đề tài cấp nhà nước: Hệ quan điểm về mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển; Quá trình hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam; Văn minh Việt Nam trong quá khứ và viễn cảnh; Văn hoá Việt Nam với sự phát triển của sắc thái văn hoá xã hội địa phương và tộc người; Văn hoá và quản lý trong truyền thống và hiện đại, v.v.. Chẳng hạn, Chương trình KX 07: "Con người với tính cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển" với các đề tài cấp nhà nước: nh hưởng của các hệ thống tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay; Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam; Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò, động lực của con người trong sự phát triển kinh tế- xã hội, v.v.;

Vì thế, hàng loạt các cuốn sách viết về văn hoá Việt Nam đã được xuất hiện. PGS, TS Nguyễn Xuân Kính đã nhìn nhận theo các mảng sách: mảng sách chú ý đến những vấn đề chung, những vấn đề lý luận, phương pháp luận và nghiên cứu văn hoá ở dạng tổng thể; mảng sách viết về các vùng văn hoá; mảng sách viết về văn hoá các dân tộc thiểu số; mảng sách về văn hoá tâm linh, hội lễ; mảng sách từ điển; mảng sách giáo trình đại học về văn hoá; mảng sách dịch thuật, giới thiệu nghiên cứu văn hoá nước ngoài, để rồi đánh giá: Qua sự phân tích mảng sách viết về văn hoá, chúng ta thấy sự phong phú về số lượng. Số sách này lớn hơn số sách về văn hoá của nhiều thập kỷ trước cộng lại. Đây là chưa kể những bài viết đăng trên các tạp chí. Về chất lượng phần lớn đây là những ấn phẩm có ích, số sách có giá trị đạt tỷ lệ đáng kể. Những tri thức từ các cuốn sách có ích này đã, đang và sẽ đi vào cuộc sống và ngày càng chứng tỏ: Văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển"2.

đ Đổi mới ở từng ngành cụ thể

Hoạt động văn học đã phong phú hơn về nội dung,đa dạng hơn về hình thức; đã có sự cách tân về thi pháp, thể loại, phong cách; đã khắc phục thói quen miêu tả phiến diện, giản đơn. Các nhà văn có mặt trong mọi đề tài, bắt đúng mọi cung bậc cảm hứng, chia sẻ vui, buồn với những số phận riêng rẽ, từ ý thức đến vô thức, từ hiện thực đến huyền thoại, từ phản ánh đến nghiền ngẫm... miễn sao phản ánh chân thật bức tranh nhiều mảng màu, nhiều chiều của xã hội đang đổi mới. Ngay từ nửa đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trên văn đàn đã xuất hiện những cuốn sách, tập truyện được người đọc ghi nhận như: Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành, Bến quê (Nguyễn Minh Châu); Đứng trước biển, Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn); Thời xa vắng (Lê Lựu); Những ngày thường đã cháy lên (Xuân Cang); Góc tăm tối (Khuất Quang Thu); Lời nguyền 200 năm (Khôi Vũ); Cái thời lãng mạn ấy (Nguyễn Khải); Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh); o ảnh trắng (Ngọc Tú)... Văn xuôi về đề tài chiến tranh và người lính được nhiều nhà văn theo đuổi, thi pháp


Xem: Tạp chí Văn hoá dân gian số 4 – 1997.

2 Xem: Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4- 1997, tr. 73


sáng tạo mới đã được vận dụng, tạo thành những đóng góp mới: Không phải trò đùa (Khuất Quang Thu); Chim én bay (Nguyễn Trí Huân); Ông cố vấn (Hữu Mai); Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu); Vòng tròn bội bạc, Phố (Chu Lai) và nhiều sáng tác mới của Xuân Thiều, Cao Tiến Lê, Triệu Bôn, Nam Hà, Bùi Bình Thi, v.v.. Xuất hiện một số tác giả mới, trẻ, viết nhanh, viết nhiều. Trong vòng năm năm có người cho in tới 10 tác phẩm. Nhiều nhà thơ vốn đã nổi tiếng trong những năm chống Mỹ cứu nước, nay vẫn là lực lượng sáng tác chủ chốt trong thời kỳ đổi mới như: Thanh Thảo, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Thu Bồn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm. Lớp nhà thơ nữ cũng có những đóng góp nhằm làm đổi mới thi pháp thơ trong nhiều năm gần đây: Phan Thị Thanh Nhàn, ý Nhi, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lê Thị Mây, Thuý Bắc, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng và nhiều người khác. Thơ cũng được in nhiều hơn trước, phản ánh những tâm tư mới, giọng điệu mới, những trăn trở trước thời cuộc.

lĩnh vực điện ảnh, từ năm 1992 trở đi, nhờ huy động được nguồn vốn lớn, nên nhiều phim và băng hình đã được sản xuất. Một loạt phim truyện nhựa tương đối có chất lượng nghệ thuật như: Vị đắng tình yêu (Lê Xuân Hoàng); Xương rồng đen (Lê Dân); Chuyện tình bên dòng sông (Đức Hoàn); Đời hát rong (Châu Huệ); Canh bạc, Hãy tha thứ cho em (Lưu Trọng Ninh); Dấu ấn của quỷ (Việt Linh); Lương tâm bé bỏng (Lê Hoàng); Bao giờ cho đến tháng Mười, Hà Nội năm 1946, Thương nhớ đồng quê (Đặng Nhật Minh); Anh chỉ có mình em (Đới Xuân Việt)... Ngoài ra còn một số phim vidéo, phim tài liệu và phim hoạt hình cũng được đổi mới trên nhiều bình diện. Trong những bộ phim nêu trên, đề tài, cách nhìn, nồng độ cảm xúc, cuộc sống đan xen những mặt sáng và tối, niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và bất hạnh, thể hiện lôgíc của cuộc sống thường nhật trong cơ chế thị trường, chứ tác giả không hề có ý định áp đặt chủ quan hoặc phô diễn những lời giáo huấn khô khốc qua lời lẽ của các nhân vật. Việc xã hội hoá trong sản xuất và phát hành phim đã được đặt ra từ những năm 1989-1990 trở đi. Có khoảng 30 hãng phim của một số cơ quan, đoàn thể, ngành được Nhà nước cho phép thành lập như hãng phim Hodafilm (Hội Điện ảnh), Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam, Hãng phim Bến Nghé (thành phố Hồ Chí Minh). Một nhóm nghệ sĩ có điều kiện, kinh phí cũng đứng ra làm phim. Việc xã hội hoá sản xuất và phát hành phim thời kỳ những năm cuối thế kỷ XX là phù hợp xu hướng chung, đa số phim đã đáp ứng nhu cầu đa dạng của người xem, có ý nghĩa giáo dục, mang lại hiệu quả kinh tế nhất định. Nhưng vẫn còn những biểu hiện tiêu cực như trốn thuế, "cạnh tranh" không lành mạnh trong sản xuất và phát hành, có phim nội dung lệch lạc và nghệ thuật kém.

lĩnh vực sân khấu, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1985 được coi là biểu tượng sân khấu gắn liền với những vấn đề bức xúc của đời sống. Nhiều vở diễn mang tính chất đối thoại với người xem, đề cập trúng tâm trạng và băn khoăn của họ. Sân khấu trở thành diễn đàn chính luận sôi nổi; nhiều vở diễn không miêu tả phô trương, không chạy theo những sinh hoạt vụn vặt, mà đi sâu vào những khám phá nghệ thuật đích thực, là những sự thật khách quan của cuộc sống. Tài năng và sự sáng tạo của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ là hiện tượng sân khấu đặc sắc. Trong vòng 5-7 năm, anh đã có hơn 40 kịch bản văn học cho các thể loại: kịch nói, kịch dân ca, chèo, cải lương của sân khấu Việt Nam.

Sân khấu thuộc các thể loại đều có những tìm tòi về thủ pháp. Nhân danh công lý, Tôi và chúng ta, Mùa hè ở biển, Ngôi sao biển (kịch nói); Người tốt nhà số 5, Những người nói thật, Tô Hiến Thành xử án, Hồ Xuân Hương (chèo); Dốc sương mù, Tình yêu và lời đáp (cải lương); Thanh gươm hát bội, Trần Thủ Độ, Chu Văn An (tuồng) là những vở xuất sắc. Sân khấu đã thành công rực rỡ trong việc xây dựng hình tượng Bác Hồ, một nhân vật lịch sử, một nhà văn hoá lớn, một con người rất mực con người. Trong Bài ca Điện Biên, Lịch sử và nhân chứng, Hành trang người lính, Đêm trắng, hình tượng Bác Hồ được các tác giả khắc hoạ như một nhân vật trung tâm, có số phận riêng, có chiều sâu tâm tư - tình cảm. Từ năm 1990 trở đi, sân khấu đã có chiều hướng phát triển mới; vừa tôn vinh cái thiện, cái đẹp của con người, vừa lên án cái ác, cái xấu trong đời sống, thể nghiệm tìm tòi một hướng cách tân cho sân khấu: Bài ca giữ nước (chèo); Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lịch sử và nhân chứng (kịch nói); Đôi dòng sữa mẹ (cải lương); Suối đất hoa (tuồng) là những vở được đông đảo người xem đón đợi.

Cũng như nhiều ngành nghệ thuật khác, âm nhạc cũng có nhiều đổi mới được công chúng chấp nhận và hưởng ứng nhờ biết đứng trên đôi chân của thành tựu âm nhạc dân tộc hiện đại đã được xây dựng trên nửa thập kỷ. Dòng âm nhạc bác học, âm nhạc chính thống đã được Đảng và Nhà nước đầu tư thích đáng. Âm nhạc hàn lâm của ta nghiêm chỉnh, đồng bộ không thua kém bất cứ một nước nào trong khu vực. Nhạc viện Hà Nội và Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát nhạc vũ kịch Trung ương, Nhà hát ca múa nhạc dân tộc, đã dàn dựng những vở ôpêra hoành tráng, không chỉ diễn thành công những vở Người tạc tượng, Cô Sao (Đỗ Nhuận), mà còn dàn dựng được những vở của nước ngoài có quy mô lớn như épghênhi Ônhêghin (Nga), Tơraviata (Italia), v.v.. Các nghệ sĩ Đặng Thái Sơn, Lê Dung, Bùi Công Duy, Tôn Nữ Nguyệt Minh đã đạt được những thành tích rất cao trong các cuộc thi âm nhạc quốc tế và trong nước.

Thành tựu nổi bật nhất của âm nhạc qua hơn mười năm đổi mới là hàng trăm ca khúc đứng được trên sàn diễn, đọng lại trong lòng người hâm mộ. Những nhạc sĩ nổi tiếng từ nhiều thập kỷ trước như: Nguyễn Văn Thương, Trọng Bằng, Văn Ký, Lê Yên, Phan Huỳnh Điểu, Phan Thanh Nam, Huy Du... vẫn tiếp tục sáng tác, đào tạo, giúp đỡ các tài năng trẻ. Dòng chảy sáng tạo tiếp nối từ ca khúc thời kỳ chiến tranh đến những ca khúc mang đậm chất liệu và phong cách dân gian về chủ đề quê hương, Tổ quốc, Bác Hồ, người mẹ Việt Nam, người lính đã chiếm vị trí lớn trong cảm hứng sáng tạo của nhiều nhạc sĩ. Đó là những bài hát: Quê hương (nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân); Đất nước (Phạm Minh Tuấn); Đất nước lời ru (Văn Thành Nho); Ơi Nha Trang mùa thu lại về (Văn Ký); Vầng trăng Ba Đình, Miền Trung nhớ Bác (Thuận Yến); Dáng đứng Bến Tre (Nguyễn Văn Tý); Mẹ Việt Nam (Xuân Hồng); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh, Lời Bác dặn trước lúc đi xa (Trần Hoàn); Làng lúa làng hoa (Ngọc Khuê); Vào Lăng viếng Bác (Hoàng Hiệp); Hà Nội đêm trở gió (Trọng Đài); Mùa thu Hà Nội (Trịnh Công Sơn); Em ơi Hà Nội phố (Phú Quang); Biển hát chiều nay, Lênh đênh (Hồng Đăng); Cỏ non thành cổ (Tân Huyền); Huế thương (An Thuyên) và nhiều sáng tác mới của các nhạc sĩ quen biết: Huy Thục, Nguyễn Tài Tuệ, Trần Kiết Tường, Nguyễn Đức Toàn, Doãn Nho, Cao Việt Bách, Xuân Hồng, Đỗ Hồng Quân, Ngô Quốc Tính, Lê Vinh, Tôn Thất Lập, Trần Long n, Dương Thụ, Thanh Tùng, Trần Tiến... Bên cạnh những ca khúc ngợi ca, đã xuất hiện một số bài hát có nội dung phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Những bài hát hướng về những trăn trở riêng tư, những mất mát trong chiến tranh cũng được nhạc sĩ khai thác và thành công ở mức độ khác nhau như các ca khúc: Tạm biệt chim én, Vết chân tròn trên cát, Mặt trời bé thơ, Con chim sẻ lông xù ...

Vượt qua những khó khăn do mặt trái của cơ chế thị trường tác động và những điều bất cập, nghệ thuật múa đã dần dần lấy lại sức lực để đồng hành cùng với các ngành nghệ thuật bạn, trước tiên là âm nhạc. Với sự ra đời của Hội nghệ sĩ Múa vào cuối năm 1990, cùng sự hỗ trợ có hiệu quả của Bộ Văn hoá - Thông tin, và những thành công của Hội thi ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc (1992), Hội thảo khoa học về giữ gìn và phát triển nghệ thuật múa truyền thống của một số dân tộc (1992), những chương trình nghệ thuật múa chào mừng các ngày lễ lớn (1994 và 1995), v.v. nghệ thuật múa dân tộc đã có những vụ thu hoạch mới tương xứng với công sức và tài năng do những mùa gieo hạt vào nhiều năm trước mang lại. Hàng trăm tác phẩm múa được dàn dựng thành công và đã được khán giả tiếp nhận với tình cảm nồng hậu. Đề tài của nghệ thuật múa ngày càng phong phú hơn. Có những tác phẩm khai thác sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán của nhiều dân tộc thiểu số như Hội cầu mưa (dân tộc Khơ Mú); Kể chuyện huyền sử chiêng đồng (Tây Nguyên); Cầu phúc (dân tộc Tày); Mừng nhà mới (dân tộc Khơ Mú). Một số tác phẩm khai thác ngôn ngữ múa dân gian như Chim non tung cánh, Khát vọng, Khúc biến tấu từ pho tượng cổ, Bức tranh thôn nữ, Mùa sen nở... Nhiều tác giả đã lấy đề tài từ các tác phẩm văn học, sân khấu, hội hoạ. Người xem cảm nhận được ý thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua tiết mục Cắt cỏ bên sông. Những bức tranh làng Hồ, những vở diễn sân khấu truyền thống là nguồn cảm hứng cho các điệu múa: Hứng dừa, Anh nô và Thị Mầu, Vân Tiên cứu Nguyệt Nga, v.v..

Đổi mới trong mỹ thuật được thể hiện ở nhiều thể loại, phòng tranh, tác giả. Tập trung nhất là Triển lãm mỹ thuật được tổ chức 5 năm một lần. Tại Triển lãm mỹ thuật năm 1990, ngoài đề tài về lịch sử, Bác Hồ, chiến tranh và người lính, nhiều đề tài bình dị trong cuộc sống đã gây cảm hứng cho nhiều hoạ sĩ: tình mẹ con, nghĩa vợ chồng, buổi sáng ở quê biển, hoàng hôn xóm núi, dòng sông quê hương, con đò gối bãi... Xuất phát từ cái tâm trong sáng, cách nhìn lành mạnh mà những đề tài "nhỏ" lại trở thành những hiệu quả nghệ thuật mạnh; ngay cả với đề tài cái bi, cái đau khổ của con người, nhiều hoạ sĩ qua tác phẩm của mình đã đem đến cho người xem cảm xúc thẩm mỹ lạc quan, yêu cuộc sống. Ngôn ngữ hội hoạ đã được coi là thành tố quan trọng của nội dung tác phẩm mỹ thuật. Nhiều phong cách, nhiều trường phái nghệ thuật đã được chấp nhận. Từ sau khi tiến hành đổi mới cho đến nay đã có hàng trăm phòng tranh cá nhân, với nhiều phong cách, xu hướng hội hoạ, điêu khắc vốn chưa quen với số đông đã được trưng bày, giới thiệu. Nhiều phong cách, nhiều tìm tòi được thể hiện rõ trong hội hoạ - sơn dầu, sơn mài, lụa; trong đồ hoạ với sự phát triển của khắc kẽm, khắc đồng, monotip bên cạnh bước phát triển của khắc gỗ, khắc thạch cao, điêu khắc; tượng đài và các tượng chân dung, phù điêu, đá, gốm, đồng... Các địa phương tiêu biểu của mỹ thuật nước nhà, nơi tiềm ẩn sức sáng tạo của đội ngũ nghệ thuật tạo hình vẫn là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh, Hạ Long, Nha Trang. Triển lãm mỹ thuật toàn quốc đạt được kết quả tốt là nhờ sự bảo trợ nhiều mặt của Nhà nước; nhờ từng hoạ sĩ, nhà điêu khắc đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn của đời sống, miệt mài lao động trong nhiều năm; chắt chiu từng đồng tiền riêng của mình để mua chất liệu, sắm khung tranh, vận chuyển tranh, tượng đến triển lãm...

Để đổi mới hoạt động sáng tác mỹ thuật, Hội Mỹ thuật đã phối hợp có hiệu quả với các cơ quan hữu quan nhằm bồi dưỡng tài năng, khai thác tiềm năng sáng tạo của hội viên như phối hợp với Tổng cục Chính trị để đưa hoạ sĩ đi thực tế ở 14 đơn vị quân đội, tổ chức Triển lãm Mỹ thuật 50 năm ngày Thương binh - liệt sĩ, Triển lãm Mỹ thuật về đề tài lực lượng vũ trang 5 năm một lần. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thi vẽ tranh biếm hoạ và tranh cổ động về đề tài an toàn giao thông. Hội còn giúp các địa phương thi chọn tượng đài, mẫu biểu trưng, trong đó có nhiều tác phẩm tốt: Tượng đài Bác Hồ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tượng đài Hoàng Văn Thụ ở Lạng Sơn, Tượng đài Chiến thắng ở thị xã Buôn Mê Thuột, Tượng đài Bác Hồ ở Cao Bằng... Nhiều nhà điêu khắc đã tham gia dựng nhiều tượng đài ở các nghĩa trang, quảng trường tại nhiều đô thị. Ngoài Trung Quốc và Cộng hoà liên bang Đức là hai nước vốn có truyền thống giao lưu với giới mỹ thuật Việt Nam từ lâu, những năm gần đây, tác phẩm mỹ thuật Việt Nam đã có mặt tại nhiều phòng tranh của các nước Tây Âu, châu Mỹ latinh, các nước ASEAN, Mỹ, Canađa, Nhật Bản, Anh, Italia, Hàn Quốc. Triển lãm Mỹ thuật hàng năm của các nước ASEAN là dịp để hoạ sĩ, nhà điêu khắc Việt Nam thấy được rõ mặt mạnh và mặt yếu của mình.

Mười năm gần đây, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng tích cực tới đời sống của nhân dân, nhất là ở các đô thị, trong đó có sự đóng góp của ngành kiến trúc. Nhà nước gia tăng đầu tư tiền vốn để kiến thiết những công trình kiến trúc có tầm cỡ phục vụ nhu cầu công cộng và ngoại giao. Một số công trình giao thông như đường cao tốc, sân bay, bến cảng, khu chế xuất, các biệt thự, khách sạn, các công trình văn hoá tầm cỡ quốc gia và một số di tích lịch sử nổi tiếng đã được xây dựng mới, được trùng tu. Bộ mặt kiến trúc đô thị, nhất là tại các thành phố lớn, đã sáng sủa, khang trang, bề thế hơn trước. Nguyên vật liệu xây dựng - kiến trúc phong phú; kiến trúc sư có môi trường để phát huy tài năng thiết kế, thi công, khơi dậy tiềm năng sáng tạo; kiểu dáng, phong cách, thể loại phát triển rầm rộ. Nghệ thuật kiến trúc rõ ràng đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý không gian và cảnh quan kiến trúc, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện sống tốt đẹp trong quá trình đô thị hoá.

Nói đến đô thị hoá trước hết phải nói đến giải pháp kiến trúc mà trung tâm là con người, tức là chủ nghĩa nhân văn trong kiến trúc vốn được chú ý bắt đầu từ cuộc thi thiết kế Khu dân cư đô thị tại Chicago vào đầu thế kỷ. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, lý thuyết khu dân cư đô thị đã được hình thành và được hiện thực hoá tại nhiều nước , trong đó có nhiều nước xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ quan điểm lấy thuận lợi cho gia đình là chính, thoả mãn nhu cầu vật chất và văn hoá trong môi trường sống tốt lành, chúng ta cho rằng, khu dân cư đô thị là phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hoá trước đây và nền kinh tế hàng hoá hôm nay.

Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (được thành lập vào tháng 12 năm 1965) đã có 364 hội viên ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, là hạt nhân trung tâm của phong trào sáng tác chuyên nghiệp và nghiệp dư của các miền, các vùng. Hội là thành viên của Liên đoàn Nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế (FIAP). Nói đến nghệ thuật nhiếp ảnh, chúng ta nghĩ ngay đến ba lĩnh vực hoạt động của nó: nhiếp ảnh báo chí, nhiếp ảnh nghệ thuật, nhiếp ảnh dịch vụ. Hơn ba thập kỷ qua, đặc biệt là trong thập kỷ 90 vừa qua, nghệ thuật nhiếp ảnh đã có những thành tựu đáng kể. Đó là những cuộc triển lãm lớn được tổ chức ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị lớn khác vào những dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn; các giải thưởng qua những lần dự thi ảnh quốc tế hàng năm. Đặc biệt năm 1997, tại cuộc thi ảnh đen trắng của FIAP được tổ chức hai năm một lần với 46 quốc gia thành viên tham gia và 436 tác phẩm dự thi, Việt Nam đã đoạt 2 giải trên tổng số 21 giải. Có lẽ, do đặc thù của ngôn ngữ và tính tư liệu rất trung thực trong cuộc sống của loại hình nghệ thuật này, mà nhiếp ảnh sớm hội nhập ở nhiều nước. Để đi vào con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ mới, rõ ràng Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh và các thành viên không chỉ vượt qua những bất cập vốn có của nhiều năm, mà còn phải phấn đấu để sự nghiệp nhiếp ảnh của Việt Nam không thua kém bạn bè. Muốn vậy, người nghệ sĩ phải được đào tạo chính quy tại các Học viện chuyên ngành; cần có cơ sở xuất bản cho nhiếp ảnh; có Trung tâm triển lãm Trung ương ở Hà Nội và một số đô thị lớn để tiếp nhận tác phẩm nhiếp ảnh của công chúng. nh nghệ thuật và ảnh thông tấn, báo chí quốc gia cần được thu thập có hệ thống. Về lâu dài, phải hình thành công nghệ lưu trữ di sản nghệ thuật nhiếp ảnh dân tộc, bởi như chúng ta đã biết, không có Võ An Ninh, Đinh Đăng Định chúng ta không có tập ảnh về Cách mạng Tháng Tám, không có Nguyễn Bá Khoản và nhiều nghệ sĩ tài danh khác thì các thế hệ sau không nhìn thấy những hình ảnh của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà anh dũng, v.v..

Về văn nghệ dân gian: Có nhân dân là có sự sáng tạo đa dạng về văn nghệ dân gian. Nhân dân không chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất mà còn là nhà thơ, nhà nghệ sĩ bằng nhiều hình thức khác nhau đã sáng tạo ra một khối lượng khổng lồ về các giá trị tinh thần từ đời này sang đời khác. Tuy vậy, do nhiều lý do khác nhau nên ở các thời đại trước, cha ông ta chỉ biết sáng tạo, mà chưa có ý thức tổng kết, sưu tầm, chọn lọc, phổ biến những gì mà mình đã sáng tạo nên; vì vậy vốn văn nghệ dân gian để lại cho hậu thế bị cạn dần.

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, nhiều trí thức nặng lòng với văn hoá dân tộc đã bắt tay sưu tầm, nghiên cứu văn nghệ dân gian. Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Văn Tố, Ngô Quý Sơn, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Đổng Chi, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Ngọc đã để lại nhiều tác phẩm, công trình có giá trị.

Tuy nhiên, từ khi miền Bắc được giải phóng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và quan tâm sâu sắc của Đảng, ngành văn nghệ dân gian Việt Nam mới có được sự phát triển mạnh mẽ.

Từ ngày thành lập Hội Văn nghệ dân gian (1967) đến nay đã trên 30 năm, trong thời gian đó, tiếp nối cha ông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong hoàn cảnh khó khăn nhiều bề. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã tập hợp hội viên ở cả 54 dân tộc, đoàn kết cùng thực hiện nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, phát huy, phổ biến và truyền dạy những giá trị của văn hoá dân tộc. Hội viên đã thực hiện công việc một cách tự nguyện. Nhiều hội viên hiểu rằng, đây là nhiệm vụ của mình nên kể cả trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh, vẫn tâm huyết với nghề, say sưa làm việc. Theo thống kê chưa đầy đủ sau hơn 30 năm những nhà văn nghệ dân gian ở các địa phương đã hoàn thành hàng vạn công trình sưu tầm, nghiên cứu văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam. Nếu chỉ tính những công trình từ 100 trang trở lên, trong 30 năm qua, đã có trên 15.000 công trình, trong đó có công trình đồ sộ như công trình của cụ Đinh Xuân Vịnh với 40.000 trang, của ông Bùi Thiện người dân tộc Mường, đến 3.000 trang.

Trong 400 hội viên (chiếm gần 50% tổng số hội viên) thì đã có 476 công trình in thành sách riêng, 1.019 công trình in trong các tập sách cùng với các tác giả khác, 3.620 bài tiểu luận khoa học đăng ở các tạp chí khoa học và gần 4.000 công trình còn ở dạng bản thảo. Số công trình và bản thảo của 50% hội viên còn lại cũng tương tự như vậy. Ngoài ra , hội viên còn sưu tầm được trên 10.000 bài dân ca, bản nhạc dân gian và khoảng 500 giờ băng hình về phong tục, tập quán, kiến trúc dân gian, lễ hội, múa, trò diễn, sân khấu dân gian. Những tư liệu, bản thảo này đang được lưu giữ một phần tại văn phòng Hội còn phần lớn là do các tác giả lưu giữ.

Đứng trước nguy cơ di sản văn hoá bị mai một, với tư cách là thành viên Uỷ ban Quốc gia Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá của Việt Nam từ năm 1992, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã đệ trình một chương trình quốc gia Tổng kiểm kê di sản văn hoá các dân tộc Việt Nam. Chương trình này đã được Chính phủ xét duyệt và giao cho Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì thực hiện trong kế hoạch 1997-2010.

e. Vấn đề văn hoá nghệ thuật của các dân tộc thiểu số

Đây là một trong những vấn đề quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Nói dân tộc là nói đến văn hoá. Chúng ta không nói kinh tế dân tộc, không nói khoa học, kỹ thuật dân tộc... nhưng không thể không nói văn hoá dân tộc. Văn hoá dân tộc biểu hiện sự tồn tại, phát triển và bản sắc của từng dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc thiểu số đều có những giá trị văn hoá riêng của mình, nhưng do trình độ kinh tế, trình độ dân trí phát triển chưa đồng đều, nên các dân tộc thiểu số có sự chênh lệch với dân tộc Kinh cả về mặt sáng tạo, hưởng thụ, phổ biến tác phẩm văn hoá, văn nghệ. Nói đến văn hoá dân tộc, trước hết nói đến đội ngũ những người làm công tác văn hoá và những sản phẩm văn hoá do họ sáng tạo nên. Sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt sau ngày thống nhất đất nước, đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số đã trưởng thành cả về số lượng và chất lượng; họ có mặt trên hầu hết các ngành nghệ thuật; nhiều người có học hàm học vị cao, nhiều nghệ sĩ được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú; nhiều tác phẩm viết về đề tài dân tộc do nghệ sĩ người dân tộc và cả người Kinh viết, vẽ, diễn đã phản ánh đời sống tinh thần phong phú và tài năng sáng tạo của các nghệ sĩ người dân tộc.

Báo cáo Về công tác văn hoá - thông tin miền núi và vùng dân tộc thiểu số (1986-1996) cho thấy, các hoạt động văn hoá thông tin ở miền núi và các vùng dân tộc thiểu số như thông tin cổ động, văn hoá quần chúng, truyền hình đã được đổi mới một bước; mức hưởng thụ về văn hoá - nghệ thuật - thông tin của đa số đồng bào đã được cải thiện so với trước. Những con số sau đây chứng minh cho nhận định trên:

- Hơn 5.000 cán bộ văn hoá cơ sở đã được bồi dưỡng ngắn hạn; gần 4.000 cán bộ văn hoá từ sơ cấp đến đại học đã được đào tạo, trong đó phần lớn là người các dân tộc thiểu số. Cùng với Hội Văn hoá các dân tộc Việt Nam, ngành Văn hoá - Thông tin đã mở nhiều trại sáng tác cho văn nghệ sĩ người dân tộc tại Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, vùng đồng bào Khơme, Chăm. Nhiều người trong số họ đã có tác phẩm được in, đoạt giải thưởng và trở thành hội viên các hội sáng tạo văn nghệ, đông nhất là đội ngũ sáng tác, sưu tầm văn nghệ dân gian. Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc đã xuất bản Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số (1995), được coi là công trình lớn và các tác phẩm: Bản sắc văn hoá các dân tộc Việt Nam, Từ điển Việt - Khơme, Nhà sàn Thái, Xoè Thái, Đồng dao Tày, Ca dao Tày - Nùng; Hoa văn trên vải. Những tác phẩm này đã góp phần khơi dậy lòng tự hào chính đáng về bản sắc văn hoá độc đáo của các dân tộc. Ngoài ra, còn một số sách phục vụ trực tiếp cho đồng bào các dân tộc nhằm mục đích tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, trong việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, giới thiệu nếp sống văn hoá mới...

- Tất cả các tỉnh miền núi đều có đài phát thanh và truyền hình được trang bị kỹ thuật tương đối hiện đại. Các trung tâm huyện, thị đều có trạm chuyển tiếp truyền hình và ăngten thu sóng FM của Đài Tiếng nói Việt Nam, một số nơi được lắp ăngten parabôn. Ba tỉnh đại diện cho các khu vực miền núi đã có trang thiết bị lồng tiếng dân tộc cho phim và băng hình. Các đội chiếu bóng lưu động ở các tỉnh miền núi đều được trang bị bộ vidéo cỡ 100 inch, phục vụ miễn phí.

Sự đầu tư cho sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số từ năm 1994 tăng rõ rệt. Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam được kế thừa và đổi mới trên cơ sở Viện Bảo tàng cách mạng Việt Bắc (ở Thái Nguyên); Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã được khánh thành; Làng văn hoá các dân tộc Việt Nam đang được tiến hành xây dựng ở Đồng Mô - Ba Vì. Một số dự án trùng tu, chống xuống cấp, sưu tập hiện vật cho các di tích lịch sử - văn hoá gắn bó với miền núi và dân tộc thiểu số như Pác Bó, rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), Điện Biên Phủ (Lai Châu); ATK (Thái Nguyên, Tuyên Quang); Tháp Bà (Nha Trang); Tháp Pô Sa Nư (Bình Thuận);Tháp Nhạn (Phú Yên); Nhà tù Sơn La ... đã được duyệt và bước đầu thực hiện.

Tuy vậy, khoảng cách về văn hoá không chỉ diễn ra giữa các vùng, miền, giữa đô thị và nông thôn, mà còn diễn ra trong từng dân tộc thiểu số. Trong cùng một tỉnh miền núi nhưng ở thị xã, thị trấn lại khác các vùng sâu, vùng xa. các vùng sâu, vùng xa do mức sống thấp nên việc phát huy giá trị truyền thống bị hạn chế, việc tiếp thu kiến thức mới gặp nhiều khó khăn.

Thực trạng văn hoá miền núi và các dân tộc thiểu số đang đặt ra mấy vấn đề sau đây:

- Tỷ lệ người mù chữ trong các dân tộc thiểu số là rất đáng lo ngại. Trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì hai dân tộc có tới trên 90% dân số mù chữ, 41 dân tộc có từ 50% đến 90% dân số mù chữ, và 10 dân tộc có từ 17% đến 50% số người mù chữ. Dân tộc có số người mù chữ thấp nhất là dân tộc Tày: 17,22% và cao nhất là dân tộc Clao: 90,84%. Số người có trình độ cao đẳng trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp: 25 dân tộc có từ 0,01% đến 0,09% số người có trình độ đại học và cao đẳng và 18 dân tộc có từ 0,091% đến 0,2% số người đã tốt nghiệp đại học và các trường cao đẳng1.

- Hoạt động trái phép của một số tôn giáo, nhất là đạo Tin lành, tại các vùng cao phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ dưới nhiều hình thức công khai và bán công khai nhằm lôi kéo lung lạc đồng bào, thậm chí một bộ phận cán bộ, đảng viên mất lòng tin vào Đảng và chế độ ta.


1 Xem: Trần Bình: Vấn đề nâng cao dân trí các dân tộc thiểu số, Báo Nhân Dân, ngày 31-1-1998


- Mức sống của đại bộ phận nhân dân thấp nên việc nâng cao dân trí và hưởng thụ văn hoá gặp nhiều khó khăn. Đó là chưa nói tới tập tục du canh, du cư của đồng bào một số dân tộc. Cuộc sống vật chất không ổn định thì đời sống văn hoá không thể có "chỗ đứng" để phát triển.

Để khắc phục thực trạng nói trên, vấn đề cốt lõi là cần có chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với các dân tộc thiểu số. Đặc biệt là cần kiên trì các quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, thống nhất định hướng chính trị, tôn trọng tính đặc thù, tính đa dạng trong ngôn ngữ, tâm lý, lối sống, phong tục của từng dân tộc.

Tóm lại, có được những thành tựu trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật và văn hoá là do nhiều nguyên nhân. đây chúng tôi muốn nhấn mạnh tính nhất quán, năng động, sáng tạo trong đường lối văn hoá của Đảng đối với một lĩnh vực cực kỳ phức tạp. Nói năng động là nói sự tư duy của Đảng bắt nguồn từ những nhu cầu của cuộc sống, được Đảng tổng kết, rút kinh nghiệm, đề ra giải pháp rồi đưa trở lại cuộc sống. Chính nhờ phép biện chứng trong tư duy, trong hành động của toàn Đảng và toàn dân nhiều cái mới đã được tìm ra. Đổi mới xã hội có tác động đến đổi mới văn hoá nghệ thuật, và ngược lại, đổi mới văn hoá nghệ thuật góp phần đổi mới xã hội. Nói sáng tạo là nói đến việc kế thừa truyền thống của văn hoá dân tộc, của các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã ban hành trước đây, đồng thời mạnh dạn sáng tạo trong lãnh đạo và chỉ đạo sự nghiệp văn hoá, văn học, nghệ thuật trước thực tiễn mới. Ví dụ: Phương châm nền văn hoá mới là dân tộc, hiện đại, nhân văn về bản chất là dân tộc, khoa học, đại chúng trong tình hình mới. Và sự nhất quán được thể hiện ở chỗ: nền văn học, nghệ thuật mới từ Cách mạng Tháng Tám là của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, mặc dù phong trào có lúc lên lúc xuống, tên gọi có thể khác nhau, chất lượng tác phẩm có thể tốt, hay hoặc chưa tốt, chưa hay.

- Giữ vững ổn định chính trị ngay từ những ngày đầu đổi mới và kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, kể cả khi đất nước trải qua muôn vàn khó khăn và đe doạ của các thế lực chống đối. Giữ vững ổn định đất nước chính là sự kế thừa chính sách an dân của cha ông ta đời trước. Nhờ tầm nhìn xa rộng, Đảng ta đã tạo được nền chính sự ổn định, lòng dân yên ổn "thấy thời và thế, biết vận dụng thời để tăng cường thế và biết sử dụng thế để tạo thêm thời"1.

Vị trí và vai trò của văn hoá trong phát triển được nhận thức đúng đắn, đã ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống tinh thần như đầu tư kinh phí tăng, hoạch định chính sách cởi mở, tạo dựng thiết chế, đào tạo và sử dụng những tiềm năng trong sáng tác, biểu diễn, lý luận và chỉ đạo văn nghệ.

- Mạnh dạn mở cửa giao lưu với các nước trên thế giới nhưng giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

- Đường lối đổi mới nói chung và trong văn hoá nghệ thuật nói riêng được bạn bè quốc tế hết lòng ủng hộ. Xin nêu vài ví dụ: Ông E.H. Ônxen, Chủ tịch Quốc hội Đan Mạch sau khi đánh giá cao Việt Nam không chỉ phát triển kinh tế mà còn duy trì được tiến bộ xã hội, bình đẳng, ổn định, ông đã nói: Chúng tôi muốn khuyên các bạn nên thận trọng trong những bước đi sắp tới để tránh những hậu quả tiêu cực của nền kinh tế thị trường tự do mà không ít nước đã phải gánh chịu như vấn đề môi trường, vấn đề phân hoá giàu nghèo và tệ nạn xã hội1. Ông Bunyô Isicaoa - nhà báo Nhật đã 31 năm gắn bó với Việt Nam, tác giả của nhiều cuốn


1 Phạm Văn Đồng: Văn hoá và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.7.

1 Xem: Báo Nhân Dân, ngày 29-4-1995.


sách về Việt Nam trong đó có biên niên sử bằng tranh về cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam dày 450 trang (1978) và Đi dọc Việt Nam (1991) đã viết: "Trên khắp Việt Nam, cuộc sống đang đi lên rõ ràng. Tôi chỉ băn khoăn một điều: người Việt Nam còn chưa thạo chuyện làm ăn, buôn bán. Trên thị trường Việt Nam và quốc tế , trước các nhà buôn bán lão luyện nước ngoài, tôi lo Việt Nam dễ bị thua thiệt, nếu không cảnh giác". Rõ ràng, đó là những nhận xét chân thành đối với đất nước Việt Nam.

2.2. Những hiện tượng lệch lạc

đây xin nêu bốn khuynh hướng sai lầm trong sáng tác phê bình văn nghệ: khuynh hướng phủ định những thành tựu của quá khứ; khuynh hướng xuyên tạc sự thật; khuynh hướng đối lập giữa chính trị và văn nghệ; khuynh hướng "thương mại hoá" nghệ thuật.

- Khuynh hướng phủ định quá khứ hào hùng của dân tộc được thể hiện bằng những lời lẽ quy kết cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vô nhân tính, là cảnh huynh đệ tương tàn, là cuộc thí nghiệm đối đầu có lợi cho thế lực bên ngoài. Những người phủ định quá khứ đã chứng minh bằng những lời tự sám hối, tự xỉ vả mình; trong một số tác phẩm có những biểu hiện mơ hồ về cuộc chiến tranh giữ nước hào hùng của dân tộc ta.

Khuynh hướng phủ định quá khứ còn tìm cách xuyên tạc hình tượng lãnh tụ (truyện Linh nghiệm), hạ bệ các anh hùng và danh nhân văn hoá của dân tộc (truyện Phẩm tiết), miệt thị lịch sử dân tộc và con người Việt Nam (truyện Vàng lửa và Kiếm sắc)... Những hiện tượng văn chương thiếu tính nhân văn này thật ra rất ít và khi mới xuất hiện đã bị sự phản ứng của bạn đọc và các nhà phê bình.

- Khuynh hướng xuyên tạc sự thật đã khai thác triệt để mảng tối của bức tranh xã hội, coi cuộc đời chỉ là những hiện tượng xấu xa, tàn bạo với giọng văn lạnh lùng, tàn nhẫn. Kết quả là xuất hiện chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa minh họa mới. Các cuốn Nổi loạn (Đào Hiếu); Những thiên đường mù (Dương Thu Hương); Man nương (Phạm Thị Hoài), là những tác phẩm nằm trong khuynh hướng lầm lạc vừa nói. Vẫn biết có một loại văn chương thứ cấp, mà người viết thường thích thú khai thác những góc tăm tối, nhơ nhớp của con người, lại đeo mặt nạ "đời thường", "quan tâm đến đời sống sinh lý của con người" thì không riêng gì ở nước ta. Điều đáng lo ngại không phải vì nói đến điều xấu, cái ác để con người cảnh giác, mà sự phẫn nộ chính đáng của người đọc đối với những tác phẩm nói trên là thái độ dửng dưng, vô trách nhiệm của người viết trước cái xấu, cái ác. Còn đâu văn chương là sự hướng thiện của con người! Thật đúng như tình trạng sáng tác của một số nhà văn Nga Xô - viết, mà Gorki đã gọi, đó là những cuốn sách của "người mù viết cho người sáng mắt đọc". Và trong trường hợp nói trên là những cuốn sách của người bệnh hoạn viết cho bạn đọc lành mạnh. Với tâm địa độc ác với con người, tự tách mình khỏi cộng đồng, với giọng văn vừa kiêu ngạo, vừa khinh thị, trong cuốn Man nương, Phạm Thị Hoài đã nhạo báng, bỡn cợt tất cả, không chừa một ai, kể cả mẹ Âu Cơ: "Tôi đẻ ra trăm cái trứng, hết nhiệm vụ làm tổ tiên", kể cả thần thánh: "Tất cả thần thánh đất Việt cùng một số vị ngoại quốc nhưng đã Việt hoá hoàn toàn, nào Đức thánh Trần, nào Liễu Hạnh, Tản Viên, nào Sơn Thần, Thuỷ quái, Chúa Thượng Ngàn, nào các cô, các cậu, các vua Hùng, Quan Công, pho nào cũng một cái mặt đuồn đuột, trai chẳng ra trai, gái chẳng ra gái và một trang phục phường chèo thậm vô lý". Lác đác cũng còn một số cuốn sách, một số trang sách, một vài bộ phim có những chi tiết, những câu nói mơ hồ, thậm chí thiếu lành mạnh về cuộc sống hôm nay.

Đã xuất hiện một số tập thơ có nhiều biểu hiện của chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa suy đồi. đây nổi lên hai xu hướng cần phê phán: xu hướng dung tục hoá, khai thác triệt để vùng tăm tối của tình dục với những câu chữ ngông nghênh, coi thường người đọc, nhưng lại tự treo tấm biển quảng cáo "Phân tâm học" của Phrớt, (trên thực tế, nếu Phrớt sai, không phải vì tôn trọng bản năng tình dục, mà là vì ông tuyệt đối hoá nó); xu hướng săn lùng ngôn ngữ mới lạ của thơ đến mức tắc tị, đánh đố người đọc.

- Khuynh hướng đối lập chính trị và văn nghệ được phát ngôn dưới nhiều dạng khác nhau, có thể gồm ba loại ý kiến sau:

Một: Để phủ nhận giá trị nghệ thuật của văn học cách mạng, họ nói: văn học kháng chiến không phải là văn học đích thực; thơ kháng chiến minh họa chính sách kháng chiến; thơ kháng chiến lặp lại và nối tiếp thơ mới; cùng một tác giả nhưng thơ văn của họ trước Cách mạng thường hay hơn sau Cách mạng; đưa Tuyên ngôn độc lập ra khỏi sách giáo khoa, coi đó là tác phẩm chính luận thuần tuý, không có "chất văn"...

Hai: Mơ hồ về quan điểm và nguyên lý văn nghệ cách mạng: Cho rằng, thơ ở miền Bắc và dòng thơ công khai trong vùng bị tạm chiến ở miền Nam trước đây đều là trong tổng thể thơ Việt Nam; lý luận phê bình đồng nhất với tuyên truyền nên không có giá trị; phê bình ăn theo sáng tác nên không biết đến chức năng thẩm mỹ, v.v... Về hội họa cũng có những lập luận lạc lõng: Tranh đề tài là lỗi thời, tranh trừu tượng mới tân kỳ; cái đẹp không quan trọng bằng cái mới, v.v...

Ba: Ngộ nhận sự lãnh đạo của Đảng và cho rằng, sự lãnh đạo của Đảng là chính trị hóa sáng tạo nghệ thuật, người lãnh đạo thiếu hiểu biết đặc trưng của văn nghệ. Từ đó sinh ra sự đối lập giữa đạo và đời; giữa văn học trước Cách mạng và sau Cách mạng (văn học âm – dương); giữa văn học hướng thượng (văn học cung đình, văn học cán bộ) với văn học đời thường; giữa giá trị văn học và giá trị thông tin (văn học thông tấn)...

- Khuynh hướng "thương mại hoá" nghệ thuật xuất hiện ở giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới làm lung lạc, chệch hướng nhiều hoạt động nghệ thuật. Gần đây, khuynh hướng này còn phát triển dưới nhiều dạng tinh vi, phức tạp. Những cuốn sách được xuất bản lậu thường có nội dung lệch lạc , giật gân, câu khách với những chuyện tình dục, vụ án, hoặc khai thác chuyện đời tư của các nghệ sĩ, chuyện "thâm cung bí sử" của các chính khách được in số lượng lớn. Những hiện tượng "chạy sô" trong ca hát; những biểu hiện của công nghệ trục lợi phái đẹp trong trình diễn thời trang; những cảnh đàn thuê, hát mướn, "đánh pắc" của nhiều diễn viên sân khấu; thực trạng làm phim "mỳ ăn liền"; việc phổ biến và tiếp nhận loại "âm nhạc chợ trời" của số đông người nghe; tệ lưu hành và kinh doanh băng hình phi pháp1đã cho thấy khuynh hướng thương mại hoá nghệ thuật tác động xấu đến trật tự xã hội, nếp sống văn hoá, làm xói mòn lớp văn hoá nhân bản vốn có trong nền văn hoá dân tộc.

Tiềm lực của đội ngũ sáng tác, lý luận phê bình, xuất bản, dịch thuật báo chí về văn nghệ còn có độ chênh lệch lớn so với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đội ngũ sáng tác, biểu diễn, lý luận được đào tạo tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và phần lớn trong nước đều cao tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt những chuyên gia giỏi và có lý tưởng nghề nghiệp. Một bộ phận nhà văn mới vào nghề, nghệ sĩ trẻ của nhiều ngành nghệ thuật có những biểu hiện mơ hồ về lý tưởng thẩm mỹ. Họ có những tài năng nhất định nhưng cần đề phòng chủ quan, tự mãn trong sáng tạo.

Trong hội hoạ, càng bung ra, càng nhiều đường biên nghệ thuật, thì dường như sản phẩm càng bị thu hẹp lại, bởi không có công chúng. Thực trạng kiến trúc đô thị còn nhiều lộn xộn, phong cách chắp vá, pha tạp, thiếu cá tính, bản sắc mờ nhạt, cùng với chất lượng kiến trúc kém, thiếu quy hoạch vĩ mô, coi thường luật lệ xây dựng đô thị dẫn đến hiện tượng rối loạn kiến trúc – văn hoá thẩm mỹ, cảnh quan môi trường đô thị chưa thực sự văn minh, thanh lịch.


1 Qua một cuộc kiểm tra vào tháng 5-1997 của Bộ Văn hoá - Thông tin ở ba quận nội thành và 2 huyện ngoại thành ở Hà Nội cho thấy nhiều cửa hàng kinh doanh băng hình vi phạm Nghị định 87/CP.


Có hai hiện tượng đối nghịch: vừa đô thị hoá nhanh, vừa "nông thôn hoá" đô thị. Điều đáng lưu ý là ngành kiến trúc - xây dựng và chính quyền là việc bê tông hoá xây dựng nhà ở nông thôn hiện đang làm mất vẻ đẹp môi trường thiên nhiên ở xóm làng và kiểu dáng ngôi nhà truyền thống. Để kiến trúc đô thị phát triển theo quy hoạch chung cần có một hành lang pháp lý nghiêm chỉnh.

Khó khăn lớn nhất thuộc về hai loại hình sân khấu và điện ảnh. Sàn diễn, nhà hát, rạp chiếu bóng quạnh vắng, không có người xem. Nhiều nghệ sĩ bỏ nghề và đi tìm nghề khác để kiếm sống. Báo chí và các cơ quan hữu quan đi tìm nguyên nhân của sự thật nói trên. Câu trả lời chứa đầy tâm huyết và phần nào hợp lý: Thiếu kịch bản hay. Nhận xét sau của một nhà phê bình sân khấu ở thành phố Hồ Chí Minh có thể chiêm nghiệm được: "... Thiếu kịch bản hay, toàn thể dây chuyền sân khấu như ngưng lại, ngừng quay. Các đạo diễn đều bó tay vì không có kịch bản dàn dựng... Cũng có nghĩa là diễn viên không có vai diễn, các hoạ sĩ, nhạc sĩ không có vở để thiết kế mỹ thuật và sáng tác, rạp hát, nhà hát vắng khách mà công chúng không có cái để xem"1. Ngoài ra, phải kể đến sức ép của vidéo và màn ảnh nhỏ, những loại hình hiện đại, lôi cuốn số đông người xem và làm thoả mãn nhu cầu thưởng thức của họ.

Còn điện ảnh, trong mấy năm gần đây, Nhà nước vẫn đầu tư 100% vốn cho các phim đặt hàng,


1 Nguyễn Thị Minh Thái: Sân khấu và tôi, Nxb. Sân khấu, 1995, tr.354.

phần lớn đều được cấp trên 1 tỷ đồng cho một bộ phim nhưng đều ở tình trạng thu không đủ chi. Đó là chưa nói đến trình độ nghệ thuật, hiệu quả xã hội của tác phẩm. Những con số dưới đây cho thấy sự bất cập ở nhiều bình diện sáng tác điện ảnh tại một thành phố đông dân nhất nước, có phong trào điện ảnh tương đối rầm rộ. Chỉ xin nêu doanh thu của 4 bộ phim sau trong tháng 8-1997.

TT

Tên phim

Số

buổi chiếu

Lượt

người xem

Doanh thu

1.

Cho thuê cuộc đời

328

8.847

102.707.000

2.

Trăng không mùa

295

8.854

98.773.000

3.

Đón khách

222

6.708

79.134.000

4.

Ngã ba Đồng Lộc

143

4.797

54.320.000

(Riêng trong tháng 7- 1997 phim Ngã ba Đồng Lộc với 191 buổi chiếu, 10.431 lượt người xem, thu 119.681.000đ)1

Việc giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho thanh niên, học sinh và giới trẻ chưa


1 Theo Nguyễn Đức Dương: Vấn đề xã hội hoá trong điện ảnh, đôi điều suy ngẫm, Báo Nhân Dân, ngày 1-12-1997.


được quan tâm, bị thả nổi. Trong tình hình toàn cầu hoá thông tin và nới lỏng tự do thương mại, các giá trị xa lạ với dân tộc sẽ thâm nhập mạnh vào nước ta, nhưng chúng ta còn thiếu những chương trình đại cương về giáo dục và kinh doanh nghệ thuật cho lớp trẻ. Mảng văn nghệ trên các báo viết, báo hình nhiều những thông tin vụn vặt, thu hút trí tò mò của người đọc, người xem. Người ta cảm giác rằng, chỉ có những diễn viên điện ảnh, cầu thủ bóng đá, hoa hậu, người mẫu thời trang mới được coi là đối tượng của người viết. Trong lúc đó lại bỏ trống những gương người tốt, việc tốt trong sản xuất, kinh doanh và bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Một số tờ báo đã lạm dụng quảng cáo, một số buổi truyền hình còn để lọt những bộ phim có yếu tố bạo lực hoặc giải trí thiếu lành mạnh.

Quản lý văn học- nghệ thuật còn đơn giản, đại khái. Một bộ phận cán bộ chỉ đạo văn nghệ thiếu tri thức nghệ thuật, hiểu biết pháp luật; vừa thiếu dân chủ, vừa hữu khuynh buông lỏng. Sự quản lý còn thiếu nhạy bén, có lúc có nơi còn chủ quan lơ là, bỏ trống trận địa, tách rời hoạt động văn hoá với hoạt động kinh tế- xã hội. Sự phối hợp hoạt động giữa Bộ Văn hoá- Thông tin và các Hội nghệ thuật còn nặng về bề nổi. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các hội sáng tạo chuyên ngành chưa được hoàn thiện. Lý luận phê bình là hết sức quan trọng là phương thức chỉ đạo của Đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhưng còn bộc lộ những mặt non yếu, đồng thời chưa có cơ chế thoả đáng cho sự nghiệp này.

Những nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong hoạt động văn học, nghệ thuật.

- Một bộ phận văn nghệ sĩ mất lòng tin vào chủ nghĩa xã hội, nhất là sau khi Liên Xô tan rã. Tâm lý vọng ngoại ở một số văn nghệ sĩ được thể hiện ở chỗ muốn tác phẩm của mình xuất bản ở nước ngoài, muốn đi biểu diễn ở các nước tư bản chủ nghĩa. Một số nhà văn, nhà phê bình ngộ nhận về đổi mới, một số khác có thiện ý đổi mới, nhưng chệch hướng, mơ hồ trong quan điểm, một số khác tự cho mình là những người đi tiên phong trong đổi mới, tự mình đứng ngoài tổ chức nên đã đi từ sai lầm này sang sai lầm khác.

- Kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi. Nó có mặt tích cực là định hướng cho thị trường sản xuất; sản xuất cái người tiêu dùng cần, chứ không phải là cái mình có. Trong văn nghệ là xuất bản, trình chiếu những tác phẩm có chất lượng, những tác phẩm tốt mà số đông quần chúng yêu cầu. Nhưng nó cũng có mặt tiêu cực. Phê phán quan điểm thả nổi văn hoá cho thị trường chi phối, chúng ta cho rằng, muốn có một nền văn hoá phồn vinh không thể thiếu sự đầu tư và bảo trợ của Nhà nước, nhưng cần phân loại, không tài trợ tràn lan.

- Trong lãnh đạo văn học, nghệ thuật còn nhiều mặt yếu kém, nhất là tư tưởng hữu khuynh, buông lỏng quản lý, không chấp hành nghiêm chỉnh những Nghị quyết của Đảng và Chỉ thị của Nhà nước. Điều này được ghi rõ trong Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII: "Lãnh đạo và quản lý bị buông lỏng hữu khuynh, thiếu những luật lệ, thể chế của Nhà nước, thiếu đầu tư thích đáng cho lĩnh vực văn học, văn nghệ"1; và cũng chỉ rõ: "Chưa đánh giá thật đúng tính phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận này, chưa lường trước và đề ra được những biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với văn hoá, văn nghệ. Việc truyền đạt và tổ chức thực hiện nghị quyết lại có nhiều sai sót"2. Thiếu nhiều luật về văn hoá, nghệ thuật. Nhưng khi có luật thì thực hiện không nghiêm, tạo ra nhiều kẽ hở.


1 ,2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, 1993, tr.13, 53.

- Trình độ hiểu biết của thanh thiếu niên, học sinh về kiến thức lịch sử, văn hoá, dân tộc còn nhiều hạn chế. Một cuộc điều tra xã hội học ở thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu khoa học Bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc qua khảo sát kiến thức của học sinh, sinh viên, công nhân và thanh niên nội, ngoại thành với 1.800 phiếu thu/2000 phiếu phát cho thấy trình độ hiểu biết và tâm lý của lớp trẻ như sau:

1. Vua Hùng là ai? Có 39% số người trả lời không biết, kể cả một số học sinh trường phổ thông trung học Hùng Vương.

2. Anh (chị) biết gì về Trương Định? Có 64% không biết, thậm chí có phiếu ghi đó là một trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc.

3. Lương Thế Vinh và Chu Văn An là ai? Tỷ lệ không biết tương ứng là 71,4% và 59,4%.

4. Trần Quốc Toản là ai? Có 49% không biết.

5. Có xem phim sex không? Có 51% trả lời có (nam nhiều hơn nữ và ngoại thành cao hơn nội thành).

6. Việt Nam có bao nhiêu dân tộc? Có 43% trả lời:

hơn 100 dân tộc1.

- Những âm mưu "diễn biến hoà bình" trên mặt trận tư tưởng và văn hoá của những thế lực thù địch mà địa bàn văn học nghệ thuật được coi là đối tượng quan trọng. Có nhà nghiên cứu gọi đây là "cuộc xâm lăng không tiếng súng", nhưng không kém phần dữ dội, nóng bỏng.


1 Xem Nguyễn Kiến Phước: Lời cảnh báo chưa muộn, Báo Nhân Dân, ngày 17-11-1995.

Có thể nêu bốn đặc trưng âm mưu chiến lược trong lĩnh vực này:

Một là: truyền bá phương châm "tiêu dùng", lối sống thực dụng, coi tiền là trên hết trong mọi quan hệ gia đình, xã hội, làm cho con người trở nên thụ động, tước bỏ ý thức công dân, lòng tự hào dân tộc.

Hai là: dùng các phương tiện thông tin, các sản phẩm văn hoá đại chúng, các hình thức quảng cáo trá hình, các hoạt động từ thiện, du lịch... để đạt mục đích chính trị.

Ba là: tuyên truyền sùng bái văn hoá phương Tây, lối sống phương Tây, coi như đó là một mô hình chuẩn, là công cụ để quy chiếu mọi sự đánh giá và so sánh với các nền văn hoá khác.

Bốn là: tổ chức và bảo trợ để hình thành một lớp "thượng lưu về văn hoá" (bao gồm các trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá, miễn sao họ có chất men phản kháng, sính tên tuổi, chuộng mới lạ, dễ rợn ngợp trước cảnh hào nhoáng của xã hội tiêu dùng).

Những kẻ chủ trương xâm thực văn hoá nghĩ rằng, lớp trí thức, văn nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn đối với văn hoá dân tộc, nên dùng họ làm điểm tựa để thực hiện những mưu đồ chính trị lâu dài.

3. Vấn đề tiếp nhận văn hoá

Tiếp nhận văn hoá nghệ thuật, nói cách khác là hoạt động của con người, với tư cách khách thể của văn hoá là yếu tố thúc đẩy nền văn hoá phát triển, mà cũng là dấu hiệu chứng tỏ sự phát triển lành mạnh hay không của nền văn hoá dân tộc của mỗi quốc gia. Các sáng tạo văn hoá nghệ thuật của các văn nghệ sĩ, phải hướng đến khách thể, hướng đến quần chúng lao động. Những năm qua chúng ta đã nâng cao sự hưởng thụ văn hoá của mọi người, hướng con người đến cái chân, cái thiện, cái mỹ để văn hoá xứng đáng là bộ lọc của thời đại, thực hiện được chức năng cao quý của văn hoá nghệ thuật.

Về phương diện đưa các sáng tạo văn hoá nghệ thuật đến với công chúng, những năm qua, các nhà xuất bản, các cơ quan báo chí và truyền thông đại chúng, các đoàn nghệ thuật, các nhà hát v.v..., đã có rất nhiều cố gắng trong việc đưa các sáng tạo văn hoá nghệ thuật đến với mọi người dân, mọi miền quê. Năm 1996, chỉ tiêu về mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân và về hoạt động văn hoá nghệ thuật, thông tin tăng lên so với năm 1995. Số bản sách tính theo đầu người đạt 2,9 (tăng 0,6 bản/người), báo chí đạt 5,8 bản/người. Bình quân một người xem thông tin cổ động 0,1 lần/năm, xem văn nghệ không chuyên 0,3 lần/năm, xem triển lãm 0,1 lần/ năm. Năm 1997, điều tra hoạt động của các đoàn nghệ thuật cả nước do Trung tâm thông tin công nghệ của Văn phòng Bộ, Bộ Văn hoá - Thông tin và Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật cho thấy việc biểu diễn của các đơn vị này tương đối đều trong năm. Ví dụ: Nhà hát Trần Hữu Trang thành phố Hồ Chí Minh đã biểu diễn 208 buổi/năm. Đoàn Cải lương Sài Gòn 3 biểu diễn 249 buổi/năm. Cá biệt, Đoàn múa Rối biểu diễn tới 1710 buổi/năm. Tổng hợp cả năm 1997, các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đã biểu diễn 264 chương trình với 10.260 buổi biểu diễn, các đoàn nghệ thuật tư doanh đã biểu diễn 101 chương trình với 4762 buổi biểu diễn.

Nhìn về phía khách thể tiếp nhận văn hoá nghệ thuật, điều đáng mừng là người dân vẫn có một thái độ đúng đắn với các sản phẩm văn hoá, loại hình văn hoá.

Kết quả trưng cầu ý kiến cả nước về thưởng thức nghệ thuật cho thấy với 527 phiếu trả lời câu hỏi: năm qua, ông (bà) đã thưởng thức nghệ thuật như thế nào?

Số liệu thu được như sau:

Loại hình

Phim

Nhạc nhẹ, tạp kỹ

Nhạc

dân tộc

Âm nhạc giao

hưởng- thính phòng

Số lần

ở nhà

Tivi

Video

ở rạp

ở nhà

ở rạp

ở nhà

ở rạp

ở nhà

1 năm                  
0 lần                  
1 lần

7

2

24

13

30

7

3

4

2

2 lần

16

34

8

7

8

16

32

1

7

Nhiều hơn 2 lần

23

329

117

46

181

43

176

38

95

 

 

Loại hình

Kịch nói

Cải lương

Chèo

Tuồng

Số lần

1 năm

ở rạp

ở nhà

ở rạp

ở nhà

ở rạp

ở nhà

ở rạp

ở nhà

0 lần                
1 lần

9

2

4

7

9

7

3

10

2 lần

17

38

15

32

13

27

3

17

Nhiều hơn 2 lần

53

174

44

182

38

129

8

79

Với câu hỏi, xin ông (bà) cho biết tình hình đọc sách của ông bà trong năm qua? Kết quả là:

+ Sách khoa học kỹ thuật

187

+ Truyện Việt Nam

216

+ Truyện nước ngoài

99

+ Truyện Trung Quốc

102

+ Báo hàng ngày

321

+ Báo tuần

293

+ Tạp chí trong nước

202

+ Tạp chí nước ngoài

55

Việc sử dụng thời gian rảnh rỗi như thế nào cũng là thước đo thái độ đối với việc tiếp nhận văn hoá nghệ thuật. Văn phòng Bộ (Bộ Văn hoá- Thông tin) và Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật đã tổ chức điều tra xã hội học trên địa bàn cả nước về vấn đề này.

Với câu hỏi: Xin ông (bà) cho biết khi rảnh rỗi ông (bà) thường xuyên làm gì? Kết quả của 3.062 phiếu như sau:

 

Hoạt động lúc rảnh rỗi

Thường xuyên

Công nhân

Nông dân

Các tầng lớp khác

Tổng cộng

%

Số lượng % Số lượng % Số lượng %    
Nghe đài phát thanh 328 29,28 175 35,14 379 26,24 882 28,80
Xem ti vi 642 57,32 223 44,77 762 52,77 1627 53,13
Nghe nhạc 271 24,19 46 9,23 291 20,15 608 19,85
Xem băng hình 203 18,12 61 12,24 218 15,09 482 15,74
Đọc sách báo 545 48,66 136 27,30 617 42,72 1298 42,39
Trò chuyện với bạn bè, làng xóm 244 21,78 93 18,67 339 23,47 676 22,07
Làm vườn 147 13,12 140 28,11 190 13,15 477 15,57
Tập thể dục, thể thao 249 22,23 78 15,66 351 24,30 678 22,14
Sinh hoạt câu lạc bộ, nhà văn hoá 82 7,32 39 7,83 101 6,99 222 7,25
Đánh bạc, uống rượu 6 0,53 4 0,80 6 0,41 16 0,52
Hát Karaoke, đi vũ trường 46 4,10 5 1,00 61 4,22 112 3,65
Việc khác 18 1,60 0 0 9 0,62 27 0,88

Với câu hỏi: Xin ông (bà) cho biết tình hình đọc sách, báo của ông (bà) trong năm qua (năm 1996)?

Cứ liệu ở 3.062 phiếu cho. kết quả như sau:

Loại sách, báo tạp chí

Số lượng người trả lời có đọc

Báo hàng ngày

60,91%

Báo tuần

55,59%

Truyện Việt Nam

40,98%

Tạp chí trong nước

38,33%

Sách khoa học kỹ thuật

35,48%

Truyện kiếm hiệp, trinh thám

19,35%

Truyện nước ngoài

18,78%

Tạp chí nước ngoài

10,43%

Với câu hỏi: Trong các chương trình văn nghệ trên vô tuyến truyền hình, ông (bà) thích những chương trình nào? Cứ liệu ở 3062 phiếu có kết quả như sau:

Chương trình

Thích

Bình thường

Không thích

 

Số lượng

%

Số lượng

%

S ố lượng

%

Phim truyện Việt Nam 2158 70,47 513 16,75 391 12,78
Phim "Văn nghệ chủ nhật" 2066 67,47 477 15,57 519 16,94
Phim bộ Trung Quốc 2038 66,55 518 16,91 506 16,54
Ca nhạc dân tộc 1558 50,88 735 24,00 769 25,12
Kịch nói 1462 47,74 713 23,28 887 28,98
Cải lương 1036 33,83 964 31,48 1062 34,69
Phim truyện nước ngoài 900 29,39 1061 34,65 1101 35,96
Chèo 629 20,54 815 26,61 1618 52,85
Ca nhạc nước ngoài 570 18,61 940 30,69 1552 50,70
Tuồng 171 5,58 859 28,05 2032 66,37
Khác 5 0,16 5 0,16 3052 99,68

Phân loại theo nghề nghiệp kết quả thu được như sau:

Chương trình

Thích

Bình thường

 

Công nhân

Nông dân

Công nhân

Nông dân

  Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Phim "Văn nghệ chủ nhật" 744 66,25 320 64,25 182 16,25 68 13,65
Phim truyện Việt Nam 821 73,30 386 77,51 173 15,44 51 10,24
Phim truyện nước ngoài 356 31,78 69 13,85 356 31,78 158 31,72
Phim bộ Trung Quốc 734 65,53 280 56,22 207 18,48 82 16,46
Ca nhạc nước ngoài 243 21,69 40 8,03 340 30,35 94 18.87
Ca nhạc dân tộc 550 49,10 247 49,59 288 25,71 90 18,07
Chèo 149 13,30 171 34,33 300 26,78 86 17,26
Tuồng 53 4,73 40 8,03 309 27,58 108 21,68
Cải lương 358 31,96 221 44,37 365 32,58 118 23,69
Kịch nói 571 50,98 205 41,16 237 21,16 118 23,69
Khác 0 0 0 0 5 0,44 0 0

Năm 1999, Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật tổ chức điều tra ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định về mức độ tham gia các sinh hoạt tinh thần của người dân. Kết quả thu được như sau:

Các loại hình nghệ thuật

Thường xuyên (%)

Thỉnh thoảng (%)`

Không tham gia (%)

Xem ti vi

77,6

19,2

3,1

Xem video

6,8

47,5

45,6

Nghe đài

60,5

30,5

9,0

Xem phim, ca nhạc, sân khấu nơi công cộng

4,6

33,6

61,8

Đọc sách, báo

16,3

41,5

42,1

Tham gia đội thánh ca

5,7

1,7

92,6

Tham gia đội kèn đồng

6,1

1,0

92,9

Các loại hình khác

81,8

18,2

0,0

Về việc hưởng thụ văn hoá qua các phương tiện truyền thông đại chúng, tại Hải Hậu chủ yếu thông qua hệ thống đài truyền thanh tỉnh, huyện, xã, qua các đài truyền hình các tỉnh lân cận như Thái Bình, Thanh Hoá, Đài Tiếng nói Việt Nam, Truyền hình Việt Nam. Thống kê tại 11 xã và thị trấn của huyện cho thấy các phương tiện truyền thông đại chúng là khá phổ biến:

Loại phương tiện

Hải Vân

Hải

Xuân

Hải

Phong

Hải Tây

Hải Đường

Hải Chính

Hải Bắc

Hải Long

Hải Lộc

Hải An

Yên Định

Máy thu hình

554 631 785 723 1308 383 731 769 740 647 816

Máy thu hình màu

474 547 531 594 784 333 609 657 660 500 782

Đầu video

138 184 54 119 215 30 251 108 165 150 358

Vô tuyến

3,7 2,8 2,7 2,6 2,5 2,9 2,3 2,8 2,8 2,6 1,4

Video

14,7 9,6 39,8 15,6 15,5 36,4 6,8 20,2 12,4 11,3 3,2

Khảo sát đời sống văn hoá ở làng Kim Từ, xã Đại Kim, ngoại thành Hà Nội chothấy vai trò của các sản phẩm thông tin đại chúng đối với người dân quan trọng như những món ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu. Từ cuối những năm 80 cho đến đầu năm 1992, nhờ đời sống kinh tế được nâng lên, nhờ giao thông thuận lợi hơn, nhờ có điện đã đi vào từng nhà, trong tổng số 320 gia đình của làng, thì 130 hộ có tivi, trong đó một nửa có tivi màu, hơn 100 hộ có rađiô và rađiô cassette, khoảng trên 20 gia đình có đầu vidéo, 25 gia đình có tủ lạnh, khoảng gần 200 xe máy1. Đó là chưa nói đến số lượng báo chí, nhất là các tờ Nhân Dân, Hà Nội mới, An ninh Thủ đô, v.v.. Các Câu lạc bộ của các vị cao tuổi, Câu lạc bộ của thanh niên là những tụ điểm văn hoá, là nơi trao đổi thông tin về nhiều mặt như: luyện dưỡng sinh, kế hoạch hoá gia đình, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, v.v..

Tại các đô thị, việc hưởng thụ văn hoá của nhân dân đã nâng cao đáng kể. Rõ rệt nhất là việc chiếm lĩnh các sản phẩm "văn hoá đọc" và sử dụng những sản phẩm thông tin đại chúng. ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có số người mua sách, đọc sách lớn nhất cả nước. Trong năm 1992, bình quân đầu người mua sách, đọc sách trên toàn quốc là 1,2 bản/1 người, thì ở Hà Nội là 2,4 bản/1 người. Đối tượng mua sách, đọc sách chủ yếu là cán bộ, trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh... mặc dù mức sống, tiền lương của những người này còn thấp. Những yếu tố quan trọng và quyết định sự hình thành và nhu cầu mua sách, đọc sách của số đông là sự đòi hỏi nâng cao trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, yêu cầu về học tập, giao lưu văn hoá với các nước, cũng có một bộ phận nhỏ là để giải trí hoặc để thoả mãn tính hiếu kỳ, nhất là ở thanh thiếu niên. Điều quan trọng là chúng ta đã đẩy lùi được những hiện tượng cực đoan trong nhu cầu đọc sách xô bồ, thực dụng như sách các vụ án, sách về "tình yêu tay ba, tay tư", sách chưởng,... Những hoạt động phổ biến và phát hành sách, báo tại các tụ điểm,


1 Xem: Phạm Thị Thanh Tâm, bài Vài nét về mua, đọc sách ở thành phố. Hà Nội, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 10/1994. Những con số này chỉ tính đến năm 1992. Đến nay chắc số lượng các phương tiện trên đã tăng lên gấp nhiều lần.


nhân những sự kiện lớn như: Hội chợ sách, Tuần sách, Những ngày sách, Kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, v.v. không chỉ tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh ở thủ đô, mà còn có tiếng vang tốt trong nước và ở nước ngoài.

Nhu cầu thông tin nhiều chiều, biến các phương tiện thông tin đại chúng thành diễn đàn của nhân dân đã thực hiện một bước dân chủ hoá trong xã hội nói chung và trong lĩnh vực văn hoá-thông tin nói riêng. Với tư cách là diễn đàn của nhân dân, các đài, báo và các phương tiện thông tin đại chúng đã tổ chức, dàn dựng nhiều chương trình đa dạng, độc đáo, hấp dẫn, được nhân dân-từ các em nhỏ cho đến các bậc lão thành, tham gia nhiệt tình. Ví dụ, Đài Truyền hình Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình giao lưu bổ ích, lý thú. Các chương trình "SV 96", "SV Show", "Câu lạc bộ bạn yêu âm nhạc", "Bảy sắc cầu vồng", "Đường lên đỉnh Olympia", "Giờ thứ 9", "Khách của VTV3"... cũng như nhiều chương trình chuyên đề về văn hoá, nghệ thuật của Đài Truyền hình Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã và đang làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực xây dựng và hoàn thiện nhân cách văn hoá của con người.

Sự hưởng thụ văn hoá của nhân dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo còn rất thấp. Phần lớn dân cư nông thôn sống dựa vào nông nghiệp, giá nông sản quá rẻ, trong khi giá vật tư sản xuất lại cao. Nông thôn Việt Nam tuy đã hình thành nền sản xuất hàng hoá nhưng cơ sở hạ tầng còn rất kém. Nhiều nơi chưa có giao thông đường bộ, trường học, điện dân dụng.

Một trong nhiều cái khó của nông dân là không tìm được "đầu ra" cho sản phẩm nông nghiệp. Các cấp lãnh đạo thường chỉ chú tâm đề ra những chỉ tiêu phát triển sản xuất mà ít lưu ý đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Những hủ tục nặng nề trong ma chay, cưới xin, lễ hội... làm cho người dân nghèo khó hơn; đã nghèo thì khó có thể mua sách, xem kịch, nghe nhạc. Còn nhiều vùng tỷ lệ mù chữ rất cao, một bộ phận đáng kể nông dân hầu như chưa được hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới1. một số vùng các dân tộc thiểu số, có những người không biết tiếng dân tộc mình, không biết dân ca dân tộc mình, không mặc y phục dân tộc trong lễ hội mà thay vào đó là nhạc xập xình, những điệu nhảy uốn éo. Một bộ phận không nhỏ thanh niên xa rời thông tin, sách báo, họ dùng thời gian rỗi cho các quán rượu bia, hát karaoke, gây lộn... để giải trí. Thêm vào đó là sự xâm nhập của phim ảnh bạo lực, kinh dị làm xói mòn các giá trị đạo đức văn hoá truyền thống... Trong "18 xã của huyện Phú Lộc chỉ có 18 tờ báo Nhân Dân lẫn Tạp chí Cộng sản; 9 xã của huyện Nam Đông chỉ có được 5 tờ Nhân Dân; 16 xã, thị trấn thuộc huyện Phong Điền chỉ có 9 tờ Nhân Dân, đây cũng là thực trạng chung của các vùng nông thôn vùng duyên hải miền Trung, địa bàn miền núi và hải đảo xa xôi"1. Báo cáo tổng kết thập kỷ đổi mới (1986-1996) của Bộ Văn hoá-Thông tin cũng đề cập tới thực trạng văn hoá ở các vùng miền núi: Văn hoá, nghệ thuật của Nhà nước còn ít tới miền núi.Ví dụ, xuất bản chỉ đáp ứng 10% nhu cầu; các huyện miền núi hầu như không có cửa hàng hoặc quầy sách, nghệ thuật chuyên nghiệp thỉnh thoảng mới đến được một lần ở trung tâm huyện. Nhà văn hoá huyện chỉ có tên, không có nhà, không hoạt động và cũng không có kinh phí hoạt động...

4. Xây dựng đời sống văn hoá


1 Nguyễn Công Tạn: Văn hoá và vấn đề phát triển nông thôn ở nước ta. Báo Nhân Dân ngày 6- 3- 1997.

1 Ngô Minh Thuyên: Đời sống ở miền quê, Báo Nhân Dân ngày 20- 4- 1997.


Đời sống văn hoá là thực tiễn văn hoá thể hiện rõ nhất những đặc điểm văn hoá trong mọi thời đại, nơi diễn ra mọi hoạt động văn hoá cụ thể. Vì thế, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là chủ trương lớn được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Có thể nói, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá, thích ứng với chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1981, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng ta đã chú trọng vấn đề này. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng còn ghi: "Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hoá là đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hoá"1

Để cụ thể hoá chủ trương trên đây của Đảng ngày 19-12-1983 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 159/HĐBT nêu rõ: "Từ nay đến năm 1985, phải đảm bảo cho phần lớn đơn vị cơ sở đều có hoạt động văn hoá; nhân dân lao động được đọc báo, nghe đài, xem phim, xem nghệ thuật. Đặc biệt chú ý các vùng cao và biên giới. Theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", cần củng cố và xây dựng các cơ sở văn hoá ở cấp tỉnh và huyện: nhà văn hoá, thư viện, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm ...; ở phường, xã hay cụm kinh tế- kỹ thuật,


1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, t. 1, tr. 106.


từng bước xây dựng cơ sở văn hoá tuỳ theo thực tế cơ sở"

Quán triệt tinh thần Văn kiện của Đảng và Quyết định của Chính phủ, ngành văn hoá đã có những trăn trở, tìm tòi nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá ở cơ sở. Từ bấy đến nay đã trên mười lăm năm, nhưng công việc tổ chức, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở lúc nào cũng được đặt thành công tác trọng tâm của ngành văn hoá. Mới đây, Bộ Văn hoá- Thông tin đã đưa ra ba chương trình công tác có mục tiêu cấp nhà nước và đã được Chính phủ thông qua, ghi vào kế hoạch thực hiện từ năm 1994 trở đi. Trong ba chương trình ấy chương trình Xây dựng và nâng cao hoạt động văn hoá , thông tin cơ sở khu vực nông thôn, được xếp vào hàng thứ hai.

Nhìn nhận vấn đề xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, có thể nhìn theo hai phạm vi:

- Xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn;

- Xây dựng đời sống văn hoá ở đô thị, thị xã, thị trấn v.v...

Thứ nhất: là việc xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn. Nước ta là một nước nông nghiệp, cư dân chủ yếu là nông dân sống trong các làng, bản, ấp, buôn, sóc. Xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn hôm nay cũng là tiếp nối những giá trị văn hóa nhân bản của cha ông trong văn hoá làng.

Mấy năm gần đây, ở nhiều địa phương đã hình thành làng văn hoá với sự phát triển toàn diện về đời sống vật chất và tinh thần. Không thể có một làng nghèo, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhiều người không có việc làm... mà lại có đời sống văn hoá tương đối cao. Ngược lại, khi đời sống vật chất của người dân đã được nâng cao một bước, nhưng nếu không biết tổ chức, khai thác tiềm năng sáng tạo và tham gia văn hoá quần chúng thì cũng không có làng văn hoá. Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Thanh Hoá là những tỉnh có nhiều thành tích trong xây dựng đời sống văn hoá.

Làng, bản Việt Nam vốn là cái nôi bảo tồn, lưu truyền văn hoá dân tộc, là nơi ẩn chứa sức mạnh truyền thống, tinh thần nhân bản, đậm đà bản sắc dân tộc, sắc thái địa phương. Truyền thống làng "mỹ tục khả phong" thời xưa được nối tiếp làng văn hoá hôm nay là những biểu hiện đẹp của một dân tộc văn hiến. Mấy năm gần đây, nhiều địa phương đã chú ý đầu tư kinh phí, có sự sáng tạo nhiều mô hình văn hoá mới như "ấp văn hoá" của Cần Thơ, "thuyền văn hoá" ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. ở Lào Cai có "chợ văn hoá"; ở Huế có "thuyền văn hoá" trên sông Hương; ở các vùng đồng bào Khơme có "khu văn hoá gia đình" ra đời đã làm phong phú hoạt động văn hoá cơ sở. ở Thanh Hoá trong số hơn 200 làng văn hoá có làng văn hoá "công nhân" tập trung ở các trung tâm công nghiệp lớn như Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, Nhà máy Đường Lam Sơn, Nông trường Hà Trung, v.v.

Kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng làng văn hoá trong nhiều năm qua cho thấy phải có Quy ước làng văn hoá để nâng cao trình độ tự quản thì việc xây dựng làng văn hoá mới lâu bền và có hiệu quả. Quy ước làng văn hoá đã có sự kế thừa những điều hay, điều đúng trong Hương ước, Khoán ước, Điều ước xưa; đồng thời được nâng cao về chất nhằm bảo vệ pháp luật Nhà nước và thật sự công khai, dân chủ với phương châm dân biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

ở nhiều tỉnh, Quy ước mới đã được nhân dân các xã, thôn hăng hái bàn bạc, soạn thảo, và trên thực tế bản Quy ước làng văn hoá nào cũng có những điểm hay, phù hợp với thực tế, đưa lại nhiều điều bổ ích cho đời sống kinh tế, trật tự an ninh và sinh hoạt tinh thần nói chung.

Thứ hai, xây dựng đời sống văn hoá ở đô thị. Cư dân đô thị ở Việt Nam gắn bó mật thiết với làng quê, chưa nhạt phai căn tính nông dân, trong khi đó, đô thị ở Việt Nam cũng không thoát khỏi những tính chất phổ quát của đô thị ở thế giới. Đô thị là nơi cung cấp những nguồn tài chính, hội tụ chất xám, ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ mới vào sản xuất, tiếp cận thị trường, có mạng lưới thông tin nhanh nhậy... ở các nước phát triển, các đô thị đóng góp từ 60 đến 80% tổng sản phẩm quốc dân. Trình độ dân trí, thu nhập quốc dân và tuổi thọ là ba tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá trình độ phát triển của một nước thì ở các đô thị chiếm tỷ lệ cao tuyệt đối so với các vùng khác. Mười năm gần đây, châu á đã trở thành khu vực phát triển năng động. Đô thị hoá ở đây phát triển với nhịp độ cao chưa từng thấy. Ngày nay, sự tăng trưởng của các khu vực đô thị diễn ra với tốc độ rất nhanh. Nhân ngày Quốc tế môi trường năm 1988, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã khẳng định xu hướng đô thị hoá mạnh mẽ rằng: Thế giới của chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Đây sẽ là cái mốc đánh dấu kỷ nguyên và thời gian, trong đó phần lớn dân số thế giới cư trú ở các vùng nông thôn để bước sang một kỷ nguyên mới với số dân sống hầu hết ở các đô thị. Rõ ràng tương lai của nhân loại sẽ diễn ra trong bối cảnh các đô thị chiếm ưu thế.

Do những ưu thế vượt trội về phát triển ở các đô thị, nhất là ở các đô thị lớn, đã dẫn đến sự chênh lệch về mức sống, chất lượng sống, khiến cho dòng người di cư từ nông thôn đến các đô thị ngày càng tăng. Vào những thập kỷ gần đây, ở các đô thị vốn đã đông đúc, chật chội lại càng đông đúc và chật chội hơn, thậm chí quá tải, gây ra những khó khăn lớn cho công tác quản lý đô thị, bảo vệ môi sinh, trong đó có môi trường văn hoá, các nhu cầu về học hành, y tế, v.v..

Văn hoá là một trong bốn lĩnh vực rộng lớn có liên quan mật thiết với kinh tế,chính trị và xã hội. Không thể nói tới đời sống văn hoá trong tình trạng kinh tế quá thấp, khi còn có hàng triệu người thất nghiệp. Với điều kiện xã hội như vậy thì phong trào văn hoá không thể không bắt đầu từ việc giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là những thanh niên và học sinh. Quận Đống Đa (Hà Nội) có thể coi là một nơi có thành tích tốt trong giải quyết việc làm cho người lao động. Trong những năm 1996-2000, Quận đã phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm cho 6.500-7.000 người. Để thực hiện mục tiêu này, việc dạy nghề-hướng nghiệp trong các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học được thực hiện có hiệu quả. Trung tâm dạy nghề của Quận liên tục mở các lớp đào tạo nghề cho những người có nhu cầu, đồng thời có chế độ ưu tiên cho con em các gia đình thuộc diện chính sách1.

Sau đây là một số lĩnh vực đáng chú ý trong đời sống văn hoá:

- Phong tục, tập quán: việc cưới, việc tang, gia phong, gia lễ, lễ hội:

Trong lịch sử tư tưởng và văn hoá Việt Nam, các học giả thường dùng phong hoá, phong tục để chỉ một hệ giá trị về nghi thức, về ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội và thiên nhiên đã trở thành thuần phong, mỹ tục. Trong phạm vi cuốn sách này chúng tôi chỉ tập trung khảo sát bốn nội dung sau đây, và cũng chỉ xin nêu một vài hiện tượng nóng bỏng theo tinh thần và nội dung của Chỉ thị 27-CTTƯ của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngày 12-1-1998 về việc: Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

Việc cưới: Cưới hỏi là chuyện của cá nhân, của từng gia đình, nhưng lại phản ánh phần nào bộ mặt văn hoá của xã hội, trình độ dân trí của một dân tộc. Các đám cưới cổ truyền có rất nhiều nghi thức, kèm theo là các lễ vật và tiền bạc. một mức độ nào đó, đám cưới cổ truyền có một số nét tích cực, thể hiện truyền thống đạo lý như hiếu lễ với ông bà, tổ tiên, tình cảm gắn bó vợ chồng, trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng làng xã.


1 Xem: Nguyễn Đình Chuôn: Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở quận Đống Đa, báo Nhân Dân ngày 14-3- 1998.


Tuy vậy, việc hôn nhân cổ truyền cũng có những hiện tượng tiêu cực: nạn tảo hôn, tệ thách cưới, tâm lý a dua bắt chước theo người giàu muốn làm đám cưới to, v.v.. Bước vào cơ chế thị trường nhiều hủ tục trong hôn nhân đang có chiều hướng trỗi dậy: tệ phô trương, lãng phí không cần thiết; tệ biến đám cưới thành "bán cỗ thu tiền", "trả nợ miệng", tệ thách cưới nhiều, v.v..

Trên thực tế, không phải địa phương nào cũng vậy. Kết quả cuộc vận động Nếp sống mới trước đây và việc vận động Xây dựng gia đình văn hoá mới, Làng văn hoá gắn với thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị đã cho ta những kết quả lạc quan. Khảo sát một vài xã có truyền thống văn hoá ở Bắc Ninh như xã Hàm Sơn (huyện Yên Phong), xã Đình Bảng và xã Đồng Quang (huyện Tiên Sơn) được biết: Trong vòng 20 năm nay, Uỷ ban nhân dân xã Hàm Sơn không đăng ký cho một cặp vợ chồng tảo hôn nào; không có hiện tượng thách cưới (xã Đình Bảng); chỉ có lễ dạm hỏi, còn tổ chức lễ cưới thì bên trai bên gái cùng lo, không có tục tảo hôn hoặc lấy vợ lẽ (xã Đồng Quang).

Nhìn chung nhiều vùng nông thôn nước ta lễ cưới đã giản dị, tiết kiệm hơn, trong khi vẫn giữ gìn được sắc thái dân tộc.

Việc tang: Việc tang là chuyện buồn, là chuyện của gia đình, nhưng còn là việc có liên quan đến tình làng nghĩa xóm, đến xã hội. Nhằm giảm dần những yếu tố không phù hợp với nếp sống mới, ngày nay nhiều địa phương đã có những quy ước về lễ tang vừa ít tốn kém cho gia chủ, vừa trang trọng, tôn nghiêm.

Khảo sát nếp sống mới tại một vài địa phương ở Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội cho thấy bước đầu những hủ tục đã bị hạn chế. Thi hài người chết chỉ để trong nhà từ 24 đến 36 giờ, không có việc ăn uống linh đình khi quan tài còn để trong nhà, không có tục "lăn đường", "khóc mướn", "mũ rơm", "mũ nấm". một số làng Công giáo thuộc xã Hải Hà (Hải Hậu), khi có đám tang (là người Công giáo) thì cha xứ đến tận gia đình để làm lễ. Mỗi xã có mấy đội nhạc công (mỗi nhạc công được hưởng 3 kg thóc/tháng), xe tang được xã điều động giúp tang chủ.

nhiều địa phương, tập thể xóm thôn đã đứng ra tổ chức việc tang cho các gia đình, giảm nhẹ nghi thức, ăn uống, tăng được tình làng nghĩa xóm.

Lễ hội: Dân tộc nào cũng có lễ hội, bởi đó là nơi giáo dục mọi người tính tập thể, ý thức cộng đồng. Đó cũng là dịp con người tìm về cội nguồn, hướng về kỳ tích của các anh hùng, ôn lại những chiến công lịch sử của ông cha trong quá trình dựng nước và giữ nước. Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá có từ lâu đời, cất giữ những giá trị và phong tục thuần mỹ của một vùng văn hoá, một địa phương hay một vùng dân tộc. Khảo sát bất cứ một lễ hội nào, dù đó là lễ hội Phù Đổng, hội Lim, hội Đền Hùng ở miền Bắc hay hội đền Bà Chúa Xứ ở miền Nam, hội Cầu Ngư ở miền Trung hay hội Hoa ban ở vùng Tây Bắc, chúng ta đều thấy những giá trị văn hoá vừa nêu trên.

Những năm gần đây mối quan tâm của nhân dân đến lễ hội ngày càng tăng lên. Lễ hội trở thành sinh hoạt văn hoá lớn của hàng chục triệu người. Quản lý lễ hội trở thành vấn đề không đơn giản.

Năm 1997, Trung tâm Công nghệ Thông tin của Văn phòng Bộ và Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật tổ chức điều tra xã hội học, về thái độ đối với lễ hội của người dân ở các làng quê.

Với câu hỏi:

Ông (bà) có tham dự các lễ hội của làng không? Kết quả thu được từ 3632 phiếu là:

Tính theo số lượng

Không

2121

941

Tính theo phần trăm:

Có (%)

Không (%)

69,26

30,74

Với câu hỏi: Lý do tham dự lễ hội và lễ hội của làng có tác dụng gì? Kết quả thu được.

Tính theo số lượng:

Lý do

Số người trả lời có

Số người trả lời không

Giữ gìn truyền thống văn hoá của làng

2053

1009

Gắn bó các thành viên trong làng

1710

1361

Là dịp bày tỏ lòng biết ơn với những người có công với làng

1423

1639

Là dịp để vui chơi gặp gỡ

926

2136

Là dịp cho các dòng họ trong làng thể hiện

495

2567

Khẳng định danh tiếng của làng

471

2591

Là dịp để cầu cho sở nguyện riêng

205

2857

Là dịp để cầu tài cầu lộc

203

2859

Tính theo phần trăm:

Lý do

Tỷ lệ trả lời có (%)

Tỷ lệ trả lời không (%)

Giữ gìn truyền thống văn hoá của làng

67,04

32,96

Gắn bó các thành viên trong làng

55,55

44,45

Là dịp bày tỏ lòng biết ơn với những người có công với làng

46,47

53,53

Là dịp để vui chơi gặp gỡ

30,24

69,76

Là dịp cho các dòng họ trong làng thể hiện

16,16

83,84

Khẳng định danh tiếng của làng

15,38

84,62

Là dịp để cầu cho sở nguyện riêng

15,38

84,62

Là dịp để cầu tài cầu lộc

6,62

93,38

Gia phong, gia lễ: Nói đến gia phong, gia lễ là nói đến gia đình - hạt nhân của xã hội. Ngày nay, nhất là ở phương Tây, người ta nói đến hiện tượng tan rã của gia đình không thể tránh khỏi. Nhưng, thế giới hôm nay và ngày mai vẫn có nhu cầu ổn định và phát triển, vì vậy vai trò của gia đình là hết sức quan trọng, nếu như gia đình thiếu ổn định thì nói gì đến xã hội ổn định. Trước đây, mâu thuẫn trong gia đình phát sinh và được điều chỉnh chủ yếu thông qua các quan hệ đạo đức, tâm lý - tình cảm giữa các thế hệ trong gia đình: ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt. Chuyện trong gia đình thường xoay quanh hiếu đễ của con cái, cháu chắt đối với bề trên, tình nghĩa vợ chồng, trách nhiệm của bố mẹ đối với con cái, v.v.. Chung quy là ở cách đối xử với nhau dưới một mái nhà.

Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, do tác động của xã hội và quá trình hội nhập quốc tế, vấn đề gia phong, gia lễ của từng gia đình bị chi phối bởi nhân tố kinh tế, văn hoá vật chất, pháp luật, lối sống, chất lượng sống, vấn đề công danh, mưu sinh lập nghiệp, thị hiếu và giải trí.

Chính vì vậy, nội dung xây dựng gia đình văn hoá đã thay đổi về cơ bản. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, giữ gìn gia phong trong thời kỳ mới gồm bốn tiêu chuẩn: Gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ, khoẻ mạnh và hạnh phúc; Thực hiện tốt nghĩa vụ công dân; Thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư đã được hàng triệu gia đình hưởng ứng. Gần đây việc xây dựng các quy ước dòng họ văn hoá (một hình thức đại gia đình) cũng đã được chú ý, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá cơ sở.

5. Xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá

5.1. Xây dựng thể chế văn hoá

Cùng với lao động sản xuất và duy trì nòi giống, văn hoá là một trong những hoạt động lâu đời nhất của loài người . Để văn hoá thực sự có ích và không ngừng phát triển, loài người không những kế thừa và đổi mới, mở ra vô vàn giá trị chân- thiện- mỹ trong sinh hoạt văn hoá mà còn không ngừng tìm kiếm các hình thức, phương pháp quản lý, điều hành các hoạt động văn hoá theo những khuôn khổ nhất định tạo ra một quá trình sản xuất, phổ biến và tiêu thụ văn hoá ngày càng phong phú với chất lượng cao, khắc phục những mặt phản văn hoá trong đời sống văn hoá tinh thần. Tổng hợp các hình thức tổ chức, các quy định, quy ước và phương pháp điều hành hoạt động văn hoá làm nên thể chế văn hoá của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thể chế văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với thể chế chính trị, luật pháp, kinh tế, song vẫn có tính độc lập tương đối.

Lực lượng nào thống trị xã hội thì lực lượng đó quyết định những nội dung của thể chế văn hoá. Tuy nhiên, bên cạnh thể chế văn hoá chủ đạo do Nhà nước quy định, vẫn tồn tại những thể chế văn hoá bộ phận chi phối một số sinh hoạt văn hoá tinh thần trong phạm vi làng xóm, họ tộc, các giới, dân tộc, các nhóm người có cùng lợi ích...

Một nhà nước tiến bộ, hợp lòng dân luôn luôn tìm kiếm những thể chế văn hoá lành mạnh, tiến bộ thúc đẩy văn hoá phát triển, làm rạng rỡ nền văn hiến nước nhà. Ngược lại, những nhà nước phản động, suy tàn tìm mọi cách bóp nghẹt văn hoá tinh thần, lập ra những thể chế văn hoá ngặt nghèo, khắt khe, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng tinh thần của nhân dân, ngăn chặn văn hoá phát triển.

Có thể nói, thể chế văn hoá có vai trò rất lớn đối với sự phát triển văn hoá. Nó là nhân tố bên trong thúc đẩy sự hình thành và phát triển văn hoá xét trên cả quy mô xã hội cho đến từng hoạt động riêng lẻ của người sáng tạo văn hoá. Chính vì vậy cuộc đấu tranh để bảo vệ và thừa kế các thể chế văn hoá tiến bộ, cải cách và điều chỉnh các thể chế đã lỗi thời là việc làm thường xuyên của nhân dân và bộ máy nhà nước trong lịch sử.

Bước vào thời kỳ hiện đại, đặc biệt 30 năm lại đây, trên cơ sở của sự phát triển chung, văn hoá đã đạt tới vai trò vị trí mới chưa từng có. Văn hoá trở thành nhân tố bên trong, động lực và hệ điều tiết của sự phát triển. Theo xu hướng đó, việc cải cách thể chế văn hoá đã trở thành mối quan tâm lớn của loài người, của các cơ quan vạch chính sách thuộc các quốc gia. Cơ quan UNESCO đã tổ chức những chương trình và thể chế văn hoá bảo đảm cho văn hoá trực tiếp thúc đẩy phát triển. Trong phạm vi khu vực, cả trong phạm vi thế giới đã bắt đầu hình thành một số thể chế điều chỉnh các hoạt động văn hoá giữa các quốc gia.

Nhìn lại giai đoạn 15 năm đổi mới, có thể coi đây là thời kỳ chuyển tiếp của thể chế văn hoá nước ta trong bối cảnh xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kiên trì phương hướng chung xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, quán triệt các quan điểm của Đảng trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, bám sát thực tiễn kinh tế- xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, thể chế văn hoá Việt Nam trong giai đoạn này đã thể hiện rõ tính kế thừa các thể chế tích cực, hợp lý trong giai đoạn trước đây với việc vận dụng mới những hình thức, phương pháp sản xuất, phổ biến và tiêu thụ văn hoá trong điều kiện cơ chế thị trường và giao lưu quốc tế.

Mặt được của quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá thời gian qua là:

- Kiên trì quan điểm xác định văn hoá là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, văn hoá là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển, Nhà nước đã thống nhất quản lý và triển khai sâu rộng, thường xuyên toàn bộ hoạt động văn hoá thông tin trong xã hội, đã từng bước nâng mức đầu tư cho toàn bộ hoạt động văn hoá thông tin trong cả nước.

- Phát triển quan điểm coi văn hoá là sự nghiệp của toàn dân trong điều kiện cơ chế thị trường, Nhà nước lần lượt ban hành nhiều luật lệ, công tác tạo điều kiện cho nhân dân tham gia sản xuất, dịch vụ văn hoá... mở rộng thị trường văn hoá ngày càng phong phú đa dạng.

- Tính chủ động trong xây dựng và phát triển văn hoá ở mỗi địa phương (cấp tỉnh, thành phố), cơ sở, mỗi thiết chế văn hoá được nâng lên. ý thức chủ động tự lo liệu, phát huy truyền thống văn hoá sẵn có, nâng mức đầu tư, bố trí cán bộ, mở rộng giao lưu văn hoá... tăng lên, nhờ đó khai thác tốt hơn các giá trị văn hoá tiềm tàng ở địa phương, cơ sở, tạo ra nhiều sản phẩm và năng lực mới.

- Hệ thống pháp luật trong phạm vi quốc gia cũng như các quy định, quy ước văn hoá do nhân dân các địa phương chủ động xây dựng đã tăng cường một bước công tác quản lý nhà nước bằng luật pháp, đáp ứng yêu cầu phát triển mới trong lĩnh vực văn hoá thông tin.

Từ khi đổi mới đến nay, trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá và nếp sống, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật như:

Luật Báo chí (1989), Luật Xuất bản (1993), Luật Giáo dục (1998), Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh (1984- đang xây dựng thành Luật bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá), Quyền Tác giả trong Luật Dân sự (1994); Chính phủ còn ban hành một số văn bản dưới luật như Nghị định 194-CP ngày 31-12-1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Nghị định 87-CP ngày 12-2-1995 về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Ban hành kèm theo Nghị định này là Quy chế về lưu hành, kinh doanh phim, băng đĩa hình, băng đĩa nhạc, bán và cho thuê xuất bản phẩm; hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá nơi công cộng: quảng cáo, viết, đặt biển hiệu; quy định những biện pháp cấp bách bài trừ tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Nghị định 88-CP ngày 14-12-1995 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá dịch vụ văn hoá và phòng chống một số tệ nạn xã hội.

Các văn bản pháp lý trên đây đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá và nếp sống, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực trong hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm, đẩy lùi một bước các tệ nạn xã hội, từng bước khôi phục lại trật tự, kỷ cương trong nếp sống xã hội.

Ngoài ra, trong lĩnh vực nếp sống, Bộ Văn hoá- Thông tin đã quan tâm đến việc xây dựng quy chế về lễ hội tập trung vào lễ cưới, lễ tang, đồng thời mở rộng chủ trương xây dựng quy ước làng văn hoá, góp phần tăng cường quản lý xã hội đối với lĩnh vực này.

Bên cạnh mặt được về thể chế văn hoá cần thấy rõ mặt chưa được còn rất lớn, có mặt khá nghiêm trọng. Đó là:

- Hệ thống luật pháp- xương sống của thể chế văn hoá ban hành chậm, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng lớn tới quá trình điều chỉnh trong hoạt động văn hoá.

- Quản lý nhà nước còn lỏng lẻo về nghiệp vụ và hữu khuynh trong xem xét xử lý dẫn đến chậm lập lại trật tự trong hoạt động văn hoá. Sách báo, băng hình độc hại, mê tín dị đoan lan rộng, đạo đức, lối sống sa sút... gây ra những lo lắng lớn trong xã hội. Văn hoá phẩm nước ngoài tác động khá phức tạp lên đời sống văn hoá trong nước.

-Việc chăm lo hoàn thiện thể chế văn hoá ở cơ sở chưa được quan tâm đúng mức. Đến nay, trên 10.000 cơ sở xã, phường vẫn chưa có được thể chế ổn định về bộ máy, cán bộ, ngân sách, các thiết chế cần thiết.

- Việc sắp xếp tổ chức lại bộ máy hành chính, các cơ sở sự nghiệp, kinh doanh trong ngành văn hoá thông tin còn chậm; nhiều đơn vị còn lúng túng, chưa tìm được phương hướng phát triển.

Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, yếu kém nói trên có phần ở tính phức tạp của cơ chế thị trường mà chúng ta chưa nhận thức hết. Tuy nhiên chủ yếu vẫn là do chúng ta còn thiếu nhiều tri thức về thể chế văn hoá và chưa đặt đúng mức vấn đề xây dựng thể chế, nói rộng hơn chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu phải chuyển biến mạnh hơn về quản lý Nhà nước thông qua luật pháp và chính sách. Không ít cán bộ các cơ quan quản lý văn hoá vẫn tự bằng lòng với một số hoạt động nghiệp vụ văn hoá trong phạm vi ngân sách nhà nước cho phép mà chưa quan tâm quản lý và hướng dẫn cả một xã hội hoạt động văn hoá. Vì vậy, mặt tốt cũng như mặt xấu trong đời sống văn hoá chưa được xem xét, thúc đẩy hoặc ngăn chặn kịp thời là điều khó tránh khỏi. Tình hình trên đặt ra cho ngành văn hoá thông tin phải có nhận thức mới và bước chuyển mình mạnh mẽ trong xây dựng thể chế văn hoá.

5.2 Xây dựng thiết chế văn hoá

Cùng với việc xây dựng các thể chế văn hoá, vấn đề xây dựng các thiết chế văn hoá luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.

Nếu quan niệm thiết chế văn hoá với tư cách là một bộ phận của khách thể quản lý, coi hoạt động văn hoá như một loại sản xuất tinh thần, có thể chia các công đoạn vận hành của nó để nhìn nhận các thiết chế văn hoá như sau:

Sáng tạo

Bảo quản, phổ biến,

truyền bá

Tiếp nhận

Nhóm các cơ quan nghiên cứu: Viện nghiên cứu, các cục, vụ tham mưu v.v...

- Nhóm các chủ thể sáng tạo (các hội nghề nghiệp như hội nhà văn, nhạc sĩ, mỹ thuật, điêu khắc, kiến trúc, múa, nhiếp ảnh, nhà thiết kế v.v...)

- Nhóm những người sáng tạo nghiệp dư: câu lạc bộ, nhóm thơ văn, hội nghề nghiệp dân gian.

- Viện Bảo tàng, Thư viện, lưu trữ

- Các cơ sở đào tạo

- Các cơ quan thông tin đại chúng: báo chí, xuất bản, tuyên truyền.

- Các cơ quan biểu diễn, phổ biến nghệ thuật.

- Các hoạt động dịch vụ văn hoá.

- Công chúng trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thông tin.

- Giới lãnh đạo, quản lý.

- Người nước ngoài.

- Nhà phê bình.

Trên cơ sở ấy chúng ta nhìn nhận vấn đề xây dựng thiết chế văn hoá từ sau đổi mới đến nay, trên một số lĩnh vực cụ thể:

5.2.1. Thư viện

Thư viện là một loại thiết chế văn hoá. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được như sau:

Năm 1987, có 21 thư viện cấp tỉnh, 176 thư viện cấp huyện, 736 thư viện cấp xã.

Năm 1991, có 37 thư viện cấp tỉnh, 201 thư viện cấp huyện, 488 thư viện cấp xã.

Từ năm 1996 đến nay số lượng thư viện và bản sách báo tăng dần qua các năm. Đặc biệt hệ thống phòng đọc, tủ sách xã, thôn cũng đi dần vào ổn định. Sau đây là con số thống kê hệ thống thư viện do Bộ Văn hoá thông tin trực tiếp quản lý (từ Thư viện Trung ương đến các phòng đọc cơ sở).

 

Năm 1996

Năm 1997

Năm 1998

Năm 1999

- Số lượng thư viện Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương

53

55

59

60

- Số lượng thư viện quận, huyện, thị xã

540

548

560

560

- Số lượng thư viện, phòng đọc, sách báo, tủ sách xã thôn ấp, hợp tác xã

1700

1800

2000

2300

- Tổng số bản sách trong các thư viện

14,8 triệu

15 triệu

15,7 triệu

15,9 triệu

- Tổng số bản sách được bổ sung trong năm

624.000

687.000

705.000

673.000

5.2.2. Bảo tàng

Quá trình nâng cao nhận thức xã hội về giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã thúc đẩy hoạt động bảo tồn bảo tàng không ngừng phát triển. Cho đến năm 1999 tổng số bảo tàng trong cả nước gồm 117 đơn vị chia ra:

+ Số bảo tàng do ngành văn hoá thông tin quản lý: 85;

+ Số bảo tàng do các ngành khác: 32

- Tổng số bảo tàng, nhà truyền thống mới đưa vào hoạt động trong năm: 2.

- Tổng số hiện vật có trong các bảo tàng trong ngành: 2.069.096, tăng 171.395 hiện vật so với năm 1980.

- Tổng số di tích đã được công nhận tính đến ngày 30-11-1999: 2414, chia ra:

+ Di tích lịch sử: 1217;

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: 1088;

+ Di tích khảo cổ: 30

+ Di tích danh lam thắng cảnh: 79

- Tổng số di tích công nhận trong năm 1999: 133, trong đó:

+ Di tích lịch sử: 47

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: 78

+ Di tích khảo cổ: 3

+ Di tích danh lam thắng cảnh: 5

5.2.3. Nhà Văn hoá

Hệ thống nhà văn hóa từ trung ương đến tỉnh, huyện và cơ sở là thiết chế quy tụ các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, bồi dưỡng tri thức cho các tầng lớp nhân dân được duy trì và phát triển qua các năm. Hệ thống nhà văn hoá bao gồm các cơ sở do ngành văn hoá thông tin, liên đoàn lao động và đoàn thanh niên cùng một số đoàn thể, cơ quan khác quản lý. Cho đến năm 1999 tổng số nhà văn hoá cả nước là 765, trong đó:

+ Nhà văn hoá trung tâm tỉnh, thành phố 20

             + Nhà văn hoá huyện, quận: 478

           + Nhà văn hoá thiếu nhi: 215

             + Nhà văn hoá các ngành: 52

5.2.4. Báo chí và xuất bản

Sau Chỉ thị 08 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) năm 1992, hoạt động báo chí, xuất bản có bước phát triển quan trọng cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức, về công nghệ in và hệ thống phát hành, về quy mô và địa bàn phổ biến, làm gia tăng ý nghĩa và vai trò của hệ thống báo chí, xuất bản trong sự nghiệp đổi mới. Báo chí, xuất bản đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, dân chủ hoá đời sống văn hoá của nhân dân, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng Internet, hệ thống thông tin địa lý1, các phương tiện bưu chính viễn thông... là những phương tiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ , xây dựng nền văn hoá dân tộc, đồng thời tạo thời cơ lớn cho sự tăng cường giao lưu văn hoá giữa các quốc gia. Những giá trị văn hoá của mỗi dân tộc nhờ các phương tiện thông tin đại chúng mà trở thành tài sản chung của nhân loại và ngược lại nhân loại có điều kiện tiếp thu những giá trị văn hoá của Việt Nam.


1 Hệ thống thông tin địa lý, gọi tắt là GIS (Gerogphie Information System) được đưa lên mạng Internet theo từng cách sử dụng khác nhau, cho các đối tượng được phép sử dụng. Ví dụ: Một nhà đầu tư cần thông tin để lựa chọn địa điểm xây dựng một khách sạn hay một siêu thị tại một tỉnh nào đó, thì trên màn hình hiện lên bản đồ của tỉnh, mật độ dân cư các khu vực được thể hiện bằng các màu sắc khác nhau; nhà đầu tư chọn một khu vực có mật độ dân cư cao và bấm "con chuột" vào điểm đó; màn hình hiện lên các thông số về dân số, thành phần dân cư, địa lý, địa chất, khí tượng thuỷ văn của khu vực cần tìm hiểu. Hệ thống thông tin GIS có thể phục vụ công tác quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đánh giá tác động môi trường và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội. (Theo Bích Hà: Công nghệ GIS và hệ thống thông tin địa lý toàn quốc, báo Lao động, tháng 7 –1997).

 Thời lượng phát sóng và diện phủ sóng phát thanh và truyền hình mà trước hết là của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tăng lên đáng kể. Hệ thống đài, trạm các khu vực tỉnh, thành đến quận, huyện và các vùng dân cư quan trọng đã được hình thành. ở 61 tỉnh, thành đều có các đài phát thanh, truyền hình, gần 300 huyện có đài phát sóng FM, 340 trạm phát lại sóng truyền hình Trung ương... đã giúp cho khoảng 60% số hộ dân được nghe và khoảng 50% số hộ được xem các chương trình truyền hình, trong đó có cả người nghe, người xem ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

Cho đến năm 1999, số liệu về báo chí và xuất bản như sau:

Về báo chí: (báo viết)

- Tổng số cơ quan báo chí: 491, trong đó:

+ Báo: 168;

+ Tạp chí: 314;

+ Báo ngày: 9;

- Tổng số các nhà báo được cấp thẻ nhà báo: 9003

- Tổng số giấy phép đã cấp sử dụng thông tin qua vệ tinh (TVR0): 1575

- Tổng số vụ vi phạm đã xử lý: 48

6.Về giao lưu văn hoá với nước ngoài

Giao lưu văn hoá là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là một quy luật vận động và phát triển của các dân tộc và của mọi nền văn hoá. Giao lưu văn hoá phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết là những thành tựu về trí tuệ, về khoa học và công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức xã hội và quản lý Nhà nước...

Sau Cách mạng Tháng Tám, lãnh đạo và quản lý nền văn hoá mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, giải pháp cụ thể để mở rộng giao lưu văn hoá, gắn văn hoá dân tộc với trào lưu văn hoá xã hội chủ nghĩa, tiến bộ và dân chủ trên thế giới.

Thông qua giao lưu, trao đổi văn hoá, sự nghiệp chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta và những giá trị văn hoá tinh thần cao đẹp của nhân dân ta đã được đông đảo bạn bè thế giới biết đến, đồng tình, ủng hộ; chúng ta học hỏi được nhiều thành tựu và tinh hoa văn hoá nhân loại làm phong phú đời sống văn hoá nước nhà, hàng nghìn cán bộ văn hoá nghệ thuật được đào tạo cơ bản từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây làm nòng cốt trong các lĩnh vực văn hoá, thông tin, nghệ thuật.

Bước vào thời kỳ đổi mới, với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, giao lưu văn hoá cũng không ngừng được mở rộng.

Trung bình hàng năm ta đã cử ra nước ngoài trên 200 đoàn với trên 1000 người tham gia các hoạt động giao lưu văn hoá và cũng đón gần 100 đoàn nước ngoài với gần 1000 người nước ngoài vào tổ chức các hoạt động văn hoá ở nước ta. Riêng năm 1999, chúng ta đã cử 271 đoàn ra với 1167 lượt người và đón 98 đoàn vào với 938 lượt người. Nhà nước ta đã ký hiệp định văn hoá với 38 nước và hàng chục tổ chức quốc tế, đã có trên 100 dự án hợp tác về văn hoá, trong đó có khoảng 30 dự án ASEAN. Tuy vậy, các con đường giao lưu văn hoá quốc tế chưa thật phong phú chỉ mới dừng lại ở các phương thức sau đây: qua các nghị định thư, kế hoạch hợp tác ký kết giữa Chính phủ ta và Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, qua liên doanh, liên kết hợp tác sản xuất các loại văn hoá phẩm; quan hệ trực tiếp bằng hợp đồng của các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, các hội sáng tạo, các tổ chức tương ứng ở các địa phương, quan hệ cá nhân; trao đổi các nhà khoa học, các nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ sĩ; các học sinh du học, mời chuyên gia đến giảng dạy trong nước; trao đổi biểu diễn nghệ thuật, tham gia hội chợ triển lãm, liên hoan phim, trao đổi các đoàn tham gia, khảo sát, du lịch, trao đổi tư liệu.

Khẩu hiệu "Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế" đã nói lên sự thành tâm, nhu cầu muốn giao hoà, tiếp cận của nước ta với các nền văn hoá các nước để cùng nhau học hỏi, phát triển.

Giao lưu văn hoá phải có nhận và có cho. Tuy nhiên, trong thực tế không được như vậy. Đúng như Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã nêu mặt yếu kém của ta trong giao lưu văn hoá: "giao lưu văn hoá với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số văn hoá phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn, trong khi đó, số tác phẩm văn hoá có giá trị của ta đưa ra bên ngoài còn quá ít"1.

Do thiếu một chiến lược và quy hoạch cụ thể, thiếu kinh phí, chính sách và cán bộ, hoạt động đối ngoại trong văn hoá thông tin còn nhiều mặt bất cập. Thông tin về đất nước của nhiều nước trên thế giới còn rất ít ỏi. Các giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thống và hiện đại của Việt Nam chỉ mới được giới thiệu một phần rất nhỏ, thiếu hệ thống. Việc tiếp nhận các giá trị văn hoá nhân loại cũng gặp nhiều


1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 49- 50.

lúng túng, khó khăn trong khi thị trường sản phẩm văn hoá nước ngoài (nhất là phim ảnh, âm nhạc, thời trang...) chứa nhiều nội dung độc hại, thấp kém về văn hoá và lưu hành trái pháp luật.

Đối với nước ta, mở rộng giao lưu văn hoá một cách đúng đắn vẫn là bài học lớn của nhiều thế hệ; đặc biệt trong thiên niên kỷ mới, mở rộng giao lưu văn hoá gắn liền với việc giữ gìn chủ quyền và bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết.