Tư tưởng, đạo đức, lối sống mà chúng ta đang bàn ở đây có ý nghĩa là bộ phận cốt lõi của văn hoá dân tộc. Trong xã hội có giai cấp, văn hoá bao giờ cũng phản ánh quan điểm giai cấp và phục vụ lợi ích giai cấp nhất định. Nói văn hoá trước hết là nói đến hệ tư tưởng, bởi hệ tư tưởng là nội dung, là định hướng cơ bản của phát triển xã hội, văn hoá. Hơn 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã trung thành và vận dụng có sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào thực hiện đổi mới ở Việt Nam trong điều kiện chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế lâm vào khủng hoảng, thoái trào. Đảng đã tiến hành đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận. Để tiếp tục giương cao ngọn cờ lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng, là kim chỉ nam cho mọi hành động trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, xác định 6 đặc trưng, 7 phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". Có thể coi đó là thành tựu quan trọng về hoạt động lý luận của Đảng. Với cơ sở lý luận này, Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn.
Đạo đức và lối sống là những giá trị cốt lõi của văn hoá, bởi vì đạo đức là những chuẩn mực ứng xử của con người, là những quy tắc và những cam kết của cộng đồng mà con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích cá nhân và tiến bộ xã hội. Con người sẽ hành động ra sao, xã hội sẽ đi tới đâu, môi trường sinh thái sẽ bị huỷ hoại như thế nào, nếu như hoạt động của con người thiếu những nhân tố văn hoá. Có con người là có cách thức sinh sống trên nền tảng một phương thức sản xuất. Ngoài hoạt động sản xuất, con người còn có hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, sinh hoạt văn hoá, nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng và mọi sinh hoạt hàng ngày. Lối sống được thể hiện ở lẽ sống, nếp sống, mức sống, chất lượng sống, đó là thước đo trình độ dân trí, sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần của con người cũng như của xã hội. Trên thực tế, có thể mức sống chưa cao, nhưng nhờ có lẽ sống đẹp, nếp sống lành mạnh, con người và xã hội có thể trở thành con người có văn hoá, xã hội không ngừng tiến bộ.
Người đầu tiên dùng thuật ngữ đời sống mới ở nước ta là Bác Hồ. Từ rất sớm, sau ba phong trào lớn - chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm, Bác Hồ quan tâm nhiều nhất, sớm nhất đến đời sống mới.
Ba thập kỷ tiếp theo, trong điều kiện chiến tranh, chúng ta vẫn kiên trì thực hiện đời sống mới với tên gọi Nếp sống mới. Nếp sống mới đã trở thành cuộc vận động với nội dung phong phú, có hệ thống tổ chức xuống tận làng, xã, mà đứng đầu là Uỷ ban Trung ương vận động thực hiện Nếp sống mới.
Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá V) của Đảng năm 1983 nhấn mạnh công tác xây dựng nếp sống mới trong thanh niên và tiếp đó là Nghị quyết 159 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có đoạn nói về Nếp sống mới. Bấy giờ, các thuật ngữ dùng làm công cụ vận động Nếp sống mới là quy ước, hình mẫu, nghi thức, có nội dung uyển chuyển, dễ vào, dễ tiếp thu và dễ thực hiện. Quy ước là tập hợp một số điều do nhân dân ở cơ sở cam kết với nhau, không phải là văn bản pháp lý, nhưng về nguyên tắc quy ước không được trái với Hiến pháp. Ưu điểm của 5 nội dung xây dựng nếp sống mới là phép biện chứng giữa xây và chống được đặt ra, lấy xây làm chính.
Nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đời sống tinh thần của xã hội có nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam, nên đã phát triển đúng hướng. Chính vì vậy, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá đã có những chuyển biến quan trọng: "ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước. Nhiều nét mới trong giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành"1. Mẫu điều tra xã hội học của Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật và Trung tâm công nghệ thông tin của Văn phòng Bộ Văn hoá- Thông tin về phẩm chất đáng quý nhất của con người chứng tỏ điều ấy... Với 3062 người trả lời câu hỏi: Xin ông (bà) cho biết phẩm chất nào ở con người là đáng quý? Kết quả thu được như sau:
| Phẩm chất | Số lượng người chọn là phẩm chất quý |
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
| Thông minh, sáng tạo | 1749 |
57,11 |
| Lao động chuyên cần | 1529 |
49,93 |
| Chính trực, thật thà | 1430 |
46,70 |
| Trọng chữ tín, giữ lời hứa | 1350 |
44,08 |
| Tiết kiệm, giản dị | 844 |
27,56 |
| Đoàn kết, rộng lượng | 824 |
26,91 |
| Lo việc chung | 757 |
26,45 |
| Hay thương người, giúp đỡ người khác | 766 |
25,01 |
| Cởi mở, hoà nhã | 387 |
12,63 |
| Dũng cảm | 338 |
11,03 |
| 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.42. |
Điều tra riêng ở 1120 công nhân, 498 nông dân, kết quả thu được như sau:
| Phẩm chất | Số lượng người chọn là phẩm chất quý |
|||
Công nhân |
Nông dân |
|||
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
| Thông minh, sáng tạo | 619 |
55,26 |
236 |
47,38 |
| Lao động chuyên cần | 552 |
49,28 |
313 |
62,85 |
| Chính trực, thật thà | 543 |
48,48 |
232 |
46,58 |
| Trọng chữ tín, giữ lời hứa | 536 |
47,85 |
167 |
33,53 |
| Tiết kiệm, giản dị | 287 |
25,62 |
155 |
31,12 |
| Đoàn kết, rộng lượng | 267 |
23,83 |
184 |
36,94 |
| Lo việc chung | 264 |
23,57 |
122 |
24,49 |
| Hay thương người, giúp đỡ người khác | 271 |
24,19 |
142 |
28,51 |
| Cởi mở, hoà nhã | 111 |
9,91 |
81 |
16,26 |
| Dũng cảm | 112 |
10 |
66 |
13,25 |
| Tính xấu | Số người lựa chọn là tính xấu nhất |
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
Xu thời, cơ hội |
1.534 |
50,09 |
Lười nhác |
1.252 |
40,88 |
Nói một đằng làm một nẻo (đạo đức giả) |
1.250 |
40,82 |
Lừa lọc |
1.068 |
35,46 |
Nghiện hút |
1.008 |
32,91 |
Bóc lột sức lao động của người khác |
860 |
28,08 |
Tham lam |
697 |
22,76 |
Cờ bạc |
556 |
18,15 |
Xa hoa, lãng phí |
533 |
17,40 |
Đĩ điếm |
491 |
16,03 |
Ngu đần |
368 |
12,01 |
Lắm điều |
306 |
9,99 |
Rượu chè |
118 |
3,85 |
Tính xấu |
Số người lựa chọn là tính xấu nhất |
|||
Công nhân |
Nông dân |
|||
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
|
Xu thời, cơ hội |
582 |
51,96 |
200 |
40,16 |
Lười nhác |
443 |
39,55 |
257 |
51,60 |
Nói một đằng làm một nẻo |
532 |
47,5 |
145 |
29,11 |
Lừa lọc |
373 |
33,30 |
184 |
36,94 |
Nghiện hút |
322 |
28,75 |
219 |
43,97 |
Bóc lột sức lao động của người khác |
293 |
26,16 |
183 |
36,74 |
Tham lam |
236 |
21,07 |
112 |
22,48 |
Cờ bạc |
184 |
16,42 |
102 |
20,48 |
Xa hoa, lãng phí |
209 |
18,66 |
83 |
16,66 |
Đĩ điếm |
145 |
12,94 |
75 |
15,06 |
Ngu đần |
103 |
9,19 |
75 |
15,06 |
Lắm điều |
105 |
9,73 |
36 |
7,22 |
Giá trị xã hội quan trọng |
Ưu tiên 1 (%) |
Ưu tiên 2 (%) |
Ưu tiên 3 (%) |
Độc lập dân tộc |
89,9 |
1,4 |
1,1 |
Công bằng xã hội |
6,4 |
40,1 |
16,7 |
Đoàn kết dân tộc |
3,2 |
41,3 |
13,9 |
Phát triển kinh tế thị trường |
0,2 |
5,0 |
18,7 |
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc |
0,3 |
12,1 |
49,5 |
Phong trào xây dựng làng, bản văn hoá và việc khôi phục hương ước có nội dung tốt, soạn thảo các hương ước mới ở nhiều nơi đã góp phần vào việc duy trì nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hoá. Văn hoá ở nông thôn, ở miền núi ít bị ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai và văn hoá độc hại, nên còn lưu giữ những giá trị văn hoá dân tộc.
Người dân, kể cả người dân ở nông thôn và các vùng xa đô thị, có ý thức hơn về dân chủ, pháp luật, quyền sở hữu cá nhân và quyền con người. Lớp trẻ sớm có ý thức phấn đấu để lập thân, lập nghiệp. Không khí lạc quan, năng động, linh hoạt, dân chủ và cởi mở bao trùm xã hội. Nhân dân càng có ý thức và quyết tâm phấn đấu làm cho "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh", quý trọng những thành tựu của đất nước, của dân tộc đã được xây dựng trong mấy chục năm qua.
Tuy vậy, trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống còn những tồn tại yếu kém và biểu hiện tiêu cực. Vấn đề đáng lo ngại được toàn xã hội quan tâm là sự chệch hướng về lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền, và một số người trong hoạt động kinh doanh. Một số người lao theo con đường làm giàu bằng bất cứ giá nào; một số khác tiêu xài phung phí, ăn chơi trác táng, sa đoạ bằng tiền công quỹ, làm thất thoát tiền bạc của Nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Một bộ phận thanh niên có những biểu hiện xa rời lý tưởng xã hội chủ nghĩa, quay lưng lại với những giá trị chân, thiện, mỹ của dân tộc, họ sùng ngoại, phục ngoại một cách quá đáng, trượt dần theo lối sống thực dụng, sống gấp, buông thả, coi tiền là trên hết, bất chấp sự giáo dục của gia đình và xã hội mà họ đang sống.
Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo tín ngưỡng của Nhà nước ta, một số người ở các đô thị và nhiều làng quê đã khôi phục lễ hội tràn lan, tự phát, biến những đền, chùa, miếu, phủ là nơi thờ cúng thiêng liêng thành những nơi "mua thần, bán thánh"; đã có những hiện tượng mê tín, dị đoan, phản khoa học như "uống nước thánh", lên đồng, xem bói, xem sao, xóc thẻ, xem ngày, giờ, đốt vàng mã... gây ra bao nhiêu tấn bi kịch cho nhiều gia đình, nhiều số phận.Một số hủ tục đang có chiều hướng trỗi dậy trong đám cưới, đám tang; tệ ăn uống linh đình, tiệc tùng tại các cơ quan, công sở diễn ra ở các đô thị và nông thôn. Điều đáng trách là mọi sự tiêu dùng ấy đều lấy tiền của Nhà nước, của nhân dân. Tình trạng tiêu dùng, ăn uống và biếu quà cáp quá khả năng mình làm ra là một tệ nạn. Xu hướng chạy theo "xã hội tiêu dùng" lúc đầu nảy sinh ở bộ phận nhỏ cán bộ có chức, có quyền, hoặc ở một số người thuộc cơ quan kinh tế, ở một bộ phận dân cư giàu có tại các đô thị lớn, mấy năm gần đây đã trở thành dòng đục trong môi trường văn hoá của xã hội.
Trước sự biến đổi nhanh chóng của thời cuộc, trước những nguy cơ chệch hướng về chính trị, tụt hậu về kinh tế, tình trạng tham nhũng, âm mưu diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch và những khó khăn của công cuộc đổi mới mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã phân tích, xã hội ta đang tồn tại một số vấn đề trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống cần được quan tâm khắc phục. Đó là:
- Một số người còn băn khoăn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ cho rằng, đối với nước ta - một nước kém phát triển, lại không có sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, trong tình hình quốc tế như hiện nay- không nên đặt ra vấn đề chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản mà cái chính là bằng cách nào đó đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu để đi tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
- Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, cạnh tranh quyết liệt, thắng - thua, được - mất diễn ra gay gắt thì làm thế nào để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, làm sao vừa giải quyết tốt các vấn đề xã hội, vừa làm thế nào để kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ được vai trò chủ đạo.
- Trong quá trình hội nhập, lĩnh vực kinh tế đối ngoại luôn có những diễn biến phức tạp và khó khăn khôn lường. Nhiều người không làm chủ được, vì trình độ quản lý kém, vụng về ở nhiều khâu; thậm chí thiếu hiểu biết, hàng hoá nhập lậu, làm thất thoát tài sản quốc gia, trở thành những món nợ lớn mà thế hệ sau phải gánh chịu.
- Nỗi lo lớn nhất và lâu dài nhất là đời sống văn hoá nước ta hiện nay đang diễn ra phức tạp: các bậc thang giá trị, các chuẩn mực đạo đức đang biến động; một số sản phẩm văn hoá độc hại đang lan tràn, tác động hàng ngày hàng giờ vào từng gia đình, từng người, đặc biệt là lớp trẻ. Nhiều hủ tục, lối sống lạc hậu, tình trạng mê tín dị đoan, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nhằm mục đích chính trị đang có chiều hướng trỗi dậy.
2. Sáng tạo văn hoá 2.1. Những thành tựu của văn học, nghệ thuật trong đổi mới Trong nhiều vấn đề lý luận đang được đặt ra đối với văn học, nghệ thuật trong đổi mới thì vấn đề phản ánh chân thật cuộc sống là cấp thiết hơn cả. Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc miêu tả cho hay, cho chân thật cho hùng hồn giúp chúng ta nhận thức sâu hơn vấn đề nói trên. Văn hoá nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống là điều đương nhiên, dù cuộc sống có phức tạp, có mới mẻ đến mấy! Có nhà tư tưởng nói: Nghệ thuật đối với cuộc sống cũng như rượu đối với nho, và chỉ ra rằng, nghệ thuật lấy chất liệu từ cuộc sống, song đã đưa lại một cái gì cao hơn chất liệu ấy và những phẩm chất vốn có trong bản thân chất liệu. Theo phản ánh luận, nghệ thuật và cuộc sống là hai phạm trù vừa không hoàn toàn trùng khít, vừa không đối lập nhau. Sức mạnh của chúng là ở sự thống nhất. Hoạt động nghệ thuật để cải tạo con người, là nhờ tác phẩm nghệ thuật không tách rời cuộc sống; trái lại phản ánh cuộc sống một cách có nghệ thuật. Khẳng định lại điều này để ngăn ngừa hai hư thuyết cực đoan đã nảy sinh trong lịch sử văn nghệ: đòi "giải phóng" nghệ thuật khỏi sự thật khách quan và tuyệt đối hoá vai trò chủ thể sáng tạo; coi sáng tạo nghệ thuật cũng giống như sản xuất hàng hoá, coi thường đặc trưng nghệ thuật, biến tác phẩm thành "tấm gương chết"... Tuy nhiên, phản ánh hiện thực như thế nào để có những tác phẩm lớn xứng đáng với tầm vóc của hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta hôm nay là điều cần được trao đổi cặn kẽ. Để định hướng cho sự sáng tạo hôm nay, trong tình hình kinh tế - xã hội có khác mấy thập kỷ trước đây, chúng ta cần nhắc lại và hiểu đúng lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ nghệ thuật: "Trong phong trào thi đua yêu nước của đồng bào miền Bắc và cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam có những người, những việc vô cùng anh dũng, oanh liệt. Đó là những "đề tài" cực kỳ phong phú để cổ vũ đồng bào ta và để giáo dục con cháu ta. Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc ấy, bằng văn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác"1. - Đối với sáng tạo văn nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dùng chữ phải (miêu tả cho hay...), vì sáng tạo là tự nguyện, là đòi hỏi quá trình nuôi dưỡng cảm hứng chủ đạo, sự tự do lựa chọn đề tài và sự xuất hiện cảm hứng phản xạ. Nói tóm lại là sự tôn trọng cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, không thể bắt buộc, lại càng tránh cưỡng bức. - Qua câu "miêu tả cho hay" hoặc cho đẹp, cho khéo..., Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy được đặc thù của văn nghệ, Người đưa lên hàng đầu chức năng thẩm mỹ trong sáng tạo là nghệ thuật, thơ cho ra thơ, nói như vậy không sợ phi chính trị. Phẩm chất chính trị cao nhất trong văn nghệ chính là người nghệ sĩ phải có tác phẩm hay, đẹp. - Miêu tả cho chân thật. Muốn miêu tả cho chân thật thì điều kiện tiên quyết là người nghệ sĩ phải có "tình cảm chân thật", "nói lên được tình người" và "phát huy cốt cách dân tộc"; còn tác phẩm nên "có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ 1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.561. ích"1. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn các nhà quản lý, các nhà chỉ đạo văn nghệ: "Chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo..."2. - Miêu tả cho hùng hồn. Không như một số người hiểu là hùng biện, hào hùng chỉ dành riêng cho sử thi, hùng hồn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở đây là khẳng định mạnh mẽ những người lao động bình thường, miêu tả sâu sắc nội tâm, quá trình phát triển tâm lý của họ, những con người mới, việc mới, đồng thời cũng phải "thẳng thắn phê bình những điều xấu như: lười biếng, tham ô, lãng phí, quan liêu"1. Người nghệ sĩ có thể tìm thấy ở đây cái chung, dù phản ánh hiện thực nào, đối tượng nào... Đó là chủ nghĩa nhân văn đọng lại trong tác phẩm xuất phát từ lòng bao dung, nỗi trắc ẩn của bản thân nghệ sĩ, dù có nói đến cái xấu, cái ác cũng vì cái đẹp, điều thiện. Và qua đó nghệ sĩ mở lối thoát cho con người đấu tranh nhằm chiến thắng cái ác, cái xấu và để sống tốt hơn. Văn học nghệ thuật xưa nay không chấp nhận những ấm ức cá nhân, những tâm địa hằn học, những mục đích biến trang sách thành nơi công kích, bôi đen cuộc sống. Văn học nghệ thuật dân tộc ta cũng xa lạ với những cuốn sách, những bài thơ suy đồi, bệnh hoạn với ý đồ đem tâm hồn thác loạn của riêng mình làm lây lan và vấy bẩn sang người khác. Văn học nghệ thuật phản ánh đời sống chính là phản ánh con người; con người trong mối quan hệ tổng hoà hội đủ những phẩm chất tương ứng với những đòi hỏi của thời kỳ mới. Đó là những con người có cá tính riêng, không ngừng hoàn1 , Hồ Chí Minh: Tuyển tập văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1995, t.II, tr. 344.2 Sđd, tr. 3461 . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.561. |
1 Theo các Báo cáo tổng kết của các hội nghệ thuật thì số nhà văn - nghệ sĩ liệt sĩ hy sinh trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc như sau: Nghệ sĩ nhiếp ảnh: 79 liệt sĩ; Nghệ sĩ tạo hình: 50 liệt sĩ; Nghệ sĩ điện ảnh và chiếu bóng: gần 200 liệt sĩ... |
Ưu điểm nổi bật nhất của đa số những nhà nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật là có tri thức rộng, trình độ ngoại ngữ tốt, có phương pháp nghiên cứu đúng đắn và có năng lực cảm thụ tinh tế. Những ưu điểm đó vừa là tiền đề, vừa là công cụ nghiên cứu giúp họ bám chắc vào thực tiễn cuộc sống, xã hội, đời sống văn hoá - văn học dân tộc. ý thức cũng như nhu cầu đổi mới lý luận được thực hiện ở nhiều công trình, bài viết. Nhiều vấn đề lý luận được đề xuất , nhiều tổng kết học thuật có giá trị, nhiều luận điểm có thể tranh luận thêm, nhưng là sự tranh luận thú vị, rất có ích cho đời sống. Mức độ thành công khác nhau, những hạn chế không giống nhau của các công trình và các cuốn sách sau đây chứng minh cho nhận định này: Từ ký hiệu học đến thi pháp học (Hoàng Trinh); Đổi mới phê bình văn học (Đỗ Đức Hiểu); Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca (nhiều tác giả); Chặng đường mới của văn học Việt Nam (nhiều tác giả); Một thời đại văn học mới (nhiều tác giả); Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù (nhiều tác giả); Lý luận văn học (Lê Ngọc Trà); Trên đà đổi mới văn hoá văn nghệ (Phương Lựu); Đi tìm chân lý nghệ thuật (Hà Minh Đức); Tư duy mới và phẩm chất văn nghệ sĩ (Hồ Sĩ Vịnh); Văn học và công cuộc đổi mới (Phong Lê); Thi pháp thơ Tố Hữu; Những thế giới nghệ thuật (Trần Đình Sử); Tài năng và người thưởng thức (Đặng Anh Đào); Góp lời thiên cổ sự (Văn Tâm); Luận chiến văn chương (Nguyễn Văn Lưu); Kiếp hoa dại (Vương Trí Nhàn); Văn học và hiện thực (nhiều tác giả); Nghĩ tiếp về Nam Cao; Thạch Lam-văn chương và cái đẹp (nhiều tác giả),... Nghiên cứu phê bình văn học là lĩnh vực khoa học về văn học. Nó đòi hỏi những người sáng tạo ở đây có những phẩm chất cần thiết của nhà khoa học xã hội và nhân văn. Điều đó cho thấy sự hình thành đội ngũ lý luận phê bình với những công trình đứng được trong thời gian là một thành công của văn nghệ nước nhà.
b. Nhiều vấn đề học thuật được thẩm định đánh giá một cách khách quan hơn. Trước hết là đối với những hiện tượng văn học trước Cách mạng Tháng Tám như: Thơ Mới, Tự lực văn đoàn, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và một số nhà thơ trong phong trào Thơ Mới như Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử, Bích Khê... Xuất phát từ sự đổi mới tư duy trước hết là tư duy lý luận, nhiều nhà lý luận cho rằng, những yếu tố cấu thành thế giới quan của những văn nghệ sĩ trước Cách mạng Tháng Tám thường tác động lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, nhưng từng yếu tố vẫn có tính độc lập tương đối. Không nên đơn giản nghĩ rằng, những thiên kiến giai cấp, những quan điểm chính trị của nhà văn thể hiện trong tác phẩm một cách thẳng đuột, công khai. ý thức dân tộc, tình yêu thiên nhiên, sự cách tân ngôn ngữ thơ ca, lòng hoài niệm về quá khứ, lòng yêu nước, "nỗi đau đời", v.v. góp lại chẳng phải là chủ nghĩa nhân văn của các nhà văn thuộc các khuynh hướng, các tôn chỉ nghệ thuật khác nhau trước Cách mạng đó sao?. Cách đánh giá khắt khe, thậm chí phủ định sạch trơn các hiện tượng văn hoá nói trên trong một số cuốn sách, bài viết, giờ đây được xem xét, đánh giá lại thoả đáng hơn. Nhưng cũng từ đây, có người, có bài chỉ thấy mặt đóng góp, coi nhẹ mặt hạn chế, thậm chí đề cao quá lời, thiếu khách quan cũng là việc làm thiếu trách nhiệm đối với lịch sử và cả thế hệ độc giả hôm nay. c. Nhiều vấn đề lý luận văn học được ánh sáng tư duy mới soi sáng, được nhận thức lại, được bổ sung và phát huy phù hợp với thực tiễn mới, thời đại mới Có thể nêu tóm tắt những điểm chính: Trên cơ sở mỹ học Mác-Lênin và tư tưởng mỹ học Hồ Chí Minh, nhiều vấn đề đặt ra: vấn đề phản ánh hiện thực và sáng tạo nghệ thuật; vai trò chủ thể trong sáng tạo văn học; phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ trong thời đại mới; những ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau về các giai đoạn văn học cách mạng 1945-1975... Tất cả các cuộc thảo luận trên đều diễn ra trên các báo, tạp chí. Những cuộc trao đổi, thảo luận, những bài luận chiến về một số tác phẩm văn xuôi, những cuộc thảo luận về thơ trên báo Văn nghệ vào năm 1994, đã nêu lên nhiều vấn đề học thuật cho hướng đi mới của văn xuôi và thơ ca Việt Nam. Những cuộc trao đổi đã mạnh dạn khám phá những hình tượng mới về văn xuôi, về thơ, hình thức câu thơ, những ngôn từ mới, tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trong văn thơ. Nhìn chung, những cuộc thảo luận, hội thảo, luận chiến tuy có xuất hiện một số ý kiến cực đoan về phía tả hoặc phía hữu, nhưng nhìn chung là có phương pháp đúng, bổ ích, tư duy khoáng đạt, tế nhị trên cơ sở những nguyên lý đúng và đủ, với tinh thần dân chủ, cởi mở, với thiện chí đóng góp vào sự phát triển văn học trong thời kỳ đổi mới. d. Nhiều vấn đề văn hoá được nghiên cứu trong "Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá" Hưởng ứng "Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá", công tác nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam phát triển với nhịp độ nhanh, mạnh trong thời kỳ từ 1987 đến 1997. Uỷ ban quốc gia về "Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá của Việt Nam do Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch, đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề cấp quốc gia và quốc tế như hội thảo khoa học với chủ đề "Văn hoá và phát triển" do Viện khoa học xã hội Việt Nam và Uỷ ban UNESCO phối hợp tổ chức, hội thảo khoa học với chủ đề "Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển", v.v.. Từ năm 1991 đến năm 1995, nhiều chương trình khoa học công nghệ, nhiều đề tài khoa học cấp nhà nước được triển khai. Chẳng hạn, chương trình KX. 06: "Văn hoá, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" gồm nhiều đề tài cấp nhà nước: Hệ quan điểm về mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển; Quá trình hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam; Văn minh Việt Nam trong quá khứ và viễn cảnh; Văn hoá Việt Nam với sự phát triển của sắc thái văn hoá xã hội địa phương và tộc người; Văn hoá và quản lý trong truyền thống và hiện đại, v.v.. Chẳng hạn, Chương trình KX 07: "Con người với tính cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển" với các đề tài cấp nhà nước: ảnh hưởng của các hệ thống tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay; Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam; Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò, động lực của con người trong sự phát triển kinh tế- xã hội, v.v.; Vì thế, hàng loạt các cuốn sách viết về văn hoá Việt Nam đã được xuất hiện. PGS, TS Nguyễn Xuân Kính đã nhìn nhận theo các mảng sách: mảng sách chú ý đến những vấn đề chung, những vấn đề lý luận, phương pháp luận và nghiên cứu văn hoá ở dạng tổng thể; mảng sách viết về các vùng văn hoá; mảng sách viết về văn hoá các dân tộc thiểu số; mảng sách về văn hoá tâm linh, hội lễ; mảng sách từ điển; mảng sách giáo trình đại học về văn hoá; mảng sách dịch thuật, giới thiệu nghiên cứu văn hoá nước ngoài, để rồi đánh giá: Qua sự phân tích mảng sách viết về văn hoá, chúng ta thấy sự phong phú về số lượng. Số sách này lớn hơn số sách về văn hoá của nhiều thập kỷ trước cộng lại. Đây là chưa kể những bài viết đăng trên các tạp chí. Về chất lượng phần lớn đây là những ấn phẩm có ích, số sách có giá trị đạt tỷ lệ đáng kể. Những tri thức từ các cuốn sách có ích này đã, đang và sẽ đi vào cuộc sống và ngày càng chứng tỏ: Văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển"2. đ Đổi mới ở từng ngành cụ thể Hoạt động văn học đã phong phú hơn về nội dung,đa dạng hơn về hình thức; đã có sự cách tân về thi pháp, thể loại, phong cách; đã khắc phục thói quen miêu tả phiến diện, giản đơn. Các nhà văn có mặt trong mọi đề tài, bắt đúng mọi cung bậc cảm hứng, chia sẻ vui, buồn với những số phận riêng rẽ, từ ý thức đến vô thức, từ hiện thực đến huyền thoại, từ phản ánh đến nghiền ngẫm... miễn sao phản ánh chân thật bức tranh nhiều mảng màu, nhiều chiều của xã hội đang đổi mới. Ngay từ nửa đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trên văn đàn đã xuất hiện những cuốn sách, tập truyện được người đọc ghi nhận như: Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành, Bến quê (Nguyễn Minh Châu); Đứng trước biển, Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn); Thời xa vắng (Lê Lựu); Những ngày thường đã cháy lên (Xuân Cang); Góc tăm tối (Khuất Quang Thu); Lời nguyền 200 năm (Khôi Vũ); Cái thời lãng mạn ấy (Nguyễn Khải); Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh); ảo ảnh trắng (Ngọc Tú)... Văn xuôi về đề tài chiến tranh và người lính được nhiều nhà văn theo đuổi, thi phápXem: Tạp chí Văn hoá dân gian số 4 1997. 2 Xem: Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4- 1997, tr. 73 |
1 Xem: Trần Bình: Vấn đề nâng cao dân trí các dân tộc thiểu số, Báo Nhân Dân, ngày 31-1-1998 |
1 Phạm Văn Đồng: Văn hoá và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.7.1 Xem: Báo Nhân Dân, ngày 29-4-1995. |
1 Qua một cuộc kiểm tra vào tháng 5-1997 của Bộ Văn hoá - Thông tin ở ba quận nội thành và 2 huyện ngoại thành ở Hà Nội cho thấy nhiều cửa hàng kinh doanh băng hình vi phạm Nghị định 87/CP. |
| 1 Nguyễn Thị Minh Thái: Sân khấu và tôi, Nxb. Sân khấu, 1995, tr.354. |
phần lớn đều được cấp trên 1 tỷ đồng cho một bộ phim nhưng đều ở tình trạng thu không đủ chi. Đó là chưa nói đến trình độ nghệ thuật, hiệu quả xã hội của tác phẩm. Những con số dưới đây cho thấy sự bất cập ở nhiều bình diện sáng tác điện ảnh tại một thành phố đông dân nhất nước, có phong trào điện ảnh tương đối rầm rộ. Chỉ xin nêu doanh thu của 4 bộ phim sau trong tháng 8-1997.
TT |
Tên phim |
Số buổi chiếu |
Lượt người xem |
Doanh thu |
1. |
Cho thuê cuộc đời |
328 |
8.847 |
102.707.000 |
2. |
Trăng không mùa |
295 |
8.854 |
98.773.000 |
3. |
Đón khách |
222 |
6.708 |
79.134.000 |
4. |
Ngã ba Đồng Lộc |
143 |
4.797 |
54.320.000 |
Việc giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho thanh niên, học sinh và giới trẻ chưa
1 Theo Nguyễn Đức Dương: Vấn đề xã hội hoá trong điện ảnh, đôi điều suy ngẫm, Báo Nhân Dân, ngày 1-12-1997. |
được quan tâm, bị thả nổi. Trong tình hình toàn cầu hoá thông tin và nới lỏng tự do thương mại, các giá trị xa lạ với dân tộc sẽ thâm nhập mạnh vào nước ta, nhưng chúng ta còn thiếu những chương trình đại cương về giáo dục và kinh doanh nghệ thuật cho lớp trẻ. Mảng văn nghệ trên các báo viết, báo hình nhiều những thông tin vụn vặt, thu hút trí tò mò của người đọc, người xem. Người ta cảm giác rằng, chỉ có những diễn viên điện ảnh, cầu thủ bóng đá, hoa hậu, người mẫu thời trang mới được coi là đối tượng của người viết. Trong lúc đó lại bỏ trống những gương người tốt, việc tốt trong sản xuất, kinh doanh và bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Một số tờ báo đã lạm dụng quảng cáo, một số buổi truyền hình còn để lọt những bộ phim có yếu tố bạo lực hoặc giải trí thiếu lành mạnh.
Quản lý văn học- nghệ thuật còn đơn giản, đại khái. Một bộ phận cán bộ chỉ đạo văn nghệ thiếu tri thức nghệ thuật, hiểu biết pháp luật; vừa thiếu dân chủ, vừa hữu khuynh buông lỏng. Sự quản lý còn thiếu nhạy bén, có lúc có nơi còn chủ quan lơ là, bỏ trống trận địa, tách rời hoạt động văn hoá với hoạt động kinh tế- xã hội. Sự phối hợp hoạt động giữa Bộ Văn hoá- Thông tin và các Hội nghệ thuật còn nặng về bề nổi. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các hội sáng tạo chuyên ngành chưa được hoàn thiện. Lý luận phê bình là hết sức quan trọng là phương thức chỉ đạo của Đảng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhưng còn bộc lộ những mặt non yếu, đồng thời chưa có cơ chế thoả đáng cho sự nghiệp này. Những nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong hoạt động văn học, nghệ thuật.- Một bộ phận văn nghệ sĩ mất lòng tin vào chủ nghĩa xã hội, nhất là sau khi Liên Xô tan rã. Tâm lý vọng ngoại ở một số văn nghệ sĩ được thể hiện ở chỗ muốn tác phẩm của mình xuất bản ở nước ngoài, muốn đi biểu diễn ở các nước tư bản chủ nghĩa. Một số nhà văn, nhà phê bình ngộ nhận về đổi mới, một số khác có thiện ý đổi mới, nhưng chệch hướng, mơ hồ trong quan điểm, một số khác tự cho mình là những người đi tiên phong trong đổi mới, tự mình đứng ngoài tổ chức nên đã đi từ sai lầm này sang sai lầm khác.
- Kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi. Nó có mặt tích cực là định hướng cho thị trường sản xuất; sản xuất cái người tiêu dùng cần, chứ không phải là cái mình có. Trong văn nghệ là xuất bản, trình chiếu những tác phẩm có chất lượng, những tác phẩm tốt mà số đông quần chúng yêu cầu. Nhưng nó cũng có mặt tiêu cực. Phê phán quan điểm thả nổi văn hoá cho thị trường chi phối, chúng ta cho rằng, muốn có một nền văn hoá phồn vinh không thể thiếu sự đầu tư và bảo trợ của Nhà nước, nhưng cần phân loại, không tài trợ tràn lan. - Trong lãnh đạo văn học, nghệ thuật còn nhiều mặt yếu kém, nhất là tư tưởng hữu khuynh, buông lỏng quản lý, không chấp hành nghiêm chỉnh những Nghị quyết của Đảng và Chỉ thị của Nhà nước. Điều này được ghi rõ trong Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII: "Lãnh đạo và quản lý bị buông lỏng hữu khuynh, thiếu những luật lệ, thể chế của Nhà nước, thiếu đầu tư thích đáng cho lĩnh vực văn học, văn nghệ"1; và cũng chỉ rõ: "Chưa đánh giá thật đúng tính phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận này, chưa lường trước và đề ra được những biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với văn hoá, văn nghệ. Việc truyền đạt và tổ chức thực hiện nghị quyết lại có nhiều sai sót"2. Thiếu nhiều luật về văn hoá, nghệ thuật. Nhưng khi có luật thì thực hiện không nghiêm, tạo ra nhiều kẽ hở.| 1 ,2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, 1993, tr.13, 53. |
| 1 Xem Nguyễn Kiến Phước: Lời cảnh báo chưa muộn, Báo Nhân Dân, ngày 17-11-1995. |
Về phương diện đưa các sáng tạo văn hoá nghệ thuật đến với công chúng, những năm qua, các nhà xuất bản, các cơ quan báo chí và truyền thông đại chúng, các đoàn nghệ thuật, các nhà hát v.v..., đã có rất nhiều cố gắng trong việc đưa các sáng tạo văn hoá nghệ thuật đến với mọi người dân, mọi miền quê. Năm 1996, chỉ tiêu về mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân và về hoạt động văn hoá nghệ thuật, thông tin tăng lên so với năm 1995. Số bản sách tính theo đầu người đạt 2,9 (tăng 0,6 bản/người), báo chí đạt 5,8 bản/người. Bình quân một người xem thông tin cổ động 0,1 lần/năm, xem văn nghệ không chuyên 0,3 lần/năm, xem triển lãm 0,1 lần/ năm. Năm 1997, điều tra hoạt động của các đoàn nghệ thuật cả nước do Trung tâm thông tin công nghệ của Văn phòng Bộ, Bộ Văn hoá - Thông tin và Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật cho thấy việc biểu diễn của các đơn vị này tương đối đều trong năm. Ví dụ: Nhà hát Trần Hữu Trang thành phố Hồ Chí Minh đã biểu diễn 208 buổi/năm. Đoàn Cải lương Sài Gòn 3 biểu diễn 249 buổi/năm. Cá biệt, Đoàn múa Rối biểu diễn tới 1710 buổi/năm. Tổng hợp cả năm 1997, các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đã biểu diễn 264 chương trình với 10.260 buổi biểu diễn, các đoàn nghệ thuật tư doanh đã biểu diễn 101 chương trình với 4762 buổi biểu diễn.
Nhìn về phía khách thể tiếp nhận văn hoá nghệ thuật, điều đáng mừng là người dân vẫn có một thái độ đúng đắn với các sản phẩm văn hoá, loại hình văn hoá.
Kết quả trưng cầu ý kiến cả nước về thưởng thức nghệ thuật cho thấy với 527 phiếu trả lời câu hỏi: năm qua, ông (bà) đã thưởng thức nghệ thuật như thế nào?
Số liệu thu được như sau:
| Loại hình | Phim |
Nhạc nhẹ, tạp kỹ |
Nhạc dân tộc |
Âm nhạc giao hưởng- thính phòng |
|||||
Số lần |
ở nhà |
Tivi |
Video |
ở rạp |
ở nhà |
ở rạp |
ở nhà |
ở rạp |
ở nhà |
| 1 năm | |||||||||
| 0 lần | |||||||||
| 1 lần | 7 |
2 |
24 |
13 |
30 |
7 |
3 |
4 |
2 |
| 2 lần | 16 |
34 |
8 |
7 |
8 |
16 |
32 |
1 |
7 |
| Nhiều hơn 2 lần | 23 |
329 |
117 |
46 |
181 |
43 |
176 |
38 |
95 |
Loại hình |
Kịch nói |
Cải lương |
Chèo |
Tuồng |
||||
Số lần 1 năm |
ở rạp |
ở nhà |
ở rạp |
ở nhà |
ở rạp |
ở nhà |
ở rạp |
ở nhà |
| 0 lần | ||||||||
| 1 lần | 9 |
2 |
4 |
7 |
9 |
7 |
3 |
10 |
| 2 lần | 17 |
38 |
15 |
32 |
13 |
27 |
3 |
17 |
| Nhiều hơn 2 lần | 53 |
174 |
44 |
182 |
38 |
129 |
8 |
79 |
| + Sách khoa học kỹ thuật | 187 |
| + Truyện Việt Nam | 216 |
| + Truyện nước ngoài | 99 |
| + Truyện Trung Quốc | 102 |
| + Báo hàng ngày | 321 |
| + Báo tuần | 293 |
| + Tạp chí trong nước | 202 |
| + Tạp chí nước ngoài | 55 |
Việc sử dụng thời gian rảnh rỗi như thế nào cũng là thước đo thái độ đối với việc tiếp nhận văn hoá nghệ thuật. Văn phòng Bộ (Bộ Văn hoá- Thông tin) và Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật đã tổ chức điều tra xã hội học trên địa bàn cả nước về vấn đề này.
Với câu hỏi: Xin ông (bà) cho biết khi rảnh rỗi ông (bà) thường xuyên làm gì? Kết quả của 3.062 phiếu như sau:
| Hoạt động lúc rảnh rỗi |
Thường xuyên |
|||||||
Công nhân |
Nông dân |
Các tầng lớp khác |
Tổng cộng |
% |
||||
| Số lượng | % | Số lượng | % | Số lượng | % | |||
| Nghe đài phát thanh | 328 | 29,28 | 175 | 35,14 | 379 | 26,24 | 882 | 28,80 |
| Xem ti vi | 642 | 57,32 | 223 | 44,77 | 762 | 52,77 | 1627 | 53,13 |
| Nghe nhạc | 271 | 24,19 | 46 | 9,23 | 291 | 20,15 | 608 | 19,85 |
| Xem băng hình | 203 | 18,12 | 61 | 12,24 | 218 | 15,09 | 482 | 15,74 |
| Đọc sách báo | 545 | 48,66 | 136 | 27,30 | 617 | 42,72 | 1298 | 42,39 |
| Trò chuyện với bạn bè, làng xóm | 244 | 21,78 | 93 | 18,67 | 339 | 23,47 | 676 | 22,07 |
| Làm vườn | 147 | 13,12 | 140 | 28,11 | 190 | 13,15 | 477 | 15,57 |
| Tập thể dục, thể thao | 249 | 22,23 | 78 | 15,66 | 351 | 24,30 | 678 | 22,14 |
| Sinh hoạt câu lạc bộ, nhà văn hoá | 82 | 7,32 | 39 | 7,83 | 101 | 6,99 | 222 | 7,25 |
| Đánh bạc, uống rượu | 6 | 0,53 | 4 | 0,80 | 6 | 0,41 | 16 | 0,52 |
| Hát Karaoke, đi vũ trường | 46 | 4,10 | 5 | 1,00 | 61 | 4,22 | 112 | 3,65 |
| Việc khác | 18 | 1,60 | 0 | 0 | 9 | 0,62 | 27 | 0,88 |
Loại sách, báo tạp chí |
Số lượng người trả lời có đọc |
| Báo hàng ngày | 60,91% |
| Báo tuần | 55,59% |
| Truyện Việt Nam | 40,98% |
| Tạp chí trong nước | 38,33% |
| Sách khoa học kỹ thuật | 35,48% |
| Truyện kiếm hiệp, trinh thám | 19,35% |
| Truyện nước ngoài | 18,78% |
| Tạp chí nước ngoài | 10,43% |
| Chương trình | Thích |
Bình thường |
Không thích |
|||
Số lượng |
% |
Số lượng |
% |
S ố lượng |
% |
|
| Phim truyện Việt Nam | 2158 | 70,47 | 513 | 16,75 | 391 | 12,78 |
| Phim "Văn nghệ chủ nhật" | 2066 | 67,47 | 477 | 15,57 | 519 | 16,94 |
| Phim bộ Trung Quốc | 2038 | 66,55 | 518 | 16,91 | 506 | 16,54 |
| Ca nhạc dân tộc | 1558 | 50,88 | 735 | 24,00 | 769 | 25,12 |
| Kịch nói | 1462 | 47,74 | 713 | 23,28 | 887 | 28,98 |
| Cải lương | 1036 | 33,83 | 964 | 31,48 | 1062 | 34,69 |
| Phim truyện nước ngoài | 900 | 29,39 | 1061 | 34,65 | 1101 | 35,96 |
| Chèo | 629 | 20,54 | 815 | 26,61 | 1618 | 52,85 |
| Ca nhạc nước ngoài | 570 | 18,61 | 940 | 30,69 | 1552 | 50,70 |
| Tuồng | 171 | 5,58 | 859 | 28,05 | 2032 | 66,37 |
| Khác | 5 | 0,16 | 5 | 0,16 | 3052 | 99,68 |
| Chương trình | Thích |
Bình thường |
||||||
Công nhân |
Nông dân |
Công nhân |
Nông dân |
|||||
| Số lượng | % | Số lượng | % | Số lượng | % | Số lượng | % | |
| Phim "Văn nghệ chủ nhật" | 744 | 66,25 | 320 | 64,25 | 182 | 16,25 | 68 | 13,65 |
| Phim truyện Việt Nam | 821 | 73,30 | 386 | 77,51 | 173 | 15,44 | 51 | 10,24 |
| Phim truyện nước ngoài | 356 | 31,78 | 69 | 13,85 | 356 | 31,78 | 158 | 31,72 |
| Phim bộ Trung Quốc | 734 | 65,53 | 280 | 56,22 | 207 | 18,48 | 82 | 16,46 |
| Ca nhạc nước ngoài | 243 | 21,69 | 40 | 8,03 | 340 | 30,35 | 94 | 18.87 |
| Ca nhạc dân tộc | 550 | 49,10 | 247 | 49,59 | 288 | 25,71 | 90 | 18,07 |
| Chèo | 149 | 13,30 | 171 | 34,33 | 300 | 26,78 | 86 | 17,26 |
| Tuồng | 53 | 4,73 | 40 | 8,03 | 309 | 27,58 | 108 | 21,68 |
| Cải lương | 358 | 31,96 | 221 | 44,37 | 365 | 32,58 | 118 | 23,69 |
| Kịch nói | 571 | 50,98 | 205 | 41,16 | 237 | 21,16 | 118 | 23,69 |
| Khác | 0 | 0 | 0 | 0 | 5 | 0,44 | 0 | 0 |
| Các loại hình nghệ thuật | Thường xuyên (%) |
Thỉnh thoảng (%)` |
Không tham gia (%) |
| Xem ti vi | 77,6 |
19,2 |
3,1 |
| Xem video | 6,8 |
47,5 |
45,6 |
| Nghe đài | 60,5 |
30,5 |
9,0 |
| Xem phim, ca nhạc, sân khấu nơi công cộng | 4,6 |
33,6 |
61,8 |
| Đọc sách, báo | 16,3 |
41,5 |
42,1 |
| Tham gia đội thánh ca | 5,7 |
1,7 |
92,6 |
| Tham gia đội kèn đồng | 6,1 |
1,0 |
92,9 |
| Các loại hình khác | 81,8 |
18,2 |
0,0 |
Về việc hưởng thụ văn hoá qua các phương tiện truyền thông đại chúng, tại Hải Hậu chủ yếu thông qua hệ thống đài truyền thanh tỉnh, huyện, xã, qua các đài truyền hình các tỉnh lân cận như Thái Bình, Thanh Hoá, Đài Tiếng nói Việt Nam, Truyền hình Việt Nam. Thống kê tại 11 xã và thị trấn của huyện cho thấy các phương tiện truyền thông đại chúng là khá phổ biến:
Loại phương tiện |
Hải Vân |
Hải Xuân |
Hải Phong |
Hải Tây |
Hải Đường |
Hải Chính |
Hải Bắc |
Hải Long |
Hải Lộc |
Hải An |
Yên Định |
Máy thu hình |
554 | 631 | 785 | 723 | 1308 | 383 | 731 | 769 | 740 | 647 | 816 |
Máy thu hình màu |
474 | 547 | 531 | 594 | 784 | 333 | 609 | 657 | 660 | 500 | 782 |
Đầu video |
138 | 184 | 54 | 119 | 215 | 30 | 251 | 108 | 165 | 150 | 358 |
Vô tuyến |
3,7 | 2,8 | 2,7 | 2,6 | 2,5 | 2,9 | 2,3 | 2,8 | 2,8 | 2,6 | 1,4 |
Video |
14,7 | 9,6 | 39,8 | 15,6 | 15,5 | 36,4 | 6,8 | 20,2 | 12,4 | 11,3 | 3,2 |
Khảo sát đời sống văn hoá ở làng Kim Từ, xã Đại Kim, ngoại thành Hà Nội chothấy vai trò của các sản phẩm thông tin đại chúng đối với người dân quan trọng như những món ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu. Từ cuối những năm 80 cho đến đầu năm 1992, nhờ đời sống kinh tế được nâng lên, nhờ giao thông thuận lợi hơn, nhờ có điện đã đi vào từng nhà, trong tổng số 320 gia đình của làng, thì 130 hộ có tivi, trong đó một nửa có tivi màu, hơn 100 hộ có rađiô và rađiô cassette, khoảng trên 20 gia đình có đầu vidéo, 25 gia đình có tủ lạnh, khoảng gần 200 xe máy1. Đó là chưa nói đến số lượng báo chí, nhất là các tờ Nhân Dân, Hà Nội mới, An ninh Thủ đô, v.v.. Các Câu lạc bộ của các vị cao tuổi, Câu lạc bộ của thanh niên là những tụ điểm văn hoá, là nơi trao đổi thông tin về nhiều mặt như: luyện dưỡng sinh, kế hoạch hoá gia đình, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, v.v..
Tại các đô thị, việc hưởng thụ văn hoá của nhân dân đã nâng cao đáng kể. Rõ rệt nhất là việc chiếm lĩnh các sản phẩm "văn hoá đọc" và sử dụng những sản phẩm thông tin đại chúng. ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có số người mua sách, đọc sách lớn nhất cả nước. Trong năm 1992, bình quân đầu người mua sách, đọc sách trên toàn quốc là 1,2 bản/1 người, thì ở Hà Nội là 2,4 bản/1 người. Đối tượng mua sách, đọc sách chủ yếu là cán bộ, trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh... mặc dù mức sống, tiền lương của những người này còn thấp. Những yếu tố quan trọng và quyết định sự hình thành và nhu cầu mua sách, đọc sách của số đông là sự đòi hỏi nâng cao trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, yêu cầu về học tập, giao lưu văn hoá với các nước, cũng có một bộ phận nhỏ là để giải trí hoặc để thoả mãn tính hiếu kỳ, nhất là ở thanh thiếu niên. Điều quan trọng là chúng ta đã đẩy lùi được những hiện tượng cực đoan trong nhu cầu đọc sách xô bồ, thực dụng như sách các vụ án, sách về "tình yêu tay ba, tay tư", sách chưởng,... Những hoạt động phổ biến và phát hành sách, báo tại các tụ điểm,
1 Xem: Phạm Thị Thanh Tâm, bài Vài nét về mua, đọc sách ở thành phố. Hà Nội, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 10/1994. Những con số này chỉ tính đến năm 1992. Đến nay chắc số lượng các phương tiện trên đã tăng lên gấp nhiều lần. |
1 Nguyễn Công Tạn: Văn hoá và vấn đề phát triển nông thôn ở nước ta. Báo Nhân Dân ngày 6- 3- 1997.1 Ngô Minh Thuyên: Đời sống ở miền quê, Báo Nhân Dân ngày 20- 4- 1997. |
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1992, t. 1, tr. 106. |
Kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng làng văn hoá trong nhiều năm qua cho thấy phải có Quy ước làng văn hoá để nâng cao trình độ tự quản thì việc xây dựng làng văn hoá mới lâu bền và có hiệu quả. Quy ước làng văn hoá đã có sự kế thừa những điều hay, điều đúng trong Hương ước, Khoán ước, Điều ước xưa; đồng thời được nâng cao về chất nhằm bảo vệ pháp luật Nhà nước và thật sự công khai, dân chủ với phương châm dân biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
ở nhiều tỉnh, Quy ước mới đã được nhân dân các xã, thôn hăng hái bàn bạc, soạn thảo, và trên thực tế bản Quy ước làng văn hoá nào cũng có những điểm hay, phù hợp với thực tế, đưa lại nhiều điều bổ ích cho đời sống kinh tế, trật tự an ninh và sinh hoạt tinh thần nói chung.
Thứ hai, xây dựng đời sống văn hoá ở đô thị. Cư dân đô thị ở Việt Nam gắn bó mật thiết với làng quê, chưa nhạt phai căn tính nông dân, trong khi đó, đô thị ở Việt Nam cũng không thoát khỏi những tính chất phổ quát của đô thị ở thế giới. Đô thị là nơi cung cấp những nguồn tài chính, hội tụ chất xám, ứng dụng thành tựu khoa học-công nghệ mới vào sản xuất, tiếp cận thị trường, có mạng lưới thông tin nhanh nhậy... ở các nước phát triển, các đô thị đóng góp từ 60 đến 80% tổng sản phẩm quốc dân. Trình độ dân trí, thu nhập quốc dân và tuổi thọ là ba tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá trình độ phát triển của một nước thì ở các đô thị chiếm tỷ lệ cao tuyệt đối so với các vùng khác. Mười năm gần đây, châu á đã trở thành khu vực phát triển năng động. Đô thị hoá ở đây phát triển với nhịp độ cao chưa từng thấy. Ngày nay, sự tăng trưởng của các khu vực đô thị diễn ra với tốc độ rất nhanh. Nhân ngày Quốc tế môi trường năm 1988, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã khẳng định xu hướng đô thị hoá mạnh mẽ rằng: Thế giới của chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Đây sẽ là cái mốc đánh dấu kỷ nguyên và thời gian, trong đó phần lớn dân số thế giới cư trú ở các vùng nông thôn để bước sang một kỷ nguyên mới với số dân sống hầu hết ở các đô thị. Rõ ràng tương lai của nhân loại sẽ diễn ra trong bối cảnh các đô thị chiếm ưu thế.
Do những ưu thế vượt trội về phát triển ở các đô thị, nhất là ở các đô thị lớn, đã dẫn đến sự chênh lệch về mức sống, chất lượng sống, khiến cho dòng người di cư từ nông thôn đến các đô thị ngày càng tăng. Vào những thập kỷ gần đây, ở các đô thị vốn đã đông đúc, chật chội lại càng đông đúc và chật chội hơn, thậm chí quá tải, gây ra những khó khăn lớn cho công tác quản lý đô thị, bảo vệ môi sinh, trong đó có môi trường văn hoá, các nhu cầu về học hành, y tế, v.v..
Văn hoá là một trong bốn lĩnh vực rộng lớn có liên quan mật thiết với kinh tế,chính trị và xã hội. Không thể nói tới đời sống văn hoá trong tình trạng kinh tế quá thấp, khi còn có hàng triệu người thất nghiệp. Với điều kiện xã hội như vậy thì phong trào văn hoá không thể không bắt đầu từ việc giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là những thanh niên và học sinh. Quận Đống Đa (Hà Nội) có thể coi là một nơi có thành tích tốt trong giải quyết việc làm cho người lao động. Trong những năm 1996-2000, Quận đã phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm cho 6.500-7.000 người. Để thực hiện mục tiêu này, việc dạy nghề-hướng nghiệp trong các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học được thực hiện có hiệu quả. Trung tâm dạy nghề của Quận liên tục mở các lớp đào tạo nghề cho những người có nhu cầu, đồng thời có chế độ ưu tiên cho con em các gia đình thuộc diện chính sách1.
Sau đây là một số lĩnh vực đáng chú ý trong đời sống văn hoá:
- Phong tục, tập quán: việc cưới, việc tang, gia phong, gia lễ, lễ hội:
Trong lịch sử tư tưởng và văn hoá Việt Nam, các học giả thường dùng phong hoá, phong tục để chỉ một hệ giá trị về nghi thức, về ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội và thiên nhiên đã trở thành thuần phong, mỹ tục. Trong phạm vi cuốn sách này chúng tôi chỉ tập trung khảo sát bốn nội dung sau đây, và cũng chỉ xin nêu một vài hiện tượng nóng bỏng theo tinh thần và nội dung của Chỉ thị 27-CTTƯ của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngày 12-1-1998 về việc: Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.
Việc cưới: Cưới hỏi là chuyện của cá nhân, của từng gia đình, nhưng lại phản ánh phần nào bộ mặt văn hoá của xã hội, trình độ dân trí của một dân tộc. Các đám cưới cổ truyền có rất nhiều nghi thức, kèm theo là các lễ vật và tiền bạc. ở một mức độ nào đó, đám cưới cổ truyền có một số nét tích cực, thể hiện truyền thống đạo lý như hiếu lễ với ông bà, tổ tiên, tình cảm gắn bó vợ chồng, trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng làng xã.1 Xem: Nguyễn Đình Chuôn: Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở quận Đống Đa, báo Nhân Dân ngày 14-3- 1998. |
Tính theo số lượng
Có |
Không |
2121 |
941 |
Tính theo phần trăm:
Có (%) |
Không (%) |
69,26 |
30,74 |
Với câu hỏi: Lý do tham dự lễ hội và lễ hội của làng có tác dụng gì? Kết quả thu được.
Tính theo số lượng:Lý do |
Số người trả lời có |
Số người trả lời không |
| Giữ gìn truyền thống văn hoá của làng | 2053 |
1009 |
| Gắn bó các thành viên trong làng | 1710 |
1361 |
| Là dịp bày tỏ lòng biết ơn với những người có công với làng | 1423 |
1639 |
| Là dịp để vui chơi gặp gỡ | 926 |
2136 |
| Là dịp cho các dòng họ trong làng thể hiện | 495 |
2567 |
| Khẳng định danh tiếng của làng | 471 |
2591 |
| Là dịp để cầu cho sở nguyện riêng | 205 |
2857 |
| Là dịp để cầu tài cầu lộc | 203 |
2859 |
Lý do |
Tỷ lệ trả lời có (%) |
Tỷ lệ trả lời không (%) |
| Giữ gìn truyền thống văn hoá của làng | 67,04 |
32,96 |
| Gắn bó các thành viên trong làng | 55,55 |
44,45 |
| Là dịp bày tỏ lòng biết ơn với những người có công với làng | 46,47 |
53,53 |
| Là dịp để vui chơi gặp gỡ | 30,24 |
69,76 |
| Là dịp cho các dòng họ trong làng thể hiện | 16,16 |
83,84 |
| Khẳng định danh tiếng của làng | 15,38 |
84,62 |
| Là dịp để cầu cho sở nguyện riêng | 15,38 |
84,62 |
| Là dịp để cầu tài cầu lộc | 6,62 |
93,38 |
5. Xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá
5.1. Xây dựng thể chế văn hoá Cùng với lao động sản xuất và duy trì nòi giống, văn hoá là một trong những hoạt động lâu đời nhất của loài người . Để văn hoá thực sự có ích và không ngừng phát triển, loài người không những kế thừa và đổi mới, mở ra vô vàn giá trị chân- thiện- mỹ trong sinh hoạt văn hoá mà còn không ngừng tìm kiếm các hình thức, phương pháp quản lý, điều hành các hoạt động văn hoá theo những khuôn khổ nhất định tạo ra một quá trình sản xuất, phổ biến và tiêu thụ văn hoá ngày càng phong phú với chất lượng cao, khắc phục những mặt phản văn hoá trong đời sống văn hoá tinh thần. Tổng hợp các hình thức tổ chức, các quy định, quy ước và phương pháp điều hành hoạt động văn hoá làm nên thể chế văn hoá của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thể chế văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với thể chế chính trị, luật pháp, kinh tế, song vẫn có tính độc lập tương đối. Lực lượng nào thống trị xã hội thì lực lượng đó quyết định những nội dung của thể chế văn hoá. Tuy nhiên, bên cạnh thể chế văn hoá chủ đạo do Nhà nước quy định, vẫn tồn tại những thể chế văn hoá bộ phận chi phối một số sinh hoạt văn hoá tinh thần trong phạm vi làng xóm, họ tộc, các giới, dân tộc, các nhóm người có cùng lợi ích... Một nhà nước tiến bộ, hợp lòng dân luôn luôn tìm kiếm những thể chế văn hoá lành mạnh, tiến bộ thúc đẩy văn hoá phát triển, làm rạng rỡ nền văn hiến nước nhà. Ngược lại, những nhà nước phản động, suy tàn tìm mọi cách bóp nghẹt văn hoá tinh thần, lập ra những thể chế văn hoá ngặt nghèo, khắt khe, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng tinh thần của nhân dân, ngăn chặn văn hoá phát triển. Có thể nói, thể chế văn hoá có vai trò rất lớn đối với sự phát triển văn hoá. Nó là nhân tố bên trong thúc đẩy sự hình thành và phát triển văn hoá xét trên cả quy mô xã hội cho đến từng hoạt động riêng lẻ của người sáng tạo văn hoá. Chính vì vậy cuộc đấu tranh để bảo vệ và thừa kế các thể chế văn hoá tiến bộ, cải cách và điều chỉnh các thể chế đã lỗi thời là việc làm thường xuyên của nhân dân và bộ máy nhà nước trong lịch sử. Bước vào thời kỳ hiện đại, đặc biệt 30 năm lại đây, trên cơ sở của sự phát triển chung, văn hoá đã đạt tới vai trò vị trí mới chưa từng có. Văn hoá trở thành nhân tố bên trong, động lực và hệ điều tiết của sự phát triển. Theo xu hướng đó, việc cải cách thể chế văn hoá đã trở thành mối quan tâm lớn của loài người, của các cơ quan vạch chính sách thuộc các quốc gia. Cơ quan UNESCO đã tổ chức những chương trình và thể chế văn hoá bảo đảm cho văn hoá trực tiếp thúc đẩy phát triển. Trong phạm vi khu vực, cả trong phạm vi thế giới đã bắt đầu hình thành một số thể chế điều chỉnh các hoạt động văn hoá giữa các quốc gia. Nhìn lại giai đoạn 15 năm đổi mới, có thể coi đây là thời kỳ chuyển tiếp của thể chế văn hoá nước ta trong bối cảnh xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kiên trì phương hướng chung xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, quán triệt các quan điểm của Đảng trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, bám sát thực tiễn kinh tế- xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, thể chế văn hoá Việt Nam trong giai đoạn này đã thể hiện rõ tính kế thừa các thể chế tích cực, hợp lý trong giai đoạn trước đây với việc vận dụng mới những hình thức, phương pháp sản xuất, phổ biến và tiêu thụ văn hoá trong điều kiện cơ chế thị trường và giao lưu quốc tế. Mặt được của quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá thời gian qua là: - Kiên trì quan điểm xác định văn hoá là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, văn hoá là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển, Nhà nước đã thống nhất quản lý và triển khai sâu rộng, thường xuyên toàn bộ hoạt động văn hoá thông tin trong xã hội, đã từng bước nâng mức đầu tư cho toàn bộ hoạt động văn hoá thông tin trong cả nước. - Phát triển quan điểm coi văn hoá là sự nghiệp của toàn dân trong điều kiện cơ chế thị trường, Nhà nước lần lượt ban hành nhiều luật lệ, công tác tạo điều kiện cho nhân dân tham gia sản xuất, dịch vụ văn hoá... mở rộng thị trường văn hoá ngày càng phong phú đa dạng.- Tính chủ động trong xây dựng và phát triển văn hoá ở mỗi địa phương (cấp tỉnh, thành phố), cơ sở, mỗi thiết chế văn hoá được nâng lên. ý thức chủ động tự lo liệu, phát huy truyền thống văn hoá sẵn có, nâng mức đầu tư, bố trí cán bộ, mở rộng giao lưu văn hoá... tăng lên, nhờ đó khai thác tốt hơn các giá trị văn hoá tiềm tàng ở địa phương, cơ sở, tạo ra nhiều sản phẩm và năng lực mới.
- Hệ thống pháp luật trong phạm vi quốc gia cũng như các quy định, quy ước văn hoá do nhân dân các địa phương chủ động xây dựng đã tăng cường một bước công tác quản lý nhà nước bằng luật pháp, đáp ứng yêu cầu phát triển mới trong lĩnh vực văn hoá thông tin.
Từ khi đổi mới đến nay, trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá và nếp sống, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật như:
Luật Báo chí (1989), Luật Xuất bản (1993), Luật Giáo dục (1998), Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh (1984- đang xây dựng thành Luật bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá), Quyền Tác giả trong Luật Dân sự (1994); Chính phủ còn ban hành một số văn bản dưới luật như Nghị định 194-CP ngày 31-12-1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Nghị định 87-CP ngày 12-2-1995 về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Ban hành kèm theo Nghị định này là Quy chế về lưu hành, kinh doanh phim, băng đĩa hình, băng đĩa nhạc, bán và cho thuê xuất bản phẩm; hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá nơi công cộng: quảng cáo, viết, đặt biển hiệu; quy định những biện pháp cấp bách bài trừ tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Nghị định 88-CP ngày 14-12-1995 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá dịch vụ văn hoá và phòng chống một số tệ nạn xã hội.Các văn bản pháp lý trên đây đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá và nếp sống, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực trong hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm, đẩy lùi một bước các tệ nạn xã hội, từng bước khôi phục lại trật tự, kỷ cương trong nếp sống xã hội.
Ngoài ra, trong lĩnh vực nếp sống, Bộ Văn hoá- Thông tin đã quan tâm đến việc xây dựng quy chế về lễ hội tập trung vào lễ cưới, lễ tang, đồng thời mở rộng chủ trương xây dựng quy ước làng văn hoá, góp phần tăng cường quản lý xã hội đối với lĩnh vực này.
Bên cạnh mặt được về thể chế văn hoá cần thấy rõ mặt chưa được còn rất lớn, có mặt khá nghiêm trọng. Đó là:
- Hệ thống luật pháp- xương sống của thể chế văn hoá ban hành chậm, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng lớn tới quá trình điều chỉnh trong hoạt động văn hoá.
- Quản lý nhà nước còn lỏng lẻo về nghiệp vụ và hữu khuynh trong xem xét xử lý dẫn đến chậm lập lại trật tự trong hoạt động văn hoá. Sách báo, băng hình độc hại, mê tín dị đoan lan rộng, đạo đức, lối sống sa sút... gây ra những lo lắng lớn trong xã hội. Văn hoá phẩm nước ngoài tác động khá phức tạp lên đời sống văn hoá trong nước.
-Việc chăm lo hoàn thiện thể chế văn hoá ở cơ sở chưa được quan tâm đúng mức. Đến nay, trên 10.000 cơ sở xã, phường vẫn chưa có được thể chế ổn định về bộ máy, cán bộ, ngân sách, các thiết chế cần thiết.
- Việc sắp xếp tổ chức lại bộ máy hành chính, các cơ sở sự nghiệp, kinh doanh trong ngành văn hoá thông tin còn chậm; nhiều đơn vị còn lúng túng, chưa tìm được phương hướng phát triển.
Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, yếu kém nói trên có phần ở tính phức tạp của cơ chế thị trường mà chúng ta chưa nhận thức hết. Tuy nhiên chủ yếu vẫn là do chúng ta còn thiếu nhiều tri thức về thể chế văn hoá và chưa đặt đúng mức vấn đề xây dựng thể chế, nói rộng hơn chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu phải chuyển biến mạnh hơn về quản lý Nhà nước thông qua luật pháp và chính sách. Không ít cán bộ các cơ quan quản lý văn hoá vẫn tự bằng lòng với một số hoạt động nghiệp vụ văn hoá trong phạm vi ngân sách nhà nước cho phép mà chưa quan tâm quản lý và hướng dẫn cả một xã hội hoạt động văn hoá. Vì vậy, mặt tốt cũng như mặt xấu trong đời sống văn hoá chưa được xem xét, thúc đẩy hoặc ngăn chặn kịp thời là điều khó tránh khỏi. Tình hình trên đặt ra cho ngành văn hoá thông tin phải có nhận thức mới và bước chuyển mình mạnh mẽ trong xây dựng thể chế văn hoá.
5.2 Xây dựng thiết chế văn hoá
Cùng với việc xây dựng các thể chế văn hoá, vấn đề xây dựng các thiết chế văn hoá luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Nếu quan niệm thiết chế văn hoá với tư cách là một bộ phận của khách thể quản lý, coi hoạt động văn hoá như một loại sản xuất tinh thần, có thể chia các công đoạn vận hành của nó để nhìn nhận các thiết chế văn hoá như sau:
| Sáng tạo | Bảo quản, phổ biến, truyền bá |
Tiếp nhận |
Nhóm các cơ quan nghiên cứu: Viện nghiên cứu, các cục, vụ tham mưu v.v... - Nhóm các chủ thể sáng tạo (các hội nghề nghiệp như hội nhà văn, nhạc sĩ, mỹ thuật, điêu khắc, kiến trúc, múa, nhiếp ảnh, nhà thiết kế v.v...) - Nhóm những người sáng tạo nghiệp dư: câu lạc bộ, nhóm thơ văn, hội nghề nghiệp dân gian. |
- Viện Bảo tàng, Thư viện, lưu trữ - Các cơ sở đào tạo - Các cơ quan thông tin đại chúng: báo chí, xuất bản, tuyên truyền. - Các cơ quan biểu diễn, phổ biến nghệ thuật. - Các hoạt động dịch vụ văn hoá. |
- Công chúng trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thông tin. - Giới lãnh đạo, quản lý. - Người nước ngoài. - Nhà phê bình. |
Trên cơ sở ấy chúng ta nhìn nhận vấn đề xây dựng thiết chế văn hoá từ sau đổi mới đến nay, trên một số lĩnh vực cụ thể:
5.2.1. Thư viện
Thư viện là một loại thiết chế văn hoá. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được như sau:
Năm 1987, có 21 thư viện cấp tỉnh, 176 thư viện cấp huyện, 736 thư viện cấp xã.
Năm 1991, có 37 thư viện cấp tỉnh, 201 thư viện cấp huyện, 488 thư viện cấp xã.
Từ năm 1996 đến nay số lượng thư viện và bản sách báo tăng dần qua các năm. Đặc biệt hệ thống phòng đọc, tủ sách xã, thôn cũng đi dần vào ổn định. Sau đây là con số thống kê hệ thống thư viện do Bộ Văn hoá thông tin trực tiếp quản lý (từ Thư viện Trung ương đến các phòng đọc cơ sở).
Năm 1996 |
Năm 1997 |
Năm 1998 |
Năm 1999 |
|
- Số lượng thư viện Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương |
53 |
55 |
59 |
60 |
- Số lượng thư viện quận, huyện, thị xã |
540 |
548 |
560 |
560 |
- Số lượng thư viện, phòng đọc, sách báo, tủ sách xã thôn ấp, hợp tác xã |
1700 |
1800 |
2000 |
2300 |
- Tổng số bản sách trong các thư viện |
14,8 triệu |
15 triệu |
15,7 triệu |
15,9 triệu |
- Tổng số bản sách được bổ sung trong năm |
624.000 |
687.000 |
705.000 |
673.000 |
5.2.2. Bảo tàng
Quá trình nâng cao nhận thức xã hội về giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã thúc đẩy hoạt động bảo tồn bảo tàng không ngừng phát triển. Cho đến năm 1999 tổng số bảo tàng trong cả nước gồm 117 đơn vị chia ra:
+ Số bảo tàng do ngành văn hoá thông tin quản lý: 85;
+ Số bảo tàng do các ngành khác: 32
- Tổng số bảo tàng, nhà truyền thống mới đưa vào hoạt động trong năm: 2.
- Tổng số hiện vật có trong các bảo tàng trong ngành: 2.069.096, tăng 171.395 hiện vật so với năm 1980.
- Tổng số di tích đã được công nhận tính đến ngày 30-11-1999: 2414, chia ra:
+ Di tích lịch sử: 1217;
+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: 1088;
+ Di tích khảo cổ: 30
+ Di tích danh lam thắng cảnh: 79
- Tổng số di tích công nhận trong năm 1999: 133, trong đó:
+ Di tích lịch sử: 47
+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: 78
+ Di tích khảo cổ: 3
+ Di tích danh lam thắng cảnh: 5
5.2.3. Nhà Văn hoá
Hệ thống nhà văn hóa từ trung ương đến tỉnh, huyện và cơ sở là thiết chế quy tụ các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, bồi dưỡng tri thức cho các tầng lớp nhân dân được duy trì và phát triển qua các năm. Hệ thống nhà văn hoá bao gồm các cơ sở do ngành văn hoá thông tin, liên đoàn lao động và đoàn thanh niên cùng một số đoàn thể, cơ quan khác quản lý. Cho đến năm 1999 tổng số nhà văn hoá cả nước là 765, trong đó:
+ Nhà văn hoá trung tâm tỉnh, thành phố 20
+ Nhà văn hoá huyện, quận: 478
+ Nhà văn hoá thiếu nhi: 215
+ Nhà văn hoá các ngành: 52
5.2.4. Báo chí và xuất bản
Sau Chỉ thị 08 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) năm 1992, hoạt động báo chí, xuất bản có bước phát triển quan trọng cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức, về công nghệ in và hệ thống phát hành, về quy mô và địa bàn phổ biến, làm gia tăng ý nghĩa và vai trò của hệ thống báo chí, xuất bản trong sự nghiệp đổi mới. Báo chí, xuất bản đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, dân chủ hoá đời sống văn hoá của nhân dân, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng Internet, hệ thống thông tin địa lý1, các phương tiện bưu chính viễn thông... là những phương tiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ , xây dựng nền văn hoá dân tộc, đồng thời tạo thời cơ lớn cho sự tăng cường giao lưu văn hoá giữa các quốc gia. Những giá trị văn hoá của mỗi dân tộc nhờ các phương tiện thông tin đại chúng mà trở thành tài sản chung của nhân loại và ngược lại nhân loại có điều kiện tiếp thu những giá trị văn hoá của Việt Nam.
| 1 Hệ thống thông tin địa lý, gọi tắt là GIS (Gerogphie Information System) được đưa lên mạng Internet theo từng cách sử dụng khác nhau, cho các đối tượng được phép sử dụng. Ví dụ: Một nhà đầu tư cần thông tin để lựa chọn địa điểm xây dựng một khách sạn hay một siêu thị tại một tỉnh nào đó, thì trên màn hình hiện lên bản đồ của tỉnh, mật độ dân cư các khu vực được thể hiện bằng các màu sắc khác nhau; nhà đầu tư chọn một khu vực có mật độ dân cư cao và bấm "con chuột" vào điểm đó; màn hình hiện lên các thông số về dân số, thành phần dân cư, địa lý, địa chất, khí tượng thuỷ văn của khu vực cần tìm hiểu. Hệ thống thông tin GIS có thể phục vụ công tác quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đánh giá tác động môi trường và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội. (Theo Bích Hà: Công nghệ GIS và hệ thống thông tin địa lý toàn quốc, báo Lao động, tháng 7 1997). |
Thời lượng phát sóng và diện phủ sóng phát thanh và truyền hình mà trước hết là của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tăng lên đáng kể. Hệ thống đài, trạm các khu vực tỉnh, thành đến quận, huyện và các vùng dân cư quan trọng đã được hình thành. ở 61 tỉnh, thành đều có các đài phát thanh, truyền hình, gần 300 huyện có đài phát sóng FM, 340 trạm phát lại sóng truyền hình Trung ương... đã giúp cho khoảng 60% số hộ dân được nghe và khoảng 50% số hộ được xem các chương trình truyền hình, trong đó có cả người nghe, người xem ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.
Cho đến năm 1999, số liệu về báo chí và xuất bản như sau:
Về báo chí: (báo viết)
- Tổng số cơ quan báo chí: 491, trong đó:
+ Báo: 168;
+ Tạp chí: 314;
+ Báo ngày: 9;
- Tổng số các nhà báo được cấp thẻ nhà báo: 9003
- Tổng số giấy phép đã cấp sử dụng thông tin qua vệ tinh (TVR0): 1575
- Tổng số vụ vi phạm đã xử lý: 48
6.Về giao lưu văn hoá với nước ngoài
Giao lưu văn hoá là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là một quy luật vận động và phát triển của các dân tộc và của mọi nền văn hoá. Giao lưu văn hoá phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết là những thành tựu về trí tuệ, về khoa học và công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức xã hội và quản lý Nhà nước...
Sau Cách mạng Tháng Tám, lãnh đạo và quản lý nền văn hoá mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, giải pháp cụ thể để mở rộng giao lưu văn hoá, gắn văn hoá dân tộc với trào lưu văn hoá xã hội chủ nghĩa, tiến bộ và dân chủ trên thế giới.
Thông qua giao lưu, trao đổi văn hoá, sự nghiệp chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta và những giá trị văn hoá tinh thần cao đẹp của nhân dân ta đã được đông đảo bạn bè thế giới biết đến, đồng tình, ủng hộ; chúng ta học hỏi được nhiều thành tựu và tinh hoa văn hoá nhân loại làm phong phú đời sống văn hoá nước nhà, hàng nghìn cán bộ văn hoá nghệ thuật được đào tạo cơ bản từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây làm nòng cốt trong các lĩnh vực văn hoá, thông tin, nghệ thuật.
Bước vào thời kỳ đổi mới, với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, giao lưu văn hoá cũng không ngừng được mở rộng.
Trung bình hàng năm ta đã cử ra nước ngoài trên 200 đoàn với trên 1000 người tham gia các hoạt động giao lưu văn hoá và cũng đón gần 100 đoàn nước ngoài với gần 1000 người nước ngoài vào tổ chức các hoạt động văn hoá ở nước ta. Riêng năm 1999, chúng ta đã cử 271 đoàn ra với 1167 lượt người và đón 98 đoàn vào với 938 lượt người. Nhà nước ta đã ký hiệp định văn hoá với 38 nước và hàng chục tổ chức quốc tế, đã có trên 100 dự án hợp tác về văn hoá, trong đó có khoảng 30 dự án ASEAN. Tuy vậy, các con đường giao lưu văn hoá quốc tế chưa thật phong phú chỉ mới dừng lại ở các phương thức sau đây: qua các nghị định thư, kế hoạch hợp tác ký kết giữa Chính phủ ta và Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, qua liên doanh, liên kết hợp tác sản xuất các loại văn hoá phẩm; quan hệ trực tiếp bằng hợp đồng của các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, các hội sáng tạo, các tổ chức tương ứng ở các địa phương, quan hệ cá nhân; trao đổi các nhà khoa học, các nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ sĩ; các học sinh du học, mời chuyên gia đến giảng dạy trong nước; trao đổi biểu diễn nghệ thuật, tham gia hội chợ triển lãm, liên hoan phim, trao đổi các đoàn tham gia, khảo sát, du lịch, trao đổi tư liệu.
Khẩu hiệu "Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế" đã nói lên sự thành tâm, nhu cầu muốn giao hoà, tiếp cận của nước ta với các nền văn hoá các nước để cùng nhau học hỏi, phát triển.
Giao lưu văn hoá phải có nhận và có cho. Tuy nhiên, trong thực tế không được như vậy. Đúng như Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã nêu mặt yếu kém của ta trong giao lưu văn hoá: "giao lưu văn hoá với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số văn hoá phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn, trong khi đó, số tác phẩm văn hoá có giá trị của ta đưa ra bên ngoài còn quá ít"1.
Do thiếu một chiến lược và quy hoạch cụ thể, thiếu kinh phí, chính sách và cán bộ, hoạt động đối ngoại trong văn hoá thông tin còn nhiều mặt bất cập. Thông tin về đất nước của nhiều nước trên thế giới còn rất ít ỏi. Các giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thống và hiện đại của Việt Nam chỉ mới được giới thiệu một phần rất nhỏ, thiếu hệ thống. Việc tiếp nhận các giá trị văn hoá nhân loại cũng gặp nhiều
| 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 49- 50. |
lúng túng, khó khăn trong khi thị trường sản phẩm văn hoá nước ngoài (nhất là phim ảnh, âm nhạc, thời trang...) chứa nhiều nội dung độc hại, thấp kém về văn hoá và lưu hành trái pháp luật.
Đối với nước ta, mở rộng giao lưu văn hoá một cách đúng đắn vẫn là bài học lớn của nhiều thế hệ; đặc biệt trong thiên niên kỷ mới, mở rộng giao lưu văn hoá gắn liền với việc giữ gìn chủ quyền và bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết.